Bộ Xây Dựng: Thực Hiện Các Giải Pháp Phòng Chống Tham Nhũng

(Xây dựng) – Bộ Xây dựng tích cực triển khai công tác phòng chống tham nhũng (PCTN) theo chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Trưởng ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, với các giải pháp đa dạng và tăng cường thanh tra các lĩnh vực có nhiều dự luận tiêu cực.

Thực hiện các quy định của Đảng, Nhà nước về PCTN, trong quý I/2024, Ban Cán sự đảng và lãnh đạo Bộ Xây dựng đã ban hành Chỉ thị số 09 – CT/BCSĐ ngày 30/01/2024 của Ban Cán sự đảng Bộ Xây dựng về việc thực hiện Quy định số 08-QĐi/TW ngày 25/10/2024 về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, Đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương; Quyết định số 131/QĐ-BXD ngày 04/3/2024 về việc ban hành kế hoạch triển khai thi hành Luật, phòng chống tham nhũng năm 2024 của Bộ Xây dựng; Báo cáo số 129/BC-BCSĐ ngày 25/3/2024 về công tác PCTN của Ban Cán sự đảng Bộ Xây dựng; Quyết định số 199/QĐ-BXD 26/3/2024 về việc ban hành kế hoạch thực hiện công tác phòng, chống tội phạm năm 2024 của Bộ Xây dựng và Kế hoạch thực hiện nhiệm vụ trọng tâm công tác phòng, chống tham nhũng năm 2024 của Bộ Xây dựng; Quyết định số 133/QĐ-BCSĐ 16/4/2024 về việc ban hành Kế hoạch của Ban Cán sự đảng Bộ Xây dựng thực hiện Chỉ thị 27-CT/TW ngày 10/01/2024 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác bảo vệ người phát hiện, tố giác, người đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.

Trong năm 2024, Bộ Xây dựng tiếp tục tập hiện các giải pháp phòng ngừa tham nhũng như: Công khai, minh bạch, nâng cao trách nhiệm giải trình trong hoạt động của các cơ quan đơn vị; Hoàn thiện xây dựng và thực hiện chế độ, định mức, tiêu chuẩn về chi tiêu tài chính trong nội bộ cơ quan; Minh bạch tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức; Xây dựng và thực hiện quy tắc ứng xử, quy tắc đạo đức nghề nghiệp; Chuyển đổi vị trí công tác của cán bộ, công chức, viên chức; Cải cách hành chính, đổi mới công nghệ quản lý để PCTN; Thực hiện công tác cán bộ để PCTN và xử lý trách nhiệm người đứng đầu khi để xảy ra tham nhũng.

Tăng cường thanh tra các lĩnh vực có nhiều dư luận tiêu cực

Nhằm tăng cường, nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra, thanh tra các lĩnh vực có nhiều dư luận tiêu cực, tham nhũng, lãng phí; năm 2024 Thanh tra Bộ Xây dựng sẽ tiến hành thanh tra hành chính và PCTN đối với một số đơn vị thuộc Bộ Xây dựng, có nội dung thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật, chấp hành các quy định của ngành về thực hiện nhiệm vụ, công vụ đối với cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc trách nhiệm, thẩm quyền quản lý của Bộ và các đơn vị thuộc Bộ.

Ngày 14/12/2024, Bộ Xây dựng đã ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Kết luận của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Trưởng ban Chỉ đạo Trung ương về PCTN, đẩy mạnh phát hiện, xử lý tình trạng “tham nhũng vặt”, chọn một số vụ việc trong các khâu, lĩnh vực nhạy cảm, dễ phát sinh tiêu cực, dư luận xã hội quan tâm để xử lý nghiêm và công khai.

Trong năm 2024 và quý I/2024, thực hiện kế hoạch được Bộ trưởng phê duyệt, Thanh tra Bộ Xây dựng đã triển khai hoàn thành 114 đoàn thanh tra, đồng thời thực hiện giám sát theo quy định với các đoàn thanh tra nêu trên; Ban hành 84 kết luận thanh tra, kiến nghị xử lý trách nhiệm đối với 155 tập thể và 235 cá nhân để xảy ra vi phạm, kiến nghị xử lý về kinh tế tổng số tiền 947,8 tỷ đồng (trong đó: Yêu cầu phê duyệt lại dự toán 706,9 tỷ đồng; Yêu cầu giảm trừ thanh quyết toán 136,3 tỷ đồng; Yêu cầu nộp về tài khoản của chủ đầu tư 15,4 tỷ đồng; Nộp ngân sách Nhà nước địa phương 6,3 tỷ đồng; Yêu cầu thu hồi về tài khoản tạm giữ của Thanh tra Bộ 67,3 tỷ đồng); Xử phạt 178 đơn vị và yêu cầu áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả bổ sung số tiền 28,6 tỷ đồng.

Bộ Xây dựng đã chủ động xây dựng lịch tiếp công dân của Bộ trưởng, có các văn bản chỉ đạo các đơn vị có trách nhiệm xử lý triệt để, thực hiện tiếp công dân thường xuyên theo lịch định kỳ.

Đối với các vụ việc yêu cầu giám định khác, Bộ Xây dựng tiếp tục chỉ đạo hoàn thành tốt công tác giám định, định giá tài sản theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ và yêu cầu của các cơ quan có thẩm quyền. Bên cạnh đó, Bộ Xây dựng đã công bố danh sách các tổ chức, cá nhân có đủ điều kiện tham gia công tác giám định tư pháp trong lĩnh vực xây dựng, các cơ quan có thẩm quyền có thể trưng cầu các tổ chức, cá nhân này tham gia công tác giám định để đáp ứng yêu cầu của các cơ quan điều tra, xử lý các vụ việc vi phạm.

Thanh Nga

Biện Pháp Phòng, Chống Tham Nhũng, Tiêu Cực Từ Xây Dựng Đảng

Tham nhũng, tiêu cực là căn bệnh không phải bây giờ mới có. Thời phong kiến nhân dân ta thường dùng từ “quan tham” chỉ quan tham nhũng. Ngày nay tham nhũng, tiêu cực xuất hiện ở nhiều lĩnh vực, nhiều ngành, nhiều cấp có điều kiện tham nhũng cao, biểu hiện rõ nhất như: Lĩnh vực quản lý và sử dụng đất đai; khác thác tài nguyên, khoáng sản; thu chi ngân sách; mua sắm công; tài chính; ngân hàng; thực hiện các dự án đầu tư xây dựng cơ bản; công tác cán bộ; quản lý doanh nghiệp Nhà nước; doanh nghiệp cổ phần có vốn Nhà nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; giáo dục đào tạo, văn hóa, y tế… Thời gian qua, nhất là từ khi ban hành và thực hiện Luật phòng chống tham nhũng, Đảng và Nhà nước đã tập trung chỉ đạo đạt được nhiều thành tựu quan trọng. “10 năm qua toàn ngành thanh tra và các cấp, các ngành đã triển khai hàng nghìn cuộc thanh tra hành chính, thanh tra chuyên ngành, qua đó đã phát hiện nhiều tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm. Thiệt hại do các vụ việc tham nhũng gây ra trong 10 năm qua là gần 60.000 tỷ đồng và hơn 400 ha đất, đã có hơn 4.670 tỷ đồng và 219 ha đất được thu hồi”([i]).

Tuy nhiên, “Công tác phòng chống tham nhũng tiêu cực vẫn còn những diễn biến phức tạp và chưa đạt yêu cầu đề ra là ngăn chặn, từng bước đẩy lùi. Tham nhũng tiêu cực lãng phí vẫn còn nghiêm trọng. Kê khai tài sản của cán bộ còn hình thức, hoạt động kiểm tra, giám sát, thanh tra hiệu quả còn thấp, ý thức tiết kiệm chưa được đề cao, lãng phí thời gian, nguồn lực xã hội còn lớn, việc giải quyết khiếu nại tố cáo hiệu quả chưa cao, một số trường hợp còn kéo dài gây bức xúc trong dư luận”([ii]). Số người đứng đầu bị xử lý kỷ luật còn ít so với số vụ việc tham nhũng được phát hiện và xử lý. “Một số vụ án lớn chưa quy trách nhiệm và xử lý trách nhiệm của người đứng đầu (10 năm qua xử lý hình sự 118 trường hợp, xử lý kỷ luật 800 trường hợp), mới xử lý 17 người kê khai tài sản không trung thực. Một số quy định của pháp luật về phòng chống tham nhũng còn mang tính hình thức, thiếu tính khả thi” ([iii]).

Trong lĩnh vực tổ chức cán bộ bộc lộ rõ nhất tham nhũng và tiêu cực là việc chạy chức, chạy quyền, thi tuyển công chức, viên chức, điều động, đề bạt, bổ nhiệm cán bộ. Một số cán bộ có chức có quyền lợi dụng tham nhũng, tiêu cực nhận hối lộ làm giàu. Có những cán bộ có sai phạm, khuyết điểm ở địa phương đơn vị này được điều động, luân chuyển đến địa phương, đơn vị khác, thậm chí còn được đề bạt bổ nhiệm chức vụ cao hơn, ngoài ra còn nhiều hiện tượng chạy bằng cấp, chạy nâng lương, chạy khen thưởng, chạy chính sách… đã tạo ra dư luận không tốt trong nhân dân đối với cán bộ.

Về khách quan, tham nhũng tiêu cực là căn bệnh xấu vốn có trong xã hội từ lâu đời. Lòng tham luôn tiềm ẩn trong mỗi con người, nếu không được giáo dục rèn luyện thì khi có thời cơ, cơ hội, điều kiện sẽ xuất hiện. Mặt khác nếu không có chế tài mạnh mẽ để ngăn chặn, phòng ngừa đặc biệt là những biện pháp về luật pháp và hình sự thì khó có thể khắc phục được. Thể chế, chính sách quản lý kinh tế – xã hội trên nhiều lĩnh vực nước ta còn bất cập, việc công khai minh bạch còn hạn chế, thiếu những nguyên tắc, chuẩn mực, đồng bộ, khoa học để chủ động ngăn chặn phòng chống tham nhũng tiêu cực. Chưa xóa bỏ được cơ chế “xin – cho” là điều kiện dung dưỡng và làm nảy sinh tham nhũng tiêu cực nhất là trong các lĩnh vực nhạy cảm và có điều kiện để tham nhũng tiêu cực.

Về chủ quan là do một số cán bộ nhất là cán bộ có chức, có quyền thiếu rèn luyện tu dưỡng, thiếu ý thức tổ chức kỷ luật, thiếu trung thực và trách nhiệm trước nhân dân, sống thực dụng, chạy theo danh lợi, tiền tài, lợi dụng quyền hạn được giao để thu lợi bất chính, làm việc thiếu nguyên tắc, độc đoán, chuyên quyền, thiếu dân chủ, thực hiện không tốt cơ chế tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách. Công tác xây dựng đảng chưa góp phần tích cực vào việc phòng chống tham nhũng tiêu cực, hiệu quả thấp. Đại đa số các vụ việc tham nhũng là do quần chúng nhân dân phát hiện tố giác. Trong khi đó các vụ việc tham nhũng tiêu cực thì đại đa số là đảng viên nhất là đảng viên có chức, có quyền vi phạm, những cán bộ đảng viên đó đều sinh hoạt trong tổ chức đảng, nhưng việc quản lý đảng viên còn yếu. Tổ chức đảng không nắm và quản lý được nhiệm vụ của đảng viên nhất là đảng viên có chức, có quyền, sinh hoạt đảng lại thất thường, còn buông lỏng, nể nang, né tránh, thiếu kiểm tra giám sát việc thực hiện của đảng viên để ngăn chặn kịp thời những khuyết điểm, thiếu sót. Vai trò giám sát của cán bộ nhân dân còn hạn chế. việc phát hiện tố giác những hiện tượng tham nhũng tiêu chực chưa nhiều.

Từng bước loại bỏ cơ chế “xin – cho” vì còn “xin – cho” thì còn tham nhũng tiêu cực. Nghiên cứu cải cách chế độ tiền lương để cán bộ công chức đủ sống bằng tiền lương. Thực hiện khoán tiêu chuẩn đãi ngộ đối với cán bộ, lãnh đạo, quản lý vào lương. Quản lý và kiểm tra chặt chẽ việc mua sắm tài sản công với tinh thần tiết kiệm nhất. Thực hiện nghiêm túc việc kê khai tài sản, thu nhập cá nhân, phải công khai trong cơ quan, đơn vị địa phương và báo cáo với cơ quan quản lý cán bộ. Nhà nước phải kiểm soát được tài sản và thu nhập của cán bộ, công chức, viên chức nhất là những cán bộ có chức, có quyền cần quy định việc cán bộ công chức khi mua sắm tài sản có giá trị lớn phải thanh toán qua tài khoản. Thực hiện tốt các việc cải cách hành chính Nhà nước và trong các cơ quan Đảng, loại bỏ những quy định không còn phù hợp, ban hành bổ sung những quy định mới, ngăn chặn hiện tượng gây phiền hà sách nhiễu cho nhân dân. Thực hiện tốt cơ chế 1 cửa và 1 cửa liên thông, không để cán bộ lợi dụng tham nhung tiêu cực.

2. Tăng cường công tác quản lý đảng viên về mọi mặt. Mỗi tổ chức đảng, nhất là chi bộ phải quản lý chặt chẽ đảng viên về tư tưởng, kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao, phong cách lối sống, hoàn cảnh gia đình, điều kiện sinh hoạt. Đảng viên dù bất kỳ ở cương vị nào đều phải sinh hoạt chi bộ hàng tháng đều kỳ, hàng năm phải tự kiểm điểm, báo cáo với chi bộ kết quả, ưu khuyết điểm trong việc thực hiện nhiệm vụ được giao. Trên cơ sở kiểm điểm, phê bình, tự phê bình chi bộ phải đánh giá phân loại theo quy định, trong phê bình, tự phê bình, phải bảo đảm dân chủ công khai và tự giác, khắc phục mọi biểu hiện: hình thức, nể nang, né tranh, nhất là những đảng viên có chức có quyền càng phải thực hiện nghiêm túc hơn. Trên cơ sở đó phát hiện kịp thời những dấu hiệu vi phạm của đảng viên về tham nhũng tiêu cực để ngăn chặn. Những đảng viên có dấu hiệu vi phạm hoặc có đơn thư tố giác phải được đấu tranh phê bình, nhắc nhở thẳng thắn và kịp thời báo cáo cấp ủy cấp trên và cơ quan quản lý cán bộ nếu cán bộ đó là cán bộ có chức có quyền.

3. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán, điều tra truy tố xét xử thi hành án, thực hiện nghiêm túc luật phòng chống tham nhũng. Xây dựng cơ chế phòng ngừa ngăn chặn quan hệ “lợi ích nhóm” chống đặc quyền đặc lợi, khắc phục tư tưởng “tư duy nhiệm kỳ”. Phát huy vai trò giám sát của các cơ quan dân cử, mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị – xã hội và nhân dân trong đấu tranh phòng chống tham nhũng tiêu cực, xây dựng và thực hiện cơ chế khuyến khích và bảo vệ tổ các chức và cá nhân phát hiện, tố cáo tham nhũng tiêu cực. Chỉ đạo thực hiện tốt việc dân chủ công khai ở tất cả các khâu, các công đoạn trên các lĩnh vực: quản lý và sử dụng đất đai, dự án đầu tư xây dựng cơ bản, thu chi ngân sách, công tác tổ chức cán bộ, giải quyết các thủ tục hành chính… bảo đảm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”.

4. Hoàn thiện việc chuẩn hóa cán bộ. Mỗi chức danh cán bộ công chức, viên chức đều có tiêu chuẩn cụ thể. Kiên quyết không quy hoạch và đào tạo bố trí sử dụng cán bộ công chức viên chức không đủ tiêu chuẩn. Nâng cao chất lượng quy hoạch đào tạo bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo quản lý, công chức viên chức, làm tốt việc đánh giá phát hiện nguồn cán bộ có phẩm chất đạo đức, có năng lực trình độ, đáp ứng yêu cầu để đưa vào quy hoạch, không đề bạt bổ nhiệm cán bộ ngoài quy hoạch, cán bộ có dư luận, biểu hiện tham nhũng tiêu cực. Tổ chức tốt việc thi tuyển cán bộ lãnh đạo quản lý, công chức viên chức bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch.

Xử lý nghiêm minh những cán bộ vi phạm tham nhũng tiêu cực, theo đúng quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước công tâm, khách quan, trong sáng, không chịu bất kỳ một sức ép nào của bất cứ một tổ chức cá nhân nào. Kiên quyết và kịp thời thay thế những cán bộ lãnh đạo quản lý vi phạm tham nhũng tiêu cực, xử lý nghiêm minh trách nhiệm của người đứng đầu khi để xảy ra tham nhũng tiêu cực trong tổ chức, cơ quan, đơn vị, địa phương đang trực tiếp quản lý.

Tập trung kiện toàn tổ chức bộ máy, nâng cao chất lượng hoạt động của các cơ quan có chức năng đấu tranh phòng chống tham nhũng, tiêu cực như: Công an, Viện kiểm sát, Tòa án, Tư pháp, Thanh tra, Kiểm tra, Kiểm toán, Nội chính, Ban chỉ đạo phòng chống tham nhũng các cấp… Những cán bộ được chọn trực tiếp làm công tác phòng chống tham nhũng tiêu cực phải là những cán bộ có phẩm chất đạo đức, có ý thức tổ chức kỷ luật, trung thực, liêm khiết, có năng lực nghiên cứu, phát hiện, đề xuất các biện pháp xử lý, có phong cách lối sống giản dị, được nhân dân tín nhiệm.

5. Tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) về “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”. Mọi cán bộ đảng viên phải tự đánh giá về đạo đức, phẩm chất, thực hiện nhiệm vụ được giao, phong cách lối sống, đóng góp vào việc phòng chống tham nhũng trong thời gian qua, tập thể cấp ủy, chi bộ, cơ quan đơn vị góp ý kiến, những cán bộ có biểu hiện hoặc đơn thư tố giác về tham nhũng tiêu cực phải được làm rõ, nếu có tham nhũng tiêu cực phải có kết luận cụ thể và biện pháp xử lý.

Tập trung thanh tra, kiểm tra, thanh tra những lĩnh vực dễ phát sinh tham nhũng tiêu cực. Đẩy mạnh việc “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”, xây dựng lối sống trong sạch, giản dị, liêm khiết. Mỗi cán bộ, đảng viên phải đăng ký làm theo Bác với những nội dung cụ thể và đề ra biện pháp phấn đấu thực hiện. Hàng năm cán bộ đảng viên nhất là cán bộ lãnh đạo quản lý phải được lấy ý kiến đóng góp của cơ quan, đơn vị, địa phương trong đó có vấn đề tham nhũng và tiêu cực.

([i]) Báo cáo tổng kết của Chính phủ tại Hội nghị tổng kết 10 năm thực hiện Luật phòng chống tham nhũng ngày 12-7-2024.

([ii]) Báo cáo Chính trị Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng .

([iii]) Báo cáo tổng kết của Chính phủ tại Hội nghị tổng kết 10 năm thực hiện Luật phòng chống tham nhũng ngày 12-7-2024.

Theo Tạp chí Xây dựng Đảng

Xác Định Nguồn Gốc Tham Nhũng Để Xây Dựng Giải Pháp Phòng, Chống Hiệu Quả

Thời gian qua Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương, nghị quyết và các quyết định phòng, chống tham nhũng, ban hành Luật Phòng, chống tham nhũng, thành lập Ủy ban Phòng, chống tham nhũng trực thuộc Chính phủ v.v…

Sở dĩ có tình hình trên là do chưa xác định đầy đủ nguồn gốc phát sinh tham nhũng để đề ra các giải pháp hữu hiệu ngăn chặn, làm giảm thiểu hành vi tham nhũng, trước khi đấu tranh trực diện với chúng thông qua pháp luật. Hoàn cảnh và môi trường ở Việt Nam hiện nay, ba lĩnh vực sau đây có thể gọi là nguồn gốc cơ bản sản sinh ra các hiện tượng tiêu cực và hành vi tham nhũng:

Một là, mô hình nhà nước lai tạp giữa pháp quyền (30%) và tập quyền tập trung quan liêu (70%), thực hiện thể chế kiểm tra dọc; lại đưa Ủy ban Phòng, chống tham nhũng về trực thuộc cơ quan hành pháp sẽ không tránh khỏi chuyên quyền, độc đoán, quan liêu. Mô hình này như là bà mẹ sản sinh các tệ nạn tiêu cực và tham nhũng và ngày càng nảy nở tràn lan.

Giải pháp giải quyết nguồn gốc thứ nhất này là phải làm xuất hiện tư duy mới về nhà nước để định hướng đổi mới, chuyển từ mô hình nhà nước lai tạp tập trung quan liêu nêu trên sang mô hình nhà nước pháp quyền XHCN phù hợp các nguyên lý của khoa học tổ chức, học thuyết Mác-Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh. Chuyển Ủy ban Phòng, chống tham nhũng từ cơ quan hành pháp sang cơ quan lập pháp kiểm tra giám sát sẽ hiệu lực và hiệu quả hơn.

Hai là, công tác tổ chức cán bộ thời kỳ vận hành nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung bao cấp chưa đổi mới cơ bản để thích nghi với nền kinh tế thị trường XHCN, đã trở thành tập trung quan liêu, do đó thiếu thông tin và thông tin thiếu chính xác, méo mó là điều kiện bất lợi cho việc đánh giá, tuyển chọn cán bộ không chuẩn xác. Mặt khác, chức năng, nhiệm vụ và trách nhiệm của cán bộ nhất là người đứng đầu tổ chức chưa rõ ràng, do đó nhiều nhiệm kỳ và nhiều thập kỷ qua không ai bị cách chức và từ chức, thể chế bầu cử chưa đổi mới phù hợp với nền dân chủ XHCN v.v… là những khe hở để những kẻ cơ hội luồn lách leo cao, để trục lợi tham nhũng, người hiền tài bị loại ra khỏi hệ thống lãnh đạo, dẫn đến chất lượng công tác tổ chức cán bộ ngày càng sút giảm, hiệu lực và hiệu quả hoạt động đạt thấp, làm sản sinh hiện tượng tiêu cực xã hội, lãng phí và tham nhũng ngày càng tăng.

Giải pháp xử lý nguồn gốc thứ hai này cần sao cho phù hợp với môi trường và hệ thống các quy luật kinh tế thị trường XHCN, mới làm xuất hiện đội ngũ cán bộ chất lượng cao, điều hành tổ chức hiệu lực và hiệu quả. Để làm được điều đó cần chuyển từ thể chế Đảng quyết định trực tiếp mọi khâu công tác tổ chức, cán bộ và cả hệ thống tổ chức, chuyển sang “thể chế phân cấp”, Trung ương và Bộ Chính trị chỉ quyết định người đứng đầu tổ chức trực thuộc như: Bí thư, chủ tịch tỉnh, thành phố và bộ trưởng v.v… Đồng thời lãnh đạo định hướng thông qua chiến lược về công tác tổ chức cán bộ, đào tạo, tạo nguồn theo chức năng từng vị trí công tác, phân cấp giao quyền cho người đứng đầu tổ chức và cấp ủy cùng cấp trực thuộc trực tiếp tuyển chọn và xử lý theo luật định người dưới quyền, nhân sự mà mình sử dụng và chịu trách nhiệm mọi hành vi của người dưới quyền và nhân sự mà mình sử dụng trước cấp trên và pháp luật. Đổi mới thể chế bầu cử dân chủ bằng hình thức tranh cử tranh tài, để cử tri căn cứ chương trình tranh cử của ứng cử viên mà lựa chọn, sẽ làm xuất hiện người tài đề cử vào các vị trí lãnh đạo, làm hạn chế những phần tử cơ hội luồn lách, leo cao, làm tha hóa Đảng, thể chế bầu cử, tranh cử sẽ làm cho Đảng vững mạnh, lãnh đạo đất nước phát triển nhanh và bền vững, theo kịp các nước trên thế giới.

Ba là, chế độ tiền lương để kéo dài sự vi phạm giá trị sức lao động như hiện nay cũng là tác nhân gây ra tham ô, hối lộ và tham nhũng. Tiền lương hiện nay chỉ bằng xấp xỉ 50% giá trị sức lao động, vô hình trung có nghĩa Nhà nước và chủ các doanh nghiệp còn nợ người lao động 50% giá trị sức lao động, những người thuộc diện nghèo mà không được hưởng chính sách xóa đói, giảm nghèo. Theo các chuyên gia ở các nước phát triển tổng kết thì “Tiền lương là một trong sáu giải pháp phòng chống tham nhũng”. Chế độ tiền lương ở nước ta hiện nay đã tự đánh mất vai trò phòng, chống tham nhũng, mà trở thành một trong những nhân tố dẫn đến hành vi tham nhũng, bởi vì chế độ tiền lương hiện nay không đủ trang trải sinh hoạt gia đình ở mức tối thiểu, buộc không ít người chấp nhận các hành vi tiêu cực… trước sự bức bách của cuộc sống (“để tự cứu mình”), dần dần dẫn đến tha hóa phẩm chất, đạo đức, bán rẻ lương tâm và sự cống hiến của mình, rồi dấn thân vào tệ tham nhũng.

Giải pháp xử lý nguồn gốc thứ ba là, xác định mức lương tối thiểu sao cho phù hợp giá trị sức lao động (ở thời điểm hiện nay xấp xỉ 2.000.000đ). Từ đó tìm kiếm các nguồn thu ngân sách đáp ứng khoản chi lương phù hợp. Quá trình phát triển kinh tế-xã hội tiếp tục điều chỉnh lương theo biến động giá và tăng lương phù hợp năng suất lao động. Nếu không có bước đổi mới các lĩnh vực nêu trên phù hợp với các tiêu chí khoa học thì Luật Phòng, chống tham nhũng sẽ giảm thiểu hiệu lực, bởi vì Luật không thể tự nó định chế các hành vi tiêu cực và tham nhũng, mà phải thông qua vai trò điều hành của Nhà nước và vai trò của cán bộ công quyền, nhất là người đứng đầu tổ chức. Mặt khác Quốc hội cơ cấu như hiện nay không đủ điều kiện (trình độ và quỹ thời gian) để ban hành luật pháp đạt chuẩn mực để điều hành nền kinh tế thị trường XHCN (nền kinh tế thị trường TBCN hay CNXH đều cần Quốc hội chuyên trách và đại biểu đạt trình độ chuẩn mực) để bảo đảm chất lượng và số lượng các đạo luật, đáp ứng yêu cầu điều chỉnh phát huy mặt ưu điểm và khắc phục mặt khuyết điểm của nền kinh tế thị trường nhằm phát triển nền kinh tế-xã hội bền vững. Điều hành luật pháp phải thông qua con người cụ thể; việc tuyển chọn, đào tạo nhân sự hiện nay không đủ sức để gạt ra khỏi đội ngũ cán bộ những kẻ thiếu tâm và không đủ tầm (mà thực tế đã kiểm nghiệm, minh chứng qua nhiều vụ việc tiêu cực, nhũng nhiễu, hành dân, tham ô, lãng phí và tham nhũng ngày càng tinh vi khắp các lĩnh vực hoạt động đời sống xã hội). Thiết nghĩ, cần phải có bước đổi mới đột phá các lĩnh vực nêu trên sao cho phù hợp với môi trường và hệ thống các quy luật của nền kinh tế thị trường XHCN, làm giảm thiểu các hiện tượng tiêu cực, đồng thời tập trung đấu tranh trực diện thông qua pháp luật để có thể xóa bỏ về cơ bản tệ nạn tham nhũng.

Tiến hành triển khai có hiệu quả các giải pháp nêu trên, chúng ta sẽ thực hiện được bốn không “không muốn tham nhũng, không cần tham những, không dám tham nhũng và không thể tham nhũng” mà các nước đi tiên phong trong việc phòng chống tham nhũng đã tổng kết, là điều kiện làm trong sạch Đảng và làm lành mạnh hóa Nhà nước, đẩy lùi nguy cơ và giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa.

(Theo T/c Xây dựng Đảng)

3,627

Tham Nhũng Và Phòng, Chống Tham Nhũng

Trong khoảng chừng 30 năm nay, nhiều quốc gia, nhiều khu vực đã hao tâm, tổn trí rất nhiều vào việc tìm kiếm những giải pháp hữu hiệu, đưa ra những tuyên bố cứng rắn và mở những chiến dịch rộng rãi để ngăn chặn và đẩy lùi tham nhũng, song hiệu quả còn xa với yêu cầu của sự phát triển và đòi hỏi của nhân loại tiến bộ.

Những hành vi tham nhũng rất đa dạng, phổ biến là hành vi tham ô tài sản, nhận hối lộ, dùng tài sản công để biếu xén, hối lộ; lừa đảo chiếm tài sản của Nhà nước, của nhân dân; lợi dụng chức vụ, quyền hạn nhằm gây khó khăn, phiền hà, sách nhiễu cho tổ chức, cá nhân để vụ lợi, thu vén quyền lợi cá nhân; lập quỹ trái phép, sử dụng ngân sách không đúng quy định để hưởng lợi. Các hành vi tham nhũng đã và đang xảy ra ở hầu khắp các lĩnh vực của đời sống xã hội, từ sản xuất kinh doanh, liên doanh liên kết, đầu tư xây dựng cơ bản, quản lý và sử dụng đất đai, quản lý và sử dụng ngân sách, thuế, ngân hàng, hải quan, xuất nhập khẩu, tư pháp, giáo dục, y tế, thực hiện chính sách xã hội trong quản lý hành chính, công tác xã hội…

Về quy mô của tham nhũng. Có đủ loại, đủ mức độ tham nhũng của cá nhân, của tập thể; tham nhũng không có tổ chức và tham nhũng có tổ chức gồm nhiều đối tượng tham gia.

Những thiệt hại do tham nhũng gây ra rất lớn, có vụ tham nhũng về kinh tế làm thiệt hại cho Nhà nước, nhân dân tới hàng trăm, hàng nghìn tỉ đồng; làm thoái hóa, biến chất hàng loạt cán bộ, đảng viên, kể cả một số cán bộ cao cấp của Đảng và Nhà nước. Cái thiệt hại đáng kể hơn, nặng nề hơn là tham nhũng đã làm xấu chế độ, làm suy giảm lòng tin của nhân dân vào tương lai của một chế độ tốt đẹp mà Đảng ta đang phát động xây dựng.

Đấu tranh phòng, chống tham nhũng

Cũng như các nước khác, cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng ở nước ta đã diễn ra từ khá sớm và được đặc bieejt coi trọng dưới chế độ xã hội mới. Ngay sau khi Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cảnh báo về nạn tham nhuxng, coi đó là một loại “giặc nội xâm”; trong vài thập kỷ gần đây, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã coi tham nhũng là “quốc nạn” và rất tích cực đấu tranh chống tham nhũng.

Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã lên án mạnh mẽ tệ tham nhũng, quyết tâm đấu tranh phòng ngừa và chặn đứng, đẩy lùi tham nhũng. Nhận xét, đánh giá về tình hình tham nhũng và những quốc sách phòng, chống tham nhũng đã được nhiều lần nêu lên trong các nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước, quyết định của các cơ quan chức năng, đoàn thể quần chúng. Những chủ trương, biện pháp phòng, chống tham nhũng của Đảng và Nhà nước đã liên tục được tuyên truyền đến người dân bằng các phương tiện thông tin đại chúng, bằng học tập, hội nghị, hội thảo chuyên đề ở từng cấp, từng ngành, từng khu vực. Tình hình tham nhũng và phòng, chống tham nhũng trở thành đề tài thường xuyên trong các báo cáo chỉ đạo định kỳ của Chính phủ, của các cơ quan chuyên trách chịu trách nhiệm chính về vấn đề này. Đồng thời, nó cũng là những câu chuyện thường ngày phản ánh sự bất bình, bức xúc của mỗi người dân cả ở thành thị lẫn nông thôn, không phân biệt vùng, miền nào.

Các biện pháp phòng, chống tham nhũng đã được triển khai toàn diện, thường xuyên, đợt này nối tiếp đợt khác. Nhiều biện pháp đấu tranh phòng, chống tham nhũng đã được sử dụng, như biện pháp hành chính, kinh tế, giáo dục – cảm hoá, trừng trị bằng pháp luật,… Tuy vậy, tình hình tham nhũng ở nước ta vẫn không giảm.

Vừa qua, cùng với việc Nhà nước ban hành Luật Phòng, chống tham nhũng và Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, ngày 1- 6 – 2006; rồi sự ra đời của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng do Thủ tướng Chính phủ đứng đầu, Hội nghị Trung ương 3, khoá X đã ra Nghị quyết chuyên đề “Về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí”. Nghị quyết đã nhận diện một cách khá đầy đủ thực trạng của công tác phòng, chống tham nhũng và những nguyên nhân chủ yếu của những thiếu sót, khuyết điểm trong công tác này. Đồng thời, Nghị quyết đưa ra những mục tiêu, quan điểm phòng, chống tham nhũng, lãng phí; những chủ trương, giải pháp và cách tổ chức thực hiện một cách toàn diện, sâu sắc.

Những việc làm đó tỏ rõ sự quyết tâm rất cao của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta trong công tác phòng, chống tham nhũng, để làm cho mọi người có đủ bốn điều kiện: 1- không cần tham nhũng, 2- không thể (hoặc rất khó) tham nhũng, 3- không muốn tham nhũng, 4- không dám tham nhũng. Tuy nhiên, tính hiệu quả của các giải pháp này chưa đáp ứng được đòi hỏi của thực tiễn. Hiện nay, ở nước ta, tình hình “tham nhũng, lãng phí vẫn diễn ra nghiêm trọng ở nhiều ngành, nhiều cấp, nhiều lĩnh vực với phạm vi rộng, tính chất phức tạp gây hậu quả xấu về nhiều mặt, làm giảm sút lòng tin của nhân dân, là một trong những nguy cơ lớn đe doạ sự tồn vong của Đảng và chế độ ta”(1).

Kết quả chưa khả quan về công tác phòng, chống tham nhũng vừa qua không thể phủ nhận được tính toàn diện, sâu sắc của các biện pháp phòng, chống tham nhũng mà Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã và đang sử dụng. Điều đó nói lên rằng, liều lượng của những biện pháp ấy chưa đủ mạnh và chưa nhằm trúng khâu đột phá để công tác phòng, chống tham nhũng có hiệu quả.

Theo tôi, nếu chúng ta tìm đúng được khâu đột phá để phòng, chống tham nhũng thì chắc chắn sẽ mang lại những hiệu quả rất lớn.

Việc Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã nỗ lực triển khai những biện pháp phòng, chống tham nhũng nhằm tạo ra đủ 4 điều kiện trên để công tác phòng, chống tham nhũng có hiệu quả là rất cần thiết, rất toàn diện. Bởi lẽ:

Để có điều kiện khiến cho người ta không cần tham nhũng thì phải làm cho Nhà nước giàu mạnh, có thể đáp ứng, thoả mãn những nhu cầu về vật chất và tinh thần cho mọi người dân. Muốn vậy, phải đẩy mạnh phát triển kinh tế – xã hội, phát triển khoa học – công nghệ tiên tiến, xây dựng nền sản xuất có năng suất, chất lượng cao, tạo ra nhiều của cải vật chất cho xã hội. Đó là cả một quá trình lâu dài, cần phải mất nhiều thời gian, không thể có trong một sớm, một chiều.

Để người ta không thể (hoặc rất khó) tham nhũng thì bộ máy tổ chức, quản lý của Đảng, Nhà nước phải rất khoa học, bao gồm cả cơ chế, cả con người và hệ thống luật pháp chặt chẽ không có kẽ hở để tham nhũng không thể luồn lọt. Đồng thời, đời sống dân chủ trong xã hội phải được nâng cao, mọi hành vi tham nhũng đều không lọt nổi con mắt làm chủ của nhân dân. Để đạt được điều đó, Đảng, Nhà nước và nhân dân phải có sự đổi mới và cố gắng rất lớn trong công cuộc đẩy mạnh cải cách hành chính, xây dựng thành công Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân…

Để người ta không muốn tham nhũng thì, hoặc là, phải có một quá trình với thời gian lâu dài để tạo đủ điều kiện thỏa mãn về vật chất và tinh thần cho mọi người dân khiến họ không cần phải tham nhũng như đã phân tích ở trên; hoặc là, xã hội phải tạo ra nếp sống không có tham nhũng, coi tham nhũng là xấu xa, tội lỗi, bất cứ ai tham nhũng cũng đều bị lên án, trừng trị… để gây áp lực tâm lý làm cho người ta không muốn và không dám tham nhũng. Trong hai phương án ấy, chỉ có phương án thứ hai là phù hợp với hoàn cảnh xã hội nước ta hiện nay. Muốn thực hiện được phương án thứ hai này, chúng ta phải ra sức xây dựng một xã hội dân chủ mà ở đó, mọi người sống có đạo đức, trong sạch, liêm khiết.

Để người ta không dám tham nhũng thì, thứ nhất, phải xây dựng được một xã hội đạo đức, thực sự dân chủ, phát huy được tinh thần làm chủ của nhân dân, có thể tố giác và ngăn chặn được mọi hành vi tham nhũng, dù chúng có được che đậy tinh vi đến mấy. Thứ hai, một khi kẻ tham nhũng đã bị tố giác và có những bằng chứng không thể chối cãi thì Nhà nước phải xử lý nghiêm, xử lý nặng, buộc đương sự phải bồi thường thiệt hại, đồng thời tạo được làn sóng phê phán, lên án họ trong từng cộng đồng, trong toàn xã hội.

Như vậy, xét một cách tổng thể hoàn cảnh kinh tế, chính trị và xã hội của nước ta hiện nay, có thể nói, chúng ta chưa đủ sức để triển khai đồng loạt các biện pháp nhằm đưa lại cho mọi người đủ cả 4 điều kiện để không cần tham nhũng, không thể (hoặc khó) tham nhũng, không muốn tham nhũng và không dám tham nhũng. Tuy nhiên, về mặt nhận thức, vẫn phải khẳng định việc tạo đủ 4 điều kiện trên là phương hướng đúng đắn để diệt trừ tận gốc tham nhũng, dù đó là một quá trình lâu dài và đầy gian khổ. Vậy, chúng ta phải làm gì để có thể “hạ nhiệt được cơn sốt” tham nhũng đang ở vào giai đoạn nguy kịch như hiện nay? Theo tôi, chúng ta cần phải thực hiện ngay những biện pháp cần thiết nhằm thoả mãn 2 điều kiện để người ta không muốn tham nhũng và không dám tham nhũng. Trước mắt, chúng ta phải chọn được khâu đột phá và tập trung tác động vào đó tạo động lực cho việc hoàn thành cả hệ thống các biện pháp.

Khâu đột phá phòng, chống tham nhũng

Như đã phân tích ở trên, để thỏa mãn 2 điều kiện khiến cho người ta không muốn tham nhũng và không dám tham nhũng, nếu chờ đợi đến khi nền sản xuất phát triển có khả năng thoả mãn được nhu cầu vật chất và tinh thần của mọi người và Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa được xây dựng hoàn thiện, có hệ thống luật pháp chặt chẽ, hoàn chỉnh không còn kẽ hở cho tham nhũng tồn tại thì sẽ quá lâu. Do vậy, trước mắt chúng ta có thể ưu tiên sử dụng ba biện pháp phù hợp hơn cả là: 1- Phát động xây dựng một nếp sống đạo đức xã hội ” đói cho sạch, rách cho thơm“, tẩy chay tham nhũng, coi tham nhũng là trộm cắp, là nhục nhã và hèn hạ; 2- Trên cơ sở những thành tựu thu được của việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, xây dựng trong xã hội một nếp sống dân chủ, khuyến khích mọi người nói lên sự thật, có cơ chế bảo vệ những người dũng cảm tố cáo, phát hiện bọn tham nhũng; 3- Khi đã phát hiện được tham nhũng, cần phải trừng phạt nghiêm; đặc biệt với những kẻ tham nhũng là cán bộ, đảng viên. Cần xác định đây là khâu đột phá để phòng, chống tham nhũng có hiệu quả.

Cần phải nói thêm rằng, ba biện pháp này chúng ta đã làm và đang làm, nhưng làm một cách dàn trải cùng với các biện pháp phòng, chống tham nhũng khác, chứ chưa coi đó là biện pháp ưu tiên để tập trung giải quyết, tạo đà cho việc thực hiện các biện pháp khác.

Để thực hiện tốt ba biện pháp này, phải xác định khâu đột phá như đã phân tích. Khâu đột phá đó sẽ tác động mạnh vào đối tượng là đảng viên – cán bộ, làm cho họ luôn tự giác, gương mẫu đi đầu trong phòng, chống tham nhũng. Muốn thực hiện được khâu đột phá này, theo tôi, cần tập trung vào hai nhiệm vụ chính sau đây.

Thứ nhất, phải tăng cường chỉnh đốn Đảng, giáo dục cho đảng viên “có lối sống trong sạch, lành mạnh, có kỷ cương, kỷ luật. Không quan liêu, tham nhũng, lãng phí và kiên quyết đấu tranh phòng, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí và các tiêu cực khác”(2). Điều này cũng được ghi rõ trong mục 2, Điều 2 của Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam. Thiết nghĩ, trong xã hội ta, nếu các đảng viên chấp hành nghiêm Điều lệ thì chắc hẳn nạn tham nhũng khó có đất sống. Bởi vì, người đảng viên luôn là tấm gương sáng cho mọi người noi theo. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Đảng viên đi trước, làng nước theo sau”. Nhưng, hiện nay, có một thực tế đau đớn là, hầu hết các vụ tham nhũng ở nước ta đều dính dáng trực tiếp, hoặc gián tiếp đến đảng viên – những người có chức, có quyền. Dù những hành động tham nhũng này có được biện bạch thế nào chăng nữa thì cũng là vô đạo, phi nhân tính, bất nghĩa mà người đảng viên không được phép làm. Do vậy, mấu chốt là ở chỗ, chúng ta cần tăng cường chỉnh đốn Đảng, đổi mới công tác đảng, kiên quyết đưa ra khỏi hàng ngũ của Đảng những đảng viên mắc vào tham nhũng, dù đó là đảng viên thường, hay đảng viên có chức, có quyền ở bất cứ cương vị nào. Chúng ta phải làm mạnh, mạnh từ trên xuống dưới, từ trong Đảng ra ngoài Đảng. Kinh nghiệm của Trung Quốc, như nguyên Tổng bí thư Giang Trạch Dân chỉ rõ: “Dưới soát tận đáy, trên không bịt trần”. Làm không sợ “đụng chạm”, không sợ “liên lụy” như một số người e ngại – hữu khuynh – ngụy biện cho rằng, sẽ làm mất ổn định chính trị nội bộ và các thế lực thù địch sẽ lợi dụng, khoét sâu phá hoại ta từ bên trong.

Đối với người đảng viên – cán bộ, chúng ta phải làm cho họ nâng cao tính tiên phong, gương mẫu, biết “lo trước thiên hạ”, nhận khó khăn về mình và biết nhường nhịn, “hưởng sau thiên hạ”. Làm như thế là đúng với lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: muốn có chủ nghĩa xã hội, trước hết phải có con người xã hội chủ nghĩa. Người đảng viên phải nêu gương trước để trở thành con người xã hội chủ nghĩa có nếp sống trong sáng. Điều này không phải là hô hào, duy ý chí hoặc thần thánh hóa người đảng viên. Ai đó đã ngụy biện rằng, đảng viên cũng là con người, cũng có những nhu cầu, những ham muốn như những người bình thường khác, không thể đòi hỏi ở họ những gì quá đáng; cho nên, họ vẫn có thể có những hành động tham nhũng, tiêu cực! Nếu quả người đảng viên không hơn những người bình thường khác, vẫn có thể tham nhũng, tiêu cực và luôn đặt lợi ích cá nhân của mình lên trên lợi ích của nhân dân, của dân tộc thì tốt nhất, hãy ra khỏi hàng ngũ của Đảng; bởi vì, mục đích của Đảng, Điều lệ của Đảng không cho phép họ làm như vậy. Người đảng viên, nhất thời do hoàn cảnh này, nọ, có thể mắc khuyết điểm, nhưng phải giữ được lòng tự trọng, tự xấu hổ, tự đấu tranh, chuộc lại những lỗi lầm.

Mọi tổ chức đảng, đặc biệt là các tổ chức đảng ở cơ sở, như tổ đảng, chi bộ đảng – nơi mà từng đảng viên trực tiếp sinh hoạt, phải xây dựng được môi trường dân chủ thực sự, có tinh thần đấu tranh nội bộ mạnh mẽ, thẳng thắn phê bình và tự phê bình, tự tìm ra những kẻ tham nhũng, không cần phải nhờ đến cơ quan chức năng hoặc lực lượng nào khác.

Thứ hai, khi đã phát hiện tham nhũng thì phải xử phạt nghiêm minh với mọi đối tượng và có hình thức tăng nặng đối với đảng viên – cán bộ. Điều này, đất nước ta đã có những kinh nghiệm bổ ích. Ngay từ thế kỷ XV, dưới triều Hồng Đức (Vua Lê Thánh Tông), tại Điều 138 của Bộ Quốc triều Hình luật đã ghi: “Quan ty làm trái pháp luật mà ăn hối lộ từ 1 đến 9 quan thì xử tội chém. Những bậc công thần, quý thần cùng những người có tài được giữ vào hàng bát nghị mà ăn hối lộ từ 1 đến 9 quan thì phạt 50 quan; từ 10 đến 19 quan thì phạt từ 60 đến 100 quan; từ 20 quan trở lên thì xử tội đồ và những tiền ăn hối lộ xử phạt gấp đôi nộp vào kho”(3). Còn đối với chế độ ta hiện nay, thiết tưởng, cùng tội trạng như nhau, những đối tượng là đảng viên – cán bộ phải bị xử phạt nặng hơn dân thường; người ở ngôi vị càng cao, càng phải xử nặng. Bởi lẽ, “thượng bất chính, hạ tắc loạn”; nếu không thì quần chúng nhân dân sẽ không phục.

Đối với toàn xã hội, cần đẩy mạnh thực hành dân chủ để mọi người dân có điều kiện kiểm tra, giám sát lẫn nhau, giám sát công việc của các tổ chức, cơ quan mà kịp thời ngăn chặn, phát hiện những hành động tham nhũng. Đẩy mạnh hoạt động của báo chí trong công tác phòng, chống tham nhũng, từ đó có thể tạo ra dư luận và tâm lý xã hội tích cực đối với việc phòng, chống tham nhũng. Cần xây dựng một nếp sống trong sáng, lành mạnh trong xã hội, “phát động tư tưởng quần chúng, làm cho quần chúng khinh ghét tệ tham ô, lãng phí, quan liêu; biến hàng ức, hàng triệu con mắt, lỗ tai cảnh giác của quần chúng thành những ngọn đèn pha soi sáng khắp nơi, không để cho tệ tham ô, lãng phí, quan liêu có chỗ ẩn nấp”(4). Vi ệc tạo ra một dư luận xã hội mạnh mẽ để tẩy chay tham nhũng có tác dụng răn đe rất lớn đối với những kẻ có hành vi tham nhũng. Tác dụng của việc răn đe này nhiều khi còn cao hơn cả sự răn đe của pháp luật.

Thiết nghĩ, thực hiện được khâu đột phá này để phòng, chống tham nhũng có hiệu quả, chúng ta vẫn có thể xây dựng được một xã hội tốt đẹp, có đời sống văn hóa lành mạnh, khi mà nền kinh tế của chúng ta còn chưa phát triển như cố Tổng bí thư Lê Duẩn đã từng nói.

Nhiều Giải Pháp Phòng, Chống Tham Nhũng Vặt

Ông Trần Quốc Thanh, Ủy viên Ban Thường vụ, Trưởng ban Nội chính Tỉnh ủy Hậu Giang

– Thực tiễn cho thấy, ngoài những vụ việc tham nhũng đã được phát hiện và xử lý, trong xã hội chúng ta còn phải đối mặt với những hành vi nhũng nhiễu, vòi vĩnh, tham nhũng nhỏ, mức độ thất thoát ngân sách nhà nước không lớn, không ảnh hưởng nhiều đến dư luận nhưng vẫn xảy ra hàng ngày, trong từng cơ quan, đơn vị chưa được phát hiện, đó là “tham nhũng vặt”.

Đối với Hậu Giang, Tỉnh ủy, UBND tỉnh rất quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo công tác phòng ngừa và đấu tranh chống tham nhũng, tuy nhiên, có một thực tế rằng, tại Hậu Giang hiện vẫn còn xảy ra tình trạng tham nhũng vặt với hình thức đa dạng và khó phát hiện. Có thể kể đến một số cơ quan, lĩnh vực nhạy cảm thường xảy ra như: Bộ phận một cửa; đơn vị thẩm định ở các lĩnh vực cấp phép; cơ quan thuế; quản lý thị trường; tín dụng ngân hàng, hay mua sắm tài sản, văn phòng phẩm.

Chúng tôi nhận thấy rằng, nguyên nhân chủ yếu xảy ra từ việc tại một số cơ quan, đơn vị, người đứng đầu chưa quyết liệt trong lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện công tác phòng, chống tham nhũng; sự thoái hóa, biến chất của một số cán bộ, công chức, viên chức… Bên cạnh đó, công tác tuyên truyền, giáo dục nhận thức của người dân và đội ngũ cán bộ, công chức vẫn chưa thực sự hiệu quả; việc cải cách hành chính vẫn còn chậm và lúng túng, chế độ tiền lương thấp…

Để khắc phục được những hạn chế, chúng tôi cho rằng con người vẫn là yếu tố quan trọng nhất, do đó cần phải quan tâm xây dựng, đào tạo đội ngũ cán bộ đáp ứng tốt yêu cầu của người dân và doanh nghiệp; nâng cao vai trò, trách nhiệm của cấp ủy đảng, người đứng đầu trong công tác phòng, chống tham nhũng; đẩy mạnh việc tuyên truyền, phổ biến pháp luật cũng như tăng cường việc công khai, minh bạch và cải cách hành chính để qua đó hạn chế đến mức thấp nhất tình trạng tham nhũng vặt.

Ông Nguyễn Văn Hiển, Phó trưởng Ban Nội chính Tỉnh ủy Đồng Tháp

– Thời gian qua, với sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo kịp thời của cấp ủy đảng, chính quyền các cấp, sự vào cuộc mạnh mẽ, quyết tâm của hệ thống chính trị, công tác phòng, chống tham nhũng trên địa bàn Đồng Tháp đạt được nhiều kết quả tích cực.

Tuy nhiên, qua rà soát, cũng như phản ánh của người dân, doanh nghiệp, đơn vị cũng ghi nhận tình trạng, hiện tượng hạch sách, nhũng nhiễu, tham nhũng vặt tại một số nơi như: UBND cấp xã có hiện tượng giả mạo, gian dối để lấy tiền chính sách; ngành giáo dục thì xảy ra chạy trường, chạy lớp; ngành y tế thì có việc lo lót, bồi dưỡng cho bác sĩ; trong lĩnh vực đầu tư, xây dựng thường phát sinh thêm một số khoản chi phí không chính thức…

Nguyên nhân của tình trạng này có thể thấy xuất phát từ việc cải cách hành chính còn chậm, cơ chế xin cho trong hoạt động công vụ vẫn còn phổ biến; một bộ phận không nhỏ người dân và doanh nghiệp xem việc quà cáp, lót tay là hiển nhiên, bình thường; sự suy thoái về đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ dễ bị cám dỗ bởi lợi ích vật chất,… dẫn đến tình trạng tham nhũng vặt chưa được ngăn chặn.

Bà Phùng Thị Ngọc Rạng, Phó trưởng Ban Nội chính Tỉnh ủy Kiên Giang

– Hiện nay, chúng tôi thấy rằng, tình trạng tham nhũng vặt đang gây hậu quả cho xã hội, làm biến dạng các hoạt động đúng đắn của bộ máy, làm cho chi phí của người dân, doanh nghiệp gia tăng, tác động tiêu cực đến khối đại đoàn kết dân tộc.

Đối với Kiên Giang, năm 2024, chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh xếp hạng 20/63 tỉnh, thành trong cả nước, trong đó, tính minh bạch ở vị trí 57/63, một số chỉ số thành phần của tính minh bạch và chi phí không chính thức thể hiện nạn “tham nhũng vặt” vẫn đáng lo ngại, ví dụ như: Có đến 89% doanh nghiệp được khảo sát trên địa bàn tỉnh cho rằng các khoản chi phí không chính thức ở mức chấp nhận được, 72% cần có mối quan hệ để có được các tài liệu của tỉnh; 56% cho rằng công việc đạt được kết quả mong đợi sau khi chi trả chi phí không chính thức và 57% cho rằng tình trạng nhũng nhiễu khi giải quyết thủ tục hành chính là phổ biến.

Để khắc phục tình trạng trên, đối với Kiên Giang, chúng tôi cũng đã đề ra một số giải pháp, đó là: Phải tập trung tuyên truyền, phổ biến chủ trương, chính sách pháp luật về phòng, chống tham nhũng, nhất là tham nhũng vặt đến với người dân để người dân, doanh nghiệp không đồng lõa, không tiếp tay cho cán bộ, công chức thực hiện hành vi này. Bên cạnh đó, khuyến khích người dân, doanh nghiệp tố cáo các hành vi tham nhũng vặt và có cơ chế bảo vệ người tố cáo. Ban hành, sửa đổi các văn bản quy phạm pháp luật theo hướng xử lý nghiêm hơn đối với cán bộ, công chức có vi phạm chứ không xử lý qua loa nhằm răn đe mạnh mẽ đối với người vi phạm.

Tham nhũng vặt là gì ? Theo Ban Nội chính Trung ương, hiện nay, tham nhũng ở nước ta diễn biến khá phức tạp, mức độ rất khác nhau, có tham nhũng lớn, tham nhũng nhỏ (tham nhũng vặt) lộ diện, nhưng đến nay vẫn chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu hay một khái niệm chính thống về “tham nhũng vặt”. Tuy nhiên, qua đúc kết trong quá trình phòng, chống đối với loại tham nhũng này, Ban Nội chính Trung ương cho rằng: Tham nhũng vặt chính là hành vi của cán bộ, công chức trong các cơ quan công quyền của Nhà nước lợi dụng chức trách, nhiệm vụ được giao để nhũng nhiễu, gây khó khăn, phiền hà cho người dân và doanh nghiệp trong giải quyết công việc, trong cung cấp dịch vụ công,… nhằm buộc hoặc gợi ý doanh nghiệp, người dân phải lo lót vì mục đích cá nhân. Đặc trưng của loại tham nhũng này là giá trị vật chất không lớn, thường chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, tuy nhiên nó xảy ra phổ biến, gần như trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.

Đ.BẢO ghi nhận