Xét Nghiệm Chức Năng Đông Cầm Máu.

Xét nghiệm đông, cầm máu có vai trò quan trọng trong việc phát hiện, chuẩn đoán và xử lý các rối loạn đông, cầm máu. Các xét nghiệm này thường được chỉ định cho những bệnh nhân cần tiến hành phẫu thuật, bệnh nhân có triệu chứng rối loạn chảy máu..

Cơ chế đông, cầm máu của cơ thể:

Cơ chế đông, cầm máu:

Bản chất của quá trình đông máu là sự thay đổi tính chất của máu, máu từ thể lỏng ( trong lòng mạch) chuyển thành thể rắn (khi ra khỏi lòng mạch) để ngăn chặn sự chảy máu ra khỏi bên ngoài cơ thể. Nó gồm các chu kì: cầm máu kỳ đầu, đông máu huyết tương và tiêu sợi huyết.

Quá trình đông máu huyết tương được phát động bằng hai con đường: nội sinh và ngoại sinh. Kết quả khởi động hai con đường này đều tạo ra phức hệ prothrombinase làm nhiệm vụ chuyển prothrombin thành thrombin.

Fibrinogen dưới tác động của thrombin sẽ tạo ra lưới fibrin giam giữ tiểu cầu và các thành phần khác của máu tạo nên cục máu ổn định vững chắc có đủ khả năng cầm máu.

Ý nghĩa của quá trình đông cầm máu:

Ngăn không cho máu thoát ra khỏi mạch máu đi vào khoảng gian bào.

Hình thành nút bịt kín vết thương lớn, giúp cầm máu tránh nguy cơ mất máu cấp tính, tránh được sự nguy hiểm của tính mạng.

Trong y học, quá trình này được ứng dụng để tách huyết thanh làm nguyên liệu xét nghiệm.

Các xét nghiệm chức năng đông, cầm máu thường làm:

Xét nghiệm đo thời gian Prothrombin (PT)

Máu ra khỏi lòng mạch sẽ bị đông theo đường ngoại sinh. Khi cho thừa thromboplastin và calci vào máu chống đông bằng citrat thì con đường đông máu ngoại sinh được thực hiện ồ ạt. Đo thời gian từ khi bổ sung calci và nhiều thromboplastin đến lúc huyết tương đông lại để phản ánh hoạt tính các yếu tố đông máu tạo nên Prothrombin là yếu tố II, V, VII, X còn gọi là yếu tố đông máu theo con đường ngoại sinh.

Ý nghĩa: 

Thời gian Prothrombin kéo dài có thể do thiếu hụt yếu tố đông máu hoạt động theo con đường ngoại sinh. Trong 4 yếu tố đó thì 3 yếu tố II, VII, X được sản xuất tại gan và phụ thuộc vitamin K, vì vậy khi gan bị suy hay dùng thuốc kháng vitamin K thì PT héo dài. Mức độ kéo dài phụ thuộc vào mức độ giảm yếu tố và liều vitamin K đã dùng. Do vậy có thể dùng xét nghiệm này để theo dõi kháng vitamin K.

Đọc kết quả:

PT% : tỷ lệ của phức hệ Prothrombin trong mẫu xét nghiệm so với mẫu chuẩn. Bình thường, giá trị này nằm trong khoảng 70% – 140%. Nếu PT% < 70% thì quá trình đông máu có vấn đề.

PT(s): thời gian hình thành cục máu đông. Trị số bình thường rơi vào khoảng 10 – 14 giây tùy phòng xét nghiệm.

INR (chỉ số bình thường hóa quốc tế): ngoài chỉ định thường quy, chỉ số này còn có vai trò trong theo dõi để chỉnh liều ở các bệnh nhân sử dụng thuốc chống đông kháng vitamin K. Chỉ số này nằm trong khoảng 0,8 – 1,2. Một số trường hợp đặc biệt có thể lên tới 2 – 3 nhưng vẫn được đánh giá là bình thường.

Xét nghiệm Thromboplastin từng phần được hoạt hoá (aPTT – Activated Partial Thromboplastin Time)

Xét nghiệm aPTT đo chức năng hoạt tính đông máu của các yếu tố tham gia trong con đường đông máu nội sinh (yếu tố VIII, IX, XI, XII, II, X, fibrinogen…). Xét nghiệm aPTT được chỉ định trong các trường hợp:

Làm bilan đông máu trước khi phẫu thuật.

Theo dõi tình trạng bệnh nhân khi điều trị bằng heparin.

Đánh giá mức độ nặng của bệnh lý về gan hay đông máu nội mạch lan tỏa.

Ý nghĩa:

Đọc kết quả:

Xét nghiệm này nhằm khảo sát con đường đông máu nội sinh. Kết quả xét nghiệm được biểu thị như sau:

APTT: thời gian đông máu từng phần. Bình thường giá trị này nằm trong khoảng 30 – 35 giây.

rAPTT: tỷ lệ giữa APTT của mẫu xét nghiệm so với APTT mẫu chuẩn. Giá trị này nằm trong khoảng 0,85 – 1,25 là bình thường.

Xét nghiệm định lượng Fibrinogen:

Huyết tương của bệnh nhân trong xét nghiệm này được pha loãng ở các nồng độ khác nhau rồi cho thrombin vào. Đối chiếu các kết quả với đường cong chuẩn để xác định nồng độ fibrinogen.

Ý nghĩa:

Dùng trong trường hợp xác định sự có mặt của viêm nhiễm.

Thăm dò rối loạn đông máu khi người bệnh có biểu hiện chảy máu bất thườn.

Làm bilan đông máu trước mổ.

Theo dõi tình trạng bệnh nhân trong quá trình điều trị fibrin.

Dùng trong ứng dụng theo dõi bệnh gan tiến triển như thế nào.

Đọc kết quả:

Định lượng Fibrinogen: lượng Fibrinogen huyết tương người bình thường nằm trong khoảng 2 – 4g/l.

Những lưu ý trước khi xét nghiệm chức năng đông, cầm máu:

Tương tự các loại xét nghiệm khác, bạn cần lưu ý những điều sau đây:

Không sử dụng rượu, bia, các chất kích thích trước khi đi xét nghiệm chức năng đông máu bởi vì các chất này làm thay đổi thành phần, tính chất của máu gây ảnh hưởng đến kết quả xét nghiệm.

Nếu đang sử dụng thuốc phải dưới sự theo dõi và khuyến cáo của bác sĩ.

Một số thực phẩm như thịt bò, bông cải xanh có thể gây ảnh hưởng đến kết quả xét nghiệm. Do đó, bạn nên hạn chế ăn các thực phẩm này 2 – 3 ngày trước khi đi xét nghiệm.

Nên xét nghiệm vào sáng sớm để cho kết quả chính xác.

Xét nghiệm đông, cầm máu tại Đà Nẵng

.

Các Xét Nghiệm Thăm Dò Chức Năng Đông Máu

Trích trong “Thực hành cấp cứu và điều trị bệnh nội khoa” Hà Hoàng Kiệm. NXB YH 2013. Tr 282 – 286.

1. XÉT NGHIỆM ĐÔNG MÁU TOÀN BỘ

Bảng 1. Giá trị bình thường của các xét nghiệm thăm dò chức năng đông máu

2. Ý NGHĨA CỦA CÁC XÉT NGHIỆM ĐÔNG MÁU

Đánh giá toàn bộ các yếu tố đông máu, nếu thời gian máu đông tăng phải kiểm tra toàn bộ các yếu tố đông máu.

Đánh giá tình trạng thành mạch và chức năng tiểu cầu.

2.3. Thời gian co cục máu

Đánh giá chức năng tiểu cầu (số lượng, chất lượng).

Là thời gian phục hồi calci, giá trị tương tự như thời gian máu đông nhưng ưu điểm hơn là loại được thromboplastin ngoại sinh do tổn thương thành mạch khi làm xét nghiệm máu đông sinh ra, loại được yếu tố tiếp xúc lam kính, nhiệt độ của môi trường.

2.5. Tỉ lệ prothrombin

Đánh giá các yếu tố II, V, VII, X do gan sản xuất cần có vitamin K (nếu tỉ lệ prothrombin < 70% và thời gian Howell kéo dài là có tổn thương chức năng gan).

Đánh giá bước chuyển thrombin thành fibrinogen rồi thành fibrin. Thời gian thrombin kéo dài khi số lượng fibrinogen giảm, chất lượng fibrinogen kém.

2.7. Thời gian PTT (partial thromboplastin time with kaulin)

Kaulin là chất kích hoạt các yếu tố đông máu thay cho tổn thương thành mạch. Xét nghiệm có giá trị thăm dò toàn bộ các yếu tố đông máu.

Phát hiện các phức hợp hoà tan hình thành do sự kết hợp các fibrinmonomer và fibrinogen hay các chất phân giải trong hội chứng DIC.

2.9. ATIII (anti thrombin III)

Trong cơ thể luôn tồn tại một lượng ATIII cân bằng với lượng thrombin. Nếu ATIII giảm thì prothrombin và thrombin tăng sẽ chuyển fibrinogen thành fibrin gây tăng đông.

2.10. INR (international normal ratio): chỉ số bình thường về đông máu quốc tế

Chỉ số INR được tính như sau: lấy nồng độ prothrombin trong máu của bệnh nhân chia cho nồng độ prothrombin mẫu, kết quả được bao nhiêu đem tra bảng ISI, giá trị tra được từ bảng ISI là INR. ISI (international sensitivity index) là bảng chỉ số nhậy cảm quốc tế sử dụng riêng cho tính INR. Giá trị bình thường của INR là 1,2-1,8. Khi sử dụng thuốc chống đông, để có hiệu quả cần duy trì INR khoảng 2-4.

2.11. Tiêu chẩn đoán hội chứng DIC (disseminated intravascular co-agulation)

Chẩn đoán hội chứng DIC (hội chứng đông máu rải rác trong lòng mạch) căn cứ vào các chỉ tiêu sau:

+ Số lượng tiểu cầu < 90 ´ 10 9/lít.

+ Nồng độ fibrinogen < 1 g/lít.

+ Nghiệm pháp rượu dương tính

+ ATIII < 70%.

CHIA SẺ BÀI VIẾT

Các Xét Nghiệm Giúp Đánh Giá Khả Năng Đông Máu, Cầm Máu

Xét nghiệm chức năng đông – cầm máu thường được chỉ định trong trường hợp bệnh nhân nhập viện cần tiến hành phẫu thuật hoặc cần phải cầm máu khẩn cấp khi bị chấn thương. Việc đọc kết quả xét nghiệm đông máu sẽ cho biết chính xác quá trình đông máu của người bệnh có đang hoạt động tốt hay không.

Bên cạnh thông tin thăm khám trên lâm sàng, tiền sử bệnh của bản thân và gia đình, thì kết quả từ các xét nghiệm đông – cầm máu cũng rất quan trọng trong việc chẩn đoán phát hiện những vấn đề bất thường về đông máu.

Nguyên lý của các xét nghiệm đông – cầm máu cơ bản dựa trên cơ chế của các giai đoạn trong quá trình đông – cầm máu, bao gồm: cầm máu kỳ đầu, đông máu huyết tương và tiêu sợi huyết. Hiện nay, việc thực hiện các xét nghiệm đông máu đều có sự hỗ trợ của các thiết bị tự động với sự giám sát của bác sĩ chuyên môn.

Xét nghiệm đông – cầm máu giúp bác sĩ chẩn đoán nhanh, chính xác sự tiến triển, mức độ và loại rối loạn đông máu mà bệnh nhân đang mắc phải. Qua đó, bác sĩ nhanh chóng có đầy đủ cơ sở để tiến hành điều trị kịp thời, với phác đồ phù hợp nhất.

Xét nghiệm chức năng đông máu thường được chỉ định đối với các trường hợp:

Những đối tượng không dùng thuốc chống đông nhưng lại có triệu chứng của rối loạn chảy máu, tình trạng này có thể biểu hiện qua chảy máu cam, chảy máu nướu răng, xuất hiện vết bầm tím bất thường, xuất huyết kinh nguyệt nặng, thậm chí có máu trong phân hoặc trong nước tiểu, bị viêm khớp triệu chứng (chảy máu trong khớp) và giảm thị lực.

Bệnh nhân trước khi tiến hành phẫu thuật, nhằm đánh giá tình trạng đông máu, tránh biến chứng nguy hiểm trong quá trình can thiệp.

2. Những xét nghiệm thăm dò giai đoạn cầm máu ban đầu 2.1. Đếm số lượng tiểu cầu

Số lượng tiểu cầu trong máu tuần hoàn ở người bình thường trong khoảng 140 – 400 g/L.

2.2. Thời gian chảy máu

Thời gian chảy máu có thể được xác định theo hai phương pháp:

Phương pháp Duke: Với phương pháp này, thời gian chảy máu bình thường là từ 2 – 4 phút. Khi thời gian này vượt trên 6 phút thì được coi là kéo dài.

Phương pháp Ivy: nhạy hơn, với thời gian chảy máu tiêu chuẩn là 3 – 8 phút.

Thời gian chảy máu kéo dài xảy ra trong trường hợp giảm số lượng tiểu cầu hoặc rối loạn chức năng tiểu cầu, giảm yếu tố vWF, giảm fibrinogen hoặc trong bệnh lý thành mạch.

2.3. Nghiệm pháp co cục máu

Nghiệm pháp co cục máu là kỹ thuật được ứng dụng trong theo dõi hiện tượng co cục máu trong ống nghiệm ở 37oC. Thông thường, cục máu sẽ co hoàn toàn và tách khỏi thành ống nghiệm sau khoảng thời gian là 3 giờ.

Hiện tượng co cục máu không bình thường (không co hoặc co không hoàn toàn) xảy ra trong trường hợp bệnh nhân giảm số lượng hoặc có bất thường nào đó trong chức năng của tiểu cầu, bệnh nhân bị tăng fibrinogen máu, bệnh lý đa hồng cầu.

2.4. Nghiệm pháp dây thắt

Để thực hiện Nghiệm pháp dây thắt, bác sĩ sẽ dùng huyết áp kế để duy trì áp lực 90 – 100 mmHg ở một bên cánh tay trong 5 phút, sau đó đếm số nốt xuất huyết trên tay người bệnh.

Nghiệm pháp dây thắt dương tính khi có trên 5 nốt xuất huyết xuất hiện, thường xảy ra trong những trường hợp bệnh nhân giảm số lượng tiểu cầu, chức năng tiểu cầu bất thường, hoặc cấu trúc mạch máu bị thay đổi.

2.5. Ngưng tập tiểu cầu

Ngưng tập tiểu cầu là một kỹ thuật nhằm đánh giá chức năng tiểu cầu, được thực hiện trên máy đo ngưng kết tiểu cầu, với mẫu đo là huyết tương giàu tiểu cầu (sử dụng phương pháp đo quang hay đo trở kháng) hoặc máu toàn bộ (dùng phương pháp đo trở kháng). Kỹ thuật viên sẽ cho thêm vào mẫu xét nghiệm các chất kích thích kết tập tiểu cầu như ADP, collagen, thrombin, epinephrine, arachidonic acid, ristocetin… khiến cho tiểu cầu được hoạt hoá và ngưng tập với nhau.

Hiện tượng ngưng tập tiểu cầu bị thay đổi trong các bệnh lý rối loạn chức năng tiểu cầu bẩm sinh và mắc phải, chẳng hạn như ở những bệnh nhân mắc hội chứng Bernard Soulier hoặc von Willebrand, những bệnh nhân dùng aspirin…

2.6. Định lượng yếu tố vWF 3. Các xét nghiệm đông máu cơ bản 3.1. Xét nghiệm đo thời gian Prothrombin (PT – Prothrombin Time)

Khi xuất hiện vết thương, máu sẽ thoát ra khỏi lòng mạch và bị đông lại theo con đường đông máu ngoại sinh. Khi cho thừa một lượng thromboplastin và canxi vào máu được chống đông bằng citrat thì quá trình đông máu ngoại sinh được tăng cường. Đo thời gian từ khi bổ sung canxi và thromboplastin đến lúc máu đông lại hoàn toàn để đánh giá hoạt tính của các yếu tố đông máu tạo nên Prothrombin (bao gồm yếu tố II, V, VII, X, là các yếu tố đông máu theo con đường ngoại sinh).

Thời gian Prothrombin kéo dài cho thấy sự thiếu hụt các yếu tố đông máu hoạt động theo con đường ngoại sinh. Trong 4 yếu tố đã liệt kê thì 3 yếu tố II, VII, X được sản xuất tại gan và phụ thuộc vào hàm lượng vitamin K. Vì vậy bệnh nhân suy gan hoặc đang sử dụng thuốc kháng vitamin K thì thời gian Prothrombin sẽ kéo dài. Mức độ kéo dài bao nhiêu tùy thuộc vào nồng độ giảm đi của yếu tố đông máu và liều vitamin K đã dùng.

Do vậy, ngoài vai trò là xét nghiệm chức năng đông máu, PT còn được dùng để theo dõi bệnh nhân bị kháng vitamin K. Chỉ số điều trị có hiệu quả là khi PT đạt trong khoảng 25 – 30%.

3.2. Xét nghiệm thời gian Thromboplastin từng phần được hoạt hoá (aPTT – Activated Partial Thromboplastin Time)

Xét nghiệm aPTT đo chức năng hoạt tính đông máu của các yếu tố tham gia trong con đường đông máu nội sinh (yếu tố VIII, IX, XI, XII, II, X, fibrinogen…). Xét nghiệm aPTT được chỉ định trong các trường hợp:

Làm bilan đông máu trước khi phẫu thuật.

Theo dõi tình trạng bệnh nhân khi điều trị bằng heparin.

Đánh giá mức độ nặng của bệnh lý về gan hay đông máu nội mạch lan tỏa.

3.3. Thời gian Thrombin (TT – Thrombin Time)

Thời gian Thrombin là xét nghiệm đông máu cơ bản đo thời gian đông máu khi cho thrombin vào huyết tương, nhằm đánh giá con đường đông máu chung và thăm dò tốc độ tạo thành fibrin. Thời gian Thrombin được chỉ định khi cần khảo sát con đường đông máu chung (cả nội sinh và ngoại sinh) hoặc để đánh giá số lượng và chất lượng của fibrinogen.

Thời gian Thrombin (TT) kéo dài là dấu hiệu bị thiếu fibrinogen, phân tử fibrinogen bất thường, do sự có mặt của heparin hay một số chất trung gian hóa học. TT còn kéo dài đối với các bệnh lý như xơ gan, vô niệu cấp tính, suy tủy, thiếu máu tan huyết, đa hồng cầu. Ngược lại, TT ngắn cho thấy tình trạng tăng đông do giảm hoặc không có các chất kháng thrombin.

3.4. Xét nghiệm định lượng Fibrinogen

Trong xét nghiệm này, huyết tương bệnh nhân được pha loãng ở các nồng độ khác nhau rồi cho thrombin vào, sau đó đối chiếu với đường cong chuẩn để xác định nồng độ fibrinogen. Định lượng Fibrinogen là xét nghiệm chức năng đông máu cơ bản được chỉ định trong trường hợp:

Cần xác định sự có mặt của viêm nhiễm;

Để thăm dò rối loạn đông máu khi bệnh nhân có biểu hiện chảy máu bất thường;

Làm bilan đông máu trước mổ;

Cần theo dõi tình trạng bệnh nhân trong quá trình điều trị tiêu fibrin;

Có thể ứng dụng để theo dõi bệnh gan tiến triển;

Xét nghiệm đông máu nhanh ROTEM cũng là một xét nghiệm quan trọng trong đánh giá khả năng đông máu của người bệnh, nhằm xác định nhu cầu thực sự của bệnh nhân với các chế phẩm máu, giúp điều trị đúng và đủ; giảm nhu cầu truyền máu và các tác hại do truyền máu. Ngoài ra nếu áp dụng xét nghiệm này sớm còn giúp giảm tỷ lệ bệnh nhân phải truyền máu khối lượng lớn, đảm bảo an toàn cho bệnh nhân và giảm chi phí điều trị.

Xét nghiệm này đang được áp dụng tại Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Times City, được chỉ định đối với các bệnh nhân cần truyền máu khi lượng máu mất độ III trở lên (mất máu khối lượng lớn 1500 – 2000ml).

Xét nghiệm ROTEM tại Vinmec Times City sử dụng những trang thiết bị hiện đại, đạt chuẩn quốc tế, trong đó có máy phân tích đàn hồi cục máu ROTEM® delta, hỗ trợ kết quả xét nghiệm đạt độ chính xác cao. Đặc biệt, xét nghiệm được thực hiện bởi Tiến sĩ, Bác sĩ Trương Công Duẩn, người có kinh nghiệm dày dặn trong lĩnh vực xét nghiệm với hơn 30 năm công tác trong lĩnh vực này. Hiện bác sĩ là trưởng khoa Xét nghiệm – Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Times City.

Để được tư vấn trực tiếp, Quý Khách vui lòng bấm số 02439743556 hoặc đăng ký trực tuyến TẠI ĐÂY.

Nghiên Cứu Của Máu Đông Máu

Phương pháp nghiên cứu máu đông máu bao gồm các nhóm sau đây:

chỉ định (Tổng quát), cung cấp cái nhìn sâu sắc vào tình trạng đông máu tất cả thác như một toàn bộ và các giai đoạn riêng biệt (đăng ký có thể được thực hiện trực quan hoặc bằng cách sử dụng riêng biệt thiết bị-koagulografa, trombojelastografa, v.v…);

phân biệt các yếu tố thâm hụt sự điều chỉnh của các xét nghiệm đông máu, pha trộn các bài kiểm tra tra huyết tương huyết tương bệnh nhân được biết đến nổi tiếng là thâm hụt những người hoặc những yếu tố khác;

định lượng của thành phần hệ thống cá nhân để hoạt động chức năng của họ (sự đông máu mẫu, Các nghiên cứu trên chromogenic và chất nền khác) và (hoặc) trên dấu miễn dịch;

phát hiện mạch đông máu quá trình kích hoạt và xử bởi đặc tính chức năng hoặc các dấu hiệu phân tử để kích hoạt này là việc xác định trong lưu thông yếu tố kích hoạt đông máu, Tiểu cầu quá sản phẩm, chia tách các thành phần của máu đông máu hoặc các chất chuyển hóa, sự xuất hiện của mới kháng nguyên đánh dấu của các yếu tố kích hoạt và tổ hợp của họ, tăng tốc metabolization, dán nhãn thành phần của máu đông máu (rút ngắn chu kỳ bán rã của họ trong lưu thông).

Như vậy, Xem trạng thái của máu đông máu được sử dụng cả hai phương pháp đông máu (Phòng thí nghiệm và nhạc khí), hình thành cơ sở cho quá trình chẩn đoán, và miễn dịch, radionuclide và các loại khác của nghiên cứu. Trong nhiều trường hợp các thành phần hệ thống có thể được xác định như trên các hoạt động chức năng, và immunologically trên nội dung của kháng nguyên tương ứng trong máu. Đồng thời sử dụng các kỹ thuật cho phép phân biệt bệnh lý, kết hợp với việc thiếu các tổng hợp của các yếu tố đông máu tương ứng (trong trường hợp này, đều giảm như hoạt động chức năng của nó, và số lượng các kháng nguyên), và các hình thức, trong đó các phân tử là yếu tố tổng hợp, nhưng đó là một bất thường và chức năng nepolnocenna.

Để tham khảo các hình thức đầu tiên của số lượng các yếu tố tương ứng sẽ được thêm vào “” (ví dụ:, VIII-, IX- và t. d.), và thứ hai là một dấu hiệu “+” (ví dụ:, VIII +, IX +).

Chỉ định (Tổng quát) xét nghiệm đông máu Định nghĩa của máu đông máu thời gian Thời gian rekal’cifikacii plasma

Thời gian thử nghiệm plasma-không-tiêu chuẩn hóa nizkochuvstvitel’nyj rekal’cifikacii, ít đáng tin cậy để xác định gipokoagulyatsii, so với toàn bộ máu đông máu thời gian. Không được khuyến khích để chẩn đoán rối loạn Hemostatic.

Kích hoạt một phần thromboplastin time plasma

Kích hoạt một phần thromboplastin time plasma (APTT, cao lanh-kefalinovyj thử nghiệm) -độ nhạy cao phương pháp, phát hiện máu đông máu vấn đề khi bạn bắt đầu một quy trình làm việc, cơ chế nội bộ. Chọn lọc nhạy cảm với các thiếu hụt yếu tố đông máu huyết tương (vì sự thiếu hụt của tiểu cầu và các yếu tố 3 tiểu cầu đền bù đầu vào từ bên ngoài kefalinom hoặc jeritrofosfatidom).

Được sử dụng để giám sát geparinoterapiej, Preoperative xét nghiệm của bệnh nhân và t. d. Quy chuẩn các chỉ số phụ thuộc vào các mẫu được sử dụng kefalina, trong nhiều trường hợp bao gồm 37-50 c (tối ưu-37-45 với).

Kaolinovoe thời gian plasma

Thời gian thử nghiệm plasma Kaolinovoe, tương tự như trước đó, nhưng mà không cần thêm plasma kefalina (jeritrofosfatida), kết quả là ông là nhạy cảm không chỉ với sự thiếu hụt yếu tố đông máu huyết tương, nhưng còn thiếu của tiểu cầu và các yếu tố 3 Tiểu cầu. Các ước tính gần đúng của hoạt động của các yếu tố này có thể được thực hiện bằng cách so sánh thời gian tra plasma kaolin với tiểu cầu cao và thấp (tiêu chuẩn-57-70 với).

Chúng tôi không khuyên bạn nên sử dụng các thành phần của Phospholipid, đưa ra trong thời gian đông máu APTT bằng 55 với và nhiều hơn nữa, vì sự giảm đáng kể tính chính xác và reproducibility bài kiểm tra, bao gồm các định lượng yếu tố VIII và IX.

Silicone thời gian plasma

Thời gian silicone, plasma là một thời gian rekal’cifikacii plasma, nhận được trong điều kiện silikonirovanija kim, ống, Ống lấy, t. nó là. tối thiểu kích hoạt liên lạc. Các thử nghiệm là nhạy cảm với kích hoạt kích hoạt sự đông máu liên hệ mạch giai đoạn (yếu tố XII và XI), Tuy nhiên, hành vi vi phạm này được tiết lộ rõ ràng hơn bằng cách xác định toàn bộ máu đông máu thời gian silicone (trên cơ sở cho dù phương pháp này là màu trắng hoặc trombojelastograficheskoj quá trình đăng ký trong hệ điều hành mương).

Quy chuẩn các chỉ số phụ thuộc vào silicone và được xác định bởi một nghiên cứu của máu của những người khỏe mạnh cho mỗi mẫu một cách riêng biệt. Khi lựa chọn Silicon là tốt nhất, tốt nhất là kéo dài thời gian đông máu (huyết tương).

Prothrombin (thromboplastin) thời gian plasma

Prothrombin (thromboplastin) thời gian plasma (Thời gian nhanh Pol, chỉ số prothrombin) characterizes tốc độ thu hẹp rekal’cificirovannoj huyết tương trong suốt quá trình khởi động trên cơ chế bên ngoài, t. nó là. Khi bạn thêm thromboplastin bộ não con người (hoặc thỏ).

Thromboplastin hoạt động standartiziruetsja trên các mẫu hỗn hợp bình thường (kiểm soát) huyết tương. Tromboplastiny là hoạt động phổ biến nhất được sử dụng 12-18 với (trong kỹ thuật cổ điển là 12-13 pol nhanh với). Tromboplastin yếu, phương pháp lỗi thêm.

Thời gian bình thường protrombinovom huyết tương kiểm tra cho phép xác định bị cô lập hoặc tích lũy thâm hụt các yếu tố protrombinovogo phức tạp-VII, X, (V) và (II), những yếu tố ba (VII, X và (II)) K-vitaminozavisimy và hoạt động của họ giảm dưới ảnh hưởng chống các hành động gián tiếp. Về vấn đề này, thử nghiệm prothrombin là điều cần thiết khi giám sát liều lượng của coumarins (neodikumarin, hoặc pelentan, sinkumar, v.v…) và các sản phẩm khác của nhóm này (fenilin).

Thời gian prothrombin là bình thường với mức thâm hụt của các yếu tố của cơ chế nội bộ của hoạt hóa prothrombinase – yếu tố XII, XI, IX, VIII (t. nó là. cho tất cả các loại bệnh ưa chảy máu và khiếm khuyết Hageman), cũng như sự thiếu hụt của prekallikrein và kininogen trọng lượng phân tử cao (VM kininogena)

Trong nền văn học khác nhau định kết quả xét nghiệm prothrombin. Các mưu mẹo nhất để xác định các nghiên cứu thời gian prothrombin và điều khiển plasma trong vài giây (đưa ra các thông tin và các hoạt động của thromboplastin sử dụng). Đôi khi sử dụng các giá trị tỷ lệ hai, t. nó là. chỉ số (ISL nghiên cứu plasma, từ ,)/(PV kiểm soát plasma, từ), (Norma 0.9-1.1).

Thời gian Thrombin plasma

Thời gian Thrombin plasma, t. nó là. citratnoj plasma đông máu trong khi thêm vào nó một hoạt động tiêu chuẩn của Thrombin, là một thử nghiệm chính cho việc thẩm định trong giai đoạn cuối cùng của đông máu huyết. Chỉ số này là quan trọng đối với việc giải thích chính xác của tất cả các xét nghiệm đông máu khác, Đối với các vi phạm của giai đoạn cuối cùng của máu đông máu phải chắc chắn sẽ dẫn đến một kéo dài của thời gian trong tất cả các kỹ thuật trên.

Trong hầu hết trường hợp, khi thực hiện kiểm tra nồng độ của Thrombin giải pháp 821-828, mà khi trộn với một khối lượng bằng nhau của huyết tương cho sự sụp đổ cho 12 – 18 từ, nhưng khi disfibrinogenemij đang được sử dụng và yếu hơn nồng độ (kết quả là biến cho 30-35 với).

Thời gian thrombin là một chỉ báo chẩn đoán quan trọng, hành vi vi phạm của ông xu hướng bẩm sinh, và khi mua chung (thứ hai) gipoprotrombinemijah, Hầu hết disfibrinogenemij, cũng như là dưới ảnh hưởng của heparin, sản xuất xử (PDF) và một số khác antitrombinov và các chất ức chế tự assembly monome fibrin. Vì vậy, thời gian Thrombin chủ yếu và ngày càng là băn khoăn trong hội chứng cấp tính và subacute phổ biến mạch đông máu, mà đóng một vai trò quan trọng cho express chẩn đoán bệnh lý này.

Thử nghiệm Autokoaguljacionnyj

Thử nghiệm Autokoaguljacionnyj (HÀNH ĐỘNG) -high-sensitivity hai giai đoạn, Mô tả quá trình của máu đông máu khi chạy cơ chế nội bộ. Như APTT, Các bài kiểm tra là không nhạy cảm với các thiếu hụt yếu tố VII, nhưng lời khai của ông đã không phụ thuộc vào nội dung của Fibrinogen (yếu tố tôi) trong nghiên cứu plasma, Làm thế nào là khác nhau từ tất cả các đông máu chỉ mẫu khác.

Nhân phẩm một hành động là, mà khám phá huyết ly dị, tăng cường rất nhiều sự nhạy cảm thử nghiệm cho các thiếu hụt yếu tố đông máu và, Vả lại, thực hiện các hành động không đòi hỏi việc sử dụng của cao lanh và kefalina, Kể từ khi các tiêu chuẩn của số liên lạc và fosfolipidnoj kích hoạt gemolizatom đạt được trong đó riêng các tế bào màu đỏ được thăm dò.

Tinh túy của đạo luật là, mà để 2 ml gipotonicheskogo giải pháp (0,222 %) Clorua canxi được thêm vào 0,1 ml máu điều tra.

Trong này đá vôi gemolizat hỗn hợp của protrombinazy và sự hình thành của Thrombin, Các hoạt động đó được xác định bởi các bổ sung phù hợp các 0,2 ml hỗn hợp để 0,2 ml plasma điều tra (tất cả 2 m trong thời gian đầu tiên 10 m, và sau đó mỗi 10 min cho 1 không).

Plasma được điều tra nguồn gốc của Fibrinogen, nơi hoạt động kiểm tra từ một hỗn hợp của Thrombin. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra, Nó có thể được thay thế bằng huyết tương của con người khỏe mạnh hoặc Fibrinogen giải pháp. Trong trường hợp này, lưu lượng máu của bệnh nhân là giảm đến 0.1-0, 2 ml (có thể được lấy từ các ngón tay!), cái gì biến kiểm tra autokoaguljacionnyj trong mikrokoaguljacionnyj (MKT) và làm cho nó rất thuận tiện cho sử dụng trong nhi khoa, bao gồm các nghiên cứu của hemostasis ở trẻ sơ sinh.

Koaguljacionnaja hoạt động trong ACP và MKT đầu tiên là phát triển và khỏe mạnh người thường đạt tối đa của mình để lần thứ 10 phút, ấp trứng của canxi máu hỗn hợp (KKS), Khi sự sụp đổ xảy ra đằng sau plasma chất nền 10 ± 1 với. Sau đó koaguljacionnaja KKS hoạt động bắt đầu suy giảm, phản ánh trên ngừng hoạt động của Thrombin trong đó hình thành. Tại gemofilijah, tác dụng của heparin và các hành vi vi phạm của đông máu đông máu hoạt động CCS giảm đáng kể, và tối đa từ 10 phút di chuyển sang một ngày. Nếu có một hypercoagulation trước đó và tăng đáng kể của trombinovoj hoạt động trong CCS.

Trong một ống nghiệm (định nghĩa chỉ lúc 10 phút ấp KKS) Nó có thể được sử dụng để giám sát geparinoterapiej. Ưu điểm của kỹ thuật này trước khi kiểm tra thời gian kích hoạt thromboplastin một phần, Nó đã thẳng thắn tác động vi sai của kefalinov khác nhau geparinovoe thời gian đông máu.

Trên cơ sở luật (MKT) phát triển một kỹ thuật đơn giản và chính xác cho các chẩn đoán khác biệt của gemofilij.

Bằng cách sử dụng các con số được đưa ra trong lời khai hóa đơn luật bảng tài liệu tham khảo (MKT) có thể được thể hiện như là một tỷ lệ phần trăm và được mô tả dưới dạng đồ họa-autokoagulogrammy.

Thromboelastography đưa ra một ấn tượng không chỉ về thời gian máu đông máu hoặc plasma, nhưng cũng về cấu trúc và tính chất cơ học của các cục máu đông kết quả. Trong các năm gần đây, và đăng ký phần cứng phương pháp giới thiệu tiêu chuẩn hoá số liên lạc và fosfolipidnoj kích hoạt quá trình đông máu. Nó cũng tạo ra sơ đồ đông máu xét nghiệm đông máu khối lượng chung, APTT, Prothrombin, Thrombin và khác với ghi âm tự động của kết quả.

Các phương pháp khác biệt các yếu tố đông máu thâm hụt và định lượng của họ

Bảng sau hiển thị, một nghiên cứu dự kiến của coagulability máu bằng cách sử dụng các xét nghiệm cơ bản ba cho phép bạn để nhóm khác huyết tương yếu tố thiếu sự khác biệt hemocoagulation. Như vậy, chậm lại chỉ coagulability protrombinovom thi ((I) các loại vi phạm) theo lời khai bình thường tất cả các đặc điểm khác của yếu tố di truyền VII thiếu hoặc để giảm bớt này yếu tố trong giai đoạn đầu của sự phát triển của vàng da tắc nghẽn hoặc 1-2 ngày đầu tiên của điều trị antikoagulyantami hành động gián tiếp, Khi sự ức chế yếu tố tổng hợp VII tiến bộ trong sự phát triển của một sự giảm trong mức độ của tất cả các yếu tố đông máu k-vitaminozavisimyh.

Vi phạm chỉ nội bộ cơ chế đông máu, t. nó là. thời gian kích hoạt thromboplastin một phần và hành động (II тип), Khi thiếu yếu tố XII, XI, IX, VIII, Von Willebrand (không phải trong mọi hình thức), prekallikreina và VM kininogena. Khuyết tật di truyền thiếu hụt yếu tố đông máu XII, prekallikreina và kininogena VM có là rất hiếm và không kèm theo bất cứ chảy máu, Trong khi thiếu yếu tố VIII (Dể băng huyết một), IX (hoàng ở) và yếu tố von Willebrand là rất thường xuyên (lớn hơn 96 % Tất cả được thừa kế coagulopathies) và đi kèm bởi một dể băng huyết phát âm. Giữa chúng trong những nơi đầu tiên và tiến hành tiếp tục chẩn đoán vi sai.

Thiếu hụt yếu tố XI xảy ra khá ít khi (xấp xỉ 0.5-1.0 % Tất cả gemofilij), Các dòng chảy với dể băng huyết rất nhẹ (chủ yếu là sau chấn thương và các hoạt động) và chiếm một vị trí trung gian giữa nhóm con đầu tiên của hành vi vi phạm không có triệu chứng và bệnh gemofilijami và von Willebrand.

Một loại hành vi vi phạm được đặc trưng bởi kéo dài như là một phần thromboplastin time và hành động, và thời gian prothrombin. Ông đặc trưng các thiếu hụt yếu tố V, X hoặc (II) để tích hợp tất cả các yếu tố thâm hụt-vitaminozavisimyh (VII, X, IX, II), Những gì được quan sát thấy khi cơ vàng da và các loại khác của k-vitamin a thiếu, cũng như khi tham gia chống các hành động gián tiếp.

Và cuối cùng, có thể nhìn thấy từ cùng một bảng, Có lẽ những lời khai của tất cả các xét nghiệm ba (Тип IV), đó quan sát thấy trong di truyền và mua lại hypo- và disfibrinogenemijah (không phải tất cả), Khi dùng thuốc chống đông máu trực tiếp hành động (geparina, geparinoidov, girudina, v.v…), điều trị thuốc defibrinirujushhimi xử và tính (streptokinase, urokinaza vv.), máu xuất hiện, bệnh lý và các chất antitrombinov, ngăn chặn kết nối (Lắp ráp) fibrin-monomer-para -, krioglobulinov, khu phức hợp miễn dịch, cũng như trong phức hợp hành vi vi phạm của coagulability, gây ra bởi Hội chứng đông máu mạch phổ biến. Khi thời gian Thrombin là thường xuyên vi phạm trong lớn hơn và sớm hơn, so với các xét nghiệm khác.

Khi tham gia vào tài khoản hạn chế của các bệnh và có thể polypus hoặc thứ cấp kết nối với các loại bệnh lý học và dược hoặc ảnh hưởng của nó, sự có mặt hay vắng mặt của chảy máu và loại hình của nó có thể xác định chính xác nguồn gốc của các vi phạm đối với sâu sắc máu đông máu.

Mọi điều Các xét nghiệm khác biệt được dựa trên nguyên tắc điều chỉnh, t. nó là. định nghĩa của, trong chừng mực mà tiết lộ một rối loạn chảy máu loại bỏ hoặc, ngược lại, Các mẫu huyết tương không loại bỏ hoặc chế phẩm có nguồn gốc nhân tạo máu với thiếu hụt nổi tiếng được biết đến một yếu tố đông máu.

Phòng thí nghiệm chuyên dụng cho mục đích này tạo cho mình một bộ sưu tập của faktorodeficitnyh plasma máu, nhận được chúng từ các bệnh nhân với cố ý cài đặt sâu (ít hơn 1 %) thiếu của mỗi người trong số các yếu tố và giữ chúng trong một gói nhỏ (qua 0,5 ml) Khi nhiệt độ là 30 ° C. Nếu cần thiết, các mẫu được đông và được sử dụng thử nghiệm chẩn đoán.

Huyết tương, chịu để ngẫu nhiên unfreezing hoặc còn lại chưa sử dụng, Đóng băng lại không phải. Các bài kiểm tra khắc phục không nên được sử dụng với chất ức chế miễn dịch huyết tương của một yếu tố. Một số các công ty trong chẩn đoán kits sản chứa mẫu khô huyết tương với thiếu hụt xác định các yếu tố đông máu (Plasma bề mặt). Tuy nhiên, nhiều coagulability hiếm thấy trong thực hành lâm sàng, về vấn đề này, sử dụng nhân tạo chuẩn bị sẵn sàng với các thành phần máu bình thường với sự thiếu hụt một số yếu tố đông máu, cũng như không đồng nhất huyết tương (gà con, vịt, v.v…).

Bảng cung cấp thông tin về nội dung của các yếu tố đông máu trong thành phần máu, được sử dụng để sửa chữa các xét nghiệm đông máu tùy thuộc vào thời gian lưu trữ của họ. Sử dụng các bảng này, dễ dàng để giải mã những lời khai của bất kỳ của các xét nghiệm đông máu chính ba. Kỹ thuật cải huấn các loại xét nghiệm sử dụng, số liên lạc chuẩn hóa và kích hoạt fosfolipidnoj, t. nó là. cao lanh-kefalinovye hoặc gemolizata (trong một hành động).

Chú Ý. (+) -yếu tố sẵn có; (-) -thiếu.

* Hấp phụ của barium sulphate được thực hiện một trong hai oksadatkoj plasma (Baso 4-huyết tương). hoặc allûminnâ hydroxit gel citratnoj plasma (Al(OH) 3-huyết tương).

** Bộ lọc được thực hiện thông qua hai bộ lọc amiăng (Zejca bộ lọc) -với 20 % (trên bộ lọc) và 30 % (dưới filter) amiăng hoặc thông qua đôi hoặc gấp ba lần lượt 30 và 20 % bộ lọc.

Các xét nghiệm của bệnh nhân huyết tương trộn với plasma, nổi tiếng là đã biết đến thiếu hụt này, hoặc các yếu tố đó

Xác định thời gian kích hoạt thromboplastin một phần trong tra plasma, huyết tương bình thường (kiểm soát) và trong huyết tương với nổi tiếng được biết đến thiếu yếu tố VIII (từ dể băng huyết a bệnh nhân), IX (từ dể băng huyết bệnh nhân ở), XI và XII. Sau đó chuẩn bị một sự pha trộn của mẫu nghiên cứu plasma citratnoj (7/10 khối lượng) và phù hợp với mỗi plasma khan hiếm (3/10 khối lượng), Kể từ khi thiếu yếu tố VIII và IX ( Các hình thức thường gặp nhất của bệnh lý!).

Để hỗn hợp thêm cao lanh và kefalin, và bởi 2 phút vạch trần của cô rekal′cifikacii (ở nhiệt độ 37 ° C). Trong hỗn hợp, nơi thời gian kích hoạt thromboplastin phần không bình thường, Đó là một và cùng đông máu nhược.

Tương tự,, nhưng dựa trên prothrombin thử nghiệm sự khác biệt giữa thiếu yếu tố protrombinovogo phức tạp (X, V, (VII) và (II)).

Thromboplastin thế hệ kiểm tra

Phân biệt giữa hành vi vi phạm của các cơ chế nội bộ của máu đông máu là thường xuyên nhất được sử dụng cổ điển thromboplastin thế hệ kiểm tra với việc thay thế các thành phần tiểu cầu, chuẩn bị mà đòi hỏi thời gian đáng kể và máu, kiểm tra kefalinom thromboplastin thế hệ thiếu hụt là unwieldiness của nó, sự cần thiết cho việc nấu ăn số lượng lớn của chất phản ứng, một chi tiêu đáng kể thời gian thực hiện.

Kiểm tra sửa chữa, Dựa trên cơ sở thử nghiệm autokoagulâcionnogo.

Nhiệm vụ của express chẩn đoán gặp một sự điều chỉnh thử nghiệm, Dựa trên một sửa chữa của các thành phần tương tự của autokoagulâcionnogo thử nghiệm máu bình thường dựa trên.

Kiểm tra này là rất đáng tin cậy, tốc độ và dễ thực hiện và đòi hỏi một nhỏ (không 0,5 ml) lượng máu của các nghiên cứu, Nó có thể được sử dụng trong nhi khoa thực hành.

Đúng một 4 Min ấp của hỗn hợp của hoạt động svertyvaûŝuû thử nghiệm trên huyết tương bình thường.

Sự suy giảm mạnh của làm một hoạt động chỉ trong ống nghiệm đầu tiên (với bình thường BaSO 4-huyết tương) xác nhận bệnh thiếu yếu tố IX (hoàng ở), chỉ trong ống nghiệm thứ hai (với tuổi huyết thanh) về thiếu hụt yếu tố VIII (Dể băng huyết một); Nếu chỉnh xảy ra ở cả hai ống nghiệm (mạnh mẽ không kém), sau đó, chắc chắn, Đó là một thiếu yếu tố XI hoặc XII (cm. Bàn. 14).

Kiểm tra này là rất nhạy cảm, vì nghiên cứu được thực hiện pha loãng trong 20 Một yếu tố bồi thường máu 3 tiểu cầu gemolizatom. Chỉ sử dụng hoá là một giải pháp hypotonic canxi clorua, Điều gì làm cho một thử nghiệm công cộng.

Bằng nhau dễ dàng là một kỹ thuật phục hồi chức năng mẫu, thực hiện trên cơ sở protrombinovogo thử nghiệm để phân biệt các yếu tố II thiếu hụt, V, và VII +, X (trong bảng).

Với cùng một mục đích này, sử dụng ma túy nọc độc rắn Russell, sống ở Ấn Độ (sự chuẩn bị stipven).

Chẩn đoán phân đầy đủ, nếu cần thiết, định lượng yếu tố khan hiếm hoặc các thuốc ức chế miễn dịch cụ thể, Những gì là đặc biệt cao chuẩn hóa phương pháp. Các kỹ thuật này được sử dụng để xây dựng đường cong giống hỗn hợp mẫu huyết tương bình thường với các chỉnh sửa của thâm hụt tất cả các yếu tố, Ngoài việc tra. Trên những đường cong được xác định bởi các hoạt động của các yếu tố tra trong huyết tương của bệnh nhân.

Đặc biệt Nó là quan trọng để định lượng nồng độ các yếu tố VIII và IX, cũng như sự sẵn có của các thuốc ức chế ở bệnh nhân hemophilia một và b (đặc biệt là trước và trong khi các biện pháp can thiệp phẫu thuật và điều trị chuyên sâu), cũng như ở trả chậm profuzhnykh sau sinh chảy máu, Khi nó là cần thiết để phân biệt DVS-lnndsy và thêm các bệnh lý hiếm-sự nổi lên của chất ức chế miễn dịch yếu tố VIII (vẫn còn nhiều hiếm-yếu tố V).

Một mức thâm hụt sâu của yếu tố XIII (một bệnh lý di truyền rất hiếm) Tất cả đông máu bình thường mẫu, nhưng các cục máu đông hòa tan trong 5 m hoặc 7 m urê.

Giúp phân biệt các mức thâm hụt yếu tố đông máu kế toán và, đặc biệt, thời gian bình thường đọc các xét nghiệm sau tiêm chích bệnh nhân với các sản phẩm từ máu, t. nó là. Sửa chữa kế toán in vivo trên các phương pháp của l. 3. Barkahan.

Kỹ thuật này là đặc biệt hiệu quả khi sự khác biệt lớn ở tuổi thọ trơn các yếu tố trong lưu thông. Như vậy, thời gian của chu kỳ bán rã protrombinovogo yếu tố phức tạp khác nhau từ vài giờ (фактор VII) lên đến một vài ngày (yếu tố II). Một vị trí trung gian giữa chúng chiếm các yếu tố X (2-2.5 ngày) và V (12-18 h).

Vì vậy, sau khi một vụ nổ lớn của truyền plasma prothrombin index tăng yếu tố thiếu hụt VII rất ngắn gọn, lúc thiếu hụt yếu tố V là hơi nhiều lâu dài (khoảng 4 – 6 lần), nhưng với một mức thâm hụt của yếu tố X và, đặc biệt, (II) trong một thời gian dài (hơn 1-2 ngày). Nó là quan trọng trong lĩnh vực này và những tác động trên các chỉ số của protrombin chuẩn bị PPSB (tập trung của các yếu tố VII, IX, X và (II)). Ông cũng một thời gian ngắn lại bình thường thời gian prothrombin ở thiếu hụt yếu tố VII và lâu dài hơn (nhiều lần!) lúc thiếu hụt yếu tố X và (II). Kể từ khi thuốc này là không có yếu tố V, Thâm hụt này họ không korrigiruetsâ.

Một sự khác biệt tương tự được tiết lộ trong dung dịch pha chế và thay thế trị liệu cơ chế nội bộ của các yếu tố đông máu (XII, XI, VIII và IX), đó là thử nghiệm đã đăng ký, kích hoạt một phần tromboplastinovym.

Quan tâm đặc biệt là các động thái của việc điều chỉnh mức độ yếu tố VIII và lời khai tại APTT truyền trị dể băng huyết một và bệnh von Willebrand. Việc đầu tiên của các bệnh này xác định ngay lập tức cải thiện tối đa đông máu sau khi truyền (xịt nước, nhanh!) antigemofil′noj plasma hoặc Cryoprecipitate, và sau đó khá nhanh chóng (cho 10-18 h) sự suy giảm ổn định trong các, Trong khi bệnh von Willebrand, đã có một số gia tăng của đông máu hoạt động trong vòng một vài giờ sau khi truyền, và sau đó từ chối của nó là chậm hơn nhiều, so với khi. Về vấn đề này, trong điều trị bệnh von Willebrand thêm ít khi resorted để zamestitel′nym transfuziâm, hơn dể băng huyết một.

Phương pháp được dựa trên các nghiên cứu hoạt động của các enzym proteolytic và ức chế của họ, tham gia vào máu, fibrinolize và hình thành của kinins, cường độ và tốc độ này enzym peptide nhạy cảm đặc biệt cleaving, Khi suy thoái mà giải thoát màu đại lý (Β-nitroanilin).

Chromogenic chất trao quyền cho các nghiên cứu của hệ thống hemostasis, nhưng không có sẵn cho nhiều phòng thí nghiệm. Một số nghiên cứu, thực hiện bằng cách sử dụng chúng, không có lợi thế hơn thường koagulâcionnymi thử nghiệm và cung cấp cho họ kết quả phù hợp; trong trường hợp khác của họ sử dụng đơn giản hóa và tăng tốc độ nghiên cứu, làm cho nó chính xác hơn; Thứ ba, những phương pháp này là độc lập và không thể được thay thế bằng các xét nghiệm koagulâcionnymi (ví dụ:, prekallikreina định nghĩa).

Miễn dịch xác định các thành phần của hệ thống hemostatic

Miễn dịch xác định các thành phần của hệ thống hemostatic thực hiện phương pháp:

Immunoprecipitation;

Immunoèlektroforeza;

Khi nội dung này được đo bằng plasma kháng nguyên của một yếu tố đông máu (hay những mảnh vỡ của nó), chứ không phải là chức năng hoạt động, đó có thể được giảm đáng kể trong các nội dung bình thường của kháng nguyên trong huyết tương. Tình trạng này là phổ biến trong mọi trường hợp, nơi trong cơ thể đang bất thường (chức năng lỗi) các yếu tố, bảo quản của nó antigenicity, nhưng tước khả năng tham gia vào gemostaze.

Tuy nhiên, một số thành phần của hệ thống hemostatic có thể chỉ được xác định immunologically.

Nhóm này bao gồm các nghiên cứu quan trọng như vậy, như định nghĩa của các thành phần sau::

Β-tromboglobulina;

Α2-macroglobulin;

protein C và S;

yếu tố VIII kháng nguyên:(C) và (VIII):RCOF;

sản xuất xử (PDF);

neoantigenov tổ hợp của Thrombin Antithrombin III và kích-doesn t;

một số xét nghiệm khác.

Miễn dịch học do đó rất nhiều bổ sung cho việc đánh giá chức năng các cấp độ khác nhau của hệ thống hemostatic.

Xét nghiệm chẩn đoán, Dựa trên việc sử dụng như là thuốc thử chuẩn bị của rắn độc

Lâu đã thành lập, có chất độc nên nhiều rắn chứa enzym proteolytic cao hoạt động, gây ra đông máu và ảnh hưởng đến các bộ phận khác nhau của thác đông máu. Do đó, nọc độc rắn và koagulazy của họ được sử dụng rộng rãi cho sự công nhận của các rối loạn Hemostatic, xác định định lượng yếu tố đông máu, xác định và xác định số lượng hòa tan fibrin monomeric phức (RFMK) và một số nghiên cứu khác.

Mẫu với con rắn-chất độc thường là nhiều dễ dàng hơn và nhanh hơn chẩn đoán rối loạn Hemostatic.

Bảng này chứa dữ liệu về các cơ chế của hành động của các chất độc svertawatuyu máu và chẩn đoán các tính năng của mỗi người trong số họ.

Tên của con rắn * và các chế phẩm của chất độc của họ

Cơ chế hoạt động trên svertawatuyu

Sự khác biệt từ các thuộc tính của yếu tố đông máu tự nhiên

* Tất cả các loài rắn này sinh sống ở trung á (trong ngoặc là các loài khác với một cơ chế tương tự như hành động và các loại thuốc mang nhãn hiệu từ họ; Viper Russell sống ở Ấn Độ, Viper Daboja tại Úc.

** Các yếu tố tương đương của kefalina và trombozitarnogo 3.

Định nghĩa của thuốc chống đông máu sinh lý cơ bản

Quan trọng nhất là xác định hoạt động của anticoagulant sinh lý cơ bản-antitrombina III, giảm mà có thể được di truyền (chính thrombophilia) hay trung học, do tiêu thụ chuyên sâu (DIC, huyết khối lớn) hoặc tăng tốc sự trao đổi chất (điều trị heparin, L-asparaginazoj, Tổng hợp các thuốc ngừa thai) và cuộc vây hãm các phức hợp miễn dịch, paraproteinami, với fibronectin, protein giai đoạn cấp tính.

Trong mọi trường hợp, giảm hoạt động antitrombina III dưới 60-65 % hỗ trợ mạch đông máu, làm cho ít hơn rõ rệt chống đông máu heparin. Tuy nhiên, rất thường xuyên giữa các cấp độ của antithrombin III và giảm độ nhạy cảm với heparin không tuân thủ pháp luật.

Nó thường là một sự suy yếu của các hành động chống đông của heparin chiếm ưu thế đáng kể so với mức độ giảm trong hoạt động của antithrombin III. Chứng minh, rằng thâm hụt trong các hình thức khác nhau của antithrombin III ái lực heparin của nó có thể khác nhau ở các mức độ khác nhau. Vả lại, các phần phân đoạn khác nhau của heparin, tỷ lệ trong đó thuốc chữa bệnh rất dễ thay đổi, cũng có một mối quan hệ khác nhau cho antithrombin III. Vì vậy thực tế quan trọng để khám phá cách thực tế hoạt động antitrombina III, và khả năng của mình để trở thành bị ảnh hưởng bởi heparin trong fast-acting anticoagulant.

Chống đông máu hoạt động antitrombina III Heparin-kofaktornaâ hoạt động

Heparin-kofaktornaâ hoạt động chứa trong huyết tương Antithrombin III một thời gian dài đã được xác định bằng cách sử dụng khả năng chịu thử nghiệm huyết tương geparino, mà có thể được coi là chỉ, bởi vì nó mang lại cho một phạm vi rất rộng các chỉ số bình thường và không đủ lặp lại.

Chính xác hơn và duy trì một izvodimy xét nghiệm, mà khám phá những tác động của các nồng độ khác nhau của heparin thời gian Thrombin nghiên cứu plasma, có chứa một số lượng nhỏ của tiểu cầu. So sánh với kéo dài thời gian Thrombin kiểm soát bình thường huyết tương, mà được thêm vào cùng một heparin mẫu.

Như vậy, ở Thrombin-geparinovom thử nghiệm để tra plasma thêm vào số tiền như vậy của heparin, điều khiển mở rộng thời gian Thrombin 15 lên đến 32-35 với (nhỏ tập trung) và lên đến 95-110 với (nồng độ cao của heparin). Những con số này là các chỉ số tính toán hoạt động antitrombinov plasma (AARP) và dự trữ antikoagulântnogo plasma (ARP).

Kỹ thuật tương tự cũng thường được sử dụng để đánh giá cả hai nhân Thrombin ngừng hoạt động xét nghiệm đông máu, và chất chromogenic.

Miễn dịch xác định kháng nguyên antitrombina III

Miễn dịch xác định kháng nguyên antitrombina III cho phép phân biệt các loại khác nhau của thrombophilia:

Tổng hợp không đầy đủ của antitrombina III (mức điểm đánh dấu kháng nguyên hạ xuống đầy đủ làm giảm hoạt động);

với một tổng hợp lưu của hình dạng bất thường và chức năng tiêu chuẩn tiểu (mức độ kháng nguyên đánh dấu là cao hơn nhiều, so với các hoạt động).

Protein C và S, Thrombomodulin và α 2-macroglobulin xác định phương pháp immunoènzimatičeskimi.

Những Dưỡng Chất Và Thực Phẩm Chức Năng Giúp Chống Đông Máu

Cần tham vấn bác sỹ trước khi sử dụng các chất chống đông máu

1. Vitamin E

Vitamin E làm giảm đông máu theo một vài cách khác nhau. Những tác động này phụ thuộc vào lượng vitamin E mà bạn tiêu thụ.

Tuy chưa rõ cần bao nhiêu vitamin E để làm loãng máu, nhưng có khả năng mọi người sẽ cần phải tiêu thụ hơn 400IU mỗi ngày. Dùng liều cao vitamin E (trên 1.500IU mỗi ngày) trong thời gian dài, có thể gây ra tác động tiêu cực.

Những người đang dùng thuốc chống đông máu nên tránh dùng liều lượng lớn vitamin E

Để tránh nguy cơ quá liều vitamin E, bạn nên tiêu thụ các thực phẩm tự nhiên giàu vitamin này, bao gồm: Hạnh nhân, dầu cây rum, dầu hướng dương, hạt hướng dương, dầu mầm lúa mì và các loại ngũ cốc nguyên hạt.

2. Ginkgo biloba

Ginkgo biloba (bạch quả) được cả Đông y và Tây y sử dụng để điều trị rối loạn máu, các vấn đề về trí nhớ và năng lượng thấp. Gingko biloba làm loãng máu và có tác dụng phân hủy fibrin. Điều này có nghĩa là nó có thể hòa tan cục máu đông.

Một nghiên cứu báo cáo rằng chiết xuất gingko biloba có tác dụng tương tự như Streptokinase – một loại thuốc dùng để điều trị cục máu đông. Tuy nhiên, nghiên cứu này mới chỉ được thực hiện trong phòng thí nghiệm và cần thêm nhiều nghiên cứu nữa để xem liệu rằng gingko biloba có tác dụng tương tự đối với cơ thể con người hay không.

Có thể dễ dàng tìm thấy ginkgo biloba trong nhiều sản phẩm của các nhà sản xuất thực phẩm chức năng lớn từ Tây sang Đông như: Whole Foods, CVS, Walgreens…

Không dùng chung các thực phẩm chức năng chứa gingko biloba với các thuốc chống đông máu (Warparin, Heparin) hay các thuốc ngăn ngừa sự tập kết tiểu cầu (Aspirin, Dipyridamol, Ticlopidin).

3. Chiết xuất hạt nho

Có một số bằng chứng cho thấy rằng chiết xuất hạt nho có thể có lợi ích tiềm năng trong điều trị các vấn đề máu và tim. Nó chứa chất chống oxy hóa có thể bảo vệ các mạch máu và ngăn ngừa tăng huyết áp. Chiết xuất hạt nho cũng có thể hoạt động như một chất chống đông máu tự nhiên.

Vì những tác động này, Trung tâm Sức khỏe Bổ sung và Tích hợp Quốc gia (Mỹ) khuyến cáo những người bị rối loạn máu, những người đang sử dụng thuốc chống đông máu và những người sắp phẫu thuật không nên dùng chiết xuất hạt nho.

4. Đương quy

Đương quy còn được gọi là “nhân sâm cho phái nữ”. Nó là một loại thảo dược truyền thống của Đông y có thể làm chống đông máu hiệu quả.

Các nghiên cứu trên động vật cho thấy sử dụng đương quy có thể làm tăng đáng kể thời gian cầm máu để đông máu (thời gian prothrombin).

Đương quy chứa coumarin – một tác nhân làm loãng máu mạnh mẽ 5. Cúc feverfew

Cúc feverfew thường được dùng để giảm đau nửa đầu, một số rối loạn tiêu hóa và sốt.

Nên đọc

Nó cũng có thể hoạt động như một chất làm loãng máu bằng cách ức chế hoạt động của tiểu cầu và ngăn ngừa đông máu. Cúc feverfew có sẵn ở dạng viên nang hoặc dạng lỏng.

6. Bromelain

Bromelain là một loại enzyme được chiết xuất từ ​​dứa. Nó có thể mang lại nhiều hiệu quả trong điều trị bệnh tim mạch và tăng huyết áp.

Một số nghiên cứu cho thấy bromelain có thể làm loãng máu, phá vỡ cục máu đông và giảm sự hình thành cục máu đông. Enzyme này cũng có đặc tính kháng viêm mạnh mẽ.

Nên tham vấn bác sỹ trước khi sử dụng các dưỡng chất và thực phẩm chức năng chống đông máu, vì tùy vào các điều kiện khác nhau chúng có thể không hoạt động tốt như thuốc và có thể gây trở ngại cho một số loại thuốc mà bạn đang sử dụng.

Biết Tuốt H+