Xu Hướng 12/2022 # Vấn Đề Cạnh Tranh Của Các Tổ Chức Tín Dụng Trong Dự Thảo Luật Các Tổ Chức Tín Dụng / 2023 # Top 13 View | Phauthuatthankinh.edu.vn

Xu Hướng 12/2022 # Vấn Đề Cạnh Tranh Của Các Tổ Chức Tín Dụng Trong Dự Thảo Luật Các Tổ Chức Tín Dụng / 2023 # Top 13 View

Bạn đang xem bài viết Vấn Đề Cạnh Tranh Của Các Tổ Chức Tín Dụng Trong Dự Thảo Luật Các Tổ Chức Tín Dụng / 2023 được cập nhật mới nhất trên website Phauthuatthankinh.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Một số vấn đề chung Một trong những yêu cầu phải sửa đổi Luật Các tổ chức tín dụng năm 1997 (sửa đổi năm 2004) (Luật các TCTD hiện hành) là đảm bảo sự đồng bộ giữa các quy định của Luật TCTD và các luật khác đã được ban hành trong thời gian qua, như Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư, Luật Chứng khoán, Luật Cạnh tranh, Luật Hợp tác xã, Luật Phá sản . và nhằm nâng cao hiệu quả, hiệu lực của hoạt động quản lý của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đối với các tổ chức tín dụng (TCTD). Trong bối cảnh toàn hệ thống ngân hàng phải nỗ lực đáp ứng yêu cầu của quá trình hội nhập và xây dựng hệ thống các tổ chức tín dụng hiện đại, thì việc bảo đảm quyền tự chủ kinh doanh và tự chịu trách nhiệm cũng như đáp ứng nhu cầu đa dạng hoá, tính năng động, linh hoạt trong hoạt động kinh doanh của các TCTD càng trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Để bảo đảm các nguồn lực cho các TCTD hoạt động, Nhà nước có chính sách động viên các nguồn lực trong nước là chính và tranh thủ tối đa nguồn lực ngoài nước; mở rộng đầu tư tín dụng, góp phần giải phóng mọi năng lực sản xuất, phát huy mọi tiềm năng của các thành phần kinh tế, bảo đảm cho doanh nghiệp nhà nước giữ vai trò chủ đạo; giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, chủ quyền quốc gia; bảo đảm an toàn hệ thống tài chính, tiền tệ quốc gia; mở rộng hợp tác và hội nhập quốc tế; thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; góp phần đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và nâng cao đời sống của nhân dân. Với những chính sách, pháp luật như trên, hoạt động của các TCTD nước ta thời gian qua đã có những bước tăng trưởng đột biến (1), sự tăng trưởng này vừa là thời cơ, vừa là thách thức trong việc tạo lập thị trường tài chính an toàn, lành mạnh. Để thành công trong cạnh tranh, nhiều TCTD đã tìm kiếm các nhà đầu tư chiến lược để nâng cao tiềm lực tài chính của mình, tạo cơ sở cho việc mở rộng và nâng cao chất lượng dịch vụ ngân hàng cũng mở rộng phạm vi ảnh hưởng. Để bảo đảm an toàn cho hoạt động của các TCTD, Chính phủ ban hành Nghị định số 69/2007/NĐ-CP về giới hạn góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài tại các ngân hàng thương mại (NHTM) Việt Nam Sức ép hội nhập buộc các TCTD phải cạnh tranh với nhau để tạo lập vị trí của mình trên thị trường. Luật các TCTD đã có những quy định về hợp tác và cạnh tranh của các TCTD tại Điều 16. Theo Điều luật này, các tổ chức hoạt động ngân hàng được hợp tác và cạnh tranh hợp pháp. Nghiêm cấm các hành vi cạnh tranh bất hợp pháp, gây tổn hại đến việc thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia, an toàn hệ thống các tổ chức tín dụng và lợi ích hợp pháp của các bên. Hành vi cạnh tranh bất hợp pháp bao gồm: a) Khuyến mại bất hợp pháp; b) Thông tin sai sự thật làm tổn hại lợi ích của tổ chức tín dụng khác và của khách hàng; c) Đầu cơ lũng đoạn thị trường tiền tệ, vàng, ngoại tệ; d) Các hành vi cạnh tranh bất hợp pháp khác. Các nhà làm luật cũng đã quan tâm đến việc bảo đảm môi trường pháp lý thông thoáng cho các TCTD hoạt động có hiệu quả theo hướng tách tín dụng chính sách và tín dụng thương mại, theo hướng Nhà nước thành lập các ngân hàng chính sách hoạt động không vì mục đích lợi nhuận để phục vụ người nghèo và các đối tượng chính sách khác; phục vụ miền núi, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn; phục vụ nông nghiệp, nông thôn và nông dân nhằm thực hiện các chính sách kinh tế – xã hội của Nhà nước cũng như những quy định khác nhằm nâng cao tính độc lập, tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các TCTD trong hoạt động. Tuy nhiên, các quy định của Luật các TCTD hiện hành về cạnh tranh vẫn còn những hạn chế như quy định chưa cụ thể, chưa rõ ràng, nhất là về hành vi cạnh tranh không lành mạnh, hành vi lũng đoạn thị trường hoặc tập trung kinh tế Điều này sẽ ẩn chứa những bất ổn cho thị trường ngân hàng. 2. Quy định về cạnh tranh trong Dự thảo Luật Kế thừa những quy định của các văn bản pháp luật đã ban hành, Dự thảo Luật các TCTD (2) đã quy định khá cụ thể về việc bảo đảm môi trường cạnh tranh bình đẳng cho các TCTD, như TCTD có quyền tự chủ trong hoạt động kinh doanh và tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh của mình. Không một tổ chức, cá nhân nào được can thiệp trái pháp luật vào quyền tự chủ kinh doanh của tổ chức tín dụng; TCTD có quyền từ chối yêu cầu cấp tín dụng, cung ứng các dịch vụ khác, nếu thấy không đủ điều kiện, không có hiệu quả, không phù hợp với pháp luật; mọi tổ chức có đủ điều kiện theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật được NHNN cấp Giấy phép thì được thực hiện một, một số hoạt động ngân hàng tại Việt Nam; không một tổ chức, cá nhân nào được nhận tiền gửi, cung ứng dịch vụ thanh toán hoặc thực hiện hoạt động ngân hàng khác, nếu không có Giấy phép do NHNN cấp .

Tổ Chức Tín Dụng Là Gì? Đặc Điểm Và Hệ Thống Các Tổ Chức Tín Dụng Tại Việt Nam / 2023

Tổ chức tín dụng là gì? Đặc điểm và hệ thống các tổ chức tín dụng tại Việt Nam? Điều kiện thành lập và hoạt động của tổ chức tín dụng? Phân loại tổ chức tín dụng? Quy định về một số tổ chức tín dụng điển hình theo quy định mới nhất tại Việt Nam?

Tổ chức tín dụng được hiểu là tổ chức kinh tế kinh doanh tiền tệ, dịch vụ ngân hàng với nội dung nhận tiền gửi , cấp tín dụng , cung cấp các dịch vụ thanh toán

Về mặt kinh tế, đối tượng kinh doanh chính, mang tính chất nghề nghiệp của tổ chức tín dụng là tiền tệ và đó là dấu hiệu để phân biệt tổ chức tín dụng với các loại hình doanh nghiệp khác trong nền kinh tế quốc dân

Về mặt pháp lý, tổ chức và hoạt động của tổ chức tín dụng thuộc phạm vi áp dụng Luật các tổ chức tín dụng và chịu sự quản lý nhà nước của Ngân hàng nhà nước

Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động ngân hàng. Tổ chức tín dụng bao gồm ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng, tổ chức tài chính vi mô và quỹ tín dụng nhân dân.

– Hoạt động kinh doanh đặc thù của tổ chức tín dụng: tổ chức tín dụng có hoạt động kinh doanh đặc thù và chủ yếu đó là việc huy động vốn và sử dụng vốn sẵn có hoặc nguồn vốn huy động được.

+ Huy động vốn của tổ chức tín dụng là việc: nhận tiền gửi vay vốn ngân hàng nhà nước. Huy động vốn có thể được xem là một trong những nghiệp vụ xuất hiện sớm nhất trong hoạt động của các ngân hàng thương mại.

+ Sử dụng vốn của tổ chức tín dụng là việc tổ chức tín dụng cấp tín dụng cung ứng dịch vụ thanh toán cho đối tượng sử dụng vốn của chính tổ chức tín dụng đó.

Tổ chức tín dụng hoạt động theo nguyên tắc đi vay để cho vay do đó giữa hoạt động huy động vốn và hoạt động sử dụng vốn có mối quan hệ biện chứng với nhau. Để có vốn vay, tổ chức tín dụng phải thực hiện công tác huy động. Nếu số lượng vốn huy động nhiều thì tổ chức tín dụng có thể tăng cường hoạt động sử dụng vốn, khi đó tổ chức tín dụng có thể mở rộng các khoản cho vay, các khoản đầu tư.

– Tính rủi ro: nguy cơ mất vốn hoặc có thể gây ra rủi ro cho toàn hệ thống tín dụng. Rủi ro trong hoạt động tín dụng được hiểu là những không may bất ngờ xảy đến, là sự kiện không may, trở ngại bất ngờ xảy ra gây nên thiệt hại trực tiếp tới hoạt động của các tổ chức tín dụng.

– Quản lý tổ chức tín dụng: chủ thể quản lý là ngân hàng nhà nước Việt Nam. Ngân hàng nhà nước Việt Nam là ngân hàng trung ương của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và là cơ quan của chính phủ thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ và hoạt động ngân hàng, là ngân hàng phát hành tiền, ngân hàng của tổ chức tín dụng, ngân hàng làm dịch vụ tiền tệ cho Chính phủ.

– Điều kiện thành lập và hoạt động vô cùng chặt chẽ yêu cầu vốn theo quy định và nguồn nhân lực và chuyên môn nghiệp vụ.

Căn cứ theo điều 20 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 quy định cụ thể về điều kiện cấp Giấy phép thì tổ chức tín dụng chỉ được cấp giấy phép khi đáp ứng đủ các điều kiện sau:

+ Quy định về vốn điều lệ, vốn được cấp thì vốn điều lệ , vốn được cấp tối thiểu phải bằng mức vốn pháp định;

+ Quy định về chủ sở hữu của tổ chức tín dụng là công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, cổ đông sáng lập, thành viên sáng lập là pháp nhân đang hoạt động hợp pháp và có đủ năng lực tài chính để tham gia góp vốn; cổ đông sáng lập hoặc thành viên sáng lập là cá nhân có năng lực hành vi dân sự đầy đủ và có đủ khả năng tài chính để góp vốn.

+ Đối với người quản lý, người điều hành, thành viên Ban kiểm soát của tổ chức tín dụng phải có đủ các tiêu chuẩn, điều kiện theo quy định tại Điều 50 của Luật này;

+ tổ chức tín dụng phải có Đề án thành lập, phương án kinh doanh khả thi, không gây ảnh hưởng đến sự an toàn, ổn định của hệ thống tổ chức tín dụng; không tạo ra sự độc quyền hoặc hạn chế cạnh tranh hoặc cạnh tranh không lành mạnh trong hệ thống tổ chức tín dụng.

Tổ chức tín dụng bao gồm ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng, tổ chức tài chính vi mô và quỹ tín dụng nhân dân.

– Ngân hàng: là loại hình tổ chức tín dụng có thể được thực hiện tất cả các hoạt động, các nghiệp vụ kinh doanh ngân hàng theo quy định của Luật này.Tổ chức tín dụng là ngân hàng không bị hạn chế phạm vi thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh như tổ chức tín dụng phi ngân hàng. Ngoài các hoạt động kinh doanh ngân hàng, tổ chức tín dụng là ngân hàng còn được thực hiện một số hoạt động kinh doanh khác như bảo quản tài sản quý hiếm, tư vấn tài chính…..

Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng bao gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác xã.

– Tổ chức tài chính vi mô là loại hình tổ chức tín dụng chủ yếu thực hiện một số hoạt động ngân hàng nhằm đáp ứng nhu cầu của các cá nhân, hộ gia đình có thu nhập thấp và doanh nghiệp siêu nhỏ.

– Quỹ tín dụng nhân dân là tổ chức tín dụng do các pháp nhân, cá nhân và hộ gia đình tự nguyện thành lập dưới hình thức hợp tác xã để thực hiện một số hoạt động ngân hàng theo quy định nhằm mục tiêu chủ yếu là tương trợ nhau phát triển sản xuất, kinh doanh và đời sống.

Quỹ tín dụng nhân dân thuộc loại hình tổ chức kinh tế tập thể, hoạt động theo nguyên tắc tự bù đắp chi phí để thực hiện một số hoạt động ngân hàng theo giấy phép, chủ yếu trong phạm vi các thành viên. Quỹ hoạt động thường dưới sự bảo trợ của ngân hàng nhà nước, lãi suất tiền gửi và cho vay thường là linh hoạt , thực chất là các thành viên cùng góp vốn để kinh doanh tiền tệ.

Việc phân loại tổ chức tín dụng thành các tổ chức bao gồm ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng, tổ chức tài chính vi mô và quỹ tín dụng nhân dân có ý nghĩa rất quan trọng trong việc quản lý, kiểm tra, giám sát việc hoạt động cụ thêt như sau

-Đối với các tổ chức tín dụng: việc phân loại tổ chức tín dụng thành các tổ chức bao gồm ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng, tổ chức tài chính vi mô và quỹ tín dụng nhân dân có ý nghĩa giúp cho tổ chức tín dụng biết mình nằm ở nhóm nào, áp dụng văn bản pháp luật nào để từ đó tuân thủ theo đúng pháp luật.

– Đối với nhà nước:việc phân loại các tổ chức tín dụng thành các tổ chức bao gồm ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng, tổ chức tài chính vi mô và quỹ tín dụng nhân dân có ý nghĩa giúp nhà nước căn cứ vào đó áp dụng biện pháp đảm bảo an toàn đối với từng loại hình, căn cứ để giới hạn hoạt động phù hợp với bản chất, chức năng, nghiệp vụ.

Ngân hàng chính sách xã hội :Ngân hàng chính sách xã hội là ngân hàng do Nhà nước thành lập để cho những người thuộc đối tượng chính sách vay vốn phát triển sản xuất, giải quyết đời sống, nhằm góp phần thực hiện mục tiêu xóa đói giảm nghèo.

Ngân hàng chính sách xã hội là ngân hàng phục vụ người nghèo có chức năng khai thác các nguồn vốn của các tổ chức, cá nhân trong nước và ngoài nước , tiếp nhận các nguồn vốn tín dụng của Nhà nước đối với người nghèo và các nguồn vốn khác được Nhà nước cho phép để lập quỹ cho người nghèo vay, thực hiện chương trình của Chính phủ đối với người nghèo.

Hoạt động của ngân hàng phục vụ người nghèo vì mục tiêu xóa đói, giảm nghèo , không vì mục đích lợi nhuận , thực hiện việc bảo toàn vốn ban đầu, phát triển vốn, bù đắp chi phí. Ngân hàng phục vụ người nghèo thực hiện cho vay trực tiếp đối với hộ nghèo có sức lao động nhưng thiếu vốn, được vay vốn để phát triển sản xuất, không phải thế chấp tài sản, có hoàn trả vốn vay và theo lãi suất quy định.

+ Tổ chức tín dụng phi ngân hàng như:

Các công ty tài chính như công ty tài chính bán hàng, công ty tài chính tiêu dùng, công ty tài chính doanh nghiệp. Các công ty tài chính sở hữu một hình thức trung gian về tài chính tín dụng cố định. Các công ty tài chính thực hiện việc đi huy động các vốn đầu tư từ các nguồn khác nhau, thực hiện nhận các khoản tiền gửi từ các tổ chức, điều chỉnh các khoản tiền gửi cho phù hợp và quản lí nó, tiến hành việc phát hành các chứng chỉ tiền gửi, cổ phiếu hoặc trái phiếu để phát tín hiệu đến các công ty và các tổ chức với mục đích là huy động vốn đầu tư.

Ngoài ra các công ty tài chính còn thực hiện việc huy động và nhận vốn đầu tư ra thì công ty này cũng sẽ là nguồn đầu tư tiềm năng và cho vay dưới các hình thức khác nhau : vay tiêu dùng, vay tín dụng, vay theo kỳ khoản, vay trả góp,…Phát hành các loại thẻ tín dụng, cho thuê tài chính khi được sự cho phép của Ngân hàng nhà nước

+ Quỹ tín dụng nhân dân như:

Trên thực tế hiện nay, quỹ tín dụng dân dân đóng một vai trò rất lớn trong việc hỗ trợ nguồn vốn cho nhân dân. Trong đó, đặc biệt là người dân tại những khu vực nông nghiệp và nông thôn có kinh tế khó khăn, đặc biệt khó khăn không chỉ được vay vốn để sản xuất kinh doanh mà họ có điều kiện, cơ hội tiếp cận với các dịch vụ tài chính ngân hàng.

Điều này giúp cho người dân khó khăn giải quyết được vấn đề kinh tế trong làm ăn, buôn bán mà họ còn có nơi an toàn và thuận tiện để đầu tư các khoản tiền nhàn rỗi, tiết kiệm của mình. Chính các nguồn vốn huy động tại chỗ này mới là nền tảng cơ sở căn bản và lâu dài để các quỹ tín dụng nhân dân có thể cho các thành viên của mình vay vốn nhằm xoá đói giảm nghèo, hạn chế tệ nạn tín dụng đen vùng nông nghiệp nông thôn, cải thiện đời sống, nhiều hộ vươn lên giàu có.

Bảo Đảm Tiền Vay Của Tổ Chức Tín Dụng / 2023

Theo nghĩa rộng, bảo đảm tiền vay là việc thiết lập các điều kiện nhằm xác định khả năng thực có của khách hàng đối với việc hoàn trả vốn vay đúng thời hạn (ví dụ: khách hàng thường phải có một số tài sản nhất định thuộc sở hữu của mình trong phạm vi pháp luật quy định, tối thiểu phải có 20% trong tổng số vốn muốn vay hoặc nếu khách hàng là cá nhân thì đòi hỏi phải có thu nhập thường xuyên).

Bảo đảm tiền vay không chỉ đơn thuần và duy nhất là cho vay phải có tài sản để thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh (tức là bảo đảm bằng tài sản) mà cần hiểu nó theo nghĩa rộng. Có nghĩa là tổ chức tín dụng (TCTD) chủ động tìm kiếm các dự án sản xuất kinh doanh, dịch vụ khả thi, có hiệu quả và có khả năng hoàn trả nợ để cho vay; TCTD chủ động lựa chọn khách hàng vay để cho vay không có bảo đảm bằng tài sản. Các TCTD phải chủ động tìm kiếm đối tác của mình. Đây là biện pháp tích cực, mang tính phòng ngừa cao và vì vậy, cần được áp dụng trước tiên trong các biện pháp bảo đảm tiền vay. Các biện pháp bảo đảm bằng cầm cố, thế chấp, bảo lãnh mặc dù có sự bảo đảm về mặt vật chất và rất cần thiết nhưng hiệu quả không cao và các thủ tục để áp dụng các biện pháp trên cũng như việc xử lý các tài sản dùng làm vật cầm cố, thế chấp, bảo lãnh hiện nay cũng rất phức tạp. Các biện pháp này chỉ mang tính thụ động. Vì vậy, nên hiểu bảo đảm tiền vay ” là hàng loạt các giải pháp nhằm mục đích thực hiện cho được yêu cầu buộc vốn cho vay ra phải được quay về với người cho vay sau một chu kỳ nhất định với đầy đủ cả gốc và lãi “.

Theo nghĩa hẹp, bảo đảm tiền vay là những biện pháp bảo đảm việc trả nợ vốn vay (cầm cố, thế chấp bằng tài sản của khách hàng vay, bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ ba, cầm cố, thế chấp bằng tài sản hình thành từ vốn vay). Hay, bảo đảm tiền vay là sự cam kết của người đi vay đối với người cho vay dựa trên các quy định của nhà nước nhằm thiết lập và áp dụng các biện pháp tác động mang tính chất dự phòng để bảo đảm việc trả nợ vốn vay, ngăn ngừa vi phạm và tạo khả năng khắc phục những hậu quả do vi phạm nghĩa vụ trả nợ gây ra.

Theo luật dân sự hầu hết các nước trên thế giới, bảo đảm tiền vay là những biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự (Điều 819, Phần II Bộ luật Dân sự Nga ngày 22/12/1995). Sở dĩ như vậy là vì hợp đồng tín dụng ngân hàng theo pháp luật các nước trên thế giới hầu hết là một chế định của luật dân sự.

Theo Khoản 1, Điều 2 Nghị định số 178/1999/NĐ-CP, bảo đảm tiền vay là việc TCTD áp dụng các biện pháp nhằm phòng ngừa rủi ro, tạo cơ sở kinh tế và pháp lý để thu hồi được các khoản nợ đã cho khách hàng vay.

Từ các định nghĩa trên về bảo đảm tiền vay, ta có thể đưa ra kết luận sau: bảo đảm tiền vay (hay còn gọi là bảo đảm tín dụng) là những biện pháp mà các tổ chức tín dụng áp dụng nhằm ngăn ngừa và hạn chế tới mức thấp nhất những rủi ro có thể xảy ra trong hoạt động cho vay của mình, cụ thể là bảo đảm cho việc thu hồi vốn và lãi suất vay .

Thực chất của bảo đảm tiền vay là sử dụng những giá trị của tài sản làm bảo đảm để trả nợ thay cho các khoản vay không có khả năng trả nợ ngân hàng. Vậy, tài sản bảo đảm tiền vay phải có giá trị, bản thân nó phải trở thành hàng hoá, có nghĩa là khi chuyển giao quyền sở hữu thì đồng thời cũng phải đạt được sự chuyển đổi từ hiện vật thành giá trị để trả nợ ngân hàng. Chính vì vậy, yêu cầu đặt ra đối với các khoản cho vay có tài sản làm bảo đảm nợ vay là tài sản đó phải là hàng hóa, có giá trị lớn hơn giá trị khoản vay, có thị trường tiêu thụ cho hàng hoá đó để thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Hay nói cách khác, để ngân hàng chấp thuận một loại bảo đảm tín dụng nào đó, nó phải thoả mãn các điều kiện sau:

– Phải có giá trị và tuổi thọ tương đối dài;

– Ngân hàng phải có khả năng định giá phù hợp với giá trị của tài sản;

– Phải có một thị trường hiện tại của nó.

Trong điều kiện nền kinh tế nước ta chuyển sang kinh tế thị trường, tín dụng ngân hàng là hình thức tín dụng chủ yếu và đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế, là công cụ để các TCTD thu vốn tạm thời nhàn rỗi và cho vay số vốn này cho các chủ thể kinh tế cần thiết. Mục đích của việc áp dụng bảo đảm tiền vay là nhằm tạo thêm quyền cho các TCTD đối với khách hàng (ngoài các quyền theo hợp đồng tín dụng), nếu khách hàng không thực hiện nghĩa vụ trả nợ khi đến hạn.

Bảo đảm tiền vay chỉ trở nên quan trọng sau khi TCTD đã quyết định cho khách hàng vay vốn. Tuy vậy, thông thường khách hàng không thể thấy hết tầm quan trọng và nguyên nhân sâu xa của sự cần thiết phải có bảo đảm tiền vay.

Các tổ chức tín dụng ở nước ta hiện nay chủ yếu cho vay. Các tổ chức này cho vay trên cơ sở nguốn vốn huy động là chủ yếu, tức là không cho vay tiền của bản thân mình mà đi vay để cho vay, chính vì vậy trách nhiệm hàng đầu của các tổ chức tín dụng là bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền. Nếu một khoản cho vay nào đó bị thất thoát (không thu hồi được) thì trước tiên TCTD phải sử dụng các nguồn vốn của mình để trả cho người gửi tiền. Nếu không đủ nguồn vốn để trả cho người gửi tiền thì TCTD sẽ lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán, thậm chí phá sản. Do vậy, bảo đảm tiền vay gián tiếp đóng vai trò bảo vệ quyền lợi cho người gửi tiền.

Ngân hàng Trung ương của bất kỳ quốc gia nào cũng đều có nhiệm vụ bảo đảm cho hệ thống ngân hàng hoạt động một cách có hiệu quả, an toàn và ổn định. Nếu có sự thất thoát trong hoạt động tín dụng nào đó, dù chỉ ở một ngân hàng và chỉ ở một mức nào đó cũng sẽ đe doạ đến tính an toàn và ổn định của toàn hệ thống. Vì lẽ đó mà các Ngân hàng Trung ương đều có quy định mọi tổ chức tín dụng phải tuân thủ quá trình phân tích rủi ro trước khi cho vay. Bảo đảm tiền vay là vấn đề vô cùng quan trọng trong hoạt động của các tổ chức tín dụng, bởi lẽ đây chính là các biện pháp nhằm hạn chế rủi ro khi tổ chức tín dụng cho khách hàng vay vốn. Việc xử lý tài sản bảo đảm tiền vay không phải là cái đích mà các bên trong quan hệ tín dụng ngân hàng mong muốn hướng tới, song, trong điều kiện nền kinh tế thị trường của nước ta hiện nay thì có lẽ đây là biện pháp hữu hiệu nhất để bảo toàn vốn vay của các tổ chức tín dụng.

Ngân hàng có thể thu hồi vốn mà không phụ thuộc vào khách hàng có ý định thực hiện nghĩa vụ trả nợ hay không. Thực tiễn hoạt động kinh doanh ngân hàng đã cho thấy, khách hàng thường coi ngân hàng như một “nhà tư bản tiền tệ”, khách hàng có thể trả nợ lúc nào mà mình muốn. Và bảo đảm tiền vay là một trong các giải pháp tốt nhất để bảo đảm thu hồi vốn vay thông qua việc bán tài sản bảo đảm hoặc TCTD nhận chính tài sản bảo đảm để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ (Điều 33 Nghị định số 178/1999/NĐ-CP, ngày 29/12/1999). Như vậy, bất kể trường hợp nào thì ngân hàng vẫn có khả năng thu hồi vốn.

Ngoài ra, việc thực hiện quyền và nghĩa vụ là vấn đề mấu chốt trong quan hệ hợp đồng, trong việc bảo đảm hiệu quả và mục đích của hợp đồng, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của mỗi bên. Việc các chủ thể được tạo điều kiện lựa chọn các quan hệ mà họ tham gia, cách thức và nội dung các quan hệ nghĩa vụ hoàn toàn không loại trừ trách nhiệm khi các bên không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ của mình.

Trong thực tế, không phải bao giờ khi có vi phạm nghĩa vụ, thì các bên bị vi phạm cũng yêu cầu các cơ quan có thẩm quyền giải quyết. Hơn nữa, các biện pháp cưỡng chế không phải lúc nào cũng mang lại hiệu quả. Như vậy, khi nghĩa vụ không được bảo đảm bằng tài sản thì người có nghĩa vụ rất dễ lẩn tránh việc thực hiện nghĩa vụ; đồng thời, việc thực hiện lợi ích của người có quyền rất mong manh.

Điều 5 Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế năm 1989 quy định: ” các bên ký kết hợp đồng kinh tế có quyền thoả thuận áp dụng các biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng kinh tế: thế chấp, cầm cố tài sản và bảo lãnh theo quy định của pháp luật “. Theo Điều 324 Bộ luật Dân sự Việt Nam (BLDS) năm 1995, ” trong trường hợp các bên có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định về biện pháp bảo đảm thì người có nghĩa vụ phải thực hiện biện pháp bảo đảm đó “. Nhưng Điều 376 BLDS, Điều 3 Nghị định số 178 lại quy định: Tổ chức chính trị-xã hội tại cơ sở có thể bảo lãnh bằng tín chấp cho cá nhân và hộ gia đình nghèo vay một khoản tiền nhỏ tại ngân hàng hoặc tổ chức tín dụng để sản xuất kinh doanh, làm dịch vụ theo quy định của Chính phủ, TCTD có thể lựa chọn khách hàng cho vay không có bảo đảm bằng tài sản hoặc TCTD nhà nước có thể cho vay không có bảo đảm theo quy định của Chính phủ…

Vậy, theo quy định của pháp luật, bảo đảm tiền vay không phải là nguyên tắc bắt buộc khi vay vốn ngân hàng. Việc lựa chọn, xem xét và cho vay đối với khách hàng có bảo đảm bằng tài sản, cho vay không có bảo đảm theo quy định của pháp luật do TCTD quyết định, Nhà nước không can thiệp sâu vào hoạt động kinh doanh của các TCTD. Nhưng TCTD phải tự chịu trách nhiệm về quyết định của mình. Tuy vậy, trong thực tế, với sự không ổn định của thị trường, giá cả, thông tin còn nghèo nàn.. những dự đoán và rủi ro phát sinh trong tương lai khó có thể lường trước được. Vì vậy, việc tự quyết định và tự chịu trách nhiệm sẽ đưa đến tình trạng rất khó có các quyết định từ các TCTD đối với những trường hợp cho vay không có bảo đảm do tâm lý ít nhiều còn e ngại về trách nhiệm trong tương lai, dẫn đến sẽ hạn chế trong việc giải quyết nguồn vốn đầu tư cho các thành phần kinh tế.

Kể từ ngày 13/1/2000 (ngày có hiệu lực thi hành Nghị định số 178), các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) cũng như các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế khác vay vốn của các NHTM quốc doanh đều phải thế chấp, cầm cố tài sản hoặc phải được bên thứ ba bảo lãnh bằng tài sản để thực hiện nghĩa vụ trả nợ, trừ trường hợp khách hàng vay được TCTD cho vay có bảo đảm bằng tài sản hình thành từ vốn vay hoặc cho vay không có bảo đảm bằng tài sản. Trên thực tế, phần lớn các DNNN chưa được cấp giấy chứng nhận chủ quyền về tài sản thuộc quyền quản lý của doanh nghiệp. Mặt khác, việc bảo đảm bằng tài sản của các DNNN thực tế còn mang tính hình thức. Thủ tục xử lý tài sản thế chấp trong trường hợp DNNN không có khả năng trả nợ rất khó khăn, không thể giải quyết nhanh chóng và thời gian kéo dài, dẫn đến ứ đọng vốn trong kinh doanh của các TCTD. Vì vậy, việc thế chấp tài sản đối với DNNN trong giai đoạn hiện nay chưa cần thực hiện mà chủ yếu khi xét cho vay vốn, TCTD phải dựa vào thực trạng khả năng tài chính, tính hiệu quả của phương án sản xuất kinh doanh của DNNN, thông qua đó TCTD tự tạo cơ hội đầu tư vốn đối với DNNN.

Việc đăng ký giao dịch bảo đảm (ví dụ giao dịch cầm cố, thế chấp đối với máy bay, tàu biển, nhà ở, quyền sử dụng đất…) giúp cho cá nhân, tổ chức có thông tin cần thiết trước khi quyết định xác lập các giao dịch dân sự, kinh tế, thương mại, đặc biệt quan trọng đối với hoạt động đầu tư vốn trong và ngoài nước để phát triển sản xuất, kinh doanh. Mặt khác, nó cũng làm cơ sở cho việc xác định thứ tự ưu tiên thanh toán giữa các bên cùng nhận cầm cố, thế chấp trong trường hợp dùng một tài sản để cầm cố, thế chấp nhiều nơi. Thông qua việc đăng ký tài sản, Nhà nước thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với tài sản và đặc biệt là các bất động sản quan trọng như nhà, đất…

Song qua gần hai năm thực hiện (kể từ khi có Nghị định số 08/CP về đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 10/3/2000), chúng tôi thấy, pháp luật về đăng ký giao dịch bảo đảm ở Việt Nam còn thiếu. Các văn bản này mới chỉ là các quy định chung, mang tính nguyên tắc, thiếu cụ thể. Trình tự, thủ tục đăng ký, hiệu lực của việc đăng ký còn chưa được quy định rõ. Pháp luật về đăng ký cầm cố, thế chấp của ta còn chưa hoàn thiện, chưa đề cập hết các vấn đề cần điều chỉnh thuộc phạm vi đăng ký cầm cố, thế chấp được quy định tại khoản 2 Điều 330 BLDS.

Đây là vấn đề được các TCTD rất quan tâm. Theo khoản 2, Điều 57 Luật các TCTD năm 1997, ” TCTD được cấp tín dụng dưới hình thức cầm cố thương phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác “, còn đối với thương phiếu và các giấy tờ có giá dài hạn, Luật không xác định rõ có được cầm cố hay không? Khoản 3, Điều 7 Nghị định số 165 ngày 19/11/1999 về giao dịch bảo đảm quy định tài sản cầm cố bao gồm ” trái phiếu, cổ phiếu, tín phiếu, kỳ phiếu, chứng chỉ tiền gửi, thương phiếu, các giấy tờ khác trị giá được bằng tiền “. Vì vậy, cần có văn bản sớm hướng dẫn vấn đề này.

Điều 11 Nghị định số 178/1999/NĐ-CP quy định: trong mọi trường hợp, một tài sản chỉ được dùng để bảo đảm nghĩa vụ trả nợ tại một TCTD. Nếu tài sản có đăng ký quyền sở hữu theo quy định của pháp luật thì có thể được dùng để bảo đảm cho nhiều nghĩa vụ trả nợ, nhưng cũng chỉ tại một TCTD.

Trong khi đó điểm 3, mục 5 của Thông tư số 06/2000/TT-NHNN1 ngày 4/4/2000 hướng dẫn thực hiện Nghị định số 178/1999/NĐ-CP lại quy định ” không được sử dụng tài sản để bảo đảm cho nghĩa vụ khác, trừ trường hợp tài sản có đăng ký quyền sở hữu “, tức là một tài sản có đăng ký quyền sở hữu thì có thể thế chấp nhiều nghĩa vụ khác không giới hạn số lượng đối tượng được bảo đảm. Trong trường hợp cho vay hợp vốn thì tài sản thế chấp không chỉ bảo đảm cho nghĩa vụ trả nợ tại một mà có thể hai hoặc ba TCTD. Vì vậy, nếu thực hiện theo Nghị định số 178 thì vấn đề này lại bế tắc.

Bên cạnh đó, Điều 329 và Điều 346 BLDS có ghi: ” Một tài sản có đăng ký quyền sở hữu theo quy định của pháp luật có thể được cầm cố để bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ dân sự, nếu giá trị lớn hơn tổng giá trị các nghĩa vụ được bảo đảm, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác “; ” bất động sản có đăng ký quyền sở hữu có thể được thế chấp để bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ dân sự, nếu có giá trị lớn hơn tổng giá trị các nghĩa vụ được bảo đảm, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác “.

Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng tỷ lệ nợ quá hạn vẫn không giảm là do quy định của pháp luật về xử lý tài sản cầm cố, thế chấp, bảo lãnh để thu hồi nợ còn nhiều bất cập. Hầu hết các tài sản khách hàng đem thế chấp cho ngân hàng (như nhà ở, công trình xây dựng, đất đai hay bất động sản xây dựng trên đất đai) chưa hoàn thành các thủ tục pháp lý, nhà cửa xuống cấp, thiết bị máy móc lạc hậu, hệ thống nhà cửa ở nông thôn, tàu thuyền ở vùng biển… khác hẳn với tài sản thế chấp của ngân hàng các nước trong khu vực. Các tài sản thế chấp này hầu hết do bên thế chấp quản lý, sử dụng, phía ngân hàng chỉ giữ giấy tờ sở hữu tài sản, do đó khi bên vay vốn không thực hiện nghĩa vụ của mình, ngân hàng muốn bán tài sản bảo đảm để thu hồi nợ theo phương thức đã thoả thuận cũng khó thực hiện được vì ngân hàng không có quyền cưỡng chế họ ra khỏi nhà. Ví dụ thực tế hiện nay ở một số thành phố nhỏ như Vinh, Thanh Hoá thì riêng nhà tư nhân mà ngân hàng thành phố Vinh đang giữ là 500 ngôi nhà. Vậy thử hỏi, thành phố Vinh có nhu cầu mua được 500 ngôi nhà này để ngân hàng thu nợ hay không? Vấn đề này sẽ được giải quyết ra sao, pháp luật cần có hướng dẫn cụ thể.

Theo các quy định của pháp luật hiện hành, mức cho vay đối với một khách hàng phải luôn nhỏ hơn giá trị tài sản bảo đảm tiền vay và không vượt quá 15% vốn tự có của TCTD, trừ các khoản vay từ nguồn vốn uỷ thác của Chính phủ, của các tổ chức, cá nhân. Do đó, nếu giá trị một tài sản bảo đảm nhỏ hơn số tiền mà khách hàng đề nghị xin vay thì ngân hàng có quyền yêu cầu khách hàng bổ sung tài sản bảo đảm khác cho đến khi giá trị tài sản bảo đảm lớn hơn số tiền dự định xin vay. Cho nên, một khoản vay có thể được bảo đảm bằng nhiều tài sản thế chấp của những người bảo lãnh khác nhau. Trong trường hợp này, từng tài sản phải được định giá xác định tại thời điểm cho vay để làm cơ sở cho ngân hàng quyết định mức cho vay cụ thể đối với khách hàng. Thực tế hiện nay giá bất động sản trên thị trường tăng lên rất nhiều so với giá tài sản bảo đảm được xác định tại thời điểm cho vay. Cho nên, trong một số trường hợp chỉ cần phát mại một tài sản thế chấp trong số những tài sản bảo đảm là ngân hàng có thể thu hồi được nợ, bao gồm cả gốc và lãi. Nhưng trên thực tế, khi bên vay vốn không trả được nợ cho ngân hàng, thì không một người bảo lãnh nào đồng ý giao tài sản bảo đảm cho ngân hàng phát mại để thu hồi nợ như đã cam kết trong hợp đồng. Sở dĩ như vậy, theo ý kiến của chúng tôi là vì các quy định của pháp luật về bảo lãnh cũng như những cam kết, thoả thuận giữa các bên trong hợp đồng còn thiếu cụ thể. Cho nên trách nhiệm của từng người bảo lãnh đối với một khoản vay là chưa rõ ràng. Ngoài ra, quy định của pháp luật hiện hành còn thể hiện sự bất hợp lý ở chỗ bên đi vay không trả được nợ đến hạn, thì chẳng lẽ tất cả những tài sản bảo đảm cho khoản vay đó đều phải được phát mại để trả nợ cho ngân hàng. Trong khi đó, số tiền thu được từ việc phát mại một tài sản trong số những tài sản bảo đảm đó đã đủ trả nợ cho ngân hàng, bao gồm cả gốc và lãi. Theo chúng tôi, khi bên đi vay không trả được nợ đến hạn, thì những người bảo lãnh phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay cho bên đi vay theo những phương thức thích hợp, không bắt buộc phải phát mại tài sản bảo đảm để trả nợ ngân hàng. Chẳng hạn như những người bảo lãnh có thể cùng nhau xác định trách nhiệm trả nợ của từng người tương ứng với giá trị tài sản bảo đảm của mình được ký kết tại thời điểm ký hợp đồng bảo đảm.Trên cơ sở tỷ lệ đó, những người bảo lãnh sẽ xác định được số tiền trả nợ đối với ngân hàng. Tuỳ theo khả năng tài chính của từng người mà số tiền trả nợ cho ngân hàng có thể là tiền phát mại tài sản bảo đảm hoặc nguồn vốn thoả thuận một người trong số họ đứng ra trực tiếp phát mại tài sản của mình trả nợ cho ngân hàng thay cho tất cả những người bảo lãnh còn lại. Sau đó những người bảo lãnh còn lại này phải hoàn trả cho bên bảo lãnh đó một khoản tương ứng với tỷ lệ thanh toán nợ của mình đã xác định ở trên.

Thông qua việc nghiên cứu về bảo đảm tiền vay ta thấy, bảo đảm tiền vay không phải là một bảo đảm chắc chắn để TCTD thu hồi vốn vay. Nó chỉ là biện pháp phòng ngừa và có thể khắc phục hậu quả rủi ro hoặc một phần rủi ro. Điều mà các TCTD cần quan tâm là vấn đề tự chủ và tự quyết định lựa chọn biện pháp bảo đảm tiền vay. Theo chúng tôi, biện pháp hàng đầu về bảo đảm tiền vay “TCTD chủ động tìm kiếm các dự án sản xuất kinh doanh khả thi, có hiệu quả và có khả năng hoàn trả nợ vay” cần được quán triệt đối với TCTD để nâng cao độ an toàn trong hoạt động tín dụng của các TCTD.

Mặt khác, tuy các văn bản pháp luật về bảo đảm tiền vay tương đối nhiều, nhưng nhu cầu hoàn thiện các quy định của pháp luật nước ta về các biện pháp bảo đảm tiền vay vẫn còn là nhu cầu thực tế. Ngoài ra, việc hoàn thiện này còn nhằm đảm bảo tính đồng bộ và thống nhất nội tại cao giữa các quy định của pháp luật dân sự về biện pháp bảo đảm và các quy định về bảo đảm trong lĩnh vực pháp luật ngân hàng, pháp luật kinh tế./.

Quản Lý Tổ Chức Tín Dụng Phi Ngân Hàng / 2023

Hệ thống tổ chức tín dụng phi ngân hàng (TCTD PNH) là một cấu phần quan trọng không thể thiếu trong hệ thống tổ chức tài chính nói chung, hệ thống các tổ chức tín dụng nói riêng. Các TCTD PNH đã góp phần đa dạng hóa các loại hình và dịch vụ tài chính cho khách hàng, cung cấp dịch vụ cho những đối tượng không thể, hoặc khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vốn ngân hàng, đồng thời cũng giảm thiểu gánh nặng cung ứng vốn cho nền kinh tế của các ngân hàng thương mại. Đặc biệt, vai trò của các TCTD PNH ngày càng được khẳng định kể từ sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu các năm 2008-2009, khi hệ thống ngân hàng trở nên thận trọng hơn rất nhiều trong việc cấp tín dụng.

 Để tạo điều kiện cho các tổ chức này phát triển lành mạnh, các quốc gia trên thế giới có nhiều chính sách quản lý đa dạng đối với các TCTD PNH. Bài viết này khái quát khung lý thuyết về quản lý các TCTD PNH của Ủy ban Ổn định Tài chính (FSB) và kinh nghiệm quản lý từ một số quốc gia trên thế giới, qua đó rút ra một số bài học làm gợi ý chính sách cho Việt Nam, trong việc quản lý các TCTD PNH để các tổ chức này có thể hoạt động hiệu quả hơn, phát triển bền vững và đóng góp cho sự phát triển của nền kinh tế đất nước. 

 

1. Rủi ro của TCTD PNH đối với an toàn hệ thống và tính cấp thiết phải có một khung khổ quản lý hợp lý đối với tổ chức này  

Rủi ro phát sinh từ các TCTD PNH có thể gây ảnh hưởng đến an toàn hệ thống tài chính qua các kênh sau:  

– TCTD PNH được phép nhận tiền gửi và cung cấp tín dụng nhưng không phải tuân thủ các quy định an toàn của ngân hàng, dẫn đến các rủi ro đối với hệ thống. Thứ nhất, các tổ chức này rất dễ bị tổn thương khi khách hàng yêu cầu được thanh toán trước khi đến hạn rút tiền hoặc rút tiền trong một khoảng thời gian ngắn. Điều này không chỉ dẫn tới rủi ro thanh khoản cho TCTD PNH mà còn đe dọa đến an toàn hệ thống trong trường hợp người gửi tiền mất niềm tin và rút tiền ồ ạt trong cả hệ thống tài chính. Thứ hai, do các TCTD PNH không phải tuân thủ các quy định an toàn chặt chẽ như của ngân hàng, các tổ chức này có thể phối hợp với các NHTM để “lách luật”, phá vỡ các quy định. Ví dụ, ngân hàng có thể cho vay các công ty tài chính và công ty tài chính lại cho vay khách hàng mà ngân hàng không được phép cho vay trực tiếp theo các quy định về an toàn của ngành. Trên thực tế, lịch sử đã ghi nhận trường hợp các công ty tài chính nhận tiền gửi ở New Zealand đã tăng trưởng nhanh chóng và sau đó sụp đổ, tạo ra rủi ro hệ thống nghiêm trọng, vào các năm 2007-2011.  

– Các TCTD PNH cung cấp tín dụng chủ yếu dựa trên nguồn vốn là các khoản vay ngắn hạn từ các NHTM. Các TCTD PNH với cơ cấu nguồn vốn như vậy rất dễ bị tổn thương, đặc biệt là khi các TCTD PNH phụ thuộc quá nhiều vào nguồn vốn này. Rủi ro sẽ càng gia tăng khi TCTD PNH tham gia vào các giao dịch tài chính phức tạp. Khi đó, rủi ro hệ thống thể hiện trên cả 2 phương diện: một là sự đổ vỡ của TCTD PNH, hai là mất vốn của NHTM.    

 

2. Các nguyên tắc giám sát tổ chức tín dụng phi ngân hàng của FSB  

FSB đã khuyến nghị các nguyên tắc chung đối với hoạt động giám sát các TCTD PNH như sau:  

– Nguyên tắc 1: Cơ quan quản lý xác định, cập nhật phạm vi giám sát, quản lý.  

Dựa trên mức độ rủi ro ảnh hưởng lên hệ thống tài chính mà cơ quan quản lý TCTD PNH vào khung khổ giám sát và quản lý của mình. Không phải TCTD PNH nào cũng cần được giám sát chặt chẽ như nhau. Việc quyết định mức độ giám sát đối với một TCTD PNH thường dựa trên một số tiêu chí nhất định, như: TCTD PNH có nhận tiền gửi hay không, quy mô tài sản như thế nào…  

– Nguyên tắc 2: Cơ quan quản lý thu thập thông tin cần thiết để đánh giá mức độ rủi ro của TCTD PNH

Khi một tổ chức được xác định là có khả năng gây ra rủi ro cho hệ thống tài chính, cơ quan quản lý phải thu thập thông tin để đánh giá mức độ chuyển đổi thanh khoản, kỳ đáo hạn và mức độ sử dụng đòn bẩy của các tổ chức, qua đó cơ quan quản lý quyết định các biện pháp khắc phục thích hợp. Các cơ quan quản lý phải đưa ra quy trình và nguồn lực để thu thập và phân tích các thông tin trên. Cơ quan quản lý của các quốc gia nên trao đổi những thông tin phù hợp và cần thiết với nhau một cách thường xuyên để có thể đánh giá toàn diện rủi ro của các TCTD PNH.  

– Nguyên tắc 3: Cơ quan quản lý đẩy mạnh việc công bố thông tin của các TCTD PNH khi cần thiết, để giúp những người tham gia thị trường hiểu được mức độ rủi ro của những tổ chức này.  

Tăng cường công bố và minh bạch thông tin (ví dụ như mức độ rủi ro tổng thể của tổ chức, sự liên kết của các tổ chức với nhau, mức độ tập trung vốn, hồ sơ tổng hợp về kỳ đáo hạn của các khoản mục tài sản và các khoản nợ), sẽ giúp các thành viên tham gia thị trường giám sát các tổ chức này, nắm bắt thông tin kịp thời và ra quyết định dựa trên thông tin sẵn có, do đó tránh được việc thị trường đánh mất niềm tin một cách đột ngột, dẫn đến các nhà đầu tư rút vốn khỏi thị trường.  

– Nguyên tắc 4: Cơ quan quản lý cần đánh giá thường xuyên TCTD PNH để thực thi các biện pháp quản lý cần thiết, bao gồm: đánh giá thường xuyên về mức độ tham gia của các TCTD PNH vào hoạt động trung gian tín dụng, việc thực hiện các quy định pháp luật và các hành vi trái pháp luật; áp dụng các công cụ từ bộ công cụ chính sách của FSB (nếu cần thiết) để giảm thiểu rủi ro bất ổn định tài chính; chia sẻ thông tin với các cơ quan quản lý khác, cũng như chia sẻ thông tin trên phương diện quốc tế để có sự nhất quán về công tác quản lý. 

 

3. Bộ công cụ chính sách cụ thể đối với tổ chức tín dụng phi ngân hàng  

Từ các nguyên tắc giám sát chung đối với các TCTD PNH, FSB đã cụ thể hóa các bộ công cụ chính sách để quản lý nhóm tổ chức này:  

Công cụ 1: Thực hiện cơ chế quản lý an toàn như của ngân hàng đối với các tổ chức cho vay phi ngân hàng được phép nhận tiền gửi.  

Công cụ 2: Các yêu cầu về vốn  

Cơ quan quản lý nên yêu cầu các tổ chức nắm giữ lượng vốn tối thiểu đủ bảo đảm bù đắp cho những khoản thiệt hại tiềm tàng tương ứng với mức rủi ro của tổ chức đó. Nguồn vốn này nên được duy trì dài hạn.  Yêu cầu về vốn nên được quy định và hiệu chuẩn để có tính nghịch chu kỳ. Cuối cùng, dù các quy định về vốn như thế nào, điều quan trọng nhất là mức vốn đó phải có đủ khả năng hấp thụ những khoản lỗ tiềm năng.  

Công cụ 3: Đệm thanh khoản  

Kích cỡ của đệm thanh khoản và loại hình của các tài sản thanh khoản phải được xác định và hiệu chuẩn sao cho phù hợp với đặc điểm của TCTD PNH, có thể khác với yêu cầu dành cho các ngân hàng, đặc biệt là đối với các tổ chức không nhận tiền gửi.  

Công cụ 4: Giới hạn về đòn bẩy  

Cơ quan quản lý nên đặt ra giới hạn phù hợp cho tỷ lệ đòn bẩy. Điều này sẽ giúp giảm bớt tính thuận chu kỳ trong các tổ chức tài chính (giảm bớt quy mô tổn thất khi các cú sốc tài chính xảy ra).  

Công cụ 5: Các giới hạn về những rủi ro lớn  

Các rủi ro phát sinh từ sự chuyển đổi thanh khoản, kỳ đáo hạn, cũng như tỷ lệ đòn bẩy có thể bị khuếch đại khi một tổ chức có tài sản tập trung đáng kể tại các đối tác cụ thể. Trong trường hợp đó, cơ quan quản lý có thể áp đặt giới hạn đối với sự tập trung tài sản. Những giới hạn này cũng cần hiệu chỉnh cho phù hợp với mô hình kinh doanh đặc trưng của tổ chức, hay đặc thù hoạt động của tổ chức, để tránh ảnh hưởng đến các tổ chức cho vay nhỏ và hoạt động chuyên biệt trong các thị trường tập trung.  

– Công cụ 6: Hạn chế về nguồn vốn  

Các giới hạn đối với hoạt động vay nợ, huy động vốn của TCTD PNH, ví dụ như mức giới hạn trực tiếp đối với các loại nợ có thể gây ra rủi ro rút vốn, hay các loại nợ đặc biệt chẳng hạn như giấy tờ thương mại được đảm bảo bằng tài sản (ABCP) trong trường hợp các tổ chức tài chính không có quy trình quản trị rủi ro phù hợp.

 

4. Kinh nghiệm của một số quốc gia trong việc quản lý tổ chức tín dụng phi ngân hàng  

Qua nghiên cứu kinh nghiệm quản lý TCTD PNH của các nước Trung Quốc, Ấn Độ, Anh, Hàn Quốc, Thổ Nhĩ Kỳ, Singapore, cho thấy một số xu hướng trong việc quản lý các tổ chức này như sau:  

– Cơ quan quản lý và khuôn khổ pháp luật:  

Nhìn chung TCTD PNH ở các nước đều được quản lý, giám sát bởi một cơ quan chuyên trách. Xem xét mô hình quản lý đối với các TCTD PNH tại một số quốc gia hiện nay cho thấy có một số mô hình khác nhau trong việc phân tách giữa quản lý NHTM và quản lý TCTD PNH như sau:  

+ Mô hình TCTD PNH và NHTM đều chịu sự quản lý giám sát của một cơ quan duy nhất, dưới một luật chung. Theo đó, cách thức quản lý giám sát đối với các TCTD PNH về cơ bản được áp dụng tương tự như với các NHTM, bao gồm cả các quy định cấp phép, các yêu cầu về tỷ lệ an toàn, quy trình thanh tra giám sát. Các giới hạn cụ thể được áp cho TCTD PNH có thể giảm hơn so với các NHTM (ví dụ yêu cầu vốn tối thiểu thấp hơn, các tỷ lệ an toàn áp dụng nới lỏng hơn) nhưng về cơ bản phương thức quản lý và giám sát các TCTD PNH và các NHTM là như nhau.  

TCTD phi ngân hàng góp phần đa dạng hóa các loại hình và dịch vụ tài chính cho khách hàng, 

đồng thời cũng giảm thiểu gánh nặng cung ứng vốn cho nền kinh tế của các NHTM

 

Ví dụ như tại Trung Quốc, Luật quản lý và giám sát ngân hàng ban hành năm 2003 và sửa đổi bổ sung năm 2006, được áp dụng cho quản lý giám sát các NHTM cũng đồng thời áp dụng cho các công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính. Theo đó, phương thức quản lý giám sát của Cơ quan quản lý giám sát ngân hàng Trung Quốc (CBRC) đối với các công ty tài chính, cho thuê tài chính, cũng được áp dụng tương tự như với các NHTM. Tuy vậy, CBRC cũng ban hành các văn bản dưới luật nhằm điều chỉnh từng loại hình công ty tài chính riêng được phép hoạt động, bao gồm: quy định về công ty tài chính thuộc các tập đoàn, công ty cho thuê tài chính, công ty tài chính tiêu dùng, công ty tài chính ô tô.

 

+ Mô hình TCTD PNH được quản lý bởi một cơ quan khác với cơ quan quản lý các NHTM. Ví dụ như tại Anh, các công ty tài chính hoạt động trong một số lĩnh vực như tín dụng tiêu dùng được quản lý giám sát bởi Cơ quan quản lý dịch vụ tài chính (Financial conduct authority) và chịu sự điều tiết của Luật tín dụng tiêu dùng, trong khi đó, các ngân hàng thương mại được quản lý giám sát bởi Cơ quan quản lý an toàn vĩ mô (Prudential regulation authority) trực thuộc NHTW Anh, dưới Luật Ngân hàng.

 

– Phạm vi hoạt động:  

Nhìn chung phạm vi hoạt động của TCTD PNH theo quy định pháp luật tại các nước đều rất giới hạn, phù hợp với một trong những đặc điểm đặc trưng của các TCTD PNH là tập trung vào cung cấp tín dụng chuyên ngành, chứ không hoạt động theo mô hình đa năng như các NHTM.   

 

+ Về giá trị, quy mô của giao dịch: Không chỉ bị giới hạn về loại hình dịch vụ được cung cấp, phạm vi cung cấp dịch vụ của các công ty tài chính còn bị giới hạn bởi giá trị, quy mô của giao dịch. Ví dụ, tại Singapore, các công ty tài chính không được phép cung cấp các khoản cho vay không có tài sản đảm bảo có giá trị trên 5000 đô la. Tại Thổ Nhĩ Kỳ các công ty tài chính không được cung cấp tín dụng bằng tiền mặt, trừ các khoản vay tiền mặt được cấp trong khuôn khổ một thỏa thuận ký kết với khách hàng với mục đích bổ sung tài chính cho khách hàng, như một phần giao dịch được thực hiện, không vượt quá 1% vốn tự có. 

 

– Huy động vốn từ bên ngoài:   

+ Các tổ chức này hoạt động chủ yếu dựa trên nguồn vốn tự có.  

+ Các TCTD PNH được phép nhận tiền gửi hay không phụ thuộc vào quy định tại từng nước mà không có một thông lệ chung. Tuy nhiên, nhìn chung, nhiều nước quy định các tổ chức này không được phép nhận tiền gửi. Ngay cả trong trường hợp được nhận tiền gửi từ công chúng, quy định tại các nước đều yêu cầu TCTD PNH không được nhận tiền gửi thanh toán, tiền gửi cho mục đích phát hành séc.   

+ Vay vốn từ các tổ chức tài chính khác: quy định tại các nước đều cho phép các TCTD PNH vay vốn từ các tổ chức tài chính khác để hoạt động, tham gia thị trường liên ngân hàng trong cả vai trò cho vay và đi vay.   

+ Phát hành trái phiếu được coi là một phương thức phù hợp để các TCTD PNH có thể huy động được vốn. Quy định tại các nước đều cho phép TCTD PNH được phát hành trái phiếu, trong đó, Trung Quốc yêu cầu việc phát hành trái phiếu chỉ được tiến hành khi đã được chấp thuận từ cơ quan quản lý, ngược lại các nước khác hầu như không đưa ra điều kiện đối với việc phát hành trái phiếu của TCTD PNH.   

– Hoạt động đầu tư:   

+ Các TCTD PNH nhìn chung đều được phép tham gia các hoạt động đầu tư tài chính, như: mua bán chứng khoán đầu tư, mua bán trái phiếu chính phủ.   

+ Một số nước ban hành các giới hạn về hoạt động đầu tư. Ví dụ, Singapore yêu cầu các công ty tài chính không được nắm giữ cổ phần đầu tư vượt quá 25% vốn tự có, hoặc một tỷ lệ cao hơn khi được phép của cơ quan quản lý nhưng cũng không vượt quá 50% vốn tự có.  

+ Việc đầu tư vào các hoạt động thương mại và dịch vụ phi tài chính hầu như bị hạn chế.   

– Hoạt động ngoại hối:  

+ Trong nhóm các nước nghiên cứu, chỉ có Singapore quy định có giới hạn về hoạt động ngoại hối của TCTD PNH, trong đó, TCTD PNH không được phép tham gia kinh doanh ngoại tệ, vàng, hoặc bất kỳ kim loại quý khác, không được mua cổ phiếu, cổ phần hoặc chứng khoán nợ, trái phiếu chính phủ bằng ngoại tệ.   

 

– Quy định về các giới hạn an toàn hoạt động:  

+ Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu cho TCTD PNH theo quy định của các nước hầu hết xoay quanh mức 8%. Tuy nhiên, cũng có những nước đòi hỏi tỷ lệ này ở mức khá cao như Singapore 12%. Một số nước áp dụng tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu chung cho mọi TCTD PNH, trong khi một số nước, như: Trung Quốc, Hàn Quốc áp dụng các tỷ lệ khác nhau cho các loại hình công ty tài chính khác nhau. Trung Quốc yêu cầu tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu cho các công ty tài chính ô tô là 8%, công ty tài chính trực thuộc tập đoàn là 10%. Hàn Quốc yêu cầu tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu đối với công ty thẻ tín dụng là 8% và các công ty tài chính chuyên dụng khác là 7%.  

+ Đòn bẩy tài chính: Có những quốc gia như Ấn Độ không áp dụng tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu, mà áp dụng giới hạn đòn bẩy tài chính tại TCTD PNH là 7 lần.  

+ Giới hạn cấp tín dụng: TCTD PNH hầu hết được áp dụng các giới hạn về cấp tín dụng bao gồm giới hạn cho vay đối với một khách hàng, giới hạn cho vay đối với một nhóm khách hàng. Giới hạn cụ thể áp dụng cho TCTD PNH thường là cao hơn (nới lỏng hơn) so với các NHTM.  

+ Tỷ lệ nợ quá hạn: Trong số các nước nghiên cứu, chỉ có duy nhất Hàn Quốc áp dụng tỷ lệ nợ quá hạn (Từ nhóm 2 đến nhóm 5) và chỉ áp dụng tỷ lệ này đối với công ty thẻ (không quá 10%).   

– Phân loại tài sản có và trích lập dự phòng rủi ro:   

Các nước đều áp dụng yêu cầu về phân loại tài sản có theo 5 nhóm (tương tự các NHTM) đối với các TCTD PNH. Một số nước có thể áp dụng các tiêu chuẩn phân loại tài sản có khác nhau, tuy nhiên, sự khác nhau này không dựa trên tiêu chí đó là NHTM hay TCTD PNH, mà dựa trên bản chất tín dụng được cung cấp cho khách hàng. Ví dụ, tại Hàn Quốc, các công ty tài chính có hoạt động cho vay nhưng không phải là tín dụng tiêu dùng thì thực hiện phân loại nợ tương tự như các ngân hàng tiết kiệm tương hỗ, nhưng các công ty tài chính tiêu dùng và các công ty thẻ thì thực hiện phân loại nợ chặt chẽ hơn (khoản nợ quá hạn 1 tháng đã được chuyển xuống nhóm 2, quá 3 tháng được chuyển xuống nhóm 3…).   

– Khả năng thanh khoản:   

Đây cũng là một trong những công cụ được khuyến nghị sử dụng bởi FSB. Hầu hết các nước đều theo dõi và giám sát thường xuyên tình trạng thanh khoản của TCTD phi ngân hàng.   

 

– Quy định về quản trị doanh nghiệp:   

Quy định các nước đều đưa ra các yêu cầu về cơ cấu tổ chức, yêu cầu đối với thành viên góp vốn, hội đồng quản trị, ban điều hành và các ban khác thuộc cơ cấu tổ chức của TCTD PNH. 

 

5. Gợi ý chính sách quản lý TCTD PNH cho Việt Nam  

Trên thực tế, quy mô hoạt động của các TCTD PNH Việt Nam còn khá hạn chế. Các thị trường cho thuê tài chính, bao thanh toán và tín dụng tiêu dùng vẫn còn nhiều dư địa để phát triển. Nhu cầu của cá nhân và doanh nghiệp đối với các dịch vụ của TCTD PNH còn rất lớn, nhờ thu nhập của hộ gia đình Việt Nam đang tăng lên, dẫn đến gia tăng nhu cầu chi tiêu, nhiều doanh nghiệp cũng như cá nhân vẫn đang gặp khó khăn trong việc tiếp cận tín dụng. Do đó, việc phát triển TCTD PNH tại Việt Nam là cần thiết. Để hỗ trợ cho sự phát triển của nhóm các tổ chức này đồng thời giảm thiểu khả năng ảnh hưởng rủi ro hệ thống của TCTD PNH, việc quản lý các tổ chức này sao cho hợp lý là một vấn đề cần được quan tâm giải quyết. Từ kinh nghiệm quốc tế của FSB và nhóm các quốc gia đã nghiên cứu, có thể rút ra có một số gợi ý chính sách quản lý TCTD PNH cho Việt Nam:  

– Về quan điểm quản lý:   

+ Cần tách biệt giữa hai nhóm đối tượng quản lý là TCTD PNH và NHTM. Kinh nghiệm quốc tế của nhiều quốc gia cho thấy do tính chất của đa số TCTD PNH là không nhận tiền gửi dân cư và mức độ ảnh hưởng đến an toàn hệ thống của các tổ chức này và nhóm các NHTM là khác nhau, nên không nên đồng nhất hai đối tượng quản lý này. Theo đó, các TCTD PNH nên được quản lý bằng các biện pháp phù hợp với mức độ rủi ro hệ thống của các tổ chức này.  

+ Việc quản lý các tổ chức này cần được cân bằng giữa mục tiêu giám sát an toàn và mục tiêu phát triển. Đặc biệt, mục tiêu giám sát an toàn nên tập trung vào các rủi ro có thể ảnh hưởng đến an toàn hệ thống, ví dụ như rủi ro thanh khoản, rủi ro TCTD PNH kết hợp với NHTM để “lách luật”, nhằm giúp NHTM không phải tuân thủ các quy định an toàn chặt chẽ, được quy định riêng cho các ngân hàng.   

– Các quy định quản lý cần được áp dụng riêng cho TCTD PNH.  

+ Các quy định, giới hạn an toàn: tách riêng chính sách giám sát an toàn đối với các TCTD PNH phù hợp với đặc trưng của các tổ chức này. Có thể áp dụng tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu, hoặc giới hạn đòn bẩy tài chính dành riêng cho các TCTD PNH. Các loại hình TCTD PNH khác nhau có thể được áp dụng các tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu khác nhau, sau khi xét đến yếu tố ảnh hưởng rủi ro hệ thống của các nhóm tổ chức này. Đối với giới hạn cấp tín dụng, ví dụ như giới hạn cho vay đối với một khách hàng và một nhóm khách hàng có thể được nới lỏng hơn so với NHTM. Nghiên cứu xem xét việc nới lỏng, hoặc chỉ áp dụng tỉ lệ này với một số nhóm TCTD PNH có ảnh hưởng quan trọng đến an toàn của hệ thống. Về khả năng thanh khoản, cần theo dõi và giám sát thường xuyên trạng thái thanh khoản của TCTD PNH để đảm bảo các chỉ số này luôn trong ngưỡng an toàn.   

+ Yêu cầu về quản trị: Việc cung cấp sản phẩm tín dụng chuyên biệt, mô hình chấm điểm tín dụng, các khâu lấy thông tin đầu vào, xét duyệt cho vay, kiểm soát sau cho vay, quy trình phân loại nợ và thu nợ tại TCTD PNH có nhiều khác biệt so với NHTM. Do đó, yêu cầu về quản trị đối với các tổ chức này cũng nên có các tiêu chuẩn riêng. Cần thiết phải tiến hành rà soát các khuôn khổ pháp lý hiện tại về các quy định hiện được áp dụng chung giữa các NHTM và các TCTD PNH, để tách riêng các yêu cầu về kiểm soát quản trị rủi ro của các tổ chức này. Nghiên cứu xây dựng thông tư về kiểm soát nội bộ tại TCTD PNH, xây dựng hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ phù hợp với đặc điểm của TCTD PNH, để các tổ chức này có cơ sở triển khai các mô hình cấp tín dụng chuyên biệt một cách hiệu quả, giảm rủi ro tín dụng cho các tổ chức này.  

– Chính sách hỗ trợ, phát triển TCTD PNH:  

Trong thời gian tới, việc cần thiết là phải xây dựng các cơ chế, chính sách mới để có định hướng rõ ràng cho sự phát triển của tổ chức tín dụng phi ngân hàng. Các cơ chế, chính sách phải đảm bảo cho các tổ chức tín dụng phi ngân hàng có thể nhìn thấy định hướng, mục tiêu phát triển hệ thống mà Cơ quan quản lý Nhà nước muốn hướng tới, để từ đó xây dựng kế hoạch và lộ trình phát triển cho tổ chức của mình. Một số đề xuất cụ thể về định hướng phát triển của tổ chức tín dụng phi ngân hàng:  

+ Thực tế cho thấy các công ty tài chính thành lập trong khoảng thời gian trước đây theo mô hình công ty tài chính tổng hợp có hiệu quả hoạt động không cao. Mặt khác, kinh nghiệm quốc tế cho thấy các nước nghiên cứu đều tập trung phát triển các tổ chức tín dụng phi ngân hàng theo hướng chuyên ngành. Do đó, Việt Nam cần xem xét cấu trúc lại mô hình của tổ chức tín dụng phi ngân hàng theo hướng, chỉ duy trì và cho phép thành lập mới đối với công ty tài chính chuyên ngành. Cụ thể: (i) Định hướng rõ ràng hoạt động của các công ty tài chính chuyên ngành theo thông lệ quốc tế là tập trung vào các hoạt động mang tính chuyên sâu, đòi hỏi mức độ chuyên nghiệp cao như: cho thuê tài chính, bao thanh toán; tín dụng tiêu dùng cho cá nhân; dịch vụ thẻ tín dụng; (ii) Tạo điều kiện cho các công ty tài chính tổng hợp chuyển đổi sang công ty tài chính chuyên ngành, hoặc sáp nhập, hợp nhất vào ngân hàng thương mại.   

+ Khuyến khích sự gia nhập của các tổ chức tín dụng phi ngân hàng mới. Lĩnh vực hoạt động của các tổ chức này vẫn còn nhiều dư địa để phát triển. Cần có những chính sách cấp phép phù hợp để loại bỏ những rào cản gia nhập thị trường chưa hợp lý, giúp TCTD PNH phát triển về số lượng để góp phần tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh, giảm gánh nặng cung ứng vốn cho nền kinh tế của NHTM, đa dạng hóa các loại hình dịch vụ tài chính cho khách hàng.  

+ Tạo lập “sân chơi” riêng cho tổ chức tín dụng phi ngân hàng, thông qua việc quy định cụ thể những hoạt động chỉ được thực hiện thông qua tổ chức tín dụng phi ngân hàng. Điều này không chỉ có lợi cho sự phát triển của tổ chức tín dụng phi ngân hàng, mà còn giúp các ngân hàng thương mại tập trung hơn vào các nghiệp vụ kinh doanh truyền thống.  

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

1. Luật Ngân hàng của Hàn Quốc, bản cập nhật ngày 27 tháng 4 năm 2002.

2. Các công ty tài chính phi ngân hàng Ấn Độ: sự thay đổi khung khổ giám sát, PwC, 2018.

3. Củng cố việc quản lý và giám sát hệ thống ngân hàng ngầm, Ủy ban Ổn định tài chính, 2012.

4. Luật Các công ty tài chính Singapore năm 2011.

6. Luật quản lý và giám sát hệ thống ngân hàng của Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc năm 2015.

7. Phát triển hoạt động cho thuê tài chính trong các nền kinh tế mới nổi, IFC, 2009. Nguyễn Thùy Linh Nguyễn Hà Phương Nguồn: TCNH số 23/2018

Cập nhật thông tin chi tiết về Vấn Đề Cạnh Tranh Của Các Tổ Chức Tín Dụng Trong Dự Thảo Luật Các Tổ Chức Tín Dụng / 2023 trên website Phauthuatthankinh.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!