Xu Hướng 2/2023 # Vai Trò Của Ban Kiểm Soát Trong Công Ty Cổ Phần # Top 5 View | Phauthuatthankinh.edu.vn

Xu Hướng 2/2023 # Vai Trò Của Ban Kiểm Soát Trong Công Ty Cổ Phần # Top 5 View

Bạn đang xem bài viết Vai Trò Của Ban Kiểm Soát Trong Công Ty Cổ Phần được cập nhật mới nhất trên website Phauthuatthankinh.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

25/07/2019

Luật sư Nguyễn Mạnh Tuấn

Hiện đang là mùa cao điểm đại hội cổ đông thường niên của các công ty cổ phần (CTCP). Tuy nhiên, tham dự một số đại hội cổ đông trong thời gian qua, có thể nhận thấy ban kiểm soát (BKS) trong các công ty này dường như chưa thể hiện hết vai trò bảo vệ nhà đầu tư và giám sát hoạt động của hội đồng quản trị (HĐQT) và ban giám đốc (BGĐ).

Trong phạm vi bài viết này, tác giả chỉ đề cập đến một số khía cạnh hoạt động của BKS trong CTCP hoạt động theo Luật Doanh nghiệp năm 2005.

Vai trò luật định

Nếu tạm coi CTCP là một “nhà nước” thu nhỏ, thì đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ) đóng vai trò là cơ quan lập pháp – nơi quyết định phương hướng phát triển và những vấn đề trọng đại khác của công ty; HĐQT và BGĐ được coi là cơ quan hành pháp – nơi điều hành hoạt động kinh doanh hàng ngày; còn BKS đóng vai trò của cơ quan tư pháp – có nhiệm vụ kiểm tra, kiểm soát hoạt động của HĐQT và BGĐ.

Cách ví von này có thể giúp chúng ta dễ mường tượng ra vai trò của BKS trong mối quan hệ với các bộ phận khác trong CTCP, nhất là trong vai trò “kiềm chế và đối trọng” với HĐQT và BGĐ.

Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến sự ra đời của BKS, trong đó có hai nguyên nhân chủ yếu là (i) sự phức tạp trong quá trình quản lý công ty và quan hệ giữa các cổ đông; và (ii) sự tách bạch giữa chủ sở hữu và người điều hành trực tiếp CTCP.

Khi quy mô các CTCP nhỏ, số lượng cổ đông ít, thường không có sự tách bạch giữa chủ sở hữu và người điều hành trực tiếp, mà các cổ đông thường đồng thời là người điều hành công ty. tức là ĐHĐCĐ sẽ đồng thời là thành viên của HĐQT.

Tuy nhiên, khi quy mô công ty lớn hơn, số lượng cổ đông nhiều hơn, sự điều hành và quản lý công ty trở nên phức tạp và do đó, cần có một đội ngũ quản trị chuyên nghiệp. Từ đây, người điều hành trực tiếp công ty có thể không đồng thời là chủ sở hữu công ty nữa.

Mối lo ngại của các cổ đông – người sở hữu thực sự của công ty – về việc điều hành công ty của HĐQT và BGĐ là một mối lo ngại chính đáng và có cơ sở. Đây là một trong những lý do dẫn đến sự ra đời của BKS. Theo điều 95, Luật Doanh nghiệp hiện hành, BKS sẽ phải được thành lập khi công ty có trên 11 cổ đông là cá nhân hoặc có cổ đông là tổ chức sở hữu trên 50% tổng số cổ phần của công ty.

Với các chức năng được quy định trong Luật Doanh nghiệp và điều lệ của công ty, BKS thực hiện việc giám sát HĐQT, BGĐ (giám đốc hoặc tổng giám đốc) trong việc quản lý và điều hành công ty, kiểm tra tính hợp lý, hợp pháp, tính trung thực và mức độ cẩn trọng trong quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh, trong tổ chức công tác kế toán, thống kê và lập báo cáo tài chính cũng như thẩm định báo cáo tình hình kinh doanh, báo cáo tài chính hàng năm và sáu tháng của công ty, báo cáo đánh giá công tác quản lý của HĐQT.

Như đã nêu ở trên, với chức năng là một “cơ quan tư pháp” trong một “nhà nước thu nhỏ”, để có thể giám sát HĐQT và BGĐ, BKS cần phải độc lập. Sự độc lập này cần được thể hiện trong việc thành lập và hoạt động của BKS. Thông qua việc thực hiện chức năng của mình, BKS sẽ đảm bảo rằng các quyết định của HĐQT và BGĐ là phù hợp với pháp luật, với các nghị quyết của ĐHĐCĐ và bảo vệ lợi ích của các cổ đông. Chính vai trò bảo vệ cổ đông, bảo vệ nhà đầu tư là lý do cho sự ra đời, tồn tại và hoạt động của BKS.

Thực trạng

Tuy nhiên, thực tế cho thấy BKS đã không thể hiện đầy đủ vai trò bảo vệ cổ đông và nhà đầu tư. Do đó, rủi ro mà nhà đầu tư và cổ đông phải gánh chịu từ “sự lép vế” của BKS là rất lớn.

Đọc báo cáo của BKS trong các kỳ đại hội, cổ đông thường có cảm giác rằng các báo cáo này chỉ là bản sao các báo cáo của HĐQT và BGĐ. Nội dung chủ yếu là “khen” HĐQT và BGĐ, rất ít thông tin có ích cho cổ đông. Trong một số trường hợp, những vấn đề cần đưa vào báo cáo của BKS đã được thống nhất trước với HĐQT và BGĐ trong phiên họp “trù bị” trước đó rồi. Do đó, tại đại hội, vai trò của BKS chỉ là ngồi cho đủ ban bệ.

Trong thời gian qua, có rất nhiều việc làm sai trái của HĐQT hoặc BGĐ ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích của cổ đông nhưng không hề có tiếng nói cảnh báo nào từ BKS cho đến khi sự việc bị phát hiện. Với tư cách là chủ sở hữu công ty và là người bầu ra BKS, chắc chắn cổ đông có lý do để bất bình về vai trò và chức năng của BKS.

Bên cạnh đó, mặc dù các quy định pháp luật đã trao cho BKS quyền được triệu tập họp ĐHĐCĐ khi HĐQT không triệu tập họp hoặc có vi phạm nghĩa vụ quản lý (1), nhưng trên thực tế có bao nhiêu trường hợp BKS thực thi quyền hạn này?!

Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến vai trò “ảo” của BKS. HĐQT và BGĐ thường không ưa BKS vì nếu có họ, HĐQT và BGĐ sẽ không thể quyết định theo kiểu “dọc ngang nào biết trên đầu có ai” mà phải luôn dè chừng BKS “thổi còi”. Vì thế, HĐQT và BGĐ luôn tìm cách để tránh khỏi sự kiểm soát đó. Đây là nguyên nhân khiến hoạt động của BKS không hiệu quả.

Lập ra BKS để bảo vệ lợi ích cho mình nhưng đôi khi chính cổ đông lại không hiểu đúng vai trò của họ. ĐHĐCĐ chỉ họp một, hai lần trong một năm và mỗi phiên họp thường diễn ra trong một ngày. Do đó, có trường hợp, do thời gian quá gấp rút, ĐHĐCĐ chỉ kịp bầu ra BKS, và trao quyền cho chủ tịch HĐQT ban hành quy chế hoạt động của BKS! Được trao quyền này, lẽ dĩ nhiên là chủ tịch HĐQT sẽ giới hạn quyền của BKS tới mức có thể nhằm mở rộng quyền của mình. Thậm chí, tại một số công ty, cổ đông còn chấp thuận cho HĐQT bổ nhiệm thành viên BKS, và tất nhiên là HĐQT sẽ bổ nhiệm “người trong nhà” để tăng thêm quyền lực. Ngoài ra, tại một số công ty, HĐQT và BGĐ nhiều khi cũng không rõ vai trò của BKS, coi BKS chỉ là một phòng ban trong công ty, thậm chí ngay cả BKS cũng không rõ vai trò và quyền hạn của mình. Vì thế sự tồn tại của BKS nhiều khi mang nặng tính hình thức.

Theo luật định, thành viên BKS không được giữ các chức vụ quản lý công ty. Nghĩa là thành viên BKS sẽ chỉ là một người lao động bình thường, một nhân viên cấp thấp trong công ty. Trong vai trò kiểm soát viên, họ cần độc lập với HĐQT và BGĐ, còn trong vai trò người lao động, họ chịu sự quản lý của HĐQT và BGĐ. Một câu hỏi đơn giản là trong hoàn cảnh này, BKS có thể độc lập kiểm soát hoạt động của công ty được không? Chính mâu thuẫn giữa hai vai trò này khiến cho thành viên BKS cùng lúc chịu nhiều áp lực và thông thường, họ sẽ chọn lựa vai trò người lao động vì dẫu sao, hàng tháng họ vẫn phải nhận tiền lương của công ty.

Báo cáo của BKS thường được trình cho ĐHĐCĐ vào mỗi kỳ họp. Thời gian giữa các kỳ họp lại quá xa và như vậy, báo cáo của BKS không còn tính thời sự. Bên cạnh đó, các quy định hiện hành về chế độ kế toán, các báo cáo hàng năm của CTCP phải nộp cho cơ quan thuế chỉ gồm bản cân đối kế toán; báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh; báo cáo lưu chuyển tiền tệ và bản thuyết minh báo cáo tài chính (2).

Trong quy định về công bố thông tin của công ty đại chúng, nội dung công bố thông tin về báo cáo tài chính năm cũng chỉ bao gồm các tài liệu trên (3).

Như vậy, báo cáo của BKS không phải là tài liệu bắt buộc phải nộp cho cơ quan quản lý hoặc công bố thông tin theo quy định. Như đã nêu ở trên, báo cáo của BKS là một tài liệu quan trọng, giúp nhà đầu tư và cơ quan quản lý nhà nước có được cái nhìn toàn diện về doanh nghiệp từ góc độ mà các bản báo cáo tài chính không đề cập đến. Thông tin trong báo cáo của BKS có tầm quan trọng không kém các báo cáo tài chính. Do đó, cần phải xem xét việc yêu cầu CTCP, nhất là công ty đại chúng, phải công bố báo cáo của BKS cùng với báo cáo tài chính.

Nếu toàn bộ quyền lực trong CTCP đều tập trung vào HĐQT và BGĐ, thì không ai dám khẳng định rằng họ không lạm quyền và khi đó cổ đông sẽ không được bảo vệ. BKS là một cơ chế phù hợp để cổ đông tự bảo vệ mình. Muốn như thế, hoạt động của BKS cần được điều chỉnh bởi một khung pháp lý rõ ràng hơn, đồng thời chính cổ đông phải hiểu rõ và sử dụng vai trò của BKS một cách thông minh và phù hợp. Ngoài ra, khi được cổ đông tin tưởng và trao quyền, BKS phải có đủ khả năng và dũng khí thực thi nhiệm vụ, các báo cáo của BKS phải thể hiện được tính độc lập và chính xác. Chỉ có như vậy quyền lợi của cổ đông mới được bảo vệ và xã hội mới tránh được những thiệt hại từ sự sụp đổ của các CTCP.

(1) Điều 97 – Luật Doanh nghiệp 2005.(2) Theo Quyết định số 15/2006/QĐ-BTC ngày 20-3-2008 về việc ban hành chế độ kế toán doanh nghiệp và Quyết định số 48/2006/QĐ-BTC ngày 14-9-2006 về việc ban hành chế độ kế toán doanh nghiệp nhỏ và vừa của Bộ Tài chính.(3) Theo Thông tư 38/2007/TT0-BTC của Bộ Tài chính ngày 18-4-2007 hướng dẫn về công bố thông tin trên thị trường chứng khoán.

Nguồn thời báo kinh tế sài gòn

Quy Định Về Ban Kiểm Soát, Kiểm Soát Viên Trong Công Ty Cổ Phần

Quy định về ban kiểm soát, kiểm soát viên trong công ty cổ phần. Tiêu chuẩn, nhiệm vụ, quyền hạn của ban kiểm soát nói chung và kiểm soát viên nói riêng trong công ty cổ phần.

Ban kiểm soát được hiểu là một bộ phận quan trọng trong cơ cấu bộ máy quản lý của công ty, do cơ quan đại diện chủ sở hữu của công ty thành lập để giúp cơ quan này kiểm tra tính hợp lý, hợp pháp trong hoạt động quản lý và điều hành công ty, trong việc chấp hành pháp luật, điều lệ và các quyết định của cơ quan đó.

Như vậy, ta có thể hiểu sơ bộ về chức năng của ban quản lý là ban quản lý có chức năng kiểm tra, giám sát các hoạt động của doanh nghiệp.

Ban kiểm soát có nhiệm vụ kiểm tra và báo cáo tình hình cho cơ quan đại diện chủ sở hữu công ty về tính hợp pháp, tính hợp lý trong mọi hoạt động kinh doanh, điều hành của công ty. Trong việc ghi chép sổ kế toán và báo cáo tài chính hoạt động kinh doanh của công ty. Kiến nghị các biện pháp bổ sung, biện pháp sửa đổi, biện pháp cải tiến cơ cấu quản lý, tổ chức điều hành hoạt động của công ty, các nhiệm vụ khác theo quy định của điều lệ. Để thực hiện được nhiệm vụ của mình thì ban kiểm soát có quyền yêu cầu các cơ quan quản lý, điều hành công ty phải thực hiện cung cấp đầy đủ và kịp thời các thông tin cũng như tài liệu về hoạt động kinh doanh của công ty.

Thứ ba, quy định về thành phần của ban kiểm soát

Thứ tư, quy định về cơ cấu của ban kiểm soát trong công ty cổ phần

Ban kiểm soát của công ty cổ phần theo quy định của Luật doanh nghiệp 2014 sẽ có từ 3 đến 5 thành viên, nhiệm kỳ của kiểm soát viên trong ban kiểm soát không quá 5 năm và có thể được bầu lại với số nhiệm kỳ không hạn chế. Trong Ban kiểm soát có Trưởng Ban kiểm soát. Trưởng Ban kiểm soát được bầu bởi các Kiểm soát viên trong ban theo nguyên tắc đa số. Yêu cầu thấp nhất đối với Trưởng ban kiểm soát phải là kế toán viên hoặc kiểm toán viên chuyên nghiệp hoạt động chuyên trách tại công ty, Điều lệ công ty có thể yêu cầu cao hơn đối với chức danh này.

-Không được giữ các chức vụ quản lý công ty, không nhất thiết là cổ đông hoặc người lao động trong công ty, trừ trường hợp Điều lệ công ty quy định khác;

-Kiểm soát viên công ty cổ phần niêm yết, công ty do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ phải là kế toán viên hoặc kiểm toán viên

Như vậy, ta có thể thấy để được trở thành kiểm soát viên trong ban kiểm soát thì thành viên đó phải đáp ứng được tất cả các điều kiện, tiêu chuẩn nêu trên thì mới có thể trở thành kiểm soát viên trong ban kiểm soát của công ty cổ phần.

Thứ sáu, kiểm soát viên trong công ty cổ phần có các quyền và nghĩa vụ sau

Kiểm soát viên khi làm việc trong ban kiểm soát sẽ có các quyền cụ thể như sau:

-Kiểm soát viên kiểm tra tính hợp lý, hợp pháp, tính trung thực và mức độ cẩn trọng trong điều hành, quản lý hoạt động kinh doanh; tính hệ thống, nhất quán và phù hợp của công tác thống kê, kế toán và lập báo cáo tài chính;

-Kiểm soát viên tiến hành thực hiện việc thẩm định tính đầy đủ, hợp pháp và trung thực của báo cáo tài chính, báo cáo tình hình kinh doanh, hằng năm và 06 tháng của công ty, báo cáo đánh giá công tác quản lý của Hội đồng quản trị công ty và trình báo cáo thẩm định tại cuộc họp thường niên của Đại hội đồng cổ đông.

– Kiểm soát viên thực hiện việc kiểm tra, rà soát và đánh giá hiệu lực, hiệu quả của hệ thống kiểm soát, kiểm toán nội bộ, quản lý rủi ro và cảnh báo sớm hoạt động của công ty.

– Kiểm soát viên thực hiện việc xem xét ghi chép kế toán, sổ kế toán và các tài liệu khác của công ty, các công việc điều hành, quản lý hoạt động của công ty khi thấy cần thiết hoặc theo nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông, theo yêu cầu của cổ đông hoặc một nhóm cổ đông được quy định tại khoản 2 Điều 114 của Luật doanh nghiệp 2014.

– Khi có yêu cầu của cổ đông hoặc một nhóm cổ đông quy định tại khoản 2 Điều 114 của Luật d

oanh nghiệp 2014, Ban kiểm soát thực hiện kiểm tra trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được yêu cầu từ cổ đông. Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày kết thúc kiểm tra, Ban kiểm soát phải báo cáo và giải trình về những vấn đề được yêu cầu kiểm tra đến Hội đồng quản trị và cổ đông hoặc một nhóm cổ đông có yêu cầu trên.

-Kiểm soát viên thực hiện kiến nghị với Hội đồng quản trị hoặc Đại hội đồng cổ đông về các biện pháp sửa đổi, bổ sung, cải tiến cơ cấu tổ chức giám sát, quản lý và điều hành hoạt động kinh doanh của công ty.

– Khi phát hiện có thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc, Tổng giám đốc có vi phạm quy định tại Điều 160 của Luật doanh nghiệp 2014 thì phải ngay bằng văn bản với Hội đồng quản trị để yêu cầu người có hành vi vi phạm chấm dứt hành vi vi phạm và có giải pháp khắc phục hậu quả.

– Trước khi trình kết luận, kiến nghị và báo cáo lên Đại hội đồng cổ đông, Ban kiểm soát có thể tham khảo ý kiến của Hội đồng quản trị.

“Điều 166. Quyền được cung cấp thông tin của Ban kiểm soát

“Điều 167. Tiền lương và quyền lợi khác của Kiểm soát viên

Thứ bảy, quy định pháp luật về trách nhiệm của kiểm soát viên trong công ty cổ phần

Khi thực hiện nhiệm vụ kiểm soát viên trong công ty cổ phần, kiểm soát viên phải thực hiện các trách nhiệm theo quy định của pháp luật như sau:

-Kiểm soát viên phải tiến hành nghiêm chỉnh việc tuân thủ đúng pháp luật, Điều lệ công ty, nghị quyết của đại hội đồng cổ đông và đạo đức nghề nghiệp

-Kiểm soát viên phải nghiêm túc thực hiện tốt các quyền và nghĩa vụ được giao, trung thành với lợi ích của công ty, không sử dụng địa vị, chức vụ, tài sản, thông tin của công ty nhằm mục đích tư lợi

-Kiểm soát viên phải đảm bảo thực hiện tốt các nghĩa vụ khác theo điều lệ công ty đã quy định

Nếu kiểm soát viên có dấu hiệu vi phạm các trách nhiệm nêu trên mà gây ra thiệt hại cho công ty thì kiểm soát viên và ban kiểm soát phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của công ty hoặc liên đới bồi thường thiệt hại nếu có xảy ra.

Quyền Và Nhiệm Vụ Của Ban Kiểm Soát Trong Công Ty Cổ Phần

Ban kiểm soát là gì? Ban kiểm soát trong công ty cổ phần được quy định thế nào? Các quyền và nghĩa vụ, trách nhiệm và quyền hạn của Ban kiểm soát trong công ty cổ phần?

Nền kinh tế của nước ta trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường đã đánh dấu sự xuất hiện và phát triển của loại hình công ty cổ phần. Sự tồn tại của mô hình công ty này là một tất yếu khách quan bởi lẽ trong bối cảnh nền kinh tế thị trường đầy tính cạnh tranh, công ty cổ phần với đặc trưng phát hành cổ phiếu, trái phiếu có thể huy động vốn với quy mô lớn và hiệu quả cao để từ đó đảm bảo được tính cạnh tranh cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế.

Đối với loại hình công ty cổ phần, bởi tính quy mô lớn với số lượng các cổ đông của doanh nghiệp nên việc quản lý và điều hành công ty cổ phần được đánh giá là rất phức tạp, trong nhiều trường hợp có thể phân hóa thành các nhóm cổ đông đối kháng nhau về lợi ích. Chính vì vậy, việc thành lập Ban kiểm soát trong công ty cổ phần đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh của công ty, đảm bảo sự tách bạch giữa chủ sở hữu và người điều hành trực tiếp của công ty cổ phần.

Vậy, ban kiểm soát trong công ty cổ phần có những nhiệm vụ và quyền hạn gì đối với việc điều hành quản lý của công ty cổ phần? Luật Dương Gia sẽ cùng quý bạn đọc tìm hiểu về vấn đề này.

1. Cơ cấu tổ chức của Ban kiểm soát trong công ty cổ phần

Theo quy định tại Điều 163 Luật doanh nghiệp năm 2014, Ban kiểm soát của công ty cổ phần được thành lập với cơ cấu như sau:

Thứ nhất, về số lượng thành viên: 03 đến 05 thành viên

– Trưởng Ban kiểm soát được bầu bởi các Kiểm soát viên theo nguyên tắc đa số, có quyền và nghĩa vụ do Điều lệ công ty quy định.

– Về điều kiện của Trưởng Ban kiểm soát: phải đảm bảo có điều kiện là kế toán viên hoặc kiểm toán viên chuyên nghiệp, làm việc chuyên trách tại công ty (trừ trường hợp Điều lệ do công ty quy định có tiêu chuẩn cao hơn)

– Ban kiểm soát của công ty cổ phần luôn phải đảm bảo điều kiện có hơn một nửa số thành viên thường trú ở Việt Nam trong mọi trường hợp.

Thứ ba, về nhiệm kỳ của Kiểm soát viên:

– Đối với trường hợp Kiểm soát viên đã kết thúc nhiệm kỳ mà Kiểm soát viên của nhiệm kỳ mới chưa được bầu thì theo quy định, Kiểm soát viên cũ sẽ vấn được quyền tiếp tục giữ vai trò cho đến khi Kiểm soát viên của nhiệm kỳ mới được bầu và nhận nhiệm vụ.

2. Tiêu chuẩn và điều kiện của Kiểm soát viên trong Ban kiểm soát

Để trở thành Kiểm soát viên trong công ty cổ phần, cá nhân cần đảm bảo các điều kiện và tiêu chuẩn theo quy định tại Điều 164 Luật doanh nghiệp 2014 như sau:

Thứ nhất, Kiểm soát viên phải là những người có đầy đủ năng lực hành vi dân sự và không nằm trong những trường hợp bị cấm thành lập và quản lý doanh nghiệp theo quy định của pháp luật.

Thứ hai, Kiểm soát viên của công ty cổ phần không phải là những người có mối quan hệ thân thích với thành viên của Hội đồng quản trị, Giám đốc, Tổng giám đốc hoặc những người quản lý khác như vợ, chồng, cha mẹ (bao gồm cả cha mẹ đẻ, cha mẹ nuôi, con (bao gồm con nuôi, con đẻ), anh chị em ruột

Thứ ba, người giữ vai trò là Kiểm soát viên trong công ty không được đồng thời là quản lý công ty nhưng cũng không bắt buộc phải là cổ đông hay người lao động của công ty cổ phần (trừ trường hợp có quy định khác trong Điều lệ do công ty ban hành).

– Riêng đối với những công ty cổ phần đã niêm yết hoặc do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ thì Kiểm soát viên của Ban kiểm soát phải đáp ứng thêm điều kiện là kiểm toán viên hoặc kế toán viên.

3. Quyền và nghĩa vụ của Ban kiểm soát trong công ty cổ phần

Theo quy định của Điều 165 Luật doanh nghiệp năm 2014, Ban kiểm soát của công ty cổ phần có các quyền và nghĩa vụ sau đây:

Thứ nhất, Ban kiểm soát có trách nhiệm và quyền giám sát đối với Hội đồng quản trị, Giám đốc, Tổng Giám đốc trong việc quản lý, điều hành công ty, trong công tác kế toán, thống kê và lập báo cáo tài chính để đảm bảo tính trung thực, hợp pháp và hệ thống, nhất quán. Trong trường hợp phát hiện có hành vi vi phạm của người quản lý công ty thì phải ngay bằng văn bản với Hội đồng quản trị, yêu cầu người có hành vi vi phạm chấm dứt hành vi vi phạm và có giải pháp khắc phục hậu quả.

Thứ hai, Ban Kiểm soát có trách nhiệm tiến hành thẩm định các báo cáo về tình hình kinh doanh, báo cáo tài chính của công ty, các báo cáo đánh giá về công tác quản lý của Hội đồng quản trị để từ đó trình báo cáo thẩm định tại cuộc họp thường niên Đại hội đồng cổ đông. Tiến hành kiểm tra, rà soát và đánh giá hệ thống kiểm soát, kiểm toán nội bộ, quản lý rủi ro, cảnh báo của công ty.

– Việc thực hiện kiểm tra được tiến hành trong thời hạn 7 ngày làm việc kể từ ngày Ban kiểm soát nhận được yêu cầu.

– Sau khi kết thúc việc kiểm tra, Ban kiểm soát phải có trách nhiệm báo cáo giải trình đến các cổ đông đã yêu cầu hoặc Hội đồng quản trị trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày kết thúc kiểm tra theo quy định.

Thứ tư, trong trường hợp cần thiết, Ban kiểm soát có thể kiến nghị Hội đồng quản trị hoặc Đại hội đồng cổ đông thực hiện việc sửa đổi, bổ sung hoặc cải tiến về cơ cấu tổ chức quản lý, giám sát và điều hành đối với các hoạt động kinh doanh của công ty cổ phần.

Thứ sáu, Ban kiểm soát có quyển sử dụng bộ phận kiểm toán nội bộ hoặc tư vấn độc lập để đảm bảo việc thực hiện các nhiệm vụ của mình. Bên cạnh đó có thể tham khảo ý kiến của Hội đồng quản trị trước khi trình các báo cáo, kiến nghị lên Đại hội đồng cổ đông.

Thứ bảy, Ban kiểm soát được quyền cung cấp các thông tin về hoạt động của công ty thể hiện qua các hình thức sau đây:

– Kiểm soát viên của Ban kiểm soát có quyền được tiếp cận các hồ sơ, tài liệu của công ty cũng như có quyền đến các địa điểm làm việc của người quản lý và nhân viên của công ty trong giờ làm việc để đảm bảo việc giám sát

– Để đảm bảo cho hoạt động của Ban kiểm soát, những thành viên quản lý của công ty cổ phẩn có nghĩa vụ phải kịp thời cung cấp cho Ban kiểm soát những thông tin, tài liệu về công tác của mình trong quản lý, điều hành và hoạt động của công ty khi được yêu cầu.

Bên cạnh những nhiệm vụ và quyền hạn mà pháp luật đã quy định, Ban kiểm soát trong công ty cổ phần còn thực hiện những quyền và nhiệm vụ khác được quy định trong Điều lệ của công ty.

TƯ VẤN MỘT TRƯỜNG HỢP CỤ THỂ:

Công ty tôi là công ty cổ phần do Nhà nước nắm giữ 51% vốn điều lệ, hiện nay công ty đang tiến hành thành lập Ban kiểm soát với 5 thành viên. Vậy luật sư cho tôi hỏi cá nhân phải đáp ứng những điều kiện nào để trở thành thành viên của Ban kiểm soát?

Khi công ty đã thành lập Ban kiểm soát thì những nghị quyết và biên bản họp của Hội đồng quản trị có cần gửi đến Kiểm soát viên không và phải gửi khi nào?

Tại Điều 164 Luật doanh nghiệp năm 2014 có quy định về tiêu chuẩn và điều kiện của Kiểm soát viên công ty cổ phần như sau:

“Điều 164. Tiêu chuẩn và điều kiện của Kiểm soát viên

Đối chiếu với quy định này, do công ty của bạn là công ty cổ phần do Nhà nước nắm giữ 51% vốn điều lệ. Do đó, ngoài những điều kiện chung về tiêu chuẩn và điều kiện cần đáp ứng, Kiểm soát viên của công ty bạn phải đáp ứng điều kiện là kiểm toán viên hoặc kế toán viên.

Ban kiểm soát trong công ty cổ phần có quyền được thông tin theo quy địnn tại Điều 166 Luật doanh nghiệp năm 2014 như sau:

“Điều 166. Quyền được cung cấp thông tin của Ban kiểm soát

Căn cứ theo quy định này thì khi công ty cổ phần của bạn đã thành lập ban kiểm soát, những nghị quyết hay biên bản họp của Hội đồng quản trị phải được gửi đến Kiểm soát viên. Thời hạn gửi đến kiểm soát viên phải được thực hiện cùng thời điểm và theo phương thức như đối với thành viên Hội đồng quản trị.

Công Ty Cổ Phần Có Buộc Phải Có Ban Kiểm Soát Không?

Công ty cổ phần được Luật Doanh nghiệp năm 2014 điều chỉnh với nhiều quy định mới so với Luật Doanh nghiệp năm 2005. Trong đó, đáng chú ý nhất là những quy định về sự tồn tại và sức ảnh hưởng của Ban kiểm soát trong cơ cấu tổ chức, quản lý của công ty cổ phần . Luật Doanh nghiệp năm 2014 quy định rõ các trường hợp phải buộc có ban kiểm soát .

Căn cứ pháp lý thành lập Ban kiểm soát trong công ty cổ phần

Ban kiểm soát trong công ty cổ phần được quy định tại Luật Doanh nghiệp năm 2014, cụ thể như sau:

“Cơ cấu tổ chức quản lý công ty cổ phần: 1- Công ty cổ phần có quyền lựa chọn tổ chức quản lý và hoạt động theo một trong hai mô hình sau đây, trừ trường hợp pháp luật về chứng khoán có quy định khác: (a) Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát và Giám đốc hoặc Tổng giám đốc. Trường hợp công ty cổ phần có dưới 11 cổ đông và các cổ đông là tổ chức sở hữu dưới 50% tổng số cổ phần của công ty thì không bắt buộc phải có Ban kiểm soát…” (Điều 134);

Ban kiểm soát: ” 1- Ban kiểm soát có từ 03 đến 05 thành viên, nhiệm kỳ của Kiểm soát viên không quá 05 năm và Kiểm soát viên có thể được bầu lại với số nhiệm kỳ không hạn chế. 2- Các Kiểm soát viên bầu một người trong số họ làm Trưởng Ban kiểm soát theo nguyên tắc đa số. Quyền và nghĩa vụ của Trưởng Ban kiểm soát do Điều lệ công ty quy định. Ban kiểm soát phải có hơn một nửa số thành viên thường trú ở Việt Nam. Trưởng Ban kiểm soát phải là kế toán viên hoặc kiểm toán viên chuyên nghiệp và phải làm việc chuyên trách tại công ty, trừ trường hợp Điều lệ công ty quy định tiêu chuẩn khác cao hơn. 3- Trường hợp Kiểm soát viên có cùng thời điểm kết thúc nhiệm kỳ mà Kiểm soát viên nhiệm kỳ mới chưa được bầu thì Kiểm soát viên đã hết nhiệm kỳ vẫn tiếp tục thực hiện quyền và nghĩa vụ cho đến khi Kiểm soát viên nhiệm kỳ mới được bầu và nhận nhiệm vụ” (Điều 163);

Ban kiểm soát trong công ty cổ phần, có thể lựa chọn có hoặc không

Ban kiểm soát trong công ty cổ phần là cơ quan có chức năng giám sát hội đồng quản trị Giám đốc hoặc Tổng giám đốc trong việc quản lý và điều hành công ty; kiểm tra tính hợp lý, hợp pháp, tính trung thực và mức độ cẩn trọng trong quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh; thẩm định tính đầy đủ, hợp pháp và trung thực của báo cáo tình hình kinh doanh, báo cáo tài chính và các hoạt động rà soát, giám sát hoạt động kinh doanh khác của công ty.

Như vậy, bản chất của Ban kiểm soát chính là đảm bảo sự thận trọng và minh bạch trong hoạt động kinh doanh của công ty cổ phần.

Thực tế cho thấy, cũng vì hoạt động kiểm tra, rà soát này mà đôi khi làm bộ máy của công ty cổ phần cồng kềnh, ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh bình thường của công ty. Do vậy, công ty cổ phần có thể lựa chọn việc có Ban kiểm soát hay không trong cơ cấu tổ chức, quản lý công ty của mình.

Công ty cổ phần có quyền lựa chọn tổ chức quản lý và hoạt động theo một trong hai mô hình sau đây, trừ trường hợp pháp luật về chứng khoán có quy định khác:

(i) Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát và Giám đốc hoặc Tổng giám đốc. Trường hợp công ty cổ phần có dưới 11 cổ đông và các cổ đông là tổ chức sở hữu dưới 50% tổng số cổ phần của công ty thì không bắt buộc phải có Ban kiểm soát.

(ii) Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị và Giám đốc hoặc Tổng giám đốc. Trường hợp này ít nhất 20% số thành viên Hội đồng quản trị phải là thành viên độc lập và có Ban kiểm toán nội bộ trực thuộc Hội đồng quản trị. Các thành viên độc lập thực hiện chức năng giám sát và tổ chức thực hiện kiểm soát đối với việc quản lý điều hành công ty.

Như vậy, công ty cổ phần có thể không thành lập Ban kiểm soát trong trường hợp: Nếu lựa chọn mô hình tổ chức công ty bao gồm đại hội đồng cổ đông, hội đồng quản trị, và giám đốc hoặc tổng giám đốc (trong trường hợp này công ty phải đảm bảo ít nhất 20% số thành viên hội đồng quản trị phải là thành viên độc lập và có ban kiểm toán nội bộ trực thuộc hội đồng quản trị để thực hiện chức năng kiểm soát hoạt động của công ty); Hoặc công ty cổ phầncó dưới 11 cổ đông và các cổ đông là tổ chức sở hữu dưới 50% tổng số cổ phần của công ty.

Quy định mới về Ban kiểm soát trong công ty cổ phần

Quy định về Ban kiểm soát của Luật Doanh nghiệp năm 2014 có những điểm mới so với Luật Doanh nghiệp năm 2005.

Luật Doanh nghiệp năm 2014 quy định về Ban kiểm soát trong công ty cổ phần có từ 03 đến 05 thành viên, nhiệm kỳ của Kiểm soát viên không quá 05 năm và Kiểm soát viên có thể được bầu lại với số nhiệm kỳ không hạn chế. Các Kiểm soát viên bầu một người trong số họ làm Trưởng Ban kiểm soát theo nguyên tắc đa số. Quyền và nghĩa vụ của Trưởng Ban kiểm soát do Điều lệ công ty quy định. Ban kiểm soát phải có hơn một nửa số thành viên thường trú ở Việt Nam.

Trưởng Ban kiểm soát phải là kế toán viên hoặc kiểm toán viên chuyên nghiệp và phải làm việc chuyên trách tại công ty, trừ trường hợp Điều lệ công ty quy định tiêu chuẩn khác cao hơn. Trường hợp Kiểm soát viên có cùng thời điểm kết thúc nhiệm kỳ mà Kiểm soát viên nhiệm kỳ mới chưa được bầu thì Kiểm soát viên đã hết nhiệm kỳ vẫn tiếp tục thực hiện quyền và nghĩa vụ cho đến khi Kiểm soát viên nhiệm kỳ mới được bầu và nhận nhiệm vụ.

Như vậy, chế định công ty cổ phần được điều chỉnh với nhiều quy định mới, trong đó, đáng chú ý là những quy định về sự tồn tại và sức ảnh hưởng của Ban kiểm soát.

Một số vai trò trọng yếu của Ban kiểm soát trong công ty cổ phần

Căn cứ các quyền và nghĩa vụ của Ban kiểm soát, kiểm soát viên theo quy định của pháp luật, việc thành lập Ban kiểm soát và bổ nhiệm kiểm soát viên mang lại những lợi ích sau cho công ty:

Một là, đảm bảo hoạt động bình thường đúng pháp luật của công ty thông qua việc kiểm tra tính hợp lý, hợp pháp, tính trung thực và mức độ cẩn trọng trong quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh, trong tổ chức công tác kế toán, thông kê và lập báo cáo tài chính của công ty.

Hai là, phát hiện kịp thời các hành vi sai phạm của những người quản lý trong công ty, góp phần phòng tránh, giảm thiểu các thiệt hại xảy ra cho công ty thông qua việc xem xét sổ kế toán và các tài liệu khác của công ty, các công việc quản lý, điều hành hoạt động của công ty bất cứ khi nào xét thấy cần thiết.

Ba là, được tư vấn các biện pháp sửa đổi, bổ sung, cải thiện cơ cấu tổ chức quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh của công ty.

Tóm lại, pháp luật quy định cho phép tự do lựa chọn mô hình quản trị đối vớicông ty cổ phầnvừa phù hợp với thông lệ quốc tế, vừa phù hợp với thực tế đa dạng của doanh nghiệp về quy mô, tính chất sở hữu và sự đa dạng của cách thức quản trị công ty như hiện nay ở Việt Nam.

Mặt khác, quy định mới này cũng phù hợp với thực tế hoạt động của Ban kiểm soát trongcông ty cổ phần hiện nay. Mặc dù về lý thuyết, việc tồn tại Ban kiểm soát có vẻ mang đến nhiều lợi ích cho công ty, nhưng khi hoạt động, Ban kiểm soát khó có thể thực hiện được hết chức năng, nhiệm vụ của mình. Hội đồng quản trị, tổng giám đốc hoặc giám đốc thường tìm cách và đủ điều kiện để hạn chế vai trò của Ban kiểm soát. Đó là chưa kể, có thể một phần do tâm lý “người nhà” nên rất khó để cho các thành viên Ban kiểm soát hoạt động một cách công tâm.

Do vậy, giao quyền tự quyết có thành lập Ban kiểm soát hay không là hoàn toàn hợp lý theo nguyện vọng, mong muốn và nhu cầu của công ty cổ phần.

Bài viết được thực hiện bởi: Luật sư Nguyễn Thị Hoài Thương – Luật sư của Công ty Luật TNHH Everest

Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest:

Bài viết trong lĩnh vực pháp luật doanh nghiệp được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.

Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý Vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết.

Cập nhật thông tin chi tiết về Vai Trò Của Ban Kiểm Soát Trong Công Ty Cổ Phần trên website Phauthuatthankinh.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!