Xạ Hình Chức Năng Thận / Top 8 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 2/2023 # Top View | Phauthuatthankinh.edu.vn

Kỹ Thuật Xạ Hình Chức Năng Thận

Chuyên ngành Y học hạt nhân (Nuclear Medicine) là một chuyên ngành tương đối mới của y học. Trong những năm qua nó đã có những bước tiến bộ vượt bậc và đạt được nhiều thành tựu mới trong chẩn đoán và điều trị bệnh nói chung và đặc biệt trong bệnh ung thư.

Nguyên tắc chung của ghi hình y học hạt nhân là: đưa các đồng vị phóng xạ (ĐVPX) hay dược chất phóng xạ (DCPX) vào cơ thể người bệnh để ghi hình (xạ hình) các cơ quan. Các ĐVPX hay các DCPX để ghi hình phải được lựa chọn sao cho khi vào cơ thể nó chỉ tập trung vào cơ quan cần ghi hình, ít hoặc không tập trung phóng xạ ở các tổ chức hay cơ quan khác và phải được lưu giữ ở đó một thời gian đủ dài. Sự phân bố trong không gian của DCPX này sẽ được ghi thành hình ảnh thông qua các thiết bị thu nhận như máy Gamma Camera, SPECT, SPECT/CT, PET và PET/CT. Hình ảnh thu được có tính đặc hiệu của cơ quan cần nghiên cứu. Đây là điểm khác biệt rất quan trọng trong ghi hình bằng kỹ thuật y học hạt nhân so với các kỹ thuật ghi hình không đưa các phóng xạ vào cơ thể người bệnh như CT, MRI… Thực chất xạ hình (Scintigraphy) là phương pháp ghi hình ảnh sự phân bố một cách đặc hiệu của các chất phóng xạ ở bên trong các cơ quan bằng cách đo hoạt độ phóng xạ của chúng từ bên ngoài cơ thể. Xạ hình không chỉ là phương pháp chẩn đoán hình ảnh đơn thuần về hình thái mà nó còn giúp ta hiểu và đánh giá được chức năng của cơ quan và một số biến đổi bệnh lí khác của chính cơ quan đó.

Tại Trung Tâm Y học hạt nhân và Ung bướu (YHHN và UB) Bệnh viện Bạch Mai chúng tôi đã áp dụng nhiều kỹ thuật YHHN chẩn đoán cho hàng nghìn bệnh nhân. Trong bài viết này chúng tôi xin giới thiệu về kỹ thuật xạ hình chức năng thận.

Xạ hình chức năng thận bao gồm việc chụp hình thận hàng loạt và lập thận đồ đồng vị hiện đang được áp dụng rộng rãi ở các khoa Y học hạt nhân. Với việc trợ giúp của máy móc ghi đo hiện đại có độ chính xác cao và sử dụng các chất đánh dấu phóng xạ cho hình ảnh có chất lượng tốt, xạ hình thận chức năng đã trở thành kỹ thuật không thể thiếu được trong phức hợp thăm dò chức năng thận, góp phần nâng cao hiệu quả trong công tác chẩn đoán các bệnh lý thận và đường tiết niệu.

Dùng các chất mà đường bài xuất duy nhất ra khỏi cơ thể là qua thận, đánh dấu đồng vị phóng xạ rồi tiêm tĩnh mạch cho bệnh nhân. Ghi lại hình ảnh động học và đồ thị hoạt độ phóng xạ – thời gian của từng thận, phân tích định tính và định lượng, qua đó sẽ đánh giá được chức năng của từng thận riêng rẽ.

III. CHỈ ĐỊNH VÀ CHỐNG CHỈ ĐỊNH

– Đánh giá chức năng hai thận hoặc từng thận riêng rẽ.

– Đánh giá và theo dõi các bệnh lý ở thận như: tăng huyết áp do thận, viêm đài bể thận, viêm cầu thận, hoại tử ống thận, suy thận cấp…

– Đánh giá và theo dõi tắc đường tiết niệu.

– Nghi thận một bên.

– Đánh giá và theo dõi sau ghép thận.

– Bệnh nhân đang dùng các thuốc ức chế men chuyển (ACE).

– Bệnh nhân đang có thai hoặc cho con bú.

IV. Dược chất phóng xạ và trang bị cần thiết

– Tc-99m – diemethylenetriamine penta-acetic acid (DTPA).

– Tc-99m – mercaptoacetyltriglycine (MAG 3).

Máy SPECT 2 đầu thu Máy SPECT 1 đầu thu

V. QUY TRÌNH THỰC HIỆN + Chuẩn bị bệnh nhân:

– Nhắc bệnh nhân uống nhiều nước (0,5 – 1 lít nước) trong vòng 30 phút – 1 giờ trước khi xạ hình.

– Bệnh nhân cần đi tiểu trước khi ghi đo.

– Tc-99m – DTPA tiêm tĩnh mạch nhanh dạng (bolus).

– Liều dùng cho người lớn: 3 – 15 mCi (111-555 MBq).

– Đo số xung của syringe trước và sau khi tiêm trong thời gian 1 phút cách bề mặt detector 20-30 cm.

– Bệnh nhân nằm ngửa, detector đặt sát lưng phía sau (nếu thận ghép: đặt ở phía trước bụng). Thận và bàng quang nằm trong vùng truờng nhìn của detector.

– Khi nghe tín hiệu bật máy, tiêm nhanh thuốc phóng xạ dưới dạng (bolus) vào tĩnh mạch bệnh nhân.

– Thu nhận thông tin dòng máu đến thận, tiếp sau đó những hình ảnh động học của thận (Pha tưới máu: 6 giây/hình ghi trong 1 phút. Pha động học: 60 giây/hình ghi trong 19 phút). Đặt matrix 128×128.

+ Xử lý hình ảnh: tạo thận đồ (đồ thị hoạt độ phóng xạ – thời gian).

Chọn các hình ảnh thận có số đếm cao nhất để xử lý.

– Hai thận hiện hình ở vị trí giải phẫu bình thường, có cùng kích thước và mật độ tập trung phóng xạ như nhau.

Hình ảnh xạ hình thận bình thường

– Hình ảnh thận đồ: gồm 3 pha

Pha mạch (20-30 giây): đồ thị thận lên nhanh với độ nghiêng gần như thẳng đứng.

Pha tiết (Tmax: 2 – 6 phút): đồ thị tiếp tục đi lên những chậm hơn pha mạch và đạt đỉnh điểm.

Pha bài xuất (T1/2 < 15 phút): đồ thị bắt xuống nhanh trong 3-4 phút đầu, sau đó xuống chậm dần.

– Tính GFR; ERPF; GFR/ERPF.

– Mức lọc cầu thận trung bình (MLCT) đo bằng xạ hình: 125ml/phút

– Mức lọc cầu thận của từng thận

– Mức tập trung phóng xạ của mỗi thận khoảng 4 – 9% tổng hoạt độ phóng xạ tiêm cho bệnh nhân

– Hiện hình 1 trong 2 quả thận.

– Tăng hoặc giảm tập trung phóng xạ ở 1 trong 2 thận.

– Hình ảnh tập trung phóng xạ cao bất thường vùng đài bể thận.

– Các hình ảnh bất thường trên thận đồ.

– Tăng tập trung phóng xạ bất thường ở lách hoặc gan.

1. Bệnh nhân Lê Đức L., nam, 49 tuổi Kết quả: Hai thận có vị trí, hình dáng, kích thước, cấu trúc và chức năng bình thường.

2. Bệnh nhân PHẠM T. B., nữ, 76 tuổi

Kết quả xạ hình chức năng thận: – Thận trái chức năng bình thường

– Thận phải gần như không còn hoạt động chức năng (đồ thị màu xanh đi ngang)

Chẩn đoán: Sau phẫu thuật cắt thận trái

Kết quả: – Thận P có hình dáng, vị trí, kích thước và chức năng bình thường.

VIII. KẾT LUẬN

Xạ hình chức năng thận là 1 kỹ thuật chẩn đoán đơn giản, dễ tiến hành, rất có giá trị trong các bệnh lý của thận, không chỉ cung cấp các thông tin về chức năng riêng rẽ của từng thận qua phân tích định lượng và định tính mà còn cho các thông tin về vị trí, kích thước và giải phẫu của thận. Ngoài ra xét nghiệm này rất có ích trong các trường hợp bệnh nhân mẫn cảm với thuốc cản quang có iốt hoặc urê cao mà không thể chụp X quang được.

PGS.TS Mai Trọng Khoa, BS Nguyễn Xuân Thanh

Chụp Xạ Hình Thận Có Nguy Hiểm Không?

Bài viết được tư vấn chuyên môn bởi Thạc sĩ, Bác sĩ Phạm Mạnh Chung – Khoa Chẩn đoán hình ảnh – Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Hạ Long Xạ hình chức năng thận là kỹ thuật chẩn đoán đơn giản, dễ tiến hành, rất có giá trị trong các bệnh lý của thận. Chụp xạ hình thận không chỉ cung cấp các thông tin về chức năng của từng thận qua phân tích định lượng và định tính mà còn cho các thông tin về vị trí, kích thước và giải phẫu của thận. Ngoài ra xét nghiệm này rất có ích trong các trường hợp bệnh nhân mẫn cảm với thuốc cản quang có iốt hoặc urê cao, không thể chụp X quang được.

1. Chụp xạ hình thận là gì?

Xạ hình là phương pháp ghi hình ảnh sự phân bố một cách đặc hiệu của các chất phóng xạ ở bên trong các cơ quan bằng cách đo hoạt độ phóng xạ của chúng từ bên ngoài cơ thể. Xạ hình không chỉ là phương pháp chẩn đoán hình ảnh đơn thuần về hình thái mà nó còn giúp đánh giá chức năng của cơ quan và một số biến đổi bệnh lí khác của chính cơ quan đó.

Xạ hình chức năng thận bao gồm việc chụp hình thận hàng loạt và lập thận đồ đồng vị hiện đang được áp dụng rộng rãi ở các khoa Y học hạt nhân. Với việc trợ giúp của máy móc ghi đo hiện đại có độ chính xác cao và sử dụng các chất đánh dấu phóng xạ cho hình ảnh có chất lượng tốt, chụp xạ hình thận đã trở thành kỹ thuật không thể thiếu được trong phức hợp thăm dò chức năng thận, góp phần nâng cao hiệu quả trong công tác chẩn đoán các bệnh lý thận và đường tiết niệu.

Nguyên lý kỹ thuật xạ hình chức năng thận là dùng các chất có đường bài xuất duy nhất ra khỏi cơ thể là qua thận, đánh dấu đồng vị phóng xạ rồi tiêm tĩnh mạch cho bệnh nhân. Ghi lại hình ảnh động học và đồ thị hoạt độ phóng xạ theo thời gian của từng thận, phân tích định tính và định lượng, qua đó sẽ đánh giá được chức năng của từng thận riêng rẽ.

2. Chỉ định chụp xạ hình thận

Đánh giá chức năng hai thận hoặc từng thận riêng rẽ.

Đánh giá và theo dõi các bệnh lý ở thận như: tăng huyết áp do thận, viêm đài bể thận, viêm cầu thận, hoại tử ống thận, suy thận cấp…

Đánh giá và theo dõi tắc đường tiết niệu.

Nghi thận một bên.

Chấn thương thận.

Đánh giá và theo dõi sau ghép thận.

Chống chỉ định chụp xạ hình thận t rong trường hợp:

Bệnh nhân đang dùng các thuốc ức chế men chuyển (ACE).

Bệnh nhân đang có thai hoặc cho con bú.

3. Quy trình chụp xạ hình thận

Cần phải loại bỏ trang sức có thể can thiệp vào quá trình quét, có thể phải cởi tất cả hoặc hầu hết quần áo, tùy thuộc vào khu vực nào đang được kiểm tra (có thể được phép giữ đồ lót nếu nó không can thiệp vào xạ hình).

Kỹ thuật viên làm sạch nơi chất đánh dấu phóng xạ sẽ được tiêm trên cánh tay. Một lượng nhỏ chất đánh dấu phóng xạ sẽ được tiêm, thuốc lợi tiểu cũng có thể được tiêm. Bệnh nhân có thể nằm ngửa trên bàn, đứng hoặc ngồi thẳng. Một camera quét lớn sẽ được đặt sát phía trên bụng và quét bức xạ ngay sau khi chất đánh dấu phóng xạ được tiêm. Quét có thể được thực hiện vài phút một lần trong khoảng 30 phút.

Nhiều hình ảnh có thể được chụp từ 1 đến 2 giờ sau khi chất đánh dấu được tiêm. Các bản quét tạo ra hình ảnh khi người theo dõi di chuyển qua thận. Một biểu đồ có thể được thực hiện bằng cách sử dụng thông tin từ quét thận bằng cách vẽ chuyển động của chất đánh dấu qua thận và ghi lại trên biểu đồ. Những bản ghi này cung cấp thông tin về các giai đoạn khác nhau của lưu lượng máu và chức năng thận.

Xạ hình thận thường mất khoảng 30 phút đến 1 giờ. Cần giữ yên trong mỗi lần quét để tránh làm mờ ảnh. Máy ảnh không tạo ra bất kỳ bức xạ nào, vì vậy không tiếp xúc với bất kỳ bức xạ nào nữa trong khi quá trình quét đang được thực hiện.

4. Chụp xạ hình thận có nguy hiểm không?

Bệnh nhân có thể không cảm thấy gì từ vết đâm kim khi tiêm chất đánh dấu hoặc cảm thấy một vết châm chích ngắn khi kim đâm xuyên qua da. Việc quét thận thường không đau. Đôi khi bệnh nhân có thể cảm thấy khó giữ yên trong quá trình quét, có thể thêm gối hoặc chăn khiến bản thân thoải mái nhất trước khi quá trình quét bắt đầu. Cố gắng thư giãn bằng cách thở chậm và sâu.

Phản ứng dị ứng với chất đánh dấu phóng xạ là rất hiếm. Phần lớn các chất đánh dấu sẽ được loại bỏ khỏi cơ thể thông qua nước tiểu hoặc phân trong vòng 1 ngày. Vì vậy cần rửa ngay bồn cầu và rửa tay kỹ bằng xà phòng và nước. Lượng phóng xạ nhỏ đến mức không có nguy cơ cho mọi người tiếp xúc bệnh nhân sau khi thử nghiệm.

Đôi khi có thể xảy ra đau nhức hoặc sưng tại vị trí tiêm. Những triệu chứng này thường thuyên giảm bằng cách áp miếng gạc ẩm, ấm lên cánh tay.

Luôn có một rủi ro rất nhỏ đối với các tế bào hoặc mô khi tiếp xúc với bức xạ nào, gồm cả mức độ phóng xạ thấp do chất đánh dấu phóng xạ được sử dụng cho xạ hình.

Kỹ thuật Xạ hình thận đang được Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec ứng dụng trong chẩn đoán các bệnh lý viêm đường tiết niệu và suy thận. Vinmec sử dụng hệ thống máy SPECT/CT Discovery NM/CT 670 Pro với CT 16 dãy hiện đại nhất Đông Nam Á, do hãng thiết bị y tế hàng đầu thế giới GE Healthcare (Mỹ) sản xuất. Đội ngũ bác sĩ, kỹ thuật viên tại Vinmec giàu kinh nghiệm, được đào tạo bài bản trong và ngoài nước, đem lại hiệu quả tối đa cho quá trình chụp.

Để được tư vấn trực tiếp, Quý Khách vui lòng bấm số HOTLINE hoặc đăng ký trực tuyến TẠI ĐÂY.

Nghiên Cứu Mối Liên Quan Giữa Biến Đổi Mức Lọc Cầu Thận Trước Và Sau Ghép Đo Bằng Xạ Hình Chức Năng Thận Với Một Số Yếu Tố, Chỉ Số Trước Ghép

t¹p chÝ y – d−îc häc qu©n sù sè chuyªn ®Ò ghÐp t¹ng – 2018

99m

Tc-DTPA.

Relation between Allograft Renal Function before and after Kidney

Transplantation by 99mTc-DTPA SPECT with some Pretransplant Indices Summary Objectives: To assess the relation between allograft renal function before and after kidney 99m transplant by Tc-DTPA SPECT with age, gender, relation, period of dialysis, HLA matching, donor allograft renal function Subjects and methods: 34 kidney recipients had been measured allograft renal function 3 months after kidney transplant and saved donor baseline allograft renal 99m function before nephrectomy by Tc-DTPA SPECT. Reversed renal allograft function change was significantly higher in recipients with the HLA matching ≥ 3 allen, lower donor allograft renal function, lower allograft renal function of harvested kidney than the other recipients; was not significantly associated with age, gender, relation and period of dialysis. * Keywords: Kidney transplantation; Allograft renal function;

ĐẶT VẤN ĐỀ Ghép thận được coi là biện pháp điều trị thay thế thận tối ưu vì sau ghép thận thành công, tất cả các chức năng của thận được phục hồi, chất lượng cuộc sống của bệnh nhân (BN) được cải thiện. Quá

99m

Tc-DTPA; HLA matching.

trình hồi phục chức năng thận sau ghép chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố sinh bệnh học như yếu tố ngoại khoa, miễn dịch, ngoài ra còn chịu ảnh hưởng của những yếu tố cơ bản gắn liền với từng cặp ghép như tuổi, giới, mức độ hòa hợp HLA,

1. Bệnh viện Quân y 103 Người phản hồi (Corresponding): Phạm Quốc Toản (toannephro@gmail.com) Ngày nhận bài: 20/08/2018; Ngày phản biện đánh giá bài báo: 27/09/2018 Ngày bài báo được đăng: 05/10/2018

58

* Tiêu chuẩn loại trừ: – Nguồn thận ghép: từ người cho chết não. – BN có biến đổi bất thường chức năng thận, có nhiễm khuẩn tại thời điểm làm xạ hình chức năng thận. – BN có rối loạn về tâm thần và các bệnh lý thần kinh thực tổn khác. – BN không được theo dõi đầy đủ theo kế hoạch. – BN không đồng ý tham gia nghiên cứu. 2. Phương pháp nghiên cứu. * Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu tiến cứu kết hợp hồi cứu, mô tả cắt ngang, có so sánh trước sau. * Nội dung nghiên cứu: – Lập mẫu bệnh án nghiên cứu thống nhất. – Hồi cứu những dữ liệu về cặp ghép tại thời điểm ghép thận. – Chỉ định và làm xạ hình chức năng thận với 99mTc-DTPA. + Thiết bị: máy Gamma camera SPECT (Hãng GE), collimator năng lượng thấp, độ phân giải cao. + Thuốc phóng xạ: . Đơn vị phóng xạ: 99mTc có: T1/2 = 6 giờ; mức năng lượng Eγ = 140 keV. . Hợp chất đánh dấu: DTPA có thời gian bán thải sinh học < 2,5 giờ, 90% đào thải ra khỏi cơ thể sau 24 giờ. . Liều dùng: 0,3 mCi/kg cân nặng, liều tối thiểu 5 mCi; tối đa 15 mCi. + Các bước tiến hành: . Tách chiết 99mTc từ bình sinh xạ Mo/Tc, lấy dung dịch 99mTc pertechnetate bơm vào lọ kít DTPA, lắc nhẹ, ủ trong 59

t¹p chÝ y – d−îc häc qu©n sù sè chuyªn ®Ò ghÐp t¹ng – 2018 15 phút ở nhiệt độ phòng. Liều 99mTc-DTPA cho mỗi BN 5 – 15 mCi trong thể tích < 0,5 – 1 ml. . Tư thế BN: nằm ngửa. . Tư thế ghi hình: mặt trước, vùng hố chậu hay vùng có thận ghép. . Tiêm bolus tĩnh mạch liều đã chuẩn bị.

99m

xuất (excrestion): 60 giây/hình x 20 – 30 hình. – Biến đổi MLCT = (MLCT sau ghép MLCT trước ghép) x 100/MLCT trước ghép. * Xử lý số liệu và đạo đức y học trong nghiên cứu:

Tc-DTPA

– Số liệu được xử lý bằng phần mềm SPPP 16.0.

. Ghi hình ngay khi tiêm: pha tưới máu (flow): 1 giây/hình x 60 hình; pha lọc – bài

– Nội dung nghiên cứu không vi pham đạo đức y học.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU Bảng 1: Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu. Đặc điểm Nam/nữ Tuổi (năm)

BN ghép thận

Người hiến

25/9

22/12

37,3 ± 8,8

37,9 ± 10,8

MLCT của thận hiến (ml/phút)

122,9 ± 21,9

MLCT của thận hiến (ml/phút)

56,8 ± 11,1

Lọc máu/chưa lọc máu Thời gian sau ghép (tháng) Số alen HLA hòa hợp

– Đối tượng nghiên cứu cả BN và người hiến thận, nam chiếm đa số (74% và 65% so với nữ 26% và 35%). – Số cặp ghép có alen HLA hòa hợp là 3 chiếm tỷ lệ cao nhất (14 BN = 41,2%), các trường hợp khác chiếm tỷ lệ thấp hơn. Bảng 2: MLCT của BN sau ghép đo bằng xạ hình thận. MLCT (ml/phút)

Số lượng (n = 34)

Tỷ lệ (%)

< 90

16

47,1

90 – < 120

12

35,3

≥ 120

6

17,6

34

100

98,7 ± 24,1 (67,9 – 159,8)

t¹p chÝ y – d−îc häc qu©n sù sè chuyªn ®Ò ghÐp t¹ng – 2018

Biểu đồ 1: MLCT của thận ghép trước và sau ghép đo bằng xạ hình thận. Tất cả BN sau khi ghép thận có MLCT sau ghép đều tăng so với MLCT của thận hiến trước ghép. Bảng 3: Biến đổi MLCT thận ghép của BN. Biến đổi MLCT (%)

Số lượng (n = 34)

Tỷ lệ (%)

< 50

9

26,5

50 – < 100

13

38,2

≥ 100

12

35,3

98,9 ± 24,8

Nữ

98, 5 ± 23,7

Nam

102,2 ± 25,4

Nữ

89,1 ± 17,7

Cùng

101,4 ± 25,2

Khác

93,3 ± 23,4

Thời gian

< 36 tháng

98,4 ± 24,6

lọc máu trước ghép

98,2 ± 25,2

Giới tính người hiến

Giới tính người nhận

Huyết thống

Biến đổi MLCT

p

78,8 ± 47,7 85,8 ± 47,6

60,1 ± 43,7 82,2 ± 50,5

76,9 ± 46,4 61,5 ± 56,3

83,7 ± 49,8

t¹p chÝ y – d−îc häc qu©n sù sè chuyªn ®Ò ghÐp t¹ng – 2018 Bảng 5: Tương quan giữa MLCT, mức biến đổi MLCT đo bằng xạ hình thận sau ghép với tuổi người hiến, tuổi người nhận. Chỉ số

MLCT đo bằng xạ hình

Biến đổi MLCT

r

p

r

p

Tuổi người hiến

– 0,33

0,172

Tuổi BN ghép

– 0,229

0,277

Tổng số alen HLA phù hợp 0,05

-0,464

< 0,05

– MLCT của người hiến: MLCT của thận hiến tương quan không có ý nghĩa với MLCT trên xạ hình sau ghép, nhưng có tương quan nghịch có ý nghĩa với mức biến đổi MLCT sau ghép. – MLCT của thận hiến ở giới hạn thấp sẽ có mức biến đổi MLCT cao. 62

Suy Thận, Giảm Chức Năng Thận Vì Dùng Thực Phẩm Chức Năng?

Có phải thực phẩm chức năng mà tôi đang sử dụng gây suy thận?

Chào bạn, Health+ đã gửi câu hỏi của bạn cho chúng tôi – một công ty kiểm định thực phẩm chức năng (TPCN) uy tín tại New York, Mỹ. Các chuyên gia chúng tôi trả lời như sau:

Tác động của TPCN lên chức năng thận phụ thuộc vào vấn đề sức khỏe tiềm ẩn của bạn và loại chất mà bạn bổ sung. Một số chất bổ sung đã được chứng minh là có thể gây ra các vấn đề về thận. Một nghiên cứu năm 2012 đã chỉ ra 15 loại thảo mộc và chất bổ sung có thể gây hại cho thận, trong đó bao gồm các loại phổ biến như chromium, creatine (thường dùng trong các sản phẩm tăng cường cơ bắp cho người tập thể hình), cam thảo, vỏ cây liễu (willow bark), quả nam việt quất, vitamin C và yohimbe (được sử dụng tại một số quốc gia thuộc khu vực Tây châu Phi nhằm tăng cường chức năng tình dục).

Nên đọc

Cụ thể, bổ sung vitamin C hàng ngày với liều cao (1gr/ngày hoặc nhiều hơn) làm tăng nguy cơ sỏi thận, đặc biệt là ở những người có tiền sử mắc căn bệnh này. Tương tự, sử dụng TPCN có thành phần nam việt quất quá liều cũng có thể gây tái phát sỏi thận, theo một nghiên cứu đăng trên Tạp chí Tiết niệu năm 2001.

Ở những người bệnh đái tháo đường bị biến chứng tại thận, bổ sung vitamin B (folate, B6 và B12) liều cao hàng ngày có thể làm giảm chức năng thận và làm tăng gấp đôi nguy cơ nhồi máu cơ tim và tử vong sớm.

Một số loại khoáng chất như kali, calci, magne và phospho cũng có thể tác động tiêu cực đến chức năng thận.

**Trong lĩnh vực thực phẩm chức năng, chúng tôi tiến hành thử nghiệm các sản phẩm có mặt trên thị trường và lấy doanh thu từ việc công bố kết quả trên ấn phẩm trực tuyến. Có tem của chúng tôi trên nhãn là một trong những tiêu chí để nhận diện sản phẩm TPCN an toàn, hiệu quả. ConsumerLab.com là một công ty có trụ sở tại White Plains (New York, Mỹ), được thành lập vào năm 1999 bởi Tod Cooperman. ConsumerLab.com hoạt động nhằm mục đích “Xác định các sản phẩm sức khỏe và dinh dưỡng có chất lượng tốt nhất thông qua kiểm nghiệm độc lập”.

Quỹ Thận Quốc gia Mỹ khuyến cáo những người mắc bệnh thận, đang phải chạy thận nhân tạo hoặc những người đã ghép thận nên tránh các loại thảo dược và chất bổ sung nêu trên. Tổ chức này cũng cảnh báo rằng một số khoáng chất, chẳng hạn như kali, có thể “giấu mặt” trong các loại thảo dược không nằm trong danh sách có hại (như nghệ, hoa anh thảo, lá tỏi, quả nhàu…).

thực phẩm chức năng bị nhiễm kim loại nặng cũng có thể là nguyên nhân gây ra các vấn đề về thận. Tiếp xúc lâu dài với cadmium có thể tích tụ trong thận, gây tổn thương thận không phục hồi và gây suy yếu khung xương. Thử nghiệm của chúng tôi cho thấy nồng độ cadmium khá cao trong một số sản phẩm bột cacao được bán trên thị trường Mỹ. Vì thế, bạn nên lựa chọn và sử dụng các sản phẩm thực phẩm chức năng đã được kiểm định bởi một tổ chức uy tín, như chúng tôi để đảm bảo sản phẩm không vượt quá giới hạn kim loại nặng.

Kim Chi H+