Xét Nghiệm Hóa Sinh Đánh Giá Chức Năng Gan / Top 4 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 2/2023 # Top View | Phauthuatthankinh.edu.vn

Các Xét Nghiệm Đánh Giá Chức Năng Gan

Gan là bộ phận quan trọng trong cơ thể con người, có nhiệm vụ thực hiện hơn 500 chức năng khác nhau. Khi gan bị tổn thương không chỉ gan bị ảnh hưởng mà các bộ phận khác trong cơ thể cũng bị ảnh hưởng nghiệm trọng: chức năng đông máu giảm trong xơ gan, suy gan, tổn thương não trong bệnh não gan…

Virus viêm gan B, virus viêm C là nguyên nhân hàng đầu gây xơ gan, ung thư gan;

Do rượu, bia, do thuốc, hóa chất…đặc biệt các trường hợp ngộ độc cấp do thuốc, hóa chất;

Do bệnh mạn tính như: lao lupud ban đỏ, ung thư…

Xét nghiệm đo nồng độ enzyme AST, ALT

ALT (Alanine Transaminase) tham gia vào quá trình chuyển hóa protein trong cơ thể. Khi tế bào gan tổn thương, ALT sẽ giải phóng vào trong máu. Nồng độ ALT tăng trong máu có thể là dấu hiệu của thương tổn tế bào gan. Giá trị bình thường của ALT trong máu < 40 U/L. Giảm nồng độ ALT không đánh giá nên bệnh lý nào.

AST (Aspartate Transaminase) là một enzyme tìm thấy ở nhiều cơ quan như tim, gan, cơ. Vì vậy, khi AST tăng trong máu, sẽ không phân biệt là tổn tương tại gan, tim hay cơ. AST thường được thực hiên cùng ALT, tỷ lệ ALT/AST cung cấp nhiều thông tin hữu ích trong chẩn đoán. Giá trị bình thường AST trong máu < 37U/L. Giảm nồng độ AST không đánh giá nên bệnh lý nào.

Xét nghiệm đo nồng độ ALP

ALP (Alkaline phosphatase) là một enzyme trong xương, ống mật và gan. Nồng độ ALP tăng trong máu gặp trong các tổn thương gan, tắc ống dẫn mật, các bệnh lý về xương.

Trẻ nhỏ và trẻ vị thành niên có nồng độ ALP cao hơn người trưởng thành vì sự phát triển xương ở lứa tuổi này đang diễn ra mạnh mẽ. Phụ nữ mang thai cũng có nồng độ ALP ở mức cao hơn bình thường. Giá trị bình thường ALP trong máu là 45-115 U/L

Giảm nồng độ ALP gặp trong truyền máu, phẫu thuật tim, thiếu kẽm, suy dinh dưỡng, bệnh Wilson.

Xét nghiệm định lượng Albumin Albumin là một protein quan trọng do gan tổng hợp. Các chức năng của Albumin bao gồm:

Tạo áp lực keo huyết tương, ngăn cản nước thoát ra khỏi mạch máu

Cung cấp chất dinh dưỡng cho cơ thể

Vận chuyển hormone, vitamin và một số các chất khác trong máu Khi nồng độ Albumin máu giảm, cho thấy gan đã giảm khả năng sản xuất Albumin. Giá trị bình thường của Albumin trong máu là 35-50 g/L.

Xét nghiệm định lượng Bilirubin

Bilirubin là sản phẩm thoái hóa các hồng cầu già cỗi, một chất độc đối với cơ thể. Trước khi được đào thải ra ngoài, bilirubin được khử độc bởi gan thông qua quá trình liên hợp với acid glucuronic. Khi gan tổn thương, quá trình khử độc này suy giảm, khiến bilirubin tăng lên trong máu. Giá trị bình thường của Bilirubin toàn phần trong máu là < 17 µmol/L.

Tại sao cần thực hiện các xét nghiệm kiểm tra chức năng gan?

Các xét nghiệm kiểm tra chức năng gan giúp đánh giá toàn diện các chức năng gan, bao gồm:

Loại bỏ các chất độc hại ra khỏi cơ thể

Tham gia hấp thu, chuyển hóa các chất dinh dưỡng

Kho dự trữ vitamin và chất khoáng

Sản xuất các yếu tố tham gia quá trình đông máu, cầm máu

Tổng hợp protein, enzyme, mật

Sản xuất các yếu tố kháng viêm và loại bỏ vi khuẩn

Sản xuất các hormone

Các triệu chứng của rối loạn chức năng gan là gì? Các triệu chứng của rối loạn chức năng gan, bao gồm:

Nếu bạn có các triệu chứng trên, bác sỹ có thể đề nghị bạn thực hiện các xét nghiệm kiểm tra chức năng gan. Ngoài ra, các xét nghiệm này cũng dùng để kiểm tra sức khỏe trước khi bạn muốn mang thai hoặc theo dõi các nhiễm trùng, theo dõi sự tiến triển của bệnh và ảnh hưởng của một số thuốc tới gan.

Chuẩn bị trước khi thực hiện xét nghiệm

Một số thuốc hoặc thực phẩm bạn đang sử dụng có thể làm sai lệch kết quả xét nghiệm, vì vậy cần nói với bác sỹ bất kỳ loại thuốc nào mà bạn đang dùng. Trước khi thực hiện xét nghiệm, bạn cũng không nên ăn uống (có thể uống nước lọc) trong khoảng thời gian 8-10 tiếng.

Kết quả xét nghiệm được bác sỹ sử dụng như thế nào?

Thông thường, kết quả xét nghiệm sẽ chỉ ra gan của bạn có thực hiện đầy đủ chức năng không. Nếu kết quả bất thường, bác sỹ sẽ dựa vào đó để đánh giá tình trạng hiện tại của bạn, tuy nhiên có thể không giúp nhận định chính xác cấp độ tổn thương gan. Nhưng thông qua đó, bác sỹ có thể đề nghị bạn thực hiện thêm các xét nghiệm khác để chẩn đoán xác định tình trạng bệnh.

Xét Nghiệm Got Giúp Đánh Giá Chức Năng Gan

Các bệnh về gan là nỗi lo ngại đối với nhiều người. Với chế độ ăn nhiều đạm, sử dụng đồ uống có cồn hay chất kích thích và chế độ làm việc nghỉ ngơi không hợp lý có thể gây suy giảm chức năng gan và nhiều tác hại lớn đối với sức khỏe. Vì vậy xét nghiệm GOT để đánh giá chức năng gan là cách tầm soát bệnh hiệu quả, tránh những hậu quả khôn lường xảy ra.

1. Xét nghiệm GOT là gì?

Có nhiều xét nghiệm sinh hóa được sử dụng để đánh giá chức năng gan. Tuy theo từng trường hợp cụ thể mà các bác sĩ sẽ chỉ định thực hiện xét nghiệm thích hợp. Trong đó có xét nghiệm GOT là một trong những xét nghiệm để đánh giá chức năng gan.

GOT là enzym thực hiện chức năng trao đổi amin (transaminase), có nhiều ở các tổ chức của cơ thể. GOT xuất hiện nhiều trong tế bào gan, và cũng xuất hiện ở tim, cơ xương.

Gan có một hệ thống enzym rất hoàn chỉnh để thực hiện chức năng tổng hợp và chuyển hóa. Khi tế bào gan bị tổn thương men gan sẽ tăng do đó lượng enzym giải phóng vào máu nhiều. Đó là lí do tại sao chỉ số men gan có thể xem là một dấu hiệu cảnh báo cho sức khỏe lá gan.

Khi SGOT (AST) ở mức bình thường vào khoảng 20-40 UI/L. Chỉ số men này tăng khi có tổn thương tế bào gan do viêm, xơ, ung thư; hay tổn thương do nhồi máu cơ tim. Và chỉ số này giảm khi tiểu đường, thai kỳ, Beriberi,…

Vì vậy xét nghiệm GOT được dùng để đánh giá mức độ tổn thương (hủy hoại) tế bào nhu mô gan.

Xét nghiệm GOT để xác định tình trạng gan

2. Thực hiện xét nghiệm GOT khi nào?

Sức khỏe yếu, thường xuyên mệt mỏi.

Nôn và thường xuyên cảm thấy buồn nôn.

Người mắc bệnh tiểu đường.

Nước tiểu màu đậm, phân có màu nhạt.

Những người nghiện rượu nặng.

Gia đình có tiền sử bị bệnh gan.

Bụng sưng hoặc đau.

Ăn không thấy ngon miệng.

Người có tiền sử tiếp xúc với virus viêm gan.

Ảnh hưởng của việc sử dụng thuốc làm rối loạn chức năng gan.

Những người nghiện rượu có nguy cơ cao bị mắc các bệnh về gan

3. Ý nghĩa của xét nghiệm GOT

Xét nghiệm GOT và GPT là 2 loại xét nghiệm máu thường được sử dụng để phát hiện các tổn thương gan. Ngoài ra, 2 loại xét nghiệm này cũng được sử dụng để chẩn đoán các bệnh lý khác.

Chỉ số GOT và GPT thường dùng để đánh giá chức năng gan

GOT, GPT đều tăng cao so với mức bình thường, nhưng mức độ tăng của GPT cao hơn GOT. Mức độ này tăng trước khi xuất hiện dấu hiệu vàng da và có thể tăng kéo dài trong viêm gan mạn tiến triển

Hoạt độ GOT tăng hơn 5 lần cho thấy tế bào nhu mô gan bị hủy hoại mạnh, có thể đã ở giai đoạn cấp tính. Nếu tăng ít hơn có thể xảy ra các tổn thương gan mạn tính.

GOT và GPT tăng mạnh trong 2 tuần đầu và sau đó giảm dần sau 7-8 tuần.

Mức độ GOT và GPT đều tăng nhưng GPT tăng mạnh hơn, có thể tăng hơn 100 lần so với mức bình thường. Đặc biệt khi nhiễm độc rượu cấp có mê sảng, nhiễm độc tetraclorua, morphine hoặc nhiễm chất độc hóa học,… thì mức độ này tăng rất mạnh.

Tắc mật cấp do sỏi gây tổn thương gan: GOT, GPT có thể tăng 10 lần. Nếu sỏi không gây ra tổn thương gan thì mức độ này không tăng.

Vàng da tắc mật thì GOT, GPT tăng tùy mức độ hủy hoại tế bào gan, kết hợp với alkaline phosphatase tăng, GGT tăng.

Tắc nghẽn đường dẫn mật cấp tính: GOT, GPT đều tăng (có thể hơn 2000 UI/L).

Nhồi máu cơ tim cấp hay trong các bệnh về cơ cũng khiến GOT tăng

Hoại tử tế bào nhu mô gan, xơ gan, loạn nhịp, nhiễm khuẩn huyết,… làm GOT tăng cao (có thể tới 1000UI/L)

SGOT và SGPT là 2 xét nghiệm quan trọng nhất để xác định tình trạng hủy hoại tế bào gan.

Với mỗi mốc chỉ số về men gan bằng cách đối chiếu từng qua khoảng tham chiếu của GOT và GPT và cũng nhờ vào sự thay đổi của từng chỉ số mà xác định được các nguyên nhân gây bệnh, từ đó có phương pháp điều trị đúng đắn nhất.

4. Xét nghiệm GOT tại MEDLATEC

Một địa chỉ tin cậy và đảm bảo uy tín mà mọi người có thể thực hiện xét nghiệm GOT là Bệnh viện Đa khoa MEDLATEC. Khi thực hiện xét nghiệm, dựa trên kết quả mà bác sĩ sẽ giải thích cho bệnh nhân tại sao cần làm xét nghiệm này, cũng như việc tăng, giảm hay giữ nguyên các chỉ số men gan có ý nghĩa gì. Bác sĩ sẽ tìm được ra nguyên nhân của bệnh và hướng dẫn bệnh nhân điều trị theo phác đồ để cải thiện tình trạng sức khỏe. Ngoài ra bệnh nhân cũng cần cung cấp thêm các thông tin cơ bản khác về tiền sử bệnh, có đang sử dụng thuốc hay điều trị bằng phương pháp nào khác không. Bệnh nhân cần đưa ra kết quả từ một số xét nghiệm cần thiết khác như tổng phân tích máu, nước tiểu, xét nghiệm men gan GPT, GGT, ALP,… GOT chỉ là một trong những xét nghiệm chẩn đoán tình trạng gan mà bệnh nhân phải thực hiện. Như vậy mới đưa ra được kết luận chính xác nhất.

Đặc biệt, MEDLATEC triển khai dịch vụ lấy mẫu xét nghiệm tại nhà. Dịch vụ này rất tiện ích, tối giản được nhiều công đoạn mà khách hàng sẽ không mất công đi lại hay tốn nhiều thời gian chờ đợi. Chỉ sau 1,5 giờ, khách hàng sẽ nhận được kết quả xét nghiệm chính xác từ bệnh viện. Ngoài ra, khách hàng có thể đăng ký trả kết kết quả tận nơi hay tra cứu trên website của bệnh viện để thuận tiện nhất. Những thông tin khách hàng đăng ký sử dụng dịch vụ sẽ được bảo mật tuyệt đối nên quý khách hàng cũng không cần lo lắng.

MEDLATEC luôn tự tin có thể làm hài lòng mọi khách hàng trong suốt những năm vừa qua và sau này cũng vậy.

Xét Nghiệm Đánh Giá Chức Năng Của Gan Và Thận

Gan và thận là hai trung tâm tái tạo và bài tiết lớn nhất của cơ thể, giữa hai cơ quan này có mối quan hệ mật thiết với nhau chính vì vậy khi một bộ phận bị tổn thương thì bộ phận kia cũng sẽ bị ảnh hưởng, việc xét nghiệm chức năng gan và thân sẽ giúp phát hiện sớm bệnh qua đó có phương hướng điều trị kịp thời.

Thông thường các độc tố trong cơ thể sẽ được giải độc khi đi qua gan sau đó được thận bài tiết ra ngoài cơ thể, khi gan họa động thì thận nghỉ ngơi và ngược lại vậy nên có thể thấy giữa 2 cơ quan nội tạng này có mối quan hệ hỗ trợ nhau để cùng thực hiện chức năng thải độc và tạo dưỡng chất cần thiết cho cơ thể.

Khi một trong 2 bộ phận bị tổn thương thì bộ phận kia cũng sẽ bị ảnh hưởng theo, những người bị bệnh gan thì các protein trong cơ thể bị phá hoại và phân giải, các chất bị phân giải sẽ cản trở đến chức năng của thận, phá hoại cầu thận gây nên các bệnh lý về thận. Chính vì những điều này, các xét nghiệm đánh giá chức năng gan cũng sẽ phần nào biết được tình hình của thận.

Xét nghiệm đánh giá chức năng của gan và thận

Ammoniac là một sản phẩm thải được hình thành chủ yếu từ quá trình thoái giáng nitrogen trong gan qua chu trình urea và từ quá trình tiêu hóa máu có trong đường tiêu hóa (Vd: trong chảy máu đường tiêu hóa). Helicobacter pylori trong dạ dày dường như là một nguồn tạo amoniac quan trọng ở các bệnh nhân bị xơ gan. Một nguồn sản xuất ammoniac quan trọng khác là từ sự sinh tổng hợp và chuyển đổi của glutamin bởi các ống thận, lúc này ammoniac ở thận có vai trò như một chất đệm quan trọng.

Trong điều kiện bình thường, ammoniac được chuyển đổi thành urê tại gan và sau đó được thận bài xuất. Nếu một rối loạn thực thể ngăn không cho quá trình chuyển đổi nói trên xảy ra, ammoniac sẽ tích tụ trong dòng tuần hoàn. Khi tích tụ trong máu tới một nồng độ gây độc, ammoniac sẽ gây ra một tình trạng não gan, những bệnh nhân bệnh gan nặng thường bị teo cơ do phá hủy cũng góp phần làm cho NH3 tăng cao.

Thông qua việc xét nghiệm nồng độ NH3 trong máu, các bác sĩ có thể xác định liệu tình trạng rối loạn chức năng năng gan thận đồng thời xét nghiệm cũng có thể được sử dụng để theo dõi hiệu quả của điều trị đối với bệnh gan thận.

Xét nghiệm men gan cũng là một cách để đánh giá chức năng của gan và thận, các loại men gan thường được dùng để xét nghiệm là:

+ AST và ALT: Hiện diện trong bào tương và ty thể của tế bào. AST hiện diện ở cơ tim và cơ vân nhiều hơn ở gan. Ngoài ra, AST còn có ở thận, não, tụy, phổi, bạch cầu và hồng cầu. ở người bình thường chỉ số AST < 40 UI/L

+ GGT (Gamma glutamyl transferase): GGT là enzym màng tế bào, có nhiều ở thận, tụy, gan, lách, ruột non. Hoạt độ GGT ở tế bào ống thận lớn gấp 12 lần ở tụy, 25 lần ở gan, và có ở huyết tương.

Khi các chỉ số men gan này tăng hơn bình thường 2-3 lần chứng tỏ lúc này các tế bào của gan và thận đều đã bị tổn thương.

Albumin là một trong hai thành phần chính của protein huyết thanh (albumin, globulin). Bình thường, albumin huyết thanh có khoảng 35 – 50 g/l, chiếm 50 – 60% protein toàn phần huyết thanh.

Albumin giảm mạnh trong viêm cầu thận cấp do nhiều nguyên nhân khác nhau đặc biệt giảm trong thận hư nhiễm mỡ. Trong hội chứng thận hư, albumin giảm nhiều so với bình thường, chỉ còn khoảng 10 – 20 g/l.

Albumin huyết tương có ý nghĩa để đánh giá chức năng tổng hợp của gan. Khi một người bị suy gan nặng, xơ gan khi xét nghiệm sẽ thấy lượng albumin bị giảm hơn mức bình thường nhiều lần.

Xét nghiệm định lượng protein toàn phần có ý nghĩa để đánh giá chức năng tổng hợp của gan: như đã nói ở trên, khi gan bị tổn thương gây nên tình trạng gan bị viêm, xơ hóa, sẽ làm giảm tổng hợp albumin, từ đó làm giảm protein huyết tương, giảm áp lực thẩm thấu ảnh hưởng đến trao đổi nước, muối giữa huyết tương và dịch gian bào.

Xét nghiệm định lượng protein toàn phần có ý nghĩa để đánh giá chức năng lọc của thận: bình thường protein huyết tương có khối lượng phân tử lớn không qua được màng lọc cầu thận, nước tiểu không có protein, hay protein niệu. Khi màng lọc của thận bị tổn thương thì lượng protein sẽ tăng đặc biệt là ở các bệnh lý như: viêm cầu thận cấp tính và mạn tính, hội chứng thận hư, đặc biệt là thận hư nhiễm mỡ

Phosphatase kiềm (Alkaline phosphatase – ALP) là một loại enzyme được tìm thấy trong các mô khắp cơ thể, bao gồm cả gan, xương, thận, ruột, và trong nhau thai của những phụ nữ đang mang thai. Mỗi loại mô khác nhau sản xuất các dạng ALP khác nhau được gọi là isoenzymes. Cho nên bước kiểm tra này giúp góp phần đánh giá được tình hình gan thận của bệnh nhân.

Nước tiểu là sản phẩm bài tiết ra của gan thân, mục đích của xét nghiệm nước tiểu là tìm trong nước tiểu có vi khuẩn hay nồng độ các chất trong đó có gì bất thường khi thải ra không. Thông qua việc phân tích này giúp đánh giá được chức năng gan thận, ở người bình thường nước tiểu có màu trong hoặc vàng nhạt tuy nhiên khi gan bị tổn thương nước tiểu sẽ bị sẫm màu, cùng lúc nếu thận cũng phát bệnh thì sẽ xuất hiện hiện tượng đi tiểu ra máu, lượng nước tiểu giảm rõ rệt.

Để đánh giá được cụ thể tình trạng bệnh gan thận thì bệnh nhân sẽ được yêu cầu thực hiện các xét nghiệm chuyên sâu hơn qua đó phát hiện sớm được bệnh tình.

Lưu ý trước khi đi làm xét nghiệm chức năng gan thận thì bệnh nhân tốt nhất nên nhịn ăn trước 1-2 tiếng để có kết quả chính xác. Hơn nữa là không nên uống rượu bia vì những chất có trong đồ uống cồn này gây ảnh hưởng đến kết quả xét nghiệm.

Việc xét nghiệm nên được tiến hành ở các phòng khám chuyên về gan uy tin để có kết quả chính xác nhất. Để biết thêm thông tin chi tiết bạn đọc có thể liên hệ với phòng khám Hồng Phong để được các chuyên gia tư vấn tận tình.

Xét Nghiệm Sinh Hoá Đánh Giá Chức Năng Thận

Xin chương trình cho biết các xét nghiệm sinh hoá đánh giá chức năng thận, các chỉ số sinh hóa đánh giá chức năng thận?

Trả lời: Thận là cơ quan chủ yếu của hệ tiết niệu. Hệ tiết niệu chịu trách nhiệm sản xuất, trữ và thải nước tiểu ra khỏi cơ thể. Thông qua việc bài tiết nước tiểu, cơ thể thải ra ngoài các chất độc và giữ thăng bằng cho môi trường bên trong cơ thể. Ngoài ra, thận cũng còn là một tuyến nội tiết tham gia vào việc tạo máu và điều hòa huyết áp động mạch.

Giải phẫu và sinh lý hệ tiết niệu

Bình thường, mỗi người có 2 thận nằm hai bên cột sống, ở vùng thắt lưng, là nơi sản xuất ra nước tiểu. Mỗi thận có 1 ống gọi là niệu quản, dẫn nước tiểu do thận sản xuất đến tích trữ ở bàng quang. Bàng quang ở vị trí thấp của bụng, là nơi chứa nước tiểu và tống xuất ra ngoài từng đợt mỗi khi bàng quang đầy. Niệu đạo là ống nối từ bàng quang đưa nước tiểu ra khỏi cơ thể. Hệ tiết niệu của nam và nữ hoàn toàn giống nhau, chỉ trừ chiều dài niệu đạo của nam dài hơn nữ

Tùy theo lượng nước cung cấp, trọng lượng, điều kiện môi trường.. cơ thể mỗi người thải ra 1-2 lít nước tiểu mỗi ngày. Nếu lượng nước tiểu nhiều hơn 2,5 lít, gọi là đa niệu. Lượng nước tiểu ít hơn 400ml là thiểu niệu và ít hơn 100ml là vô niệu.

Việc hình thành và bài tiết nước tiểu giúp cho cơ thể:

– Thải bỏ lượng nước thừa, qua đó kiểm soát thể tích máu lưu hành và áp lực máu

Thải bỏ các chất độc hình thành do quá trình chuyển hóa các chất bên trong cơ thể (chủ yếu là urea và acid uric)

– Điều hòa các chất điện giải của môi trường trong cơ thể

– Giữ thăng bằng kiềm- toan trong cơ thể

Các xét nghiệm sinh hóa đánh giá chức năng thận:

Một số xét nghiệm hoá sinh đánh giá chức năng thận

1. Creatinin máu và nước tiểu

Creatinin được tạo ra ở cơ, chủ yếu từ creatinphosphat và creatin ở cơ. Creatinin theo máu qua thận, được thận lọc và bài tiết ra nước tiểu.+ Bình thường: – Nồng độ creatinin huyết tương(huyết thanh): 55 – 110 (mol/l.– Nước tiểu: 8 – 12 mmol/24h (8000 – 12000 (mol/l).Xét nghiệm creatinin tin cậy hơn xét nghiệm urê vì nó ít chịu ảnh hưởng bởi chế độ ăn, nó chỉ phụ thuộc vào khối lượng cơ (ổn định hơn) của cơ thể.+ Tăng creatinin (và urê) nói lên sự thiểu năng thận, giảm độ lọc của cầu thận và giảm bài tiết của ống thận.Trong lâm sàng, người ta thường tính toán độ thanh lọc creatinin và độ thanh lọc urê của thận để đánh giá chức năng lọc của thận.Độ thanh lọc (thanh thải = clearance) của một chất là số lượng “ảo” huyết tương (tính theo ml/phút) đã được thận lọc và đào thải hoàn toàn chất đó ra nước tiểu trong 1 phút.

Độ thanh lọc của creatinin ( Ccre) được tính theo công thức sau:

Ccre = U.V/PTrong đó: U: Nồng độ creatinin nước tiểu ((mol/l).P : Nồng độ creatinin huyết tương ((mol/l). V : Lượng nước tiểu trong một phút (ml/phút), là lượng nước tiểuđong được trong 24 giờ qui ra ml chia cho số phút trong mộtngày (24 x 60= 1440 phút). Ví dụ: Nước tiểu đong được 1,2 l/24hthì V = 1200/1440 = 0,833 ml/ phút.

Đơn vị tính của độ thanh lọc là ml/phút.

– Bình thường: Độ thanh lọc của creatinin = 70 – 120 ml/phút – Bệnh lý:Độ thanh lọc creatinin giảm trong một số trường hợp:. Thiểu năng thận: mức độ giảm của độ thanh lọc creatinin tỷ lệ thuận với mức độ thiểu năng thận, nó phản ánh tổn thương cầu thận.. Viêm cầu thận cấp và mạn tính. . Viêm bể thận – thận mạn; viêm bể thận – thận tái phát.– Nhiễm urê huyết (Ccre giảm mạnh).Ngoài ra độ thanh lọc creatinin còn giảm trong:. Thiểu năng tim.. Cao huyết áp ác tính.. Dòng máu qua thận giảm, giảm áp lực lọc cầu thận.Độ thanh lọc creatinin phản ánh đúng chức năng lọc cầu thận. Tuy nhiên nó cũng có nhược điểm là ở điều kiện bệnh lý, trong quá trình tiến triển của suy thận, khi nồng độ creatinin máu cao thì có sự bài tiết một phần ở ống niệu, hoặc khi thiểu niệu, lưu lượng nước tiểu giảm thì bị tái hấp thu.

3. Các chất điện giải (Na+, K+, Cl-, Ca TP hoặc Ca++).

Urê được tổng hợp ở gan từ CO2, NH3, ATP. CO2 là sản phẩm thoái hóa của protid. Trong lâm sàng, xét nghiệm urê máu và nước tiểu được làm nhiều để đánh giá chức năng lọc cầu thận và tái hấp thu ở ống thận. Tuy nhiên, xét nghiệm này bị ảnh hưởng của chế độ ăn như khi ăn giàu đạm (tăng thoái hóa các aminoacid) thì kết quả tăng sẽ sai lệch.– Bình thường: Nồng độ urê máu: 3,6 – 6,6 mmol/l.Nồng độ urê nước tiểu : 250 – 500 mmol/24h.+ Bệnh lý:Ure máu tăng cao trong một số trường hợp sau:– Suy thận.– Viêm cầu thận mạn.– U tiền liệt tuyến.Urê máu 1,7 – 3,3 mmol/l (10 – 20 mg/dl) hầu như luôn chỉ ra chức năng thận bình thường.Urê máu 8,3 – 24,9 mmol/l (50 – 150 mg/dl) chỉ ra tình trạng suy chức năng thận nghiêm trọng.

6. Điện di protein huyết tương trên giấy hoặc trên gel cellulose acetate

+ K+:– Tăng: . Thiểu năng thận, vô niệu do các nguyên nhân.. Viêm thận, thiểu năng vỏ thượng thận (bệnh Addison), làm giảm đào thải K+ qua thận.– Giảm: Mất kali theo nước tiểu khi:. Nhiễm cetonic trong tiểu đường: lúc đầu K+ tăng vì nhiễm toan và suy thận, sau khi điều trị bằng insulin hết nhiễm toan và bài tiết của ống thận đã tốt thì K+ lại giảm.. Dùng thuốc lợi niệu quá nhiều làm tăng thải trừ kali theo nước tiểu.+ Ca: giảm canxi gặp trong hội chứng thận hư (chủ yếu giảm canxi không ion hóa gắn với protid) vì mất qua nước tiểu cùng với protein.

+ Bình thường: Protein TP huyết tương = 60 – 80 g/l. Protein TP huyết tương phản ánh chức năng lọc của cầu thận. Bình thường, protein có khối lượng phân tử lớn không qua được màng lọc cầu thận, nước tiểu không có protein, hay protein niệu (-).+ Giảm bệnh lý: Trong lâm sàng gặp giảm protein toàn phần nhiều hơn trong các bệnh thận khi màng lọc cầu thận bị tổn thương. Ví dụ như:– Viêm cầu thận cấp do các nguyên nhân.– Viêm cầu thận mạn.– Hội chứng thận hư, đặc biệt là thận hư nhiễm mỡ.

Chỉ định các xét nghiệm chức năng thận

Albumin là một trong hai thành phần chính của protein huyết thanh (albumin, globulin).Bình thường, albumin huyết thanh có khoảng 35 – 50 g/l, chiếm 50 – 60% protein toàn phần huyết thanh.Albumin giảm mạnh trong viêm cầu thận cấp do các nguyên nhân, đặc biệt giảm trong thận hư nhiễm mỡ. Trong hội chứng thận hư, albumin giảm nhiều so với bình thường, chỉ còn khoảng 10 – 20 g/l.

Từ kết quả điện di protein huyết tương cho thấy các thành phần của protein toàn phần huyết tương gồm albumin và globulin.+ Bình thường: Protein HT = Albumin (55- 65%) + Globulin (35 – 45%).Globulin gồm: (1, (2 , ( và (- globulin.+ Bệnh lý: Sự tăng hay giảm các thành phần của protein toàn phần huyết tương gặp trong một số bệnh thận như:– Albumin giảm: Thận hư nhiễm mỡ, viêm thận mạn, suy dinh dưỡng, đói ăn.– (1 globulin: tăng vừa trong viêm cầu thận cấp và mạn, viêm bể thận, thận hư.– (2 globulin: . Tăng ít trong viêm thận cấp và mạn, viêm bể thận,. Tăng rất cao trong thận hư, đặc biệt trong thận hư nhiễm mỡ.– (- globulin: tăng trong các bệnh thận như viêm cầu thận cấp, viêm thận mạn.Bình thường tỷ lệ A/G = 1,5 – 2. Tỷ lệ này giảm trong các trường hợp thiếu protid, tăng globulin, giảm albumin, tăng globulin trong xơ gan, viêm thận cấp.

Xác định tỷ trọng nước tiểu dựa trên sự giải phóng proton (H+) từ polyacid với sự có mặt của các cation có trong nước tiểu. Proton (H+) được giải phóng gây ra sự thay đổi màu của chất chỉ thị bromothymol bleu từ xanh đến xanh lục rồi tới vàng. Cường độ màu tỷ lệ tỷ trọng NT.Tỷ trọng NT bình thường: 1,01 – 1,020 (nước tiểu 24h của người lớn ăn uống bình thường có tỷ trọng từ 1,016 – 1,022)Xét nghiệm này nhạy với các giai đoạn sớm của giảm chức năng thận, nhưng một kết quả bình thường cũng không thể loại trừ các bệnh lý khác của thận. Nó không chính xác trong các trường hợp mất cân bằng nước-điện giải nghiêm trọng, chế độ ăn kiêng ít protein, chế độ ăn nhạt, các bệnh mạn tính của gan, phụ nữ mang thai…

Kiểm tra sức khỏe định kỳ mỗi năm, chỉ làm các xét nghiệm đơn giản có tính định hướng: xét nghiệm sinh hóa máu, tổng phân tích nước tiểu, công thức máu, siêu âm bụng.

Tiền căn gia đình có các bệnh di truyền về thận hoặc có người thân bị suy thận: xét nghiệm sinh hóa máu, tổng phân tích nước tiểu, công thức máu, siêu âm bụng, các xét nghiệm chuyên biệt về di truyền.

Khi lâm sàng có các biểu hiện suy thận:xét nghiệm sinh hóa máu, tổng phân tích nước tiểu, công thức máu, siêu âm bụng. Nếu tìm thấy các nguyên nhân gây tắc nghẽn hệ niệu, làm thêm các xét nghiệm hình ảnh. Nếu không tìm thấy tắc nghẽn, có thể sinh thiết thận.

Bạn không cho chúng tôi biết bác sĩ chỉ định bạn đi xét nghiệm hay bạn tự đi và lý do khiến bạn đi xét nghiệm nước tiểu. Tuy nhiên xét nghiệm mà bạn thực hiện là xét nghiệm sinh hoá đánh giá chức năng thận Protein = +10 là dấu hiệu cho thấy có bệnh lý ở thận, có máu trong nước tiểu hay có nhiễm trùng (bình thường không có)

Thông thường sau khi làm các xét nghiệm và có kết quả, bạn cần đưa kết quả xét nghiệm đó cho bác sĩ khám bệnh đọc và kết luận, chẩn đoán bệnh, từ đó sẽ có đơn thuốc điều trị phù hợp cho bạn.

Theo chúng tôi, bạn cần mang ngay kết quả khám bệnh đến cho bác sĩ điều trị đọc và tư vấn cho bạn cách chữa bệnh phù hợp nhất. Bạn không nên tự ý chẩn đoán bệnh và tự ý uống thuốc khi chưa có chỉ định của bác sĩ.

Lưu ý: Chữa bệnh theo chỉ định của Bác sĩ