Ý Nghĩa Các Biện Pháp Cải Tạo Đất Mặn / Top 10 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 2/2023 # Top View | Phauthuatthankinh.edu.vn

Biện Pháp Cải Tạo Đất Mặn

Những năm gần đây mực nước biển dâng lên do tác động của biến đổi khí hậu, cùng với lưu lượng nước sông Cửu Long ngày càng ít đi trong mùa nắng, làm cho nước biển xâm nhập sâu vào đất liền, tình trạng mặn thường xảy ra sớm, và thời gian mặn gay gắt kéo dài… Hiện nay diện tích đất nông nghiệp của Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) có hơn 2,6 triệu hecta, chiếm 25% diện tích đất nông nghiệp cả nước và đóng góp đến 35% tổng giá trị sản xuất nông nghiệp. Tuy nhiên, mùa khô 2015-2016, Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) phải hứng chịu một đợt hạn – mặn lịch sử chưa từng có, gây thiệt hại nặng nề cho 9/13 tỉnh ven biển. Theo đánh giá của nhiều chuyên gia thì tình hình biến đổi khí hậu vẫn còn diễn biến phức tạp và khó lường trong nhiều năm tới. Do đó làm sao để giải được bài toán chống hạn mặn là vấn đề rất đáng quan tâm và cần thiết.

Công ty CP HC Đất Việt đưa ra giải pháp tăng chống chịu hạn mặn cho cây trồng đến bà con nông dân với mục đích giúp cây trồng sinh trưởng phát triển mạnh, chống chịu với hạn mặn giúp tăng sản lượng, năng suất cây trồng và chất lượng nông sản.

Giải pháp tăng khả năng chống chịu, phòng chống hạn mặn cho cây trồng:

– Vùng có nguy cơ nhiễm mặn thường xuyên cần chú ý thực hiện tốt thủy lợi nội đồng để có khả năng trữ nước ngọt và ngăn mặn cục bộ, nếu trồng cây ăn trái cần dịch chuyển tránh thời điểm ra hoa, mang trái tập trung trong thời điểm nước mặn, tạo bóng mát và đậy gốc cây, có đủ điều kiện che phủ bờ líp trồng để tăng cường giữ ẩm, giảm mất nước cho cây, đất trồng. Trước giai đoạn nhiễm mặn cần tăng cường bón các loại phân có chứa các chất kali, lân, vôi, chất hữu cơ để tăng khả năng đề kháng của cây trồng. Hạn chế tỉa cành, tạo tán, nhất là tỉa đau trong lúc hoặc trước thời điểm hạn mặn.

– Trong giai đoạn bị nhiễm mặn nên phun bổ sung phân bón lá có chứa Kali.

– Phun phân bón lá có chứa Canxi và Silic để bổ sung cho cây. Silic giúp thúc đẩy quá trình quang hợp, gia tăng tỷ lệ chọn lọc của K + và giảm lượng hút Na+ của cây trồng. Canxi là nguyên tố cần thiết trong việc bảo vệ rễ cây trồng khỏi bị gây hại do mặn, giúp duy trì sự ổn định của màng tế bào, bảo vệ tế bào biểu bì giảm bị tác hại của muối. Trong điều kiện cây đang bị ảnh hưởng mặn nên phun Ca, Si ngày trước, ngày sau phun phân bón lá có chứa Kali, nên phun vào buổi chiều mát, bằng nước không bị nhiễm mặn.

– Phun phân bón lá có chứa nhiều acid humic giúp cây đủ sức vượt qua được tác hại do mặn gây ra khi bộ rễ không hút đủ dinh dưỡng, đồng thời cũng làm tăng khả năng chống chịu điều kiện bất thuận như nóng, hạn (gồm cả hạn sinh lý) do mặn gây ra.

– Bổ sung cho đất các vi sinh vật có khả năng phân huỷ các phế thải hữu cơ cung cấp các chất dinh dưỡng cho cây trồng, đồng thời giúp cây chống lại các tác nhân gây bệnh nguồn gốc từ đất, tạo ra các chất kích thích sinh trưởng thực vật làm ổn định cấu trúc đất ở vùng rễ cây trồng. Các vi sinh vật cần thiết cho cải tạo đất như vi khuẩn Pseudomonas, nấm cộng sinh vùng rễ,….

– Nếu bón phân vô cơ thì nên sử dụng phân đạm gốc amon (NH4+) để hạn chế độc Na+ và dạng phân lân dễ tiêu như super lân, DAP,… để cung cấp lân cho cây, hạn chế sự thu hút các ion Cl-quá nhiều trong cây.

Cải Tạo Đất Mặn, Đất Kiềm

1.1.3. Phần trăm Na trao đổi (ESP)<15%.

Trước đây đất này được gọi là đất kiềm trắng (Solochat), do khi nước bốc hơi hình thành lớp muối trắng trên mặt và có pH kiềm. Đất có hàm lượng muối hòa tan cao, thể hiện ở độ dẫn điện (EC) cao.

1.2. Đất kiềm. là đất có các đặc điểm

Trước đây đất này được gọi là đất kiềm đen (Solonet), do khi nước bốc hơi có sự tích lũy chất hữu cơ hòa tan cùng với lớp muối trên mặt và có pH kiềm. Đất kiềm có hàm lượng Na rất cao làm phân tán hạt (mất cấu trúc), và gây rối loạn dinh dưỡng cho phần lớn các loại cây trồng.

1.3. Đất mặn kiềm có các đặc điểm

Đất mặn kiềm khi rửa muối hòa tan, Na trao đổi sẽ thủy phân và làm tăng pH, đất sẽ trở nên kiềm.

III. Một số thuật ngữ sử dụng trong nghiên cứu đất mặn, đất kiềm.

EC se (mS/cm) x 10 = tổng cation hòa tan (meq/lít)

Đơn vị tính nồng độ các ion: meq/lít.

Do các quan hệ cân bằng giữa các cation hấp phụ trên bề mặt trao đổi và cation trong dung dịch, nên SAR có tương quan đến hàm lượng Na trên CEC. Hàm lượng này được diễn tả bằng tỉ lệ Na trao đổi (ESR-exchangeable sodium ratio). ESR được định nghĩa:

ESR= Na+ trao đổi/(Ca 2+ +Mg 2+) trao đổi. Đơn vị tính nồng độ các ion: meq/lít.

ESR= 0.015SAR

Ảnh hưởng của muối đến sinh trưởng cây trồng. Nồng độ Na và Cl cao là nguyên nhân chính gây ra sự ức chế sinh trưởng cho cây trồng mẫn cảm với muối. Khi nồng độ các muối này trong dung dịch đất cao, sẽ tạo áp lực thẩm thấu cao, làm tế bào rễ mất nước, bị co nguyên sinh (plasmolysis).

Cải tạo đất mặn và đất kiềm.

3.1. Đất mặn. Biện pháp chủ yếu là dùng nước ngọt, hoặc nước có nồng độ muối thấp rửa muối hòa tan sâu xuống khỏi vùng rễ.

Lượng nước cần thiết để rửa muối ra khỏi vùng rễ nhu cầu nước rửa mặn (leaching requirement-LR). LR được tính: LR= EC w/EC dw, với:

LR phụ thuộc vào (1) EC mong muốn, hay EC cây trồng có thể chịu được; (2) chất lượng nước tưới (EC w), (3) độ sâu vùng rễ cần rửa, và (4) khả năng giữ nước của đất.

Với đất có mực nước ngầm cao, cần thiết kế hệ thống tiêu nước trước.

Nếu đất có tầng Calcic hay Gypsic (có tính thấm kém), cần phải phà vỡ tầng này.

Vùng đất chỉ sử dụng nước trời, hay nguồn nước hạn chế, cần che phủ đất bằng các vật liệu hữu cơ để giảm tốc độ bốc hơi nước.

3.2. Đất kiềm và đất mặn kiềm. Nguyên tắc cải tạo là làm giảm hàm lượng Na trao đổi và EC trong đất, điều này rất khó thực hiện vì đất kiềm và mặn kiềm cấu trúc đất bị phân tán, khả năng thấm nước rất kém. Thông thường có thể dùng thạch cao (CaSO 4.2H 2 O) để trao đổi Na trên keo đất, sau đó dùng nước rửa Na này ra khỏi dung dịch đất.

Xác định lượng thạch cao cần thiết, nhu cầu thạch cao để rửa kiềm.

Ví dụ. một loại đất có CEC=20meq/100g, ESP=15%, cần làm giảm ESP xuống 5%. Vậy ESP cần giàm là: 15% – 5% =10%.

Đương lượng Na cần giảm:(10%)(20meqCEC/100g) = 2meqNa+/100g.

Đương lượng CaSO 4.2H 2 O cần để thay thế Na là: 2meq/100g.

Quản lý đất mặn chủ yếu là làm giảm đến mức tối thiểu sự tích lũy muối trong tầng canh tác trong quá trình canh tác, nhất là trên các vùng khô hạn và bán khô hạn. Ẩm độ đồng ruộng cần được duy trì thường xuyên bằng cách tưới nước ngọt (hoặc không mặn). Rửa hay tưới nhẹ trước hay sau gieo trồng nhằm giúp rễ cây con phát triển. Nếu có đủ nước nên tưới theo chu kỳ, kể cả khi không gieo trồng. Trong đất mặn có nhiều loại muối kết tủa như CaSO4.2H2O, CaCO3, MgCO3 trong thời gian khô hạn, sẽ hòa tan khi được tưới hoặc rửa. Chú ý là khi các muối Ca, Mg kết tủa, sẽ làm tăng tỉ lệ tương đối của Na+ trong dung dịch đất.

Cải thiện kỹ thuật tưới tiêu là phương pháp quan trọng để kiểm soát độ mặn của đất. Khi làm đất, các rãnh nhỏ sẽ hình thành và muối có xu hướng mao dẫn và tích tụ ở giữa đỉnh các luống cày nơi bốc hơi nước xảy ra. Chú ý không nên trồng cây con ngay trên đỉnh luống do ảnh hưởng của nồng độ muối cao.

4 Biện Pháp Cải Tạo Đất Nhiễm Mặn Hiệu Quả Nhất

Đất nhiễm mặn là hiện tượng nguy hiểm ảnh hưởng xấu tới sự sinh trưởng của nhiều loại cây trồng. Ở Việt Nam, đất mặn có xấp xỉ 2 triệu ha, chiếm gần 6% tổng diện tích đất tự nhiên (Theo Sở nông nghiệp TP.HCM). Quá trình mặn hóa là do ảnh hưởng của nước biển, do đó, thành phần các loại muối tan ở đất mặn Việt Nam giống như thành phần muối tan của nước biển (Lê Văn Khoa, Đất và môi trường, 2003).

Hiện nay, dưới tác động của biến đổi khí hậu, với biểu hiện là mực nước biển dâng lên, vấn đề mặn hóa có nguy cơ trầm trọng hơn. Cải tạo đất nhiễm mặn làm sao cho hiệu quả là một vấn đề mà người nông dân luôn quan tâm để có thể an tâm canh tác, đặc biệt là ở các vùng thường xuyên bị ngập mặn như khu vực ven biển như đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL). Trong bài viết này, LINA Supply Chain đã tổng hợp được các biện pháp cải tạo đất nhiễm mặn hiệu quả nhất, bao gồm: Biện pháp thủy lợi, biện pháp sinh học, biện pháp luân canh và biện pháp hóa học.

1. Biện pháp thủy lợi

Nông dân xã An Ninh Đông (huyện Tuy An) bơm nước ngọt rửa mặn, phóng phèn (theo baophuyen.com.vn)

Đất mặn có chứa chủ yếu là các muối hòa tan như clorua, natri sunfat, canxi và magie nên chúng có thể dễ dàng được rửa trôi mà không làm tăng pH nhiều. Rửa mặn bằng nước mưa hay nước tưới là con đường để loại bỏ muối thừa ra khỏi đất. Để thực hiện có hiệu quả biện pháp này cần xây dựng hệ thống thủy lợi hoàn chỉnh để đưa nước vào các cánh đồng để rửa mặn và tiêu nước đi.

Đầu tiên, đưa nước ngọt vào rửa mặn: dẫn nước ngọt vào ruộng, cày, bừa, sục bùn để các muối hòa tan, ngâm ruộng sau đó tháo nước ra kênh, mương, ra sông.

Tiếp theo, cày sâu, đưa vôi nông nghiệp (CaCO3) và vôi thạch cao (CaSO4) ở các lớp đất sâu lên mặt đất, cày phá đáy làm tơi xốp tầng đế cày, cắt đứt mao quản làm cho muối không thể bốc lên mặt đất được. Đây là biện pháp thường áp dụng đối với các loại đất mặn được hình thành trong điều kiện khô hạn và bán khô hạn.

Lượng nước cần thiết để thực hiện hiệu quả việc rửa mặn cho đất tùy thuộc vào các yếu tố như sau:

Hàm lượng độ mặn ban đầu trong đất,

Mức độ mặn của đất ít nhất thích hợp cho cây trồng.

Độ sâu đất cần cải tạo, trong đó đặc tính của đất là yếu tố chính để xác định lượng nước cần thiết cho việc rửa mặn.

Khoảng 80% lượng muối sẽ bị loại bỏ ra khỏi 30cm đất nếu một mực nước tương đương được bơm vào, tương tự như vậy, để giảm hàm lượng muối của 50cm đất xuống 20% sẽ cần sự di chuyển của khoảng 50cm nước thông qua đất.

2. Biện pháp sinh học

Tuyển chọn và lai tạo các giống cây chống chịu mặn, xác định các loại cây trồng có khả năng chịu mặn khác nhau, phù hợp với từng giai đoạn cải tạo đất và từng vùng canh tác với các hệ thống canh tác khác nhau, ví dụ: chọn lọc các giống mía chịu mặn cho vùng trồng ở Cù Lao Dung (Sóc Trăng) vụ sản xuất năm 2015 đã bị mặn xâm nhập gây thiệt hại nặng. Chọn lọc các giống lúa chịu mặn cho vùng sản xuất dễ bị nhiễm mặn và cho vùng lúa, tôm.

Giống lúa OM9921 có khả năng chịu mặn 4‰, chịu phèn khá

Viện Lúa ĐBSCL (2016) đã khuyến cáo các giống lúa do Viện chọn, tạo có khả năng chịu mặn như sau:

STTGiống lúaĐộ chịu mặnĐộ chịu phènNăng suất1OM69763-4‰Tốt6 – 9 tấn/ha2OM25173-4‰Không chịu phèn5 – 8 tấn/ha3OM56294-6‰Tốt, đặc biệt vùng phèn mặn6 – 8 tấn/ha4OM80173-4‰Khá7 – 9 tấn/ha5OM99214‰Khá7 – 8 tấn/ha6OM81084‰Khá6 – 8 tấn/ha7OM66774-6‰Khá5 – 8 tấn/ha8OM102524-6‰Khá (mang gene ngập và mặn)7 – 9 tấn/ha9OM61623-4‰Không chịu phèn6 – 8 tấn/ha10OM49002-3‰Không chịu phèn7 – 8 tấn/ha11OM54512-3‰Khá6 – 8 tấn/ha11 giống lúa có khả năng chịu mặn tốt do Viện Lúa ĐBSCL chọn

Tất cả các giống trên đều thích hợp cho các tiểu vùng sinh thái ở ĐBSCL. 

Hiện tại chưa có nghiên cứu nhiều về cỏ chăn nuôi thích nghi vùng mặn. Tuy nhiên trong thực tế đã có nhiều loại cỏ như cỏ chỉ, cỏ nước mặn, cỏ bắp nước có thể phát triển sau vụ lúa và trong giai đoạn nước mặn nuôi tôm ở vùng lúa – tôm. 

3. Biện pháp luân canh

Cải tạo đất bằng luân canh cơ cấu cây trồng, vật nuôi. Trên các vùng đất mặn vùng sát biển nhất thì nuôi trồng thủy sản, tiếp theo là trồng cói và các cây chịu mặn, trong cùng là trồng lúa. Từ thực tiễn luân canh cơ cấu cây trồng vật nuôi ở các tỉnh ven biển miền Bắc, người ta đã đúc kết kinh nghiệm: “lúa lấn cói, cói lấn cá, cá lấn biển”.

Nông dân thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu kiểm tra tôm càng xanh xen lúa.

Nhiều tỉnh đã có phương án giảm diện tích lúa 2-3 vụ/năm sang trồng lúa 1 vụ luân canh với nuôi tôm hoặc nuôi trồng thủy sản trong thời gian nhiễm mặn. Nhiều vùng lúa – tôm đã đem lại hiệu quả cao và thu nhập ổn định cho nông dân. Các tỉnh ven biển ở đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) có mô hình luân canh tôm sú – lúa là một hệ thống canh tác đặc biệt và đã trở thành tập quán canh tác hàng chục năm nay. 

Hiện nay ở ĐBSCL đang có 7 tỉnh áp dụng hệ thống canh tác tôm – lúa là Sóc Trăng, Trà Vinh, Bạc Liêu, Cà Mau, Bến Tre, Kiên Giang và Long An. Trong đó, có một số tỉnh không chỉ có tôm sú mà còn có các loài thủy sản khác như tôm thẻ chân trắng, tôm càng xanh, cua, cá các loại v.v. với tổng diện tích khoảng 140.000 ha, trong đó diện tích lớn nhất là Kiên Giang với 60.000 ha và thấp nhất là Long An với 500 ha.

4. Biện pháp hóa học

Trong đất nhiễm mặn có ion Na+ đóng vai trò hết sức quan trọng. Ion này sẽ gây ra các tính chất ảnh hưởng có hại về mặt vật lí, hóa học, sinh học v.v. Khi cải tạo hóa học đất mặn, nhất thiết phải loại trừ ion Na+ trong dung dịch đất và keo đất bằng việc thay thế bởi ion Ca2+. 

Giải phóng Na+ ra khỏi keo đất tạo thuận lợi cho việc rửa mặn, tháo nước ngọt vào rửa mặn, bổ sung chất hữu cơ. Sau khi bón vôi cho đất chúng ta nên bón thêm phân xanh, phân hữu cơ có tác dụng làm tăng lượng mùn cho đất, giúp vi sinh vật phát triển, giúp đất tơi xốp, giảm tỉ lệ sét, tăng tỷ lệ bùn, hạt keo.

Bón vôi cho đất để giảm bớt độ mặn, diệt trừ nấm bệnh

Người ta thường dùng các dạng vôi có chứa canxi hoặc lân có chứa canxi để cải tạo đất mặn. Lượng vôi được bón để cải tạo đất tùy theo loại cây trồng và thành phần cơ giới đất nhẹ hay nặng: đất rất mặn thường kết hợp với chua, phèn. 

Độ pH < 3,5 bón 2,0 – 5,0 tấn phân bón vôi (CaO)/ha; 

Độ pH từ 3,5 – 4,5 bón 1,0 – 2,0 tấn/ha;

Độ pH = 4,5 – 5,5 bón 0,5 – 1,0 tấn/ha.

Đất nhiễm mặn thường đi kèm với độ phèn cao. Một trong những biện pháp xử lý là sử dụng phân Lân nung chảy. Phân Lân nung chảy (Lân Văn Điển & Ninh Bình), còn gọi là Tecmo phosphate hoặc Phosphat canxi magiê. Phân Lân này dạng bột rời màu xanh xám, ít tan trong nước, dễ tan trong axit, không chua. Được khuyến cáo sử dụng thích hợp cho đất phèn, mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long và nhiều loại đất khác. Đất càng chua phèn hiệu quả của phân Lân nung chảy càng cao.

Giải Pháp Cải Tạo Đất Nhiễm Phèn, Mặn

Theo đánh giá của TS Võ Hữu Thoại, Phó Viện trưởng Viện Cây ăn quả miền Nam, đợt hạn mặn năm 2016 được xem là đợt hạn mặn khốc liệt nhất ở ĐBSCL trong 100 năm qua. Hạn mặn xảy ra ở hầu hết các tỉnh ở ĐBSCL, đặc biệt hiện tượng nước mặn xâm nhập vào đất liền, xâm nhập vào các vùng cây ăn trái của các tỉnh Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Vĩnh Long, Sóc Trăng và một số tỉnh khác làm 9.400ha bị ảnh hưởng.

Khi nước mặn xâm nhập hệ thống kênh, rạch và mương, vườn sẽ gây tích lũy muối hòa tan trong đất, cường độ bốc thoát nước cũng như cường độ tích lũy mặn càng ngày càng tăng do nước mặn xâm nhập hoặc do người dân vô tình tưới cho vườn cây của mình.

Đặc biệt ở các vùng khô hạn sẽ gây ra hiện tượng đất bị nhiễm mặn nặng nề, khi tưới nguồn nước này cho cây ăn trái. Do đó dẫn đến hàm lượng muối hòa tan trong đất cao làm cho áp suất thẩm thấu trong đất lớn hơn áp suất thẩm thấu của tế bào cây trồng. Chính sự chênh lệch này làm cho cây trồng không hấp thu được nước và các chất dinh dưỡng, đồng thời làm cho màng tế bào vỡ ra, cây mất nước, dẫn đến cây bị héo sinh lý, nặng hơn có thể dẫn đến cây bị chết.

Để giải quyết vấn đề này cần có một thời gian dài cần cải tạo đất. Bên cạnh đó cũng cần có những giải pháp đồng bộ hơn của các cấp chính quyền từ trung ương đến địa phương như: Quy hoạch vùng trồng cây ăn trái, thay đổi cơ cấu cây trồng đối với những vùng bị ảnh hưởng lâu dài, không trồng các loại cây ăn trái nằm trong nhóm mẫn cảm với nước mặn như sầu riêng.

Bên cạnh đó nghiên cứu chọn tạo giống cây trồng, tạo các gốc ghép chống chịu điều kiện hạn mặn, ngoài ra tăng cường hệ thống dự báo về tình hình xâm nhập mặn để người dân có biện pháp ngăn ngừa. Đối với những vườn cây đã bị ảnh hưởng bởi hạn mặn, để cải tạo lại đất và cứu cây.

PGS.TS Trần Văn Hậu, giảng viên Khoa Nông nghiệp & sinh học ứng dụng (ĐH Cần Thơ) cho biết, nếu lỡ tưới nguồn nước mặn cho cây, khi phát hiện nên dùng nước ngọt tưới thật nhiều lên vườn cây để rửa ion Natri trong dung dịch đất, để giải độc mặn trong đất, nếu ion Natri đã xâm nhập vào keo đất phải bón vôi để đẩy Natri ra ngoài dung dịch đất, tiếp tục tưới nước rửa mặn.

Nếu vườn cây đã suy kiệt, cách để phục hồi lại là làm đất tơi xốt lên bằng cách hàng năm cung cấp phân hữu cơ cho cấu trúc đất, nước vào dễ và ra cũng dễ, thì khả năng rửa mặn sẽ dễ hơn. Bón phân kali mà không dùng KCl, có thể sử dụng kali kết hợp để bón cũng có thể đẩy được NaCl.

Để hạn chế sự độc hại của Natri thì trước mắt phải bón thêm phân Kali; khi bón phân kali sẽ đẩy nguyên tố Natri đi và giúp cho cây có khả năng chống chịu, kết hợp sử dụng bón Canxi (vôi) là hiệu quả; tùy theo điều kiện, bón vôi nung, nếu đất không phèn thì dùng vôi nung sẽ giúp đẩy Natri ra bên ngoài và dùng nguồn nước ngọt để rửa đất.

Tóm lại, biện pháp trước mắt dùng nước để rửa muối, dùng vôi đẩy Natri ra rồi bón phân lân, phân kali để giúp cây phục hồi, bên cạnh đó bón thêm chất kích thích để giúp rễ phát triển trở lại, cung cấp chất dinh dưỡng lại cho cây.

Cty Behn Meyer có một số khuyến cáo sau cho bà con để giúp cây trồng phục hồi sau hạn mặn: Nước mặn ảnh hưởng đến cây trồng bởi 3 nguyên do, cây trồng bị stress do mất nước, ngộ độc Na+ và ngộ độc Cl. Khi mưa xuống nước mưa sẽ giúp “rửa mặn” với việc đẩy Natri và Clo ra khỏi đất, bên cạnh đó bà con cần tiến hành các biện pháp sau.

Bước 1: Phun Avant natur để bổ sung dinh dưỡng cho cây khi hệ thống rễ chưa sẵn sàng hấp thu dinh dưỡng từ đất. Đặc biệt trong thành phần của Avant Natur có Proline giúp cây trồng tăng khả năng giữ nước ở bên trong cây.

Bước 2: Phun Basfoliar K để giúp cây giải độc Natri ra khỏi tế bào (Natri sẽ đẩy ra khỏi cây ở các mép của lá).

Bước 3: Bón phân hữu cơ Grower 3-3-3 để cải thiện cấu trúc của đất. giúp đất tăng khả năng giữ chất dinh dưỡng (vì sau khi nước mặn xâm nhập Na+ sẽ phá hủy cấu trúc đất).

Bước 4: Bón phân để phục hồi sinh trưởng cho cây trồng, ưu tiên chọn các công thức phân có hàm lượng đạm cao như: Entec 20-10-10, Entec 25-15, Entec 24-8-7. Với tổng hòa các biện pháp trên sẽ giúp cây trồng phục hồi tốt sau hạn, mặn cũng như cải thiện được độ màu mỡ của đất.