Tài Liệu Xã Hội Học Là Gì? Trình Bày Đối Tượng Nghiên Cứu Của Xã Hội Học Và Mqhệ Giữa Xã Hội Học Với Các Kh Xh Khác

1.XH học là gì? Trình bày đối tượng nghiên cứu của XH học và mqhệ giữa XH học với các KH XH khác.A. xã hội học là gì?#KháI niệm:– xét về mặt thuật ngữ, nhiều nhà nghcứu cho rằng XH học bằng SocietaS ( gốc la tinh) và LogoS( gốc hi laS) có nghĩa là học thuyết trên n/c . Như vậy xhh được hiểu là học thuyết về XH, nghcứu XH.– Xét về mặt ls, Auguste Conte (1798-1857-pháp) đã công khai sinh ra môn KH về các qluật cùa xh với tên gọi là “XHH”. Theo đó xxh được mô tả như 1 hệ thống hoàI chỉnh có cấu trúc xđ (các tập hợp, nhóm, tổng hợp..) được tổ chức và vận hành theo các thiết chế, luôn vận đg, biến đổi có tính ql. Sao đó các nhà xhh khác đã p/triển, n/cứu các vấn đề trong đ/s xh làm cho xhh ngày càng p/tr và phong phú hơn.– Ngày nay, xhh được đinh nghĩa như sau: xhh là 1 KH thuộc các KH xh chuyên n/c các ql ,tinh ql ,các đ/đIểm, các tính chất, các cơ chế nảy sinh, vận/đ, biến đổi và mqhệ giữa con người và con người.– Theo 1số nhà xhh Xô Viết trước đây thì xhh Mác Xít là KH về các ql phổ biến và đặc thù cùa sự v/đg và p/triển cùa các hệ thống xh x/định; là KH về các cơ chế h/đ và các h/thức biểu hiện cùa ql đó trong h/đ cùa các cá nhân, tập đoàn xh, g/c,d/tộc.B. đối tượng n/cứu cùa xhh.

– ĐTNC cùa xhh là xh loàI người trong đó các QHXH (ttxh) được biểu hiện thông qua các hành vi xh giữa người và người hay nói 1 cách khác là n/c mqh hữu cơ, sự a/h lẫn nhau, qhệ biện chứng giữ 1 bên là con người với tư cách cá nhân, nhóm…và 1 bên là xh với tư cách là hệ thống xh, cơ cấu xh.– Nói 1 cách hình ảnh ,vấn để k phảI là ở chỗ làm cho con người và xh ngày càng xa nhau hay nhập lạI làm 1 về mặt lí luận và p/p luận xhh vấn đề là làm sao chỉ ra ql, tính ql, thuộc tính, đ/đIểm cũng như cơ chế ,hình thức,đk cùa sự hình thành ,v/đ và p/triển mqh tắc động qua lạI giữa con người và xh.– Xét trong tiến trình p/ triển cùa xhh, các vấn đề kép: “con người-xh”, “hành động xh-cơ cấu xh”, “vĩ mô-vi mô”, “chủ quan-kquan”, “chủ thể-khách thể”, “tự nhiên-xh”…là trọng tâm trong n/c xhh.– Có thể nói ĐTNC của xh nói 1 cách kháI quát là hành vi xh của con người . chúng ta chỉ có thể hiểu rõ h/vi xh trên cơ sở làm rõ được mối tỷ quan giữa người-người trong các nhóm trong cộng đồng xh dựa trên các dấu hiệu đặc trưng. đồng thời xhh n/c sự tương tắc giữa các nhóm và các cộng đồng xh khác nhau để phát hiện ra tính ql chi phối các qhệ, các mối liên hệ tạo thành hệ thống tổng thể, hoàn chỉnh của xh.c. Quan hệ giữa xhh với các KH khác.# Quan hệ giữa xhh và triết học.– Triết học là KH n/c ql quan trọng nhất của tự nhiên, xh và tư duy. Qhệ giữa xhh & triết học là qh giữa KH cụ thể với thế giới quan KH.Triết học M-LN là nền tảng thế giới quan, là cơ sở p/pháp luận n/c của xhh mác xít. Xhh mác xít vdụng CNDVLS & phép BCDV làm công cụ lí luận sắc bén để n/c & cảI thiện mqh giữa con người & xh.– Trong qh này cần tránh 2 quan niệm của trợ p/tr của xhh:+ Quan đIểm 1: xhh là 1 bộ phận của triết học: chẳng hạn quan đIểm này đã đồng nhất n/c lí luận xhh với CNDVLS trong việc giảI thích đ/s xh. Làm gián đoạn việc kế thừa, vdụng & p/tr 1 cách sáng tạo các tư tưởng , k/n & p/p luận xh có Cac Mác & Angghen, Lênin đã nêu ra từ thế kỷ 19-nay.+ Quan đIểm 2: đặt xhh biệt lập hay đối lập với triết học .xhh không có mlhệ đáng kể gì với triết học . thực chất của quan niệm này cố tình làm ngơ trước 1 thực tế là xhh bao giờ cũng có tính triết học. Nó được thể hiện ở chỗ xhh tìm hiểu bản chất của các sự vật hiện tượng trong triết học & xh & nhận thức ql chung của vận/đg p/tr con người & xh , lý thuyết xhh của Mác là 1sv. Tính triết học trong xhh gắn liền với thế giới quan , tự tư tưởng và tính g/c.– Mqhệ xhh-triết học bằng biện chứng. Các n/c xhh cung cấp những thông tin và phát hiện các vấn đề, bầng chứng mới làm phong phú kho tàng tri thức và p/p luận triết học. Trên cơ sở nắm vững tri thức xhh ta có thể vdụng

Chức Năng Xã Hội Gia Đình Là Gì ?

Khái niệm gia đình:Gia đình là một hình thức tổ chức đời sống cộng đồng của con người,một thiết chế văn hóa-xã hội đặc thù,được hình thành và tồn tại phát triển trên cơ sở các quan hệ hôn nhân, quan hệ huyế thống,quan hệ nuôi dưỡng vá giáo dục…giữa các thành viên

Chức năng xã hội Gia đình bao gồm:

Các chức năng tái sản xuất ra con người.

Chức năng giáo dục

Chức năng kinh tế và tổ chức đời sống gia đình

Chức năng thỏa mãn các nhu cầu tâm – sinh lý, tình cảm

1. Các chức năng tái sản xuất ra con người.

Đây là chức năng riêng của gia đình, nhằm duy trì nòi giống, cung cấp sức lao động xã hội, cung cấp công dân mới, người lao động mới, thế hệ mới đảm bảo sự phát triển liên tục và trường tồn của xã hội loài người.

Chức năng này đáp ứng yêu cầu xã hội và nhu cầu tự nhiên của con người. Nhưng khi thực hiện chức năng này cần dựa vào trình độ phát triển kinh tế – xã hội của mỗi quốc gia và sự gia tăng dân số để có chính sách phát triển nhân lực cho phù hợp. Đối với nước ta, chức năng sinh đẻ của gia đình đang được thực hiện theo xu hướng hạn chế, vì trình độ phát triển kinh tế nước ta còn thấp, dân số đông.

2. Chức năng giáo dục

Nội dung giáo dục gia đình bao gồm cả tri thức, kinh nghiệm, đạo đức, lối sống, nhân cách, thẩm mỹ… phương pháp giáo dục gia đình cũng đa dạng, song chủ yếu bằng phương pháp nêu gương, thuyết phục về lối sống, gia phong của gia đình truyền thống. Chủ thể giáo dục gia đình chủ yếu là cha mẹ, ông bà đối với con cháu, cho nên giáo dục gia đình còn bao hàm cả tự giáo dục.

Giáo dục gia đình là một bộ phận và có quan hệ hổ trợ, bổ sung cho gia đình, nhà trường và xã hội. Trong đó, giáo dục gia đình có vai trò quan trọng được coi là thành tố của nền giáo dục xã hội chung. Dù giáo dục xã hội đóng vai trò ngày càng quan trọng, nhưng có những nội dung và phương pháp giáo dục gia đình mang lại hiệu quả lớn không thể thay thế được.

3. Chức năng kinh tế và tổ chức đời sống gia đình

Đây là chức năng cơ bản của gia đình, bao gồm hoạt động kinh doanh và hoạt động tiêu dùng để thỏa mãn các yêu cầu của mỗi thành viên và của gia đình. Sự tồn tại của hình thức gia đình còn phát huy một cách có hiệu quả mọi tiềm năng về vốn, sức lao động của từng gia đình, tăng thêm của cải cho gia đình và cho xã hội.

Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, với sự tồn tại của nền kinh tế thành phần, các gia đình trở thành một đơn vị kinh tế tự chủ. Đảng và nhà nước đề ra chính sách kinh tế – xã hội, tạo mọi điều kiện cho các gia đình làm giàu chính đáng từ lao động của mình. Ở nước ta hiện nay, kinh tế gia đình được đánh giá đúng với vai trò của nó. Đảng và nhà nước có những chính sách khuyến khích và bảo vệ kinh tế gia đình. Vì vậy mà đời sống của gia đình và xã hội đã được cải thiện đáng kể.

Thực hiện chức năng kinh tế tốt sẽ tạo tiền đề và cơ sở vật chất cho tổ chức đời sống gia đình.

Việc tổ chức đời sống gia đình chính là việc sử dụng hợp lý các khoản thu nhập của các thành viên và thời gian nhàn rỗi để tạo ra môi trường văn hóa lành mạnh trong gia đình, đời sống vật chất của mỗi thành viên được đảm bảo sẽ nâng cao sức khỏe của các thành viên đồng thời cũng duy trì sắc thái, sở thích riêng của mỗi người.

Thực hiện tốt tổ chức đời sống gia đình không những đảm bảo hạnh phúc gia đình, hạnh phúc của từng cá nhân mà còn góp vào sự tiến bộ của xã hội.

4. Chức năng thỏa mãn các nhu cầu tâm – sinh lý, tình cảm

Đây là chức năng có tính văn hóa – xã hội của gia đình. Chức năng này kết hợp với các chức năng khác tạo ra khả năng thực tế cho việc xây dựng hạnh phúc gia đình.

Trong gia đình mọi thành viên đều có quyền và nghĩa vụ thi hành các chức năng trên, trong đó người phụ nữ có vai trò đặc biệt quan trọng bởi họ đảm nhận một số thiên chức không thể thay thế được. Vì vậy, việc giải phóng phụ nữ được coi là mục tiêu quan trọng của cách mạng xã hội chủ nghĩa, cần phải được bắt đầu từ giáo dục.

* Tóm lại, gia đình thông qua việc thi hành các chức năng vốn có của mình có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển xã hội. Các chức năng này có quan hệ mật thiết với nhau, tác động lẫn nhau. Việc phân chia chúng là tương đối. Cấn tránh tư tưởng coi trọng chức năng này, coi nhẹ chức năng kia, hoặ tư tưởng hạ thấp chức năng gia đình. Mọi quyết định tuyệt đối hóa, đề cao quá mức hay phủ nhận hạ thấp vai trò của gia đình đều là sai lầm.

Cơ Cấu, Chức Năng Và Nhiệm Vụ Của Xã Hội Học

2.2. Chức năng của xã hội học

xã hội học có 3 chức năng cơ bản: chức năng nhận thức, chức năng thực tiễn và chức năng tư tưởng.

2.1.1. Chức năng nhận thức

– Thực tế xã hội học là một hệ thống tri thức về lĩnh vực đối tượng mà nó nghiên cứu. xã hội học có vai trò lớn trong việc làm cho tri thức nhân loại phát triển đa dạng, phong phú hơn. Đặc biệt trong việc phát triển tư duy, khả năng sáng tạo, óc phân tích, khái quát trong các hoạt động tư duy của con người. – xã hội học trang bị cho chúng ta tri thức về những quy luật khách quan của sự vận động, phát triển của các hiện tượng, các quá trình xã hội… xã hội học đã góp phần hệ thống hoá những hiểu biết của con người về xã hội, góp phần sáng tạo nên một bức tranh hoàn chỉnh về xã hội, cũng như các bộ phận, các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội. – xã hội học với cơ sở lý luận của mình giúp chúng ta nhận thức sâu hơn về sự phát triển tương lai của xã hội. – Thông qua các nghiên cứu xã hội học thực nghiệm, xã hội học tạo cơ sở khách quan cho việc nhận biết đúng bản chất khuynh hướng, tính quy luật của các quá trình và các hiện tượng xã hội đang hàng ngày xảy ra xung quanh ta. Tất cả cái đó giúp con người nhận thức đúng về điều kiện tồn tại của bản thân và áp dụng nhận thức đó vào quá trình hoạt động thực tiễn theo tinh thần cải tạo xã hội.

2.2.2. Chức năng thực tiễn

Ở mức độ nào đó có thể xem chức năng này như một chức năng cơ bản và phổ biến của xã hội học. xã hội học cung cấp khối lượng thông tin khổng lồ cho các hoạt động thực tiễn của con người. Sự phong phú đa dạng của nhận thức xã hội học cả ở mặt lý luận và thực nghiệm làm cho xã hội học trở thành công cụ quan trọng trong quản lý xã hội. Các tri thức của xã hội học về sự phát triển của xã hội, về xu hướng phát triển của các hiện tượng và các quá trình xã hội là cơ sở quan trọng cho việc đề ra các quyết định quản lý. Các tài liệu thực nghiệm của các cuộc nghiên cứu xã hội học không những chỉ là những thông tin quan trọng trong việc xây dựng, đưa ra các quyết định quản lý, mà còn là phương tiện hữu ích để kiểm nghiệm các hoạt động thực tiễn, hoạt động quản lý con người. xã hội học còn giúp các nhà quản lý hiểu biết đúng nghĩa các hiện tượng, những quá trình mới nảy sinh trong đời sống xã hội, từ đó được những quyết sách đúng đắn phù hợp với yêu cầu khách quan của sự phát triển. xã hội học còn có vài trò đặc biệt quan trọng trong việc dự báo xã hội nhờ vào hệ thống các phạm trù, khái niệm những quy luật của mình mà ít nhiều phản ánh thực tế xã hội, phản ánh sự tác động lẫn nhau giữa các hiện tượng xã hội. xã hội học còn góp phần vào việc nghiên cứu, cải thiện chính bản thân công việc quản lý, cơ quan quản lý cũng như các phương pháp quản lý.

2.2.3. Chức năng tư tưởng

Thực tế, các giai cấp khác nhau quan tâm đến xã hội học cũng khác nhau. Điều đó cho thấy xã hội học có tính giai cấp và tính đảng. xã hội học Mác – Lênin phục vụ cho lợi ích của giai cấp công nhân và đông đảo nhân dân lao động. xã hội học trang bị cho nhân loại những tư tưởng về tính toàn diện của xã hội, về tính tất yếu trong sự phát triển của xã hội, từ đó tạo cho họ niềm tin vào tương lai của loài người và càng vững tin hơn vào hành động của mình. xã hội học còn có vai trò lớn trong việc tổ chức và quản lý các quá trình tư tưởng hông qua việc thường xuyên điều tra thực trạng tư tưởng của quần chúng, giáo dục tư tưởng cũng như các khía cạnh hoạt động tư tưởng của nhân dân lao động. xã hội học còn tạo cho con người thói quen suy nghĩ theo quan điểm khoa học đối với các hiện tượng của đời sống xã hội, nâng tư duy thông thường thành tư duy khoa học trên cơ sở nhận thức sâu sắc xu thế phát triển của các hiện tượng và các quá trình xã hội. Từ đây xã hội học tham gia trực tiếp vào cuộc đấu tranh chống tệ quan liêu, mệnh lệnh, giáo điều, duy tâm trong suy nghĩ và hành động của con người.

Chính Sách Xã Hội Là Gì? Tại Sao Xã Hội Cần Chính Sách Xã Hội?

Việc làm Công chức – Viên chức

1. Khái niệm chính sách xã hội là gì “chuẩn nhất”

Chính sách xã hội là một dạng chính sách được nhà nước ban hành nhằm cung cấp cho người dân những dịch vụ xã hội tốt nhất và các chính sách xã hội nhằm hỗ trợ cho các đối tượng khó khăn của xã hội. Chính sách xã hội là biện pháp được đưa ra bởi đảng và nhà nước nhằm hỗ trợ cho các đối tượng chính sách của xã hội, và phục vụ cho lợi ích chung của xã hội.

Khái niệm chính sách xã hội là gì “chuẩn nhất”

Bạn có thể định nghĩa chính sách xã hội là gì không? Chính sách xã hội được hiểu đơn giản nó là tổng hợp của các phương thức, các biện pháp được các tổ chức chính trị, Đảng và nhà nước đưa ra với mục đích nhằm thỏa mãn cho nhu cầu vật chất và tinh thần của toàn bộ người dân và các chính sách đưa ra phải phù hợp với sự phát triển kinh tế của đất nước, sử phát triển văn hóa và xã hội của đất nước. Thông qua việc đưa ra các pháp luật hay các quy định do nhà nước ban hành để người dân phải thực hiện theo những hướng chính sách đó của nhà nước giúp đất nước phát triển với hướng đi đúng đắn.

Hiện này chính sách ở nước ta có 2 cấp độ khác nhau đang hiện hành đó là:

+ Chính sách xã hội được bạn hành cho những người lao động trong xã hội và nhóm đối tượng này thường được gọi là đối tượng chính sách và đối tượng xã hội.

+ Chính sách về giai cấp là chính sách cho các tầng lớp trong xã hội hiện nay, với các nhóm xã hội cụ thể như: Tầng lớp thanh niên, tang lớp tri thức, chính sách về dân tộc, chính sách tôn giáo.

Chính sách xã hội là các chính sách được ban hành bởi nhà nước nhằm ổn định xã hội thông qua những tác động cụ thể đến các đối tượng khác nhau và được phân theo nhóm để hưởng các chính sách xã hội mà nhà nước ban hành.

2. Chức năng khi đưa ra các chính sách xã hội là gì?

Chức năng của chính sách xã hội cần bao gồm những chức năng sau:

Chức năng khi đưa ra các chính sách xã hội là gì?

+ Ổn định xã hội, thông qua các chính sách khác nhau cho các tầng lớp để giám bới hoặc rút ngắn khoảng cách giàu nghèo. Đem đến cho người dân những điều kiện để cùng được tiếp cận với các dịch vụ cơ bản của một con người được hưởng.

+ Đảm bảo sự an sinh xã hội khi các chính sách được bạn hành cho các nhóm đối tượng cụ thể. Thông qua việc xác định các nhóm đối tượng để đưa ra được chính sách xã hội phù hợp với nhóm đối tượng đó. Đảm bảo tất cả người dân có một cuộc sống tốt đẹp hơn trong sự phát triển chung của xã hội.

+ Giúp người dân có được được những ưu đãi với những đối tượng có hoàn cảnh khó khăn, giúp họ nhanh chóng và có điều kiện để hoàn nhập và được hưởng các dịch vụ xã hội tốt hơn cho chính họ và gia đình họ

+ Thông qua việc nghiên cứu về chính sách xã hội giúp dực báo về tình hình xã hội cho các cấp quản lý và lãnh đạo, từ đó đưa ra được các chính sách thiết thực nhất với người dân, và hỗ trợ tốt nhất giúp an ninh xã hội.

+ Chính sách xã hội của một quốc gia càng hoàn thiện càng đánh giá được rằng quốc gia đó có sự phát triển đồng đều về kinh tế và xã hội.

+ Chính sách xã hội có vai trò quan trọng trong việc phát triển bền vững xã hội qua từng giai đoạn cụ thể phát triển của đất nước. Chính sách xã hội đi song song với chính sách kinh tế để hỗ trợ tốt nhất cho con người và phát triển đồng bộ đất nước.

* Các vấn đề về chính sách xã hội cần quan tâm là gì?

Bạn có biết vấn đề chính sách xã hội là gì và vấn đề nào cần được quan tâm và đưa ra các chính sách trong xã hội hiện nay? Vấn đề trong chính sách xã hội cần được quan tâm và đề cao. Thông qua việc đưa ra các vấn đề trong chính sách xã hội sẽ biết được là đối tượng nào cần được tác động và đối tượng nào cần có sự hỗ trợ của chính sách xã hội, và xã hội đang gặp vấn đề gì mà cần có sự giải quyết bởi các chính sách xã hội để đưa đất nước phát triển. Các vấn đề mà chính sách xã hội cần hướng đến hiện nay là:

+ Các chính sách với người có công và các đối tượng khó khăn trong xã hội

+ Đưa ra được các chính sách xã hội về an sinh xã hội phù hợp với trình độ phát triển kinh tế của đất nước.

+ Nâng cao đời sống tinh thần và vật chất của người dân trong xã hội, đặc biệt là người có công với đất nước.

+ Đa dạng hệ thống an sinh xã hội để thực hiện chức năng toàn diện nhất và đa dạng nhất. Đảm bảo sự phát triển đất nước bền vững của một quốc gia và sự công bằng của các tầng lớp trong xã hội.

+ Tạo điều kiện cho người dân có khả năng tự nâng cao khả năng tự đảm bảo an sinh xã hội cho mình và cho xã hội.

3. Những đối tượng được hưởng chính sách xã hội

Những đối tượng được hưởng chính sách xã hội

Đối tượng chính sách là gì? Đối tượng chính sách bạn có thể hiểu đơn giản là các đối tượng thường thuộc nhóm những người lao động và có hoàn cảnh khó khăn có thể do kinh tế hoặc do các điều kiện tự nhiên bên ngoài, hoặc khó khăn từ chính bản thân họ. Những đối tượng này được hưởng chính sách xã hội từ nhà nước nằm hỗ trợ họ và giúp họ có được quyền lợi bình đẳng với các giai cấp xã hội khác trong xã hội, tăng khả năng tiếp cận với các thông tin, và dịch vụ xã hội tốt hơn.

Hiện nay ở nước ta có các đối tượng chính sách cụ thể như sau:

+ Người dân tộc thiểu số tại nước ta

+ Công dân ưu tú trong sản xuất trực tiếp với 5 năm lao động và nhận được liên tục và trong đó cần có 2 năm là chiến sĩ thi đưa được tỉnh, thành phố, bộ công nhận và có cấp bằng khen.

+ Thương binh, bệnh binh, quân nhân, công an nhân dân tại ngũ được cử đi học, hoặc đã hoàn thành nghĩa vụ từ 12 tháng trở lên và hiện đã xuất ngũ tại khu vực 1.

+ Con thương binh, liệt sĩ, con bệnh binh, con bà mẹ Việt Nam anh hùng, con của thương binh mất sức lao động trên 81%, con của anh hùng lực lượng vũ trang, anh hùng lao động.

+ Quân nhân, công an nhân dân được cử đi học hoặc quan nhân, công an đã hoàn thành nghĩa vụ từ trên 24 tháng và hiện nay đã xuất ngũ.

Nhiều người sẽ thắc mắc và nghe rất nhiều đến hộ chinh sách. Vậy hộ chính sách xã hội là gì bạn có thể định nghĩa không? Hộ chính sách là nói đến hộ gia đình thuộc diện được hưởng các chính sách xã hội hiện nay như:

+ Hộ gia đình là người dân tộc thiểu số

+ Hộ gia đình có người là thương binh bệnh binh hay có công với cách mạng

+ Hộ gia đình bị ảnh hưởng bởi chất độc da cam do chiến tranh để lại

Còn nhiều các họ gia đình trong xã hội thuộc vào diện được hưởng các chính sách xã hội của nhà nước nhằm giúp đỡ và hỗ trợ hộ phần nào đó về an sinh xã hội và có cơ hội để được tiếp cận thông tin và dịch vụ tốt hơn cho họ.

4. Một số các chính sách xã hội hiện nay tại Việt Nam

Các chính sách xã hội hiện nay đang được thực hiện ở nước ta bao gồm những chính sách sách sau:

+ Chính sách với người có công, đưa ra các chính sách ưu đãi và phù hợp với họ nhằm giúp họ tiếp cận được các dịch vụ cơ bản như y tế, giáo dục, đào tạo, và tạo điều kiện để phát triển kinh tế và việc làm cho họ. Qua đó giúp họ ổn định cuộc sống và phát triển hơn về kinh tế của hộ gia đình.

+ Cách chính sách về an ninh xã hội như: Các chính sách về việc làm, chính sách về thu nhập, chính sách giảm thiệu nghèo trên cả nước, chính sách về bảo hiểm xã hội, chính sách trợ giúp những người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, chính sách về các dịch vụ xã hội cơ bản cho người dân (đảm bảo giáo dục tối thiểu, y tế tối thiểu, nước sách, thông tin).

Ngân hàng chính sách xã hội

Ngân hàng chính sách xã hội hiện nay ở nước ta có những chương trình chính sách sau:

+ Cho sinh viên có hoàn cảnh khó khăn.

+ Cho vay hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở, nhà ở kiên cố

+ Cho vay với hộ cận nghèo để phát triển kinh tế

+ Hỗ trợ cho vay tạo việc làm, duy trì và mở rộng việc làm

+ Cho vay để hỗ trợ công tác đào tạo nghề và giải quyết việc làm với người lao động bị thu hồi đất

+ Cho vay để cải tạo nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn

Còn rất nhiều các chương trình cho vay để hỗ trợ người dân trong việc phát triển kinh tế và ổn định cuộc sống của mình.

Qua những chia sẻ trên về “chính sách xã hội là gì?”, hy vọng qua những chia sẻ này sẽ giúp bạn hiểu và có thêm được phần nào đó kiến thức cho bản thân về chính sách xã hội hiện nay.

Các Chức Năng Cơ Bản Của Xã Hội Học Pháp Luật

48973

Chức năng của mỗi bộ môn khoa học được phản ánh một cách phong phú ở mối quan hệ và sự tác động qua lại của chính môn khoa học ấy với hoạt động thực tiễn xã hội. Người ta căn cứ vào nhu cầu của xã hội trong sự nhận thức và tác động đến thực tiễn xã hội để xác định chức năng của một môn khoa học. Chức năng của xã hội học pháp luật được quy định bởi nhu cầu phát triển trong các lĩnh vực của đời sống xã hội và con người. Chức năng của xã hội học pháp luật bao gồm:

Chức năng nhận thức

Chức năng nhận thức của xã hội học pháp luật trước hết thể hiện ở chỗ, Xã hội học pháp luật trang bị cho người nghiên cứu môn học cách thức tiếp cận nghiên cứu các quy luật và tính quy luật của quá trình phát sinh, hoạt động và phát triển của pháp luật bằng trí thức xã hội học có việc nghiên cứu hệ thống các khái niệm, lý thuyết và phương pháp của môn học. Trong khi chỉ ra những quy luật khách quan của sự kiện, hiện tượng pháp luật, xã hội học pháp luật đã tạo ra những tiền đề để nhận thức triển vọng phát triển cao hơn của sự kiện, hiện tượng được nghiên cứu cũng như các mặt, các lĩnh vực sinh nhật của nó.

Hoạt động điều tra, khảo sát xã hội học pháp luật cung cấp bằng chứng thực nghiệm giúp cho việc nhận thức một cách khách quan, Toàn diện, đầy đủ và chính xác về nguồn gốc, bản chất của pháp luật; thực trạng của hệ thống pháp luật; về trình độ nhận thức và hiểu biết pháp luật của giai cấp, các tầng lớp xã hội; về tình hình vi phạm pháp luật ở từng thời điểm, từng khu vực địa lý nhất định.

Nghiên cứu xã hội học pháp luật nhằm làm sáng tỏ các nguyên nhân, điều kiện dẫn đến các hành vi sai lệch chuẩn mực pháp luật, hậu quả của hành vi sai lệch giúp cho các cá nhân, nhóm xã hội nhận thức đầy đủ hơn vị thế, vai trò của mình, từ đó có thái độ, hành vi phù hợp với các quy định chuẩn mực pháp luật, phát huy tính tích cực xã hội, hạn chế hành vi sai lệch.

Xã hội học pháp luật còn là cơ sở phát triển tư duy khoa học, tạo điều kiện hình thành thói quen suy xét mọi hiện tượng xã hội và quá trình phức tạp trên cơ sở thực nghiệm khoa học. Đặc biệt, xem luyện kỹ năng cho các chủ thể có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước tác phong nắm bắt kịp thời thông tin, cụ thể, sâu sắc về các sự kiện, hiện tượng pháp luật xảy ra trong đời sống và xu hướng biến đổi của các quan hệ xã hội, chỉ ban hành pháp luật và quyết định áp dụng pháp luật khi có đầy đủ thông tin và những luận chứng khoa học về nó.

Chức năng thực tiễn của xã hội học pháp luật có quan hệ mật thiết với chức năng nhận thức. Việc nghiên cứu xã hội học pháp luật không chỉ đơn thuần là vận dụng vào nhận thức hiện thực các sự kiện, hiện tượng pháp luật xảy ra trong thực tiễn mà quan trọng là đưa ra các giải pháp đúng đắn, Kịp thời kiểm soát các sự kiện, hiện tượng đó. Sự phong phú, đa dạng của xã hội học pháp luật cả ở mặt lý luận và thực nghiệm làm cho nó trở thành công cụ thiết yếu trong hoạt động xây dựng pháp luật và thực hiện pháp luật. Hoạt động nghiên cứu xã hội học pháp luật, đặc biệt là những hoạt động điều tra, khảo sát của ý nghĩa như là cầu nối các nhà khoa học, các nhà lập pháp, hành pháp, tư pháp với tầng lớp nhân dân, chính từ đây đã tạo ra một quy trình khép kín và hoàn chỉnh về sự vận hành của hệ thống pháp luật, c ca ở mặt lý luận và thực nghiệm làm cho nó trở thành công cụ thiết yếu trong hoạt động xây dựng pháp luật và thực hiện pháp luật. Hoạt động nghiên cứu xã hội học pháp luật, đặc biệt là những hoạt động điều tra, khảo sát của ý nghĩa như là cầu nối các nhà khoa học, các nhà lập pháp, hành pháp, tư pháp với tầng lớp nhân dân, chính từ đây đã tạo ra một quy trình khép kín và hoàn chỉnh về sự vận hành của hệ thống pháp luật, các của các văn bản pháp luật, của các văn bản pháp luật.

Trên cơ sở các kết quả nghiên cứu, xã hội học pháp luật cùng cố và xây dựng những luận cứ khoa học giúp cho đảng và nhà nước hoạch định chủ trương, chính sách, pháp luật đúng đắn, kịp thời phù hợp với tình hình phát triển xã hội ở từng giai đoạn cụ thể. Quá trình xây dựng pháp luật đòi hỏi phải nghiên cứu sâu sắc thực tiễn xã hội, các quá trình kinh tế, chính trị, tư tưởng, tâm lý xã hội; đặc điểm dân cư, nhu cầu của các tầng lớp, các nhóm nghề nghiệp; dân tộc, giới tính, trình độ học vấn. Thông tin từ các cuộc khảo sát xã hội học sẽ là cơ sở quan trọng để xây dựng các quy định pháp luật phù hợp. Các cuộc khảo sát xã hội học pháp luật trên thế giới cho thấy, nhân tố chính làm giảm hiệu quả của pháp luật không phải là do sự thiếu vắng các cơ chế thực hiện pháp luật mà do sự không tương thích của pháp luật với những đòi hỏi khách quan trong việc điều tiết các lợi ích của xã hội. Sự tham gia của đông đảo tầng lớp nhân dân vào công việc xây dựng pháp luật sẽ đảm bảo được đầy đủ và toàn diện lợi ích, Ý nguyện của nhân dân và sẽ tạo điều kiện để đảm bảo thực hiện pháp luật nghiêm minh và có hiệu quả sau này. Thực tế đã cho thấy, các đề xuất về pháp luật như nâng giá điện, thu phí đối với xe mang biển xuống máy tính và Hà Nội, quy định vòng ngực, cân nặng đối với người tham gia giao thông hãy đề xuất xây dựng đường sắt cao tốc Bắc Nam… gặp phải sự phản đối gay gắt của dư luận do không phù hợp với lợi ích của đông đảo người dân.

Hoạt động nghiên cứu xã hội học pháp luật về những mặt, khía cạnh của đời sống pháp luật cung cấp những thông tin được phản ánh từ cơ sở thực tiễn đến các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, giúp họ cập nhật thường xuyên những thông tin cần thiết, kịp thời phát hiện được những mâu thuẫn, xung đột hay những sai lệch từ đó tiến hành sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật.

Chức năng dự báo

– Trên cơ sở kết quả khảo sát thu thập thông tin, xử lý thông tin, các nhà xã hội học pháp luật phân tích tính logic, tính khách quan, nhận diện các sự kiện, hiện tượng pháp luật trong quá khứ và hiện tại, từ đó đưa ra các dự báo khoa học để làm sáng tỏ triển vọng phát triển xa hơn của những sự kiện, hiện tượng pháp luật trong tương lai.

– Bằng phương pháp nghiên cứu thực nghiệm, xã hội học pháp luật thu thập thông tin định tính, định lượng đánh giá dự báo tác động pháp luật giúp các chủ thể có thẩm quyền nhận biết những khả năng có thể xảy ra khi văn bản pháp luật được ban hành. Đặc biệt là đối với các dự thảo, dự án luật, các nghiên cứu của xã hội học pháp luật sẽ làm sáng tỏ các điều kiện cụ thể mà ở đó các văn bản pháp luật đang được dự thảo hoặc sắp ban hành. Từ việc đánh giá tác động pháp luật đối với thực tiễn xã hội, giúp cho các chủ thể có thẩm quyền đưa ra phương án, các giải pháp tối ưu nhất nhằm nâng cao chất lượng của hệ thống pháp luật, chất lượng của các văn bản quy phạm pháp luật được ban hành.

– Dựa vào kết quả đánh giá thực trạng và ý thức pháp luật của các nhóm xã hội, về hành vi sai lệch chuẩn mực pháp luật, tội phạm và hiệu quả của các biện pháp đấu tranh phòng, chống hành vi sai lệch, tìm ra nguyên nhân để đưa ra những dự báo về diễn biến tình hình vi phạm pháp luật và phạm tội trong tương lai, giúp cho các chủ thể có thẩm quyền đưa ra các biện pháp hạn chế hành vi sai lệch và tội phạm.

Chức năng dự báo của xã hội học pháp luật có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với hoạt động xây dựng pháp luật và áp dụng pháp luật. Việc hiểu biết sự kiện hiện tại và xu hướng phát triển đó trong tương lai là yếu tố cần thiết giúp cho các cơ quan nhà nước thông qua các quyết định một cách đúng đắn. Lựa chọn một giải pháp tôi yêu khánh liền với việc nhận thức đúng đắn những hậu quả pháp lý và xã hội của việc ban hành quy định đó, cũng như môi trường mà ở đó quyết định được ban hành sẽ được thực hiện trong tương lai.