Xét Nghiệm Đánh Giá Chức Năng Lọc Của Thận / Top 10 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 2/2023 # Top View | Phauthuatthankinh.edu.vn

Xét Nghiệm Đánh Giá Độ Lọc Cầu Thận

Xét nghiệm đánh giá độ lọc cầu thận (eGFR) được sử dụng không phải để trực tiếp chẩn đoán các bệnh về thận mà nhằm đánh giá hoạt động chức năng của thận có tốt hay không.

Chức năng của thận có thể bị ảnh hưởng bởi một số bệnh tật hay trạng thái cơ thể nhất định hoặc tác dụng của một số loại thuốc. Xét nghiệm đánh giá độ lọc cầu thận (eGFR) được sử dụng không phải để trực tiếp chẩn đoán các bệnh về thận mà nhằm đánh giá hoạt động chức năng của thận có tốt hay không.

Cầu thận. (Nguồn ảnh: chúng tôi

Xét nghiệm đánh giá độ lọc cầu thận là như thế nào?

Xét nghiệm đánh giá độ lọc cầu thận được sử dụng để đánh giá thận của bạn hoạt động có tốt hay không bằng cách đo lường lượng máu được lọc bởi thận trong một khoảng thời gian kiểm tra nhất định (đo một cách gián tiếp thông qua việc đánh giá độ thanh lọc của một số chất trong máu như creatinine, inuline, ure). Trong cấu trúc thận, các cầu thận là bộ phận chức năng làm nhiệm vụ lọc máu nên xét nghiệm có tên là Đánh giá độ lọc cầu thận. Trường hợp cầu thận không thực hiện được đầy đủ chức năng lọc máu sẽ dẫn đến sự suy giảm chức năng của thận.

Xét nghiệm đánh giá độ lọc cầu thận thường được thực hiện thông qua kỹ thuật đo lượng creatinine trong máu. Creatinine là sản phẩm được tạo ra trong quá trình vận động của cơ bắp. Thông thường, thận sẽ thực hiện việc lọc bỏ thành phần creatinine này ra khỏi máu. Tuy nhiên, nếu hai quả thận hoạt động không tốt sẽ dẫn đến lượng creatinine còn tồn dư trong máu cao. Do tình trạng hoạt động của thận còn bị tác động bởi nhiều yếu tố, trong đó có trạng thái của cơ thể, nên để đảm bảo độ chính xác, kết quả xét nghiệm đánh giá độ lọc cầu thận được tính toán theo công thức dựa trên kết quả đo lượng creatinine trong máu và xem xét cùng với các yếu tố về tuổi tác, giới tính của người được xét nghiệm.

Các giai đoạn chức năng của thận

Dựa vào kết quả xét nghiệm đánh giá độ lọc cầu thận và các đặc điểm cơ thể khác, hoạt động chức năng của thận được chia làm 5 giai đoạn:

Giai đoạn 1: Kết quả xét nghiệm đánh giá độ lọc cầu thận cho thấy thận hoạt động bình thường nhưng người được xét nghiệm đã nhận biết thấy có các triệu chứng, dấu hiệu bệnh tật hoặc tổn thương ở thận.

Ví dụ: có xuất hiện máu trong nước tiểu hoặc nồng độ protein cao trong nước tiểu, hiện tượng bất thường hay triệu chứng viêm thận…

Giai đoạn 2: Chức năng của thận suy giảm nhẹ và người được xét nghiệm đã nhận thấy các triệu chứng thận có dấu hiệu bệnh tật hoặc tổn thương.

Kết quả đánh giá độ lọc cầu thận từ 60 – 89 nhưng không đi kèm với việc xuất hiện các triệu chứng thận có dấu hiệu bệnh tật hoặc tổn thương thì chưa được kết luận là có triệu chứng bị bệnh thận mạn.

Giai đoạn 3: Giai đoạn độ suy giảm chức năng thận trung bình (Đi kèm hoặc không đi kèm với việc người được xét nghiệm đã xác định có bệnh về thận.

Ví dụ: người già bị suy giảm chức năng thận với tình trạng bệnh thận cụ thể chưa được xác định).

Giai đoạn 5: Suy giảm đặc biệt nghiêm trọng chức năng thận. Trường hợp này đôi khi còn được gọi là suy thận giai đoạn cuối.

Ghi chú: Kết quả xét nghiệm đánh giá độ lọc cầu thận sẽ không còn chính xác trong trường hợp người được xét nghiệm có số lượng cơ bắp hoạt động bất thường hoặc có tình trạng ảnh hưởng đến nồng độ creatinine trong máu như các trường hợp sau:

Người có cơ bắp không hoạt động.

Người bị thiếu một tay hoặc một chân.

Người bị suy dinh dưỡng.

Phụ nữ đang mang thai.

Người bị suy thận cấp.

Người bị phù hay tích nước.

Trẻ em.

http://www.patient.co.uk/healt…

Biên dịch – Hiệu đính: Ths. Vũ Thị Hồng Dương – BS. Nguyễn Phương ThảoY học cộng đồng

– 04-07-2018 –

Tìm Hiểu Xét Nghiệm Đánh Giá Độ Lọc Cầu Thận

Xét nghiệm độ lọc cầu thận GRF là một chỉ số dùng để đánh giá tình trạng hoạt động chức năng của thận qua việc đánh giá chỉ số thanh lọc của một số chất trong cơ thể như creatinin, ure… chứ không phải sử dụng để chẩn đoán trực tiếp các bệnh lý của thận. Trong cấu thành của thận, cầu thận được coi là các đơn vị chức năng quan trọng, có nhiệm vụ lọc máu, toàn bộ các chất được tái hấp thu hay đào thải qua đường bài tiết đều phải đi qua quả lọc cầu thận. Do đó, xét nghiệm này được gọi là xét nghiệm đánh giá độ lọc cầu thận.

Khi hai quả thận khỏe mạnh, trung bình mỗi ngày có thể lọc được khoảng 200 lít máu để tạo ra khoảng 2 lít nước tiểu. Ngược lại, khi thận bị tổn thương hay bị mắc các bệnh lý về thận, chức năng thận bị suy giảm dẫn tới giảm thiểu khả năng lọc và các chất thải sẽ được tích tụ tăng dần trong máu. Lúc này, việc chỉ định xét nghiệm là hoàn toàn cần thiết để đánh giá hoạt động của thận.

Xét nghiệm đánh giá độ lọc cầu thận được thực hiện bởi việc kiểm tra và đo lượng creatinin trong máu. Creatinin là một trong những sản phẩm được tạo ra trong quá trình vận động của cơ bắp rồi vào máu và được lọc ra khỏi máu tại cầu thận. Khi thận bị tổn thương hay gặp các vấn đề làm ảnh hưởng đến chức năng lọc của cầu thận sẽ dẫn tới hệ quả là creatinin không được lọc hết ra khỏi máu mà còn tồn đọng trong máu với hàm lượng cao. Do đó, việc xét nghiệm đánh giá định lượng creatinin trong máu là yếu tố quan trọng trong việc đánh giá chức năng hoạt động của thận.

Hoạt động thanh lọc các chất của thận có thể bị tác động bởi nhiều yếu tố khác nhau nên nếu muốn đánh giá chính xác nhất về độ lọc cầu thận thì cần có công thức tính toán chính xác dựa trên các kết quả xét nghiệm kiểm tra được.

Thận có chứa rất nhiều các đơn vị chức năng khác nhau được gọi là nephron. Trong quá trình lọc và đào thải các chất, các nephron thường hoạt động độc lập với nhau. Do đó, để tính độ lọc cầu thận chuẩn, người ta ước tính độ lọc cầu thận của cả hai thận bằng độ lọc cầu thận của mỗi nephron nhân với tổng số nephron cấu thành nên thận. Số nephron của mỗi cơ thể là khác nhau, mức độ lọc của mỗi nephron trong một cá thể cũng là khác nhau, nên độ thanh lọc cầu thận của mỗi cơ thể hiển nhiên là khác nhau.

2. Công thức tính độ lọc cầu thận GRF

Công thức tính độ lọc cầu thận GRF: Hiện nay có rất nhiều các phương trình khác nhau được đưa ra để được áp dụng vào tính toán mức lọc cầu thận. Tuy nhiên, để thuận tiện cho việc tính toán, áp dụng công thức dễ hiểu, người ta đã nghiên cứu và chứng minh ra công thức tính độ lọc cầu thận như sau:

Độ lọc cầu thận = số lượng Nephron x Độ lọc cầu thận của 1 Nephron.

Độ lọc cầu thận = Số lượng Nephron x Hệ số siêu học x Diện tích lọc x (PCG – PBC) – (GC – BC)

Trong đó:

K là hệ số siêu lọc

S là diện tích lọc

PCG là áp lực thủy tính của các mao mạch cầu thận

PBC là áp lực thủy tĩnh của khoang Bowman

GC là áp lực keo của các mao mạch cầu thận

BC là áp lực keo của khoang Bowman

Dựa vào kết quả xét nghiệm độ thanh thải creatinin, đánh giá độ lọc cầu thận, người ta chia tính trạng hoạt động chức năng của thận thành các giai đoạn như sau:

Giai đoạn 1: Độ lọc cầu thận lớn hơn hoặc bằng 90 ml/phút/1.73m2.

Chức năng thận vẫn hoạt động bình thường

Lâm sàng có một vài biểu hiện triệu chứng bất thường cảnh báo nguy cơ tổn thương thận như xét nghiệm nước tiểu có máu dương tính, nồng độ protein cao…

Giai đoạn 2: Độ lọc cầu thận trong khoảng từ 60 – 90 ml/phút/1.73m2.

Chức năng hoạt động của thận bị suy giảm nhẹ.

Có thể có hoặc chưa có các biểu hiện trên lâm sàng. Lưu ý với những trường hợp lâm sàng bệnh nhân chưa có biểu hiện triệu chứng, không vội vàng kết luận chẩn đoán mà cho theo dõi bệnh nhân thêm một thời gian nữa, kiểm soát cả về chỉ số xét nghiệm cận lâm sàng và các dấu hiệu lâm sàng.

Giai đoạn 3: Giai đoạn này có 2 mức độ khác nhau: giai đoạn 3A, độ lọc cầu thận từ 45 – 59 ml/phút/1.73m2. Giai đoạn 3B, độ lọc cầu thận nằm trong khoảng từ 3- – 40 ml/phút/1.73m2.

Chức năng hoạt động của thận bị suy giảm ở mức trung bình.

Lâm sàng có hoặc không có các bệnh lý về thận.

Giai đoạn 4: Độ lọc cầu thận ở khoảng từ 15 – 29 ml/phút/1.73m2.

Giai đoạn 5: Ở giai đoạn này, độ lọc cầu thận xuống thấp, dưới 15 ml/phút/1.73m2.

3. Những lưu ý khi làm xét nghiệm độ thanh lọc cầu thận

Các trường hợp bệnh nhân có cơ bắp không hoạt động như bị liệt vận động, teo cơ…

Người bị dị tật bẩm sinh hay do tai nạn chấn thương dẫn đến bị thiếu một phần chi, có thể là thiếu một tay, một chân hay thiếu cả hai

Trường hợp bị suy dinh dưỡng hay bị suy thận cấp

Các bệnh nhân bị phù, tăng tích nước trong cơ thể

Phụ nữ có thai và trẻ em

Một số loại thuốc điều trị có thể làm thay đổi lượng creatinin trong máu như thuốc giảm đau chống viêm non-steroid, thuốc hạ cholesterol máu, thuốc chống nấm, thuốc kháng sinh, thuốc chống virus…

Trong cơ thể, thận là một bộ phận quan trọng, giữ vai trò chủ chốt trong việc lọc máu và tạo ra nước tiểu để bài tiết chất thải ra ngoài. Khi thận bị suy giảm hoạt động chức năng sẽ dẫn tới rất nhiều hệ quả khác mà có thể gây ảnh hưởng không nhỏ đến sức khỏe người bệnh. Việc làm xét nghiệm kiểm tra và đánh giá mức lọc cầu thận là hoàn toàn cần thiết để có thể giúp hỗ trợ cho việc định hướng chẩn đoán cũng như tiên lượng bệnh và đưa ra phương hướng điều trị kịp thời, tránh những biến chứng về sau.

Để được tư vấn trực tiếp, Quý Khách vui lòng bấm số HOTLINE hoặc đăng ký trực tuyến TẠI ĐÂY.

Xét Nghiệm Sinh Hoá Đánh Giá Chức Năng Thận

Xin chương trình cho biết các xét nghiệm sinh hoá đánh giá chức năng thận, các chỉ số sinh hóa đánh giá chức năng thận?

Trả lời: Thận là cơ quan chủ yếu của hệ tiết niệu. Hệ tiết niệu chịu trách nhiệm sản xuất, trữ và thải nước tiểu ra khỏi cơ thể. Thông qua việc bài tiết nước tiểu, cơ thể thải ra ngoài các chất độc và giữ thăng bằng cho môi trường bên trong cơ thể. Ngoài ra, thận cũng còn là một tuyến nội tiết tham gia vào việc tạo máu và điều hòa huyết áp động mạch.

Giải phẫu và sinh lý hệ tiết niệu

Bình thường, mỗi người có 2 thận nằm hai bên cột sống, ở vùng thắt lưng, là nơi sản xuất ra nước tiểu. Mỗi thận có 1 ống gọi là niệu quản, dẫn nước tiểu do thận sản xuất đến tích trữ ở bàng quang. Bàng quang ở vị trí thấp của bụng, là nơi chứa nước tiểu và tống xuất ra ngoài từng đợt mỗi khi bàng quang đầy. Niệu đạo là ống nối từ bàng quang đưa nước tiểu ra khỏi cơ thể. Hệ tiết niệu của nam và nữ hoàn toàn giống nhau, chỉ trừ chiều dài niệu đạo của nam dài hơn nữ

Tùy theo lượng nước cung cấp, trọng lượng, điều kiện môi trường.. cơ thể mỗi người thải ra 1-2 lít nước tiểu mỗi ngày. Nếu lượng nước tiểu nhiều hơn 2,5 lít, gọi là đa niệu. Lượng nước tiểu ít hơn 400ml là thiểu niệu và ít hơn 100ml là vô niệu.

Việc hình thành và bài tiết nước tiểu giúp cho cơ thể:

– Thải bỏ lượng nước thừa, qua đó kiểm soát thể tích máu lưu hành và áp lực máu

Thải bỏ các chất độc hình thành do quá trình chuyển hóa các chất bên trong cơ thể (chủ yếu là urea và acid uric)

– Điều hòa các chất điện giải của môi trường trong cơ thể

– Giữ thăng bằng kiềm- toan trong cơ thể

Các xét nghiệm sinh hóa đánh giá chức năng thận:

Một số xét nghiệm hoá sinh đánh giá chức năng thận

1. Creatinin máu và nước tiểu

Creatinin được tạo ra ở cơ, chủ yếu từ creatinphosphat và creatin ở cơ. Creatinin theo máu qua thận, được thận lọc và bài tiết ra nước tiểu.+ Bình thường: – Nồng độ creatinin huyết tương(huyết thanh): 55 – 110 (mol/l.– Nước tiểu: 8 – 12 mmol/24h (8000 – 12000 (mol/l).Xét nghiệm creatinin tin cậy hơn xét nghiệm urê vì nó ít chịu ảnh hưởng bởi chế độ ăn, nó chỉ phụ thuộc vào khối lượng cơ (ổn định hơn) của cơ thể.+ Tăng creatinin (và urê) nói lên sự thiểu năng thận, giảm độ lọc của cầu thận và giảm bài tiết của ống thận.Trong lâm sàng, người ta thường tính toán độ thanh lọc creatinin và độ thanh lọc urê của thận để đánh giá chức năng lọc của thận.Độ thanh lọc (thanh thải = clearance) của một chất là số lượng “ảo” huyết tương (tính theo ml/phút) đã được thận lọc và đào thải hoàn toàn chất đó ra nước tiểu trong 1 phút.

Độ thanh lọc của creatinin ( Ccre) được tính theo công thức sau:

Ccre = U.V/PTrong đó: U: Nồng độ creatinin nước tiểu ((mol/l).P : Nồng độ creatinin huyết tương ((mol/l). V : Lượng nước tiểu trong một phút (ml/phút), là lượng nước tiểuđong được trong 24 giờ qui ra ml chia cho số phút trong mộtngày (24 x 60= 1440 phút). Ví dụ: Nước tiểu đong được 1,2 l/24hthì V = 1200/1440 = 0,833 ml/ phút.

Đơn vị tính của độ thanh lọc là ml/phút.

– Bình thường: Độ thanh lọc của creatinin = 70 – 120 ml/phút – Bệnh lý:Độ thanh lọc creatinin giảm trong một số trường hợp:. Thiểu năng thận: mức độ giảm của độ thanh lọc creatinin tỷ lệ thuận với mức độ thiểu năng thận, nó phản ánh tổn thương cầu thận.. Viêm cầu thận cấp và mạn tính. . Viêm bể thận – thận mạn; viêm bể thận – thận tái phát.– Nhiễm urê huyết (Ccre giảm mạnh).Ngoài ra độ thanh lọc creatinin còn giảm trong:. Thiểu năng tim.. Cao huyết áp ác tính.. Dòng máu qua thận giảm, giảm áp lực lọc cầu thận.Độ thanh lọc creatinin phản ánh đúng chức năng lọc cầu thận. Tuy nhiên nó cũng có nhược điểm là ở điều kiện bệnh lý, trong quá trình tiến triển của suy thận, khi nồng độ creatinin máu cao thì có sự bài tiết một phần ở ống niệu, hoặc khi thiểu niệu, lưu lượng nước tiểu giảm thì bị tái hấp thu.

3. Các chất điện giải (Na+, K+, Cl-, Ca TP hoặc Ca++).

Urê được tổng hợp ở gan từ CO2, NH3, ATP. CO2 là sản phẩm thoái hóa của protid. Trong lâm sàng, xét nghiệm urê máu và nước tiểu được làm nhiều để đánh giá chức năng lọc cầu thận và tái hấp thu ở ống thận. Tuy nhiên, xét nghiệm này bị ảnh hưởng của chế độ ăn như khi ăn giàu đạm (tăng thoái hóa các aminoacid) thì kết quả tăng sẽ sai lệch.– Bình thường: Nồng độ urê máu: 3,6 – 6,6 mmol/l.Nồng độ urê nước tiểu : 250 – 500 mmol/24h.+ Bệnh lý:Ure máu tăng cao trong một số trường hợp sau:– Suy thận.– Viêm cầu thận mạn.– U tiền liệt tuyến.Urê máu 1,7 – 3,3 mmol/l (10 – 20 mg/dl) hầu như luôn chỉ ra chức năng thận bình thường.Urê máu 8,3 – 24,9 mmol/l (50 – 150 mg/dl) chỉ ra tình trạng suy chức năng thận nghiêm trọng.

6. Điện di protein huyết tương trên giấy hoặc trên gel cellulose acetate

+ K+:– Tăng: . Thiểu năng thận, vô niệu do các nguyên nhân.. Viêm thận, thiểu năng vỏ thượng thận (bệnh Addison), làm giảm đào thải K+ qua thận.– Giảm: Mất kali theo nước tiểu khi:. Nhiễm cetonic trong tiểu đường: lúc đầu K+ tăng vì nhiễm toan và suy thận, sau khi điều trị bằng insulin hết nhiễm toan và bài tiết của ống thận đã tốt thì K+ lại giảm.. Dùng thuốc lợi niệu quá nhiều làm tăng thải trừ kali theo nước tiểu.+ Ca: giảm canxi gặp trong hội chứng thận hư (chủ yếu giảm canxi không ion hóa gắn với protid) vì mất qua nước tiểu cùng với protein.

+ Bình thường: Protein TP huyết tương = 60 – 80 g/l. Protein TP huyết tương phản ánh chức năng lọc của cầu thận. Bình thường, protein có khối lượng phân tử lớn không qua được màng lọc cầu thận, nước tiểu không có protein, hay protein niệu (-).+ Giảm bệnh lý: Trong lâm sàng gặp giảm protein toàn phần nhiều hơn trong các bệnh thận khi màng lọc cầu thận bị tổn thương. Ví dụ như:– Viêm cầu thận cấp do các nguyên nhân.– Viêm cầu thận mạn.– Hội chứng thận hư, đặc biệt là thận hư nhiễm mỡ.

Chỉ định các xét nghiệm chức năng thận

Albumin là một trong hai thành phần chính của protein huyết thanh (albumin, globulin).Bình thường, albumin huyết thanh có khoảng 35 – 50 g/l, chiếm 50 – 60% protein toàn phần huyết thanh.Albumin giảm mạnh trong viêm cầu thận cấp do các nguyên nhân, đặc biệt giảm trong thận hư nhiễm mỡ. Trong hội chứng thận hư, albumin giảm nhiều so với bình thường, chỉ còn khoảng 10 – 20 g/l.

Từ kết quả điện di protein huyết tương cho thấy các thành phần của protein toàn phần huyết tương gồm albumin và globulin.+ Bình thường: Protein HT = Albumin (55- 65%) + Globulin (35 – 45%).Globulin gồm: (1, (2 , ( và (- globulin.+ Bệnh lý: Sự tăng hay giảm các thành phần của protein toàn phần huyết tương gặp trong một số bệnh thận như:– Albumin giảm: Thận hư nhiễm mỡ, viêm thận mạn, suy dinh dưỡng, đói ăn.– (1 globulin: tăng vừa trong viêm cầu thận cấp và mạn, viêm bể thận, thận hư.– (2 globulin: . Tăng ít trong viêm thận cấp và mạn, viêm bể thận,. Tăng rất cao trong thận hư, đặc biệt trong thận hư nhiễm mỡ.– (- globulin: tăng trong các bệnh thận như viêm cầu thận cấp, viêm thận mạn.Bình thường tỷ lệ A/G = 1,5 – 2. Tỷ lệ này giảm trong các trường hợp thiếu protid, tăng globulin, giảm albumin, tăng globulin trong xơ gan, viêm thận cấp.

Xác định tỷ trọng nước tiểu dựa trên sự giải phóng proton (H+) từ polyacid với sự có mặt của các cation có trong nước tiểu. Proton (H+) được giải phóng gây ra sự thay đổi màu của chất chỉ thị bromothymol bleu từ xanh đến xanh lục rồi tới vàng. Cường độ màu tỷ lệ tỷ trọng NT.Tỷ trọng NT bình thường: 1,01 – 1,020 (nước tiểu 24h của người lớn ăn uống bình thường có tỷ trọng từ 1,016 – 1,022)Xét nghiệm này nhạy với các giai đoạn sớm của giảm chức năng thận, nhưng một kết quả bình thường cũng không thể loại trừ các bệnh lý khác của thận. Nó không chính xác trong các trường hợp mất cân bằng nước-điện giải nghiêm trọng, chế độ ăn kiêng ít protein, chế độ ăn nhạt, các bệnh mạn tính của gan, phụ nữ mang thai…

Kiểm tra sức khỏe định kỳ mỗi năm, chỉ làm các xét nghiệm đơn giản có tính định hướng: xét nghiệm sinh hóa máu, tổng phân tích nước tiểu, công thức máu, siêu âm bụng.

Tiền căn gia đình có các bệnh di truyền về thận hoặc có người thân bị suy thận: xét nghiệm sinh hóa máu, tổng phân tích nước tiểu, công thức máu, siêu âm bụng, các xét nghiệm chuyên biệt về di truyền.

Khi lâm sàng có các biểu hiện suy thận:xét nghiệm sinh hóa máu, tổng phân tích nước tiểu, công thức máu, siêu âm bụng. Nếu tìm thấy các nguyên nhân gây tắc nghẽn hệ niệu, làm thêm các xét nghiệm hình ảnh. Nếu không tìm thấy tắc nghẽn, có thể sinh thiết thận.

Bạn không cho chúng tôi biết bác sĩ chỉ định bạn đi xét nghiệm hay bạn tự đi và lý do khiến bạn đi xét nghiệm nước tiểu. Tuy nhiên xét nghiệm mà bạn thực hiện là xét nghiệm sinh hoá đánh giá chức năng thận Protein = +10 là dấu hiệu cho thấy có bệnh lý ở thận, có máu trong nước tiểu hay có nhiễm trùng (bình thường không có)

Thông thường sau khi làm các xét nghiệm và có kết quả, bạn cần đưa kết quả xét nghiệm đó cho bác sĩ khám bệnh đọc và kết luận, chẩn đoán bệnh, từ đó sẽ có đơn thuốc điều trị phù hợp cho bạn.

Theo chúng tôi, bạn cần mang ngay kết quả khám bệnh đến cho bác sĩ điều trị đọc và tư vấn cho bạn cách chữa bệnh phù hợp nhất. Bạn không nên tự ý chẩn đoán bệnh và tự ý uống thuốc khi chưa có chỉ định của bác sĩ.

Lưu ý: Chữa bệnh theo chỉ định của Bác sĩ

Xét Nghiệm Ure Máu Giúp Đánh Giá Chức Năng Của Thận

Quá trình chuyển hóa chất đạm (protein) của cơ thể tạo ra sản phẩm cuối cùng là Ure máu được đào thải ra ngoài qua thận.

Ure luôn tồn tại trong cơ thể và được bổ sung thường xuyên thông qua các chất đạm. Đây là các protein ngoại sinh được chuyển hóa thành axit amin nhờ các protease của đường tiêu hóa. Sau đó được chuyển hóa tiếp và cuối cùng thành CO2 và NH3.

Trong đó, NH3 là một chất độc cần được đào thải ra ngoài. Nhiệm vụ của gan là chuyển hóa NH3 thành Ure và chuyển đến thận qua đường máu. Khi đó thận sẽ lọc Ure và các chất khác để đào thải ra ngoài qua đường tiểu. Chính vì vậy mà quá trình chuyển hóa NH3 và lọc Ure có thể bị ảnh hưởng khi chức năng gan, thận gặp rối loạn.

Xét nghiệm Ure máu giúp đánh giá tình trạng chức năng của thận

Xét nghiệm Ure máu (hay xét nghiệm BUN – Blood Urea Nitrogen) thực chất là xét nghiệm máu để định lượng nồng độ Urea Nitrogen có trong máu. Chỉ số Ure máu thường được dùng để đánh giá tình trạng chức năng của gan và thận. Chỉ số Ure máu rơi vào khoảng 2,5 – 7,5 mmol/l thì được coi là bình thường.

– Nếu chỉ số này càng cao thì có nghĩa là chức năng thận càng kém, hàm lượng protein trong cơ thể quá cao hoặc cơ thế thiếu nước dẫn đến quá trình lưu thông kém.

– Ngược lại, nếu chỉ số Ure máu thấp hơn so với mức trung bình thì có thể bạn đang bị suy dinh dưỡng hoặc các bệnh lý về gan.

2. Ure máu thay đổi trong những trường hợp nào?

Như đã nói ở trên, chỉ số bình thường của Ure máu là 2,5 – 7,5mmol/l. Trong một số trường hợp nhất định, chỉ số này sẽ có sự thay đổi ít nhiều.

2.1. Trường hợp Ure tăng cao

– Chế độ dinh dưỡng hàng ngày có nhiều protein.

– Người bị suy thận, tắc nghẽn đường niệu, vô niệu,…

– Người bị ngộ độc thủy ngân.

– Các trường hợp tăng dị hóa protein: suy dinh dưỡng, bỏng, sốt,…

– Nhiễm trùng nặng, xuất huyết tiêu hóa,…

Chế độ ăn quá nhiều protein có thể khiến Ure máu tăng cao

2.2. Trường hợp Ure giảm

– Phụ nữ có thai.

– Người có chế độ ăn kiêng, chế độ ăn nghèo protein.

– Xơ gan, suy gan, viêm gan mạn tính hoặc cấp tính.

– Hội chứng thận hư, giảm hấp thu.

– Người mắc hội chứng tiết ADH không phù hợp.

3. Ure máu ảnh hưởng như thế nào đến sức khỏe?

Bất kỳ sự tăng giảm Ure máu nào cũng đều có những tác động nhất định đến sức khỏe con người. Cụ thể:

3.1. Ảnh hưởng tim mạch

Sự thay đổi bất thường của nồng độ Ure máu có thể làm tăng huyết áp, khiến mạch đập nhanh, nhỏ. Đặc biệt có thể gây ra trụy mạch, nguy hiểm đến tính mạng đặc biệt đối với người bị suy thận giai đoạn cuối.

3.2. Ảnh hưởng tiêu hóa

Ở mức độ nhẹ, bệnh nhân thường cảm thấy chướng bụng, đầy hơi, ăn không ngon. Khi ở mức độ nặng hơn có thể gây buồn nôn, tiêu chảy, viêm loét niêm mạc miệng và họng, có dấu hiệu đen lưỡi. Trường hợp ure máu tăng quá cao người bệnh có thể bị xuất huyết tiêu hóa.

3.3. Ảnh hưởng hô hấp

Người bệnh thường xuyên bị rối loạn nhịp thở, hơi thở yếu, chậm và có mùi NH3 (amoniac), thậm chí có thể gây hôn mê.

Sự tăng giảm bất thường của Ure máu có thể dẫn đến rối loạn nhịp thở

3.4. Ảnh hưởng thần kinh

Tăng giảm Ure máu có thể gây ảnh hưởng thần kinh ở 3 mức độ tăng dần, người bệnh có thể đau đầu, hoa mắt, chóng mặt ở mức độ nhẹ; nặng hơn thì rơi vào trạng thái mơ màng, nói mê, vật vã. Khi Ure máu tăng cao ở mức độ nặng nhất có thể dẫn đến co giật, đồng tử co lại, hôn mê và phản ứng kém với ánh sáng.

3.5. Ảnh hưởng huyết học

Tùy thuộc vào từng giai đoạn mà mức độ ảnh hướng có thể khác nhau, thường tăng Ure máu sẽ dẫn đến tình trạng thiếu máu.

3.6. Ảnh hưởng thân nhiệt

Sự thay đổi Ure trong máu khiến nhiệt độ cơ thể giảm.

4. Quy trình xét nghiệm Ure máu

Tuy là xét nghiệm máu nhưng người bệnh không cần nhịn ăn trước khi làm xét nghiệm mà chỉ cần hạn chế không ăn các loại thực phẩm có chứa quá nhiều protein. Thời điểm làm xét nghiệm thích hợp nhất là vào buổi sáng. Quy trình xét nghiệm có thể kéo dài trong khoảng 1 giờ.

Để hạn chế máu lưu thông, nhân viên y tế sẽ quấn băng cố định quanh bắp tay sau đó sử dụng cồn y tế để sát trùng vị trí lấy máu. Mẫu bệnh phẩm xét nghiệm Ure máu thường là máu tĩnh mạch. Nhân viên y tế sử dụng kim tiêm và lấy một lượng máu vừa đủ (khoảng 2ml) và cho vào ống nghiệm vô trùng để bảo quản.

Sau khi hoàn tất quá trình lấy máu, băng quấn quanh tay sẽ được tháo, vị trí tiêm sẽ được thoa bông gòn tẩm cồn và băng lại giúp cầm máu. Người bệnh nên lưu ý tránh cử động mạnh sau khi lấy mẫu.

Mẫu máu sẽ được gửi ngay đến phòng xét nghiệm để tiến hành đo lường và phân tích.

Trong quá trình thực hiện nếu có bất kỳ câu hỏi hay thắc mắc nào thì người bệnh nên tham khảo ý kiến và xin tư vấn của bác sĩ để được thông tin sớm, chính xác nhất.

5. Địa chỉ uy tín làm xét nghiệm Ure máu

Hiện nay, rất nhiều người chủ quan khi cơ thể có những triệu chứng bất thường mà không hề hay biết đó lại chính là dấu hiệu tiềm tàng của những căn bệnh nguy hiểm. Đó là lý do vì sao các bác sĩ luôn khuyến cáo mọi người nên thường xuyên đi khám sức khỏe định kỳ.

Khi làm các xét nghiệm tổng quát định kỳ, bệnh nhân cũng có thể được chỉ định làm xét nghiệm Ure máu để theo dõi chức năng hoạt động của gan và thận.

Một trong những địa chỉ làm xét nghiệm Ure máu uy tin hiện nay chính là Bệnh viện Đa khoa MEDLATEC. Đến với MEDLATEC, người bệnh sẽ được trải nghiệm dịch vụ y tế chất lượng và đáng tin cậy nhất với mức giá thành phù hợp.

Trung tâm xét nghiệm của Bệnh viện Đa khoa MEDLATEC

Bên cạnh đó, thấu hiểu được nỗi lòng của khách hàng ở xa khi phải đến sớm và xếp hàng dài chờ đợi, Bệnh viện Đa khoa MEDLATEC đã triển khai dịch vụ lấy mẫu xét nghiệm Ure máu ngay tại nhà. Sau khi có kết quả, bạn sẽ nhận được sự tư vấn cụ thể từ đội ngũ bác sĩ chuyên khoa.

Tất cả những gì bạn cần làm là gọi ngay đến tổng đài hoặc đăng ký trên website chính thức của bệnh viện để đăng ký. Nhân viên y tế sẽ đến tận nơi để lấy mẫu và kết quả được trả sau 2 giờ.

Mọi chi tiết vui lòng liên hệ Bệnh viện Đa khoa MEDLATEC qua hotline 1900 56 56 56 để được hỗ trợ.