Xét Nghiệm Gan Như Thế Nào?

Xét nghiệm gan như thế nào để có thể đánh giá tình trạng hoạt động bất thường của gan, để có thể kịp thời điều trị và phòng ngừa biến chứng?

Gan là một bộ phận quan trọngtrong cơ thể, gan thực hiện hơn 500 chức năng khác nhau. Khi gan bị tổn thương không chỉ gan bị ảnh hưởng mà các bộ phận khác trong cơ thể cũng chịu thương tổn. Việc luôn theo dõi tình trạng của gan là rất quan trọng và cần thiết. Xét nghiệm chức năng gan là một trong những cách để phát hiện ra các bệnh về gan. Và một trong những phương pháp hiệu quả và hay được sử dụng nhất đó là xét nghiệm máu viêm gan B

Xét nghiệm máu giúp chẩn đoán các bệnh về gan

KIỂM TRA BỆNH GAN, XÉT NGHIỆM GAN LÀ GÌ?

Xét nghiệm gan (LFTs) dùng để phản ánh tình trạng hoạt động của gan, kiểm tra bệnh gan xem gan có hoạt động bình thường không, có những dấu hiệu bất thường nào ở trong gan không… Ngoài ra việc xét nghiệm chức năng gan còn giúp các bác sĩ biết được trong gan có chứa mầm bệnh nào không, có virus gây viêm gan không… Nhưng không phải cứ xét nghiệm chức năng gan là có thể phát hiện được những loại bệnh đang tiềm ẩn ở trong gan, mà cần xét nghiệm chuyên sâu hơn, đặc biệt hơn mới có thể phát hiện được những bệnh đang ẩn mình ở trong lá gan của bạn.

Ngoài ra việc xét nghiệm kiểm tra bệnh gan giúp cảnh báo cho bác sĩ biết có điều gì bất ổn ở trong gan, điều bất ổn đó có nghiêm trọng và nguy hiểm không. Khi xét nghiệm tình trạng chức năng của gan, giúp các bác sĩ xác định sự cần thiết để tiến hành thêm các xét nghiệm khác. Vậy xét nghiệm gan như thế nào?

Kết hợp các kết quả xét nghiệm gan thêm cùng với LFTs, các bác sĩ sẽ có cơ sở để chẩn đoán liệu gan bị bệnh gì và có đang hoạt động tốt không. Các bác sĩ ở phòng khám Kim Mã cũng cho biết, bằng việc lưu giữ một loạt kết quả LFTs từ những tháng và năm trước đó, trong một số trường hợp cả bác sĩ và bệnh nhân có thể dự đoán liệu tình trạng gan có ổn định không, có được cải thiện không, có hồi phục hoặc xấu đi không, các biện pháp điều trị có đáp ứng không, có cần sử dụng thử biện pháp khác và liệu đã đến lúc bệnh nhân cần phải cấy phép gan chưa.

Xét nghiệm men gan: Có 4 men gan được đưa vào xét nghiệm thông thường là AST, ALT, photphate kiềm (AP) và GGTP. Nếu có tình trạng tăng men gan thì có thể người bệnh đang mắc các bệnh lý về gan- mật

Men gan cao có thể cảnh báo bạn đang mắc một số bệnh về gan

Bilirubin: Đây là chất do gan sản xuất khi tham gia vào quá trình tái tạo hồng cầu già. Nếu tăng Bilirubin thì có thể thường đi kèm với tình trạng gan kém hoặc tắc mật.

Protein gan

Albumin

Thời gian prothrombin

Globulin miễn dịch

Tiểu cầu

Amoniac

LÀM SAO BIẾT ĐƯỢC CHỨC NĂNG GAN CÓ HOẠT ĐỘNG BÌNH THƯỜNG HAY KHÔNG?

Nên kiểm tra sức khỏe định kỳ để sớm phát hiện các bệnh về gan

Xét nghiệm gan như thế nào để biết được chức năng gan có hoạt động bình thường hay không là một câu hỏi mà được rất nhiều người quan tâm. Nhưng theo các bác sĩ ở phòng khám Kim Mã cho biết, muốn biết chức năng gan có hoạt động bình thường hay không cần tới các bệnh viện, phòng khám chuyên về gan để xét nghiệm gan , kiểm tra chức năng gan.

Xét Nghiệm Chức Năng Thận Như Thế Nào Chính Xác?

Thận là cơ quan không thể thiếu của hệ tiết niệu. Suy thận là tình trạng giảm hoạt động của thận, làm cho thận không đảm bảo được các nhiệm vụ của mình, ảnh hưởng đến hoạt động của toàn cơ thể. Chính vì thế, việc xét nghiệm chức năng thận là việc không thể thiếu nhằm đánh giá hoạt động của cơ quan này và có những điều trị bệnh trong trường hợp cần thiết.

ĐÁNH GIÁ CHỨC NĂNG THẬN CẦN NHỮNG XÉT NGHIỆM NÀO?

Creatinin, BUN (Blood Urea Nitrogen) là các sản phẩm của quá trình chuyển hóa đạm của cơ thể, được thận thải ra bằng đường nước tiểu. Các trị số bình thường sẽ thay đổi tùy theo từng phòng xét nghiệm. Nhưng trung bình, BUN ở khoảng từ 6đến 24 mg/dL (tương đương với 2,5đến 8 mmol/L), creatinin ở khoảng 0,5đến 1,2mg/dL (tương đương 45 đến 110 mmol/L) là bình thường. Các chỉ số này sẽ tăng lên trong máu khi chức năng thận trở nên xấu đi.

Xét nghiệm sinh hóa chức năng thận

Tình trạng rối loạn chức năng thận sẽ gây ra sự mất cân bằng các chất điện giải trong cơ thể.

Natri trong máu bình thườngdao động từ 135đến 145 mmol/L. Ở những người suy thận, natri máu sẽ giảm, có thể do mất natri qua da, đường tiêu hóa, qua thận nhưng cũng có thể do thừa nước. Các triệu chứng của việc giảm natri ở máu chủ yếuxảy ra ở hệ thần kinh như nhức đầu, buồn nôn, lừ đừ, hôn mê, co giật.

Kali trong máu bình thường đạt từ 3,5đến 4,5 mmol/L. Ở bệnh nhân suy thậnsẽ xảy ra tình trạng tăng Kali trong máu do thận giảm thải kali. Các triệu chứng của tình trạng này từ nhẹ đến nặngbao gồm mệt mỏi, dị cảm, mất phản xạ, liệt cơ, rối loạn nhịp tim.

Canxi máu bình thường nằm trong khoảng 2,2đến 2,6 mmol/L. Suy thận sẽ có biểu hiện giảm canxi máu kèm theo tăng phosphatvớitriệu chứng chủ yếu là dấu kích thích thần kinh cơ gồm tăng phản xạ gân xương, co cứng cơ, co giật, rối loạn nhịp tim.

Trong xét nghiệm chức năng thận, bình thường pH máu được duy trì ở mức 7,37 đến 7,43 cho phép các hoạt động tối ưu của men tế bào, yếu tố đông máu và các protein gây nên co cơ. Kết quả xét nghiệm chức năng thận cho thấy thận bị suy sẽ phát hiện ra việc giảm thải các acid hình thành trong quá trình chuyển hóa của cơ thể hoặc mất bicarbonat gây tình trạng toan chuyển hóa cho cơ thể. Toan hóa máu gây nên triệu chứng loạn nhịp tim, rối loạn hô hấp làm nặng thêm tình trạng tăng kali máu.

Chỉ số Acid Uric máu trung bình ở namlà 5,1 ± 1,0 mg/dL (420 μmol/lít)trong khi đó ở nữlại là 4,0 ± 1mg/dL (360 μmol/lít). Acid uric máu tăng có thể gây tổn thương thận, nhưng cũng có thể là hậu quả do bị suy thận không thải được.Ngoài ra, Acid uric máu tăng cũng có thể gợi ý bệnh nhân có kèm theo sỏi của hệ tiết niệu.

Xét nghiệm chức năng thận bằng việc đánh giá tỷ trọng nước tiểucũng là một phương pháp phổ biến. Tỷ trọng nước tiểu bình thườngnằm trong khoảng 1,01 đến 1,020 trong đó nước tiểu 24h của người lớn ăn uống bình thường có tỷ trọng từ 1,016 đến 1,022. Việc suy giảm chức năng thận giai đoạn sớm sẽ làm giảm độ cô đặc của nước tiểu, dẫn đến tỷ trọng nước tiểu giảm. Trong trường hợp nghi ngờ, bệnh nhân sẽ được làm thêm: so sánh tỷ trọng nước tiểu ngày và đêm, nghiệm pháp pha loãng nước tiểu, nghiệm pháp cô đặc nước tiểu….

Định lượng Protein nước tiểu 24 giờ

Bình thường: Protein trong nước tiểu nằm trong khoảng 0 đến 0,2 g/24h.

Đặc điểm của protein niệu do bệnh cầu thận là dai dẳng và thường lớn hơn 0,3 g/l. Kết quả xét nghiệm chức năng thận này cho thấy protein niệutăngcó thể do một số bệnh gây thương tổn cầu thận, viêm cầu thận cấp do nhiễm độc thuốc hoặc hóa chất độc, suy thận, các bệnh lý có ảnh hưởng đến thận.

Ở người bình thường, albumin huyết thanh khoảng 35 đến 50 g/L, chiếm 50 – 60% protein toàn phần. Albumin giảm mạnh trong trường hợp bệnh nhân mắc bệnh lý cầu thận cấp.

Giá trị bình thườngcủa chỉ số này là 60 đến 80 g/L. Protein toàn phần huyết tương phản ánh chức năng lọc của cầu thận protein toàn phần sẽ giảm nhiều hơn trong các bệnh thận khi màng lọc cầu thận bị tổn thương.

Tình trạng chức năng thận chỉ có thể đánh giá chính xác bằng cách thực hiện sinh thiết thận, đọc các cấu trúc của các đơn vị thận dưới kính hiển vitrong khi các xét nghiệm chức năng thận hiện nay chỉ có thể đánh giá được tương đối tình trạng của thận, vì thế cần kết hợp nhiều xét nghiệm.

Bác sĩ Hà Nội – Kênh thông tin tổng hợp, chia sẻ kiến thức y khoa hàng đầu Việt Nam, sẵn sàng tư vấn – giải đáp tất cả các vấn đề sức khỏe mà bạn đang gặp phải.

Kiểm Tra Chức Năng Gan Như Thế Nào? Chi Phí Xét Nghiệm Bao Nhiêu Tiền?

Gan nhiễm mỡ độ 2 là gì? Phác đồ điều trị gan nhiễm mỡ độ 2

Khi gan nhiễm mỡ độ 2 xảy ra tức là lượng chất béo đã tích tụ đến mức báo động và tiến triển cực kỳ nhanh chóng. Có thể bị viêm hoặc xơ gan nếu không phát hiện và chữa trị kịp thời. Vậy gan nhiễm mỡ độ 2 là gì? Phác đồ điều trị gan nhiễm mỡ độ 2 như thế nào đạt kết quả tốt nhất.

1. Kiểm tra chức năng gan như thế nào? Cách xét nghiệm gan như thế nào?

Kiểm tra chức năng gan là một quá trình xét nghiệm sinh hóa thường được chỉ định để đánh giá các chức năng khác nhau của gan hoặc đưa ra bằng chứng về tổn thương gan. Kiểm tra chức năng gan được chỉ định trong tổng thể xét nghiệm khi sút cân không rõ nguyên nhân, nghiện rượu, có các bệnh lý về gan và trong quá trình theo dõi điều trị của nhiều thuốc. Xét nghiệm chức năng gan cũng được chỉ định khi xuất hiện một số dấu hiệu như vàng da, buồn nôn và nôn liên tục

Kiểm tra chức năng gan thường được khuyến nghị trong các tình huống sau:

– Kiểm tra thiệt hại do nhiễm trùng gan, như viêm gan B và viêm gan C

– Theo dõi tác dụng phụ của một số loại thuốc được cho là ảnh hưởng đến gan

– Tiền sử bệnh gan, để theo dõi bệnh và cách điều trị hiệu quả

– Người bệnh gặp các triệu chứng rối loạn gan

– Uống rượu nhiều

– Bệnh túi mật

Hầu hết các bệnh nhân mắc bệnh về gan như: viêm gan B, viêm gan C, xơ gan, gan nhiễm mỡ,… đều có thể khiến chức năng gan suy giảm, do đó những tổn thương mà bệnh có thể gây ra cho gan và sức khỏe của bệnh nhân là khó lường trước được. Tuy nhiên để đánh giá chính cxác về mức độ tổn thương gan ở những người mắc bệnh về gan, cần làm thêm một số chẩn đoán khác như: siêu âm gan, chụp cắt lớp, chụp cộng hưởng.

2. Mục đích kiểm tra chức năng gan

– Phát hiện sớm các bệnh về gan

– Theo dõi quá trình diễn biến của bệnh như: viêm gan virus hoặc một số bệnh viêm gan khác để đánh giá hiệu quả và phác đồ điều trị hiện đang áp dụng

– Theo dõi tác dụng phụ của thuốc

– Đánh giá mức độ nghiêm trọng của bệnh nhất là bệnh sơ gan

Kiểm tra chức năng gan bao gồm việc định lượng một số enzyme hoặc một số chất chuyển hóa tổng hợp tại gan để đánh giá chức năng và chuyển hóa của cơ quan này. Các xét nghiệm sinh hóa chính thường được thực hiện bao gồm định lượng các transaminase, y Gt ( gamma-glutamyl transpeptidase , phosphatase kiềm và bilirubin

Kiểm tra chức năng gan được tiến hành bằng cách lấy máu tĩnh mạch. Bên cạnh đó cần ghi nhận tất cả các thuốc đang sử dụng của người bệnh có khả năng làm thay đổi kết quả xét nghiệm

3. Những lưu ý khi kiểm tra chức năng gan

– Nên xét nghiệm vào buổi sáng: Thời điểm tốt nhất để kiểm tra chức năng gan là vào sáng sớm để kết quả xét nghiệm được chính xác nhất

– Không ăn trước khi xét nghiệm: Thông thường, các xét nghiệm chức năng gan cần phải nhịn ăn ít nhất từ 4 đến 6 tiếng để kết quả xét nghiệm được chính xác. Chính vì vậy bạn nên nhịn ăn sáng để có kết quả xét nghiệm toàn diện và hoàn chỉnh nhất

– Không sử dụng bất kỳ loại thuốc nào Mọi loại thuốc như thuốc kháng sinh, thuốc bổ, thuốc chữa bệnh ,. Đều tuyệt đối không được dùng trước khi kiểm tra chức năng gan vì nó sẽ ảnh hưởng tới kết quả xét nghiệm

– Hạn chế sử dụng rượu bia, cà phê thuốc lá.

4. Chi phí kiểm tra chức năng gan bao nhiêu tiền?

Chi phí xét nghiệm gan dao động từ 50.000 – 500.000 VNĐ, tùy vào mỗi cơ sở khám khác nhau sẽ có sự chênh lệch. Để hiểu rõ hơn, bạn có thể tham khảo mức giá chung khi tiến hành xét nghiệm kháng nguyên, kháng thể và chức năng gan tại các cơ sở y tế công lập:

Chi phí xét nghiệm HBsAg, và kiểm tra viêm gan B

– HBsAg: 80.000 đồng

– AntiHBs: 90.000

– AntiHBc: 120.000

Xét Nghiệm Sàng Lọc Bệnh Gan Xét Nghiệm Kiểm Tra Chức Năng Gan Khác Nhau Thế Nào

BỆNH NHÂN HỎI: Thưa bác sĩ! cho tôi hỏi sự khác nhau giữa những xét nghiệm gan như thế nào? Trước đây 2 tháng tôi có thực hiện xét nghiệm chức năng gan để kiểm tra sức khỏe định kỳ và gần đây cơ quan của tôi có tổ chức khám sức khỏe tổng quá trong đó có thực hiện xét nghiệm sàng lọc bệnh gan. Vậy cho tôi hỏi xét nghiệm sàng lọc bệnh gan và kiểm tra chức năng gan khác nhau như thế nào? Xin cám ơn!

BÁC SĨ TRẢ LỜI: Chào bạn chúng tôi xin cám ơn bạn đã tin tưởng và gửi những thắc mắc của mình về cho Phòng Khám Đa Khoa Hồng Phong của chúng tôi. Để giải đáp cụ thể nhất vấn đề mà bạn đang thắc mắc là Sự khác nhau giữa những xét nghiệm gan, chung tôi xin cung cấp những thông tin hữu ích cho bạn trong bài viết sau đây.

Xét nghiệm sàng lọc bệnh gan và xét nghiệm kiểm tra chức năng gan khác nhau như thế nào?

Việc thực hiện xét nghiệm gan thực hiện 13 hạng mục xét nghiệm để sàng lọc và phát hiện, chuẩn đoán sớm nhất những căn bệnh gan mà bệnh nhân đang mắc phải và điều trị bệnh sớm nhất.

Xét nghiệm sàng lọc bệnh gan gồm 13 hạng mục xét nghiệm

Cụ thể sự khác nhau giữa những xét nghiệm gan như sau:

Xét nghiệm chức năng gan giúp đánh giá hoạt động của gan

Xét nghiệm sàng lọc bệnh gan và xét nghiệm kiểm tra chức nnagw gan là vô cùng quan trọng và cần thiết, mọi người nên chủ động bảo vệ sức khoẻ bằng cách kiểm tra chức năng gan bình thường vì đây là một cách hữu ích và có thể là cách tốt nhất để bảo vệ gan khỏe mạnh.

Bạn nghi ngờ hoặc muốn xét nghiệm sàng lọc bệnh gan hiệu quả thì bạn có thể đến Phòng Khám Hồng Phong. Phòng Khám được đánh giá cao bởi các chuyên gia và được nhiều bệnh nhân tin tưởng lựa chọn không chỉ nổi bật trong điều trị, mà còn để kiểm tra viêm gan chính xác, nhanh chóng.

Xét nghiệm, kiểm tra được thực hiện bởi các bác sĩ có trình độ, nhiều năm kinh nghiệm trong nghề, phân tích trực tiếp và tư vấn cho bệnh nhân sau khi kết quả xét nghiệm.

Phòng khám được trang bị đầy đủ các máy móc và thiết bị để đáp ứng nhu cầu của việc kiểm tra và điều trị của bệnh nhân, đảm bảo kết quả chính xác nhất.

Thủ tục khám nghiệm nhanh và hiệu quả, kết quả trong ngày, bệnh nhân không còn mệt mỏi chờ đợi, chào đón nồng nhiệt, hướng dẫn cẩn thận, chăm sóc nhẹ nhàng sẽ làm cho bệnh nhân hài lòng và an tâm. .

Kết Quả Xét Nghiệm Chức Năng Gan Và Chẩn Đoán Hình Ảnh Có Giá Trị Như Thế Nào?

Kết quả xét nghiệm chức năng gan và chẩn đoán hình ảnh có giá trị như thế nào trong bệnh lý gan?

Xét nghiệm chức năng gan ( LFTs) dùng để phản ánh tình trạng hoạt động của gan.. Tuy nhiên ngoài ý nghĩa, lợi ích cũng có hạn chế của xét nghiệm chức năng gan (LFTs). LFTs không thể xác định được những bệnh cụ thể của gan. Để xác định cần có xét nghiệm chuyên sâu và đặc biệt hơn. Ngoài ra, để chẩn đoán bệnh gan cần có kết quả chẩn đoán hình ảnh, như siêu âm gan, chụp cắt lớp và cộng hưởng từ thường dùng để quan sát hình ảnh gan.

1.Men gan

Có 4 men gan khác nhau được đưa vào trong các xét nghiệm thông thường. Đó là aspartate aminotransferase (AST hoặc SGOT) và alanine aminotransferase (ALT hoặc SGPT) được biết đến như transaminase; và phosphate kiềm (AP) và gamma-glutamyl transferase (GGTP), được biết như men gan mật. Khi các men này tăng lên có thể biểu hiện của bệnh gan.

a.AST và ALT (transaminase)

Đôi điều về khoảng tham khảo bình thường Khi kết quả xét nghiệm được đưa cho bác sĩ, họ thường so sánh với giá trị thu được từ một nhóm người khỏe mạnh. Khoảng của giá trị này được gọi là “giá trị bình thường” được gọi là giới hạn tham khảo hoặc khoảng tham khảo. Giá trị cao nhất và thấp nhất của khoảng này thường được gọi là giới hạn bình thường trên và giới hạn bình thường dưới. Khoảng tham khảo này có thể khác nhau chút ít tùy theo từng thời điểm và tùy vào từng phòng xét nghiệm. Bác sĩ sẽ chú ý đến giới hạn này khi đọc từng kết quả xét nghiệm cụ thể.

Viêm gan do virus.

Gan nhiễm mỡ.

Bệnh gan do rượu.

Bệnh gan do thuốc.

Viêm gan tự miễn.

Nhiễm độc thảo mộc.

Bênh gan di truyền.

U gan.

Suy gan.

Luyện tập gắng sức.

b.GGT và AP (Men gan mật)

Mức GGT và AP tăng có thể là biểu hiện của tắc mật hoặc tổn thương, hoặc viêm đường mật. Những bệnh này thường có đặc điểm là giảm hoặc không lưu thông đường mật, được gọi là ứ mật. Loại tổn thương gan kiểu này được gọi là tổn thương gan mật, bệnh gan được gọi là bệnh gan mật (xơ gan mật tiên phát là một ví dụ của bệnh gan mật). Ứ mật trong gan nói đến tình trạng tắc đường mật hoặc tổn thương bên trong gan. Ứ mật trong gan có thể gặp ở người bị xơ gan mật tiên phát hoặc ung thư gan . Ứ mật ngoài gan nói đến tình trạng ứ mật hoặc tổn thương ngoài gan. Ứ mật ngoài gan có thể xảy ra ở bệnh nhân bị sỏi mật. Khi bị viêm hoặc tắc đường mật, GGT và AP có thể bị tràn ra như mở kho dự trữ và đi vào dòng máu. Những men này tăng lên rõ rệt – gấp gần 10 lần giá trị bình thường ở giới hạn trên. GGT được tìm thấy chủ yếu trong gan. AP được tìm thấy chủ yếu trong xương và gan nhưng cũng có thể ở nhiều cơ quan khác như ruột, thận và nhau thai. Vì vậy, mức AP tăng chỉ phản ánh có vấn đề về gan nếu có kèm theo tăng GGT. Nên nhớ rằng GGT có thể tăng và không kèm theo tăng AP, vì GGT dễ bị ảnh hưởng bởi rượu và những thuốc có độc tính với gan. Lưu ý rằng, những người hút thuốc thường có mức AP và GGT cao hơn những người khác với những lý do chưa biết rõ. Tương tự, nồng độ AP và GGT gần như phản ánh chính xác sau khi nhịn đói 12 giờ. Bắt đầu có sự phức tạp khi đánh giá xét nghiệm chức năng gan bất thường! Nồng độ AP bình thường vào khoảng 35-115 IU/l, và nồng độ GGTP bình thường vào khoảng 3-60 IU/L. Một số nguyên nhân sau có thể làm tăng nồng độ AP và GGTP:

Xơ gan mật tiên phát.

Bệnh gan nhiễm mỡ ở người không nghiện rượu.

Viêm đường mật xơ hóa tiên phát

Bệnh gan do rượu

U gan

Bệnh gan do thuốc

Sỏi mật.

Xơ gan mật tiên phát

Viêm đường mật xơ hóa tiên phát

Viêm gan do rượu

Tan máu – Hồng cầu bị vỡ

Bệnh gan do thuốc

Sỏi mật

Suy gan hoặc tình trạng gan kém nói chung

Những khối u có ảnh hưởng đến gan, đường mật hoặc túi mật.

Viêm gan do virus.

Rối loạn chuyển hóa bilirubin lành tính mang tính gia đình, như hội chứng Gibert.

Tăng bilirubin thường đi kèm với tăng AP và GGT. Khi tăng đồng thời bilirubin, AP và GGT có thể bị ứ mật. Tuy nhiên nếu mức bilirubin vẫn bình thường nhưng GGT và AP cao, thì có thể bị ứ mật không vàng da. Những bệnh có đặc điểm bilirubin cao, GGT và AP cao thường là bệnh gan mật.

3.Protein gan

Albumin, prothrobin (yếu tố II) và globulin miễn dịch là những protein được sản xuất chủ yếu bởi gan. Khi có bất thường về mức protein này có thể giúp xác định liệu có bị bệnh gan trầm trọng hay không.

4.Albumin

Mức albumin bình thường trong máu khoảng 4g/dl. Khi gan bị tổn thương nghiêm trọng, nó mất khả năng sản xuất albumin. Những người bị bệnh gan mãn tính đi kèm với tình trạng xơ gan thường có mức albumin dưới 3 g/dl. Mức albumin thấp nói chung chỉ tình trạng sức khỏe và dinh dưỡng kém và không chỉ có riêng ở bệnh gan.

Đôi điều về hội chứng Gilbert Đôi điều về hội chứng Gilbert là một rối loạn chuyển hóa bilirubin di truyền, rất phổ biến và lành tính. Nó xuất hiện ở khoảng 4-9% dân số. Chúng có đặc điểm là tăng mức bilirubin không liên tục. Hội chứng này thường được phát hiện khi xét nghiệm máu thường xuyên, khi xét nghiệm này được tiến hành để đánh giá những bệnh khác, hoặc trước khi tuyển dụng hoặc trước khi tham gia bảo hiểm. Mức bilirubin thường tăng tới 3 mg/dl nhưng hiếm khi vượt quá mức 5 mg/dl. Mức tăng thường rõ rệt khi đói, stress, kỳ kinh nguyệt, hoặc khi bị ốm không phải do gan hoặc khi bị nhiễm khuẩn. Vàng da là bất thường duy nhất phát hiện thấy khi khám thực thể. Một số người có những triệu chứng thông thường như khó chịu vùng bụng, buồn nôn hoặc mệt mỏi; tuy nhiên một số chuyên gia lại cho rằng những triệu chứng này là do lo lắng. Tất cả các xét nghiệm chức năng gan đều bình thường. Không khuyến cáo làm chẩn đoán hình ảnh như siêu âm gan và sinh thiết gan, nhưng nếu làm thì sẽ bình thường. Không có biến chứng lâu dài từ hội chứng vô hại này và không cần điều trị.

5.Thời gian prothrombin

Gan sản xuất ra phần lớn các yếu tố tạo ra cục máu đông mà cơ thể dùng để ngăn chặn sự chảy máu. Thời gian để tạo ra một cục máu đông này gọi là thời gian prothrombin (PT), thông thường khoảng từ 9-11 giây. Vitamin K là một thành phần quan trọng của quá trình tạo cục máu đông. Nếu gan bị tổn thương nghiêm trọng hoặc bị thiếu vitamin K (đôi khi xảy ra ở bệnh gan mật như xơ gan mật tiên phát), PT sẽ kéo dài hơn nhiều so với bình thường, do vậy làm tăng nguy cơ chảy máu quá mức. Trong một vài trường hợp, tiêm vitamin K giúp PT trở về bình thường. Khi tiêm vitamin K mà có cải thiện được PT cho thấy rằng gan vẫn còn chức năng. Khi PT không bình thường hóa được khi tiêm vitamin K, tình trạng đó gọi là bệnh chảy máu (có xu hướng xảy máu quá mức), tổn thương gan nặng và/ hoặc có suy gan. Để điều chỉnh sự khác nhau trong các phòng thí nghiệm cách đo PT, thường dùng tỷ lệ quốc tế (INR).

7.Tiểu cầu

Tiểu cầu là tế bào máu giúp hình thành cục máu đông. Lá lách đóng vai trò như một kho dự trữ tiểu cầu. Ở những người xơ gan, lá lách thường phải làm việc nhiều để bù lại chức năng bị suy giảm do tổn thương gan. Điều này thường làm cho lách to và số lượng tiểu cầu giảm, được gọi là giảm tiểu cầu. Bình thường tiểu cầu có số lượng từ 150-400 x 103/ microlit. Nếu bệnh nhân thấp hơn 150 x 103/ microlit được coi là giảm tiểu cầu, và nên nghĩ đến khả năng bị xơ gan.

8.Amoniac (NH3)

Amoniac là một sản phẩm phân hủy của amino acid. Tăng mức ammoniac trong máu có thể là một dấu hiệu của bệnh não. Một số bác sĩ dựa vào mức ammoniac để theo dõi bệnh nhân bị bệnh não, nhưng có một vài nghiên cứu cho thấy ít có mối tương quan giữa nồng độ ammoniac và mức độ của bệnh não, và việc sử dụng nó vào mục đích này còn đang còn gây tranh cãi. Không khuyến cáo xác định nồng độ ammoniac cho bệnh nhân bị bệnh gan, vì bất kỳ bệnh gan nào cũng có thể làm tăng nhẹ thông số này và không phải là chẩn đoán của bệnh não. Cuối cùng, có nhiều yếu tố làm tăng giả mức ammoniac mà có thể biết được sự sai số bao gồm hút thuốc, dùng một vài thuốc nhất định (như acid valproic), tình cờ bị lẫn mồ hôi vào mẫu máu trong quá trình lấy máu và phòng thí nghiệm chậm làm phân tích máu.

9.Một vài lưu ý cuối cùng về xét nghiệm máu

Nên nhớ một số loại xét nghiệm máu riêng biệt không thể dùng để dự đoán sự tiển triển của bệnh gan. Bản thân những xét nghiệm này ít khi biểu hiện rõ rệt. Chúng chỉ có ý nghĩa khi kết hợp với một số các yếu tố khác, chúng phải được đánh giá kỹ lưỡng bởi bác sĩ. Nói cách khác, không nên quá đề cao những xét nghiệm riêng lẻ này. Mỗi xét nghiệm chỉ là một phần của sự phức tạp. Trong hầu hết các trường hợp, các xét nghiệm này chỉ đưa ra nhận định rằng có vấn đề gì bất ổn – chỉ là bước đầu tiên để đi đến sự chẩn đoán chính xác. Sau khi đánh giá các kết quả xét nghiệm thông thường, thường yêu cầu làm thêm xét nghiệm máu cụ thể để tìm ra nguyên nhân chính xác của các bất thường về gan. Bảng 3.1 liệt kê các xét nghiệm máu được dùng để chẩn đoán những bệnh gan cụ thể. Nói chung, khoa xét nghiệm đưa cho bác sĩ kết quả xét nghiệm máu thông thường trong vòng 1 hoặc 2 ngày; nhưng kết quả xét nghiệm máu riêng biệt hơn có thể cần tới 2 tuần, phụ thuộc vào từng khoa xét nghiệm. Thời gian chờ đợi này thật không dễ dàng gì (bệnh nhân cần phải kiên nhẫn).

Bảng 3.1 Xét nghiệm máu được dùng để chẩn đoán những bệnh cụ thể của gan

Kháng thể nhân viêm gan B (HbcAb) Kháng nguyên bề mặt viêm gan B (HbsAg) Kháng thể bề mặt viêm gan B (HBsAb) Kháng thể e viêm gan B (HBeAb) Kháng nguyên e viêm gan B (HBeAg) DNA virus viêm gan B (HBV DNA)

Đường máu, sinh dục, mẹ mang thai lây con

Kháng thể virus viêm gan C (HCVAb) Acid Ribonucleic virus viêm gan C (HCV RNA) Tăng globulin miễn dịch (IgG)

Đường máu, sinh dục, mẹ mang thai lây con.

Viêm gan tự miễn

Kháng thể kháng nhân (ANA) Kháng thể cơ trơn (SMA) Kháng thể vi thể thận/ kháng gan (LKMAb) Tăng globulin miễn dịch G (IgG)

Bệnh gan do rượu

Không lây, do uống nhiều rượu

Nhiễm sắc tố sắt mô

Sắt Ferritin Phần trăm bão hòa transferrin Khả năng gắn sắt toàn phần (TIBC) Xét nghiệm gen – sự tương hợp trong ghép mô kháng nguyên hồng cầu (HLA-H) và phân tích thăm dò DNA bằng PCR.

Không lây Có tính gia đình

1.Siêu âm

Siêu âm được cho là phương pháp chẩn đoán hình ảnh được dùng nhiều nhất để xem hình ảnh thai nhi ở phụ nữ mang thai, thực tế nó là phương pháp chẩn đoán hình ảnh được dùng nhiều nhất để xem hình ảnh gan. Đây là phương pháp nhanh và ít tốn kém để quan sát hình ảnh của cơ quan này. Mặt dù được thực hiện tại phòng X quang nhưng thực tế không sử dụng tia X – sóng âm để thu được hình ảnh. Siêu âm thường được tiến hành vào lúc đói. Khi đó túi mật chứa đầy mật và dễ dàng nhìn thấy sỏi mật. Thực tế có tới 95% số sỏi mật được phát hiện ra nhờ siêu âm. Siêu âm cũng dùng để phát hiện những khối u trong gan có thể lành tính (không ung thư) hoặc ác tính (ung thư), nhưng nó không thể phân biệt được 2 loại này. Hơn nữa siêu âm có thể ước lượng được kích thước khối u. Tuy nhiên ngay cả khi siêu âm cho kết quả bình thường, điều này không có nghĩa là gan không có vấn đề. Thực tế, có nhiều người bị bệnh gan nhưng kết quả siêu âm vẫn thấy bình thường. Vì vậy đừng ngạc nhiên nếu bác sĩ yêu cầu làm thêm các xét nghiệm sau khi siêu âm.

3.Một vài điều kết luận về chẩn đoán hình ảnh

Các phương pháp chẩn đoán hình ảnh đem lại nhiều kết quả có ích làm tăng sự chính xác trong chẩn đoán. Tuy nhiên, ngay cả các kỹ thuật tiên tiến này cũng không thể biết được toàn bộ quá trình đang diễn ra trong gan. Điều quan trọng là phải hiểu rằng gan được ngụy trang rất tốt. Ngay cả những người bị bệnh gan nặng và xơ gan có thể cho kết quả chẩn đoán hình ảnh bình thường. Đây là điều quan trọng cần nhớ và được lặp đi lặp lại. Siêu âm, chụp cắt lớp và cộng hưởng từ có thể cho kết quả hoàn toàn bình thường tại bất kỳ giai đoạn nào của bệnh gan. Điều này giải thích tại sao bác sĩ phải dựa vào sinh thiết gan, như một tiêu chuẩn vàng để đánh giá bệnh gan.

III.Kết luận

Sau khi xem xong phần trên bạn đã có thể hiểu rằng xét nghiệm máu và chẩn đoán hình ảnh có thể đưa ra một vài nhận định quan trọng, nhưng không phải lúc nào cũng xác định chính xác đang có bệnh gì với gan. Nó cũng không giúp đánh giá được mức độ viêm hoặc tổn thương gan. Sinh thiết gan là xét nghiệm duy nhất có thể cung cấp chính xác thông tin này. . Nhưng trước hết, điều quan trọng là phải gặp bác sĩ chuyên khoa có kinh nghiệm để xác định khi nào cần làm sinh thiết gan và có kỹ năng để đọc kết quả và sử dụng nó một cách hiệu quả nhất phục vụ cho việc điều trị. Điều này cũng lý giải những kỹ năng gì mà bác sĩ chuyên khoa cần có và có thể thu thập được thông tin này ở đâu và khi nào .