Www M Giải Pháp Việt Vn / Top 5 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 2/2023 # Top View | Phauthuatthankinh.edu.vn

Giải Pháp Cho Những Tòa Nhà Xanh Ở Vn

Địa chỉ : bình dương

Số điện thoại : 0966176079

Nơi rao : Bắc Giang

Giá : Liên hệ

Giải pháp cho những tòa nhà xanh ở VN

Những văn phòng “xanh” giờ xuất hiện càng nhiều, thay thế cho những văn phòng truyền thống. Giải pháp văn phòng xanh không chỉ dừng lại ở việc được trang bị những thiết bị hiện đại mà bản thân mỗi người đều có thể góp phần tạo ra một bán máy phát điện 3 pha văn phòng xanh cho mình.

Việc này không chỉ nâng cao hiệu quả công việc và chất lượng sống mà còn là giải pháp giảm chi phí cho văn phòng, bán máy phát điện 3 pha cũ giảm tiêu thụ các nguồn tài nguyên thiên nhiên, giảm những tác động tiêu cực tới môi trường.

Tiết kiệm năng lượng chiếu sáng

Theo Viện Khoa học Công nghệ, trong toàn bộ các hệ thống kỹ thuật sử dụng năng lượng phục vụ cho hoạt động của các tòa nhà công sở, tổ hợp văn phòng, điện chiếu sáng là một trong những hệ thống chiếm tỷ lệ sử dụng lớn trong cơ cấu tiêu thụ năng lượng điện trong các tòa nhà. Hiện nay sản lượng điện cần cung cấp cho các tòa nhà gần 13.924 tỷ kWh, tương đương với 48% cơ cấu điện thương phẩm.

Để đảm bảo hiệu quả kinh tế của các tòa nhà văn phòng, thạc sĩ Nguyễn Sơn Lâm – Viện KH-CN đã đưa ra một số giải pháp chiếu sáng trong văn phòng nhằm sử dụng hiệu quả năng lượng.

Cụ thể, nên tận dụng tối đa ánh sáng tự nhiên, chỉ chiếu sáng theo công việc, tức là cung cấp độ chiếu sáng tập trung vào diện tích thực nơi công việc được thực hiện để việc chiếu sáng chung cho văn phòng chỉ giữ ở mức thấp. Chẳng hạn như gắn đèn vào các máy móc hoặc có thể sử dụng đèn bàn. Ngoài ra, nên chọn đèn, bố trí đèn và sử dụng bộ đèn hiệu suất cao; giảm điện áp dây dẫn chiếu sáng.

Đối với những thiết bị sử dụng điện nên dùng thiết bị hẹn giờ, bộ chuyển mạch ánh sáng khuếch tán hoặc mờ và bộ cảm biến chiếm chỗ; sử dụng bộ điều khiển thông minh IPNET giúp hệ thống chiếu sáng hoạt động hợp lý, hiệu quả hơn. Đặc biệt, luôn phải bảo dưỡng hệ thống chiếu sáng định kỳ.

Sử dụng năng lượng cho chiếu sáng ngày càng chiếm tỷ trọng lớn và tăng nhanh đáng kể trong tổng nhu cầu về sử dụng năng lượng trong các tòa nhà, vì vậy việc sử dụng năng lượng dành cho hệ thống chiếu sáng hiệu quả, tiết kiệm sẽ hạn chế được sự tăng lượng điện tiêu thụ, giảm các chi phí kinh tế, giảm gánh nặng cho xã hội, đồng thời giảm lượng phát thải khí nhà kính và một số chất độc hại khác vào môi trường.

Xanh hóa văn phòng

Bệnh văn phòng xuất hiện ngày càng nhiều, ngoài nguyên nhân làm việc căng thẳng còn do môi trường văn phòng thiếu khí trời. Chính vì thế, để tạo ra một văn phòng xanh thì không thể thiếu cây xanh. Cây xanh trong văn phòng không tốn nhiều diện tích, có thể làm đẹp không gian văn phòng và có thể tạo ra nhiều khí oxy, mang lại tác dụng phân giải các chất độc trong không khí, khí nóng thải ra từ máy móc và con người làm việc trong không gian đó, giúp ngừa được những “hội chứng bệnh văn phòng” – một tình trạng khí thải từ thiết bị văn phòng dẫn đến cảm lạnh cơ quan hô hấp, nhiễm bẩn mắt và virus dễ gây dị ứng.

Chính vì thế, theo lời khuyên của các chuyên gia, việc đặt cây xanh trong văn phòng tốt hơn các loại cây ra hoa. Một số loại cây được khuyến nghị để trong văn phòng như cây trầu bà vì nó có khả năng hút khí thải độc từ máy vi tính, photocopy; cây hồng môn có môi trường sống mát mẻ và hút các khí độc; cây dương xỉ có thể loại bỏ một loại khí không tốt cho sức khỏe có từ thảm mới.

Không chỉ có cây xanh, mỗi người đều có nhiều cách góp phần tạo ra môi trường xanh trong văn phòng bằng chính hành động của mình. Chẳng hạn như chuyển máy tính sang chế độ “ngủ” khi không làm việc để tiết kiệm năng lượng, hoặc tăng nhiệt độ máy lạnh để giảm lượng khí thải ra môi trường.

Với sản phẩm cân điện tử của Cty cân điện tử Việt Nhật và May bien tan sẽ dúp tiết kiệm điện nên hãy dùng máy biến tần: Công ty khăn ướt vina chuyên sản xuất, gia công các loại khăn ướt giá rẻ, khan uot bạn có muốn mua cân điện tử.

Cân phân tích điện tử dùng Bộ quả cân chuẩn chuyên dùng để cài đặt cân điện tử – bộ quả cân chuẩn f1 và bộ quả cân chuẩn e2.

Máy biến tần dúp bảo vệ động cơ và tiết kiệm điện hãy nên dùng may bien tan: Cty Đại Quang chuyên mua bán máy biến tần các loại từ máy biến tần 1 pha cho đến máy biến tần 3 pha. Đặc biệt hơn chúng tôi cung cấp cả máy biến tần giá rẻ.

Cân phân tích giá rẻ là dòng cân điện tử chuyên dùng được coi là cân phân tích phòng thí nghiệm có các loại như: cân phân tích 2 số lẻ hay loại khác là cân phân tích 4 số lẻ và cao cấp hơn là loại cân phân tích 5 số lẻ. Tân Nam Phát – Can dien tu ha noi hang đầu, Cân điện tử tại hà nội bạn cần mua can dien tu o ha noi.

quần lót nam giá sỉ tphcm, quần lót nam giá rẻ ở tphcm, Cơ sở sản xuất quần lót nam, Công ty sản xuất quần lót nam, Xưởng sản xuất quần lót nam, bán quần lót nam giá rẻ, cung cấp sỉ quần lót nam,

Nếu các bạn quan tâm đến cân bàn điện tử trong ngành nông sản đặc biệt là cân bàn điện tử giá rẻ hoặc loại cân vàng điện tử dùng trong ngành vàng bạc đá quý cũng như cân phân tích điện tử dùng trong phòng thì nghiệm, đặc biệt nhất là cân treo điện tử Xin liên hệ cân điện tử Tiến Đạt. Công ty cân điện tử Tiến Đạt chuyên sản xuất – mua bán – sửa chữa các sản phẩm can dien tu.

bạn tìm căn hộ cho thuê ở biên hòa thì xin hạy liên hệ chúng tôi để tìm thuê căn hộ chung cư tại biên hòa ưng ý như thể cho thuê nhà nguyên căn biên hòa . đặc biệt nhiều người đang có nhu cầu cho thuê nhà giá rẻ tại biên hòa, và dù thị trường có đến đâu vẫn có đủ cho thuê nhà tại biên hòa. Kể cả là thị trường mới nổi vể căn hộ dịch vụ cho thuê tại biên hòa vẫn hấp dẩn hơn cho thuê căn hộ biên hòa. Tại Biên Hòa đang nổi lên cho thue can ho amber court và cho thuê căn hộ The Pegasus Plaza.

Ngành vệ sinh công nghiệp đang phát triển mạnh với may xoa san be tong đặc biệt là may xoa san be tong gia re, không những vậy cùng theo đó là máy đánh bóng bê tông, hiện chúng tôi đang cung cấp nhiều loại may danh bong be tong để phục vụ xây dựng công nghiệp. Ngoài hai máy này còn có máy mài nền bê tông cũng như may mai san để phục vụ công trình xây dựng cùng Máy mài sàn bê tông mà bạn chựa thể biết hết công năng May mai nen .

Cân bàn điện tử của can dien tu Việt Nhật được dánh giá cao cùng cân phân tích điện tử và cân treo điện tử cũng như cân mini điện tử. Đó mới chỉ là một trong rất nhiều sản phẩm của cân điện tử Việt Nhật các sản phẩm dùng cân nông sản như cân bàn điện tử hoặc cân sàn điện tử đang dược bán nhiều nhất cùng với cân treo điện tử hay cân phân tích điện tử dùng trong phòng thí nghiệm và cân vàng điện tử cao cấp sang trọng.

Hiện nay nhu cầu mua bán cân điện tử ở bình dương ngày càng nổi trội và rầm rộ. Chúng tôi chuyên bán cân điện tử ở bình dương chất lượng uy tín, các bạn có thể tìm mua cân điện tử ở bình dương mà không cần đi đâu xa vì cân điện tử giá rẻ tại bình dương chúng tôi luôn chất lượng. Cân điện tử tại bình dương ngoài ra chúng tôi còn sửa cân điện tử ở bình dương nhanh chóng tiện lợi…

Căn hộ Novaland quận 2 đang thịnh hành VD: căn hộ Victoria Village quận 2 một trong những dự án hút hàng bán căn hộ Novaland quận 2. Dự án Novaland quận 2 đang rất hút nhà đầu tư như dự án Swan Bay Nhơn Trạch của chủ đầu tư Swan City, cũng chủ đầu tư này đang phát triển dự án Swan Park Nhơn Trạch, dự án Swanpark Đông Sài Gòn đang phát triển song song với dự án Swan Bay Đại Phước. Swan Park Đông Sài Gòn được kỳ là thành phố vệ tinh thông minh nhất cho TpHCM, từ đó Swan Park Đồng Nai sẽ kéo lên Swan Bay đảo Đại Phước.

Máy Lọc Nước 3M Hoa Kỳ Tại Việt Nam

Mối quan tâm chung về nguồn nước của các cư dân tại chung cư.

Đa số các cư dân sinh sống tại chung cư cần một nguồn nước sạch để uống trực tiếp, đáp ứng nhu cầu uống nước sạch, bảo đảm an toàn cho sức khỏe.

Đồng thời họ cũng cần một nguồn nước sạch để sinh hoạt hàng ngày như: nấu ăn, rửa chén, tắm rửa, giặt đồ… tránh tình trạng dùng phải nguồn nước ô nhiễm gây ố vàng quần áo hoặc gây ra các bệnh lý về da.

Những thắc mắc hay gặp phải khi lắp đặt máy lọc nước tại chung cư.

Làm thế nào để giải quyết tình trạng nguồn nước thường xuyên “bẩn” tại các tòa nhà chung cư.

Hầu như 100% chung cư sử dụng nước máy, có bồn chứa và hệ thống đường ống chung, thậm chí một số khu vực tại thành phố lớn có nguồn nước máy bị nhiễm bẩn cao. Vậy làm sao để đảm bảo nguồn nước khi sinh hoạt đủ sạch đáp ứng cho các nhu cầu sử dụng?

Các hãng máy lọc nước thông minh hiện nay đã chế tạo thành công các thiết bị lọc nước tổng đầu nguồn, cam kết mang đến nguồn nước sinh hoạt sạch, hạn chế tối đa các vi khuẩn gây hại cho cơ thể.

Tại các căn hộ chung cư, việc lắp đặt và thi công hệ thống điện, nước cực kỳ khó khăn. Vậy gia đình tôi nên sử dụng sản phẩm máy lọc nước nào?

Mỗi tòa nhà chung cư thường có số lượng tầng và căn hộ lớn, do đó hệ thống điện và nước thường được cố định ban đầu. Nếu gia đình nào có phát sinh thêm nhu cầu về các đường dây dẫn điện, ống dẫn nước sẽ gây ra những khó khăn và cản trở nhất định trong việc lắp đặt.

Thấu hiểu được nỗi lòng chung của các hộ dân chung cư, hiện nay đã có những dòng sản phẩm không dùng điện, không tạo nước thải nhằm hạn chế tối đa khả năng phát sinh thêm đường dẫn điện, ống dẫn nước thải cho hộ dân, vừa giúp thuận lợi cho việc lắp đặt, vừa tiết kiệm được điện nước, lại góp phần bảo vệ môi trường.

Với không gian sống tại chung cư, tôi nên sử dụng máy lọc nước của thương hiệu nào để tiết kiệm tối đa diện tích?

Diện tích sử dụng thực tế tại các căn hộ chung cư thường nhỏ gọn, cư dân thường lo ngại kích thước của máy lọc nước sẽ chiếm dụng nhiều không gian trong nhà.

Giải quyết nỗi lo này, các thương hiệu máy lọc nước uy tín đã cho ra đời những sản phẩm có kích nước nhỏ gọn, kiểu dáng sang trọng thanh lịch dành riêng cho các hộ dân sống ở chung cư. Nó không chỉ giúp người dùng tiết kiệm không gian, tôn vinh vẻ đẹp của căn nhà mà còn đảm bảo tốt nhu cầu sử dụng nguồn nước sạch của họ.

Đa số nguồn nước tại các căn hộ chung cư thường được đưa vào từ trần nhà, có máy lọc nước nào lắp ngay trần nhà cho tiện không?

Nhu cầu về vị trí lắp đặt máy lọc nước của người dân ở chung cư rất đa dạng. Thậm chí họ muốn có loại máy lọc nước có thể lắp ngay trên trần nhà theo đường ống dẫn nước vào căn hộ.

Hiện nay trên thị trường chỉ có một vài sản phẩm máy lọc nước có kích thước nhỏ gọn và đầu nối thông minh mới đáp ứng được yêu cầu này.

Tôi vừa muốn có nguồn nước sạch vừa tiết kiệm thời gian thay lõi khi sử dụng. Liệu có sản phẩm nào phù hợp không?

Đa phần, cuộc sống của những người dân sống tại các thành phố lớn, đặc biệt tại các căn hộ chung cư khá bận rộn. Nếu việc thay lõi, lắp đặt máy lọc nước phức tạp và tốn kém thời gian sẽ tạo bất tiện cho họ. Do đó, người dân có xu hướng tìm kiếm những sản phẩm có quá trình lắp đặt, thay lõi đơn giản, nhanh chóng mang đến sự thuận tiện cho họ. Với nhu cầu này thì cũng chỉ có những sản phẩm thiết kế chuyên biệt, tiện dụng mới đáp ứng được.

Giải pháp ưu việt lắp đặt máy lọc nước tại chung cư

Tập đoàn 3M tiên phong trong công nghệ phục vụ cho đời sống đã mang đến những giải pháp lọc nước chuyên biệt dành cho các căn hộ chung cư, cụ thể như sau:

3.1 Sản phẩm lọc sạch nước, lắp ngay trên trần nhà.

Để giải quyết vấn đề nước sạch trước khi đưa vào sử dụng, sản phẩm hệ thống lọc tổng đầu nguồn 3M AP 904 ứng dụng công nghệ độc quyền, tích hợp 4 lõi lọc vào một bộ lọc duy nhất, vừa cung cấp cho người dùng nguồn nước sạch cho sinh hoạt vừa có thiết kế vô cùng nhỏ gọn, dễ lắp đặt, cực kỳ tiện lợi. Thậm chí bạn có thể lắp đặt ngay trên trần nhà để lọc nước đầu nguồn cho gia đình.

3.2 Sản phẩm máy lọc nước cao cấp – mang đến nguồn nước sạch, tiết kiệm tối đa không gian.

Một giải pháp rất hiệu quả dành cho gia đình sống tại chung cư từ 2-4 thành viên do tập đoàn 3M sản xuất là máy lọc nước lắp dưới bồn rửa 3M C Cyst FF . Máy lọc nước giúp lọc sạch 99,99% vi khuẩn, kim loại nặng, khí Clo, mang đến nguồn nước sạch, an toàn có thể uống ngay tại vòi cho gia đình. Sản phẩm có công suất hoạt động 7,571 lít với lưu lượng chảy lên tới 5,7 lít/ phút, giá chỉ 5.600.000 đồng rất phù hợp với nhu cầu sử dụng nước của các cư dân sống trong căn hộ chung cư.

Với thiết kế sang trọng, tinh gọn, máy lọc nước 3M C Cyst giúp bạn tiết kiệm không gian, tăng tính thẩm mỹ cho ngôi nhà nhưng vẫn bảo vệ gia đình khỏi các tác nhân gây hại từ nguồn nước nhiễm bẩn.

3.3 Tiết kiệm tuyệt đối thời gian cho người sử dụng.

Việc lắp đặt máy lọc nước 3M vô cùng đơn giản, dễ dàng, thậm chí người tiêu dùng có thể lắp trực tiếp tại nhà. Đầu tiên, tạo giá đỡ cho máy lọc nước, khoảng cách từ đáy bộ lọc đến sàn tối thiểu 7.6 cm. Sau đó, khóa van nước, tháo rời dây vòi nước khỏi nguồn cấp và kết nối đầu chuyển vào dây cấp nước lên vòi. Tiếp theo, kết nối ống dây nước từ đầu kết nối đến đầu ra máy lọc nước. Tiếp tục kết nối dây nước từ đầu cấp nước đến đầu vào của máy lọc nước và lắp lõi lọc vào giá đỡ của máy lọc nước. Cuối cùng, vặn van khoá xả nước xả nước 15 phút và kiểm tra rò rỉ.

Đồng thời, các dòng máy lọc nước 3M sử dụng công nghệ SQC , giúp dễ dàng thay đổi bộ lọc mà không cần dùng đến cờ lê hay các thiết bị vặn, thao tác vặn xoay lõi đơn giản trong 2 – 5 phút, đảm bảo vệ sinh khi thay thế mà không cần tác động đến đường ống, dây dẫn, giúp người bận rộn tiết kiệm được thời gian và tiện lợi.

3.4 Máy lọc nước hiện đại – không điện, không nước thải, giải pháp dành riêng cho căn hộ chung cư.

Dẫn đầu công nghệ tiên tiến trên thị trường, máy lọc nước 3M luôn hướng đến các giá trị đích thực cho khách hàng thông qua các sản phẩm không sử dụng điện, không có nước thải.

Các sản phẩm này không chỉ giúp bạn hạn chế phát sinh thêm các đường dây dẫn điện, đường ống dẫn nước thải mà còn giúp bạn tiết kiệm năng lượng, chi phí vận hành, đảm bảo công suất lớn và lưu lượng nước chảy mạnh. Đây là điều mà không phải bất cứ hãng máy lọc nước nào cũng làm được.

Là đơn vị phân phối độc quyền các dòng máy lọc nước 3M tại thị trường Việt Nam. Cooking Studio tin chắc rằng các dòng sản phẩm này sẽ mang đến sự tin cậy tuyệt đối cho mọi nhà Việt như cách mà họ đã làm thoả mãn nhu cầu cho người Mỹ trong hơn 100 năm qua. Cooking Studio cam kết sẽ đồng hành với máy lọc nước 3M, mang đến những giá trị thiết thực, phục vụ cho cuộc sống người Việt tốt đẹp hơn.

– Máy lọc nước tổng AP904

– Máy lọc nước 3MFF100

Máy Lọc Nước 3M

Luat An Sinh Xa Hoi Vn

Published on

Luật An sinh xạ hội Việt Nam

1. MỤC LỤC Trang Chương I. Lý luận chung về pháp luật an sinh xã hội I. Nguồn gốc và ý nghĩa của an sinh xã hội 1. Quá trình hình thành an sinh xã hội ………………………………………………………………….. 2. Ý nghĩa của an sinh xã hội ………………………………………………………………………………. II. Khái niệm và các nguyên tắc cơ bản của an sinh xã hội ………………………………… 1. Khái niệm an sinh xã hội ……………………………………………………………………………….. 2. Các nguyên tắc cơ bản của an sinh xã hội ……………………………………………………….. III. Pháp luật an sinh xã hội ……………………………………………………………………………… 1. Đối tượng điều chỉnh………………………………………………………………………………………. 2. Phương pháp điều chỉnh…………………………………………………………………………………… Chương II. Pháp luật bảo hiểm xã hội ………………………………………………………………. I. Một số vấn đề lý luận về pháp luật bảo hiểm xã hội ……………………………………….. 1. Khái niệm bảo hiểm xã hội ……………………………………………………………………………… 2. Các nguyên tắc của bảo hiểm xã hội …………………………………………………………………. II. Nội dung của bảo hiểm xã hội ………………………………………………………………………. 1. Quỹ bảo hiểm xã hội ………………………………………………………………………………………. 2. Các loại hình bảo hiểm xã hội ………………………………………………………………………….. 3. Quyền và trách nhiệm của các bên tham gia bảo hiểm xã hội ………………………………. 4. Giải quyết tranh chấp về bảo hiểm xã hội ………………………………………………………….. III. Các chế độ bảo hiểm xã hội ………………………………………………………………………… 1. Chế độ ốm đau……………………………………………………………………………………………….. 2. Chế độ thai sản……………………………………………………………………………………………….. 3. Chế độ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp ……………………………………………………….. 4. Chế độ hưu trí………………………………………………………………………………………………… 5. Chế độ tử tuất…………………………………………………………………………………………………. Chương III Pháp luật ưu đãi xã hội…………………………………………………………………… I. Một số vấn đề lý luận về pháp luật ưu đãi xã hội ……………………………………………. 1. Khái niệm pháp luật ưu đãi xã hội ……………………………………………………………………. 2. Quá trình hình thành và phát triển của pháp luật ưu đãi ………………………………………. II. Các chế độ ưu đãi xã hội ………………………………………………………………………………. A. Chế độ ưu đãi trợ cấp…………………………………………………………………………………… 1.Chế độ ưu đãi đối với người hoạt động cách mạng trước tháng 8 năm 1945 …………… 2. Chế độ ưu đãi đối với liệt sĩ và gia đình liệt sĩ …………………………………………………… 3. Chế độ ưu đãi đối với bà mẹ Việt Nam anh hùng ……………………………………………….. 4. Chế độ ưu đãi đối với anh hùng lực lượng vũ trang, anh hùng lao động ………………… 5. Chế độ ưu đãi đối với thương binh, người hưởng chính sách như thương binh ………. 6. Chế độ ưu đãi đối với bệnh binh ………………………………………………………………………. 7. Chế độ ưu đãi đối với người hoạt động cách mạng hoặc hoạt động kháng chiến bị địch bắt, tù đày………………………………………………………………………………………………………….. 8. Chế độ ưu đãi đối với người hoạt động kháng chiến, giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế…………………………………………. 9. Chế độ ưu đãi đối với người có công giúp đỡ cách mạng…………………………………….. 10. Chế độ ưu đãi đối với người tham gia kháng chiến và con đẻ của họ bị nhiễm chất độc hoá học do Mỹ sử dụng trong chiến tranh Việt Nam……………………………………………….. 11. Chế độ ưu đãi đối với quân nhân, cán bộ, thanh niên xung phong trong kháng chiến. 1

2. B. Chế độ ưu đãi khác…………………………………………………………………………….. 1. Chế độ ưu đãi về chăm sóc sức khoẻ ………………………………………………………………… 2. Chế độ ưu đãi về giáo dục và đào tạo………………………………………………………………… 3. Chế độ ưu đãi về nhà ở, giải quyết việc làm, hỗ trợ người có công với cách mạng ổn định đời sống và phát triển kinh tế gia đình……………………………………………………………. Chương IV. Pháp luật cứu trợ xã hội ……………………………………………………. I. Một số vấn đề lý luận về pháp luật cứu trợ xã hội ……………………………….. 1.Khái niệm pháp luật cứu trợ xã hội…………………………………………………………………….. 2. Các đặc trưng cơ bản của pháp luật cứu trợ xã hội ……………………………………………… II. Các quy định của pháp luật về cứu trợ xã hội ………………………………………………. 1. Chế độ cứu trợ xã hội thường xuyên………………………………………………………………….. 2. Chế độ cứu trợ xã hội đột xuất………………………………………………………………………….. 2

3. CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÁP LUẬT AN SINH XÃ HỘI I. NGUỒN GỐC VÀ Ý NGHĨA CỦA AN SINH XÃ HỘI 1. Quá trình hình thành an sinh xã hội Lao động tạo ra con người và thông qua quá trình này con người tồn tại. Con người ngoài việc chịu sự tác động với nhau con người còn phải chịu sự tác động của tự nhiên nhưng không phải lúc nào con người cũng gặp những may mắn, thuận lợi, gặp những điều kiện sinh sống bình thường mà trong một số trường hợp con người đã phải đối mặt với những thiên tai, dịch bệnh, hoả hoạn, ốm đau hay các biến cố rủi ro khác nhau. Để tồn tại và đối mặt với những vấn đề đó con người đã liên kết hợp tác với nhau lựa chọn ra những phương thức phù hợp nhằm trợ giúp nhau trong cuộc sống. Hình thức “tích cốc phòng cơ, tích y phòng hàn” là hình thức sơ khai và giản đơn nhất được cộng đồng, gia đình , các thành viên trong xã hội lựa chọn sử dụng. Bên cạnh đó, còn có một số các biện pháp trợ giúp khác nhau có tính chất tự nguyện của cộng đồng, tương thân tương ái đối với các đối tượng khác nhau trong xã hội. Trong quá trình phát triển xã hội, nền công nghiệp và kinh tế thị trường phát triển đã tác động mạnh mẽ đến sự phát triển xã hội làm xuất hiện việc thuê mướn nhân công. Song song với sự tồn tại đó, cuộc sống của thành viên gia đình những nhân công này phụ thuộc mật thiết vào mức thu nhập chính của họ. Nhưng bản thân họ lại phải chịu những rủi ro, bất trắc do đó để tạo cơ sở ổn định cuộc sống, những nhân công này đã thông qua một số các hoạt động của quỹ tương tế của các hội đoàn, hội bằng hữu do những người làm thuê liên kết lập ra. Bên cạnh đó, những nhân công này phải hợp tác với nhau để được làm việc trong những điều kiện lao động bảo đảm nhằm giảm thiểu các yếu tố rủi ro xảy ra. Đây là một trong những việc làm cần thiết buộc giới chủ phải quan tâm xem xét tạo điều kiện cho người lao động ổn định cuộc sống. Một trong các hình thức hạn chế những rủi ro do ốm đau, do tuổi già, do mất việc làm, do bị tai nạn phải kể đến việc thành lập quỹ bảo hiểm ốm đau và hệ thống bảo hiểm xã hội tại Đức từ năm 1883 đến 1889 dưới thời thủ tướng Bismark. Mô hình bảo hiểm xã hội của Đức đã phát triển và lan sang các nước khác như Mỹ, Canada, một số nước ở Châu Phi, Châu á và vùng vịnh Caribe. Ngoài ra một số quốc gia khác trên cơ sở hệ thống bảo hiểm xã hội này đã ban hành một số đạo luật riêng điều chỉnh về các lĩnh vực khác như bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tự nguyện, bảo đảm xã hội… Bên cạnh hình thức bảo hiểm xã hội, các hình thức tương tế, cứu tế xã hội, các hình thức cứu giúp những người có hoàn cảnh khó khăn, rủi ro, bất hạnh, các dịch vụ công cộng như dịch vụ y tế, dịch vụ chăm sóc người già, dịch vụ bảo vệ trẻ mồ côi, người tàn tật, người goá bụa… từng bước được phát triển và hoàn thiện. Hệ thống an sinh xã hội được hình thành và được ghi nhận trong các đạo luật của các nước như Đạo luật an sinh xã hội của Mỹ năm 1935. Thuật ngữ an sinh xã hội được sử dụng trong Hiến chương Đại Tây Dương năm 1931 và được ghi nhận cụ thể trong Công ước số 102 Công ước các mức tối thiểu về an toàn xã hội ngày 27.4.1952 bao gồm các chế độ về chăm sóc y tế, trợ cấp ốm đau, trợ giúp thất nghiệp, trợ giúp tuổi già, trợ giúp trong trường hợp bị tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, trợ giúp gia đình, trợ cấp thai sản, trợ giúp tàn tật, trợ giúp mất người trụ cột gia đình. 2. Ý nghĩa của an sinh xã hội An sinh xã hội là một biện pháp cuẩ chính sách xã hội và là một trong những chỉ báo quan trọng về định hướng XHCN ở nước ta trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường mà đối tượng của nó là những người gặp rủi ro, bất trắc trong cuộc sống. 3

4. An sinh xã hội vừa mang ý nghĩa về mặt kinh tế, vừa có giá trị về mặt xã hội, đặc biệt nó thể hiện giá trị đạo đức cao đẹp và tinh thần nhân đạo sâu sắc. An sinh xã hội có các ý nghĩa cụ thể sau: An sinh xã hội lấy con người làm trung tâm, coi quyền con người, bảo vệ con người trước các biến cố rủi ro xảy ra. Con người vừa là động lực của sự phát triển xã hội, vừa là mục tiêu của việc xây dựng xã hội. Trong Tuyên ngôn về nhân quyền do Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 10.12.1948 đã khẳng định:”Tất cả mọi người, với tư cách là thành viên xã hội có quyền hưởng bảo đảm xã hội. Quyền đó đặt cơ sở trên sự thoả mãn các quyền về kinh tế, xã hội và văn hoá cần cho sự tự do phát triển con người.” An sinh xã hội vừa tạo điều kiện cơ bản và thuận lợi giúp cho các đối tượng đặc biệt có cơ hội để phát huy hết thế mạnh của cá nhân đồng thời thể hiện thái độ, trách nhiệm của nhà nước trong việc tạo ra cơ hội giúp họ hoà nhập vào cộng đồng. An sinh xã hội góp phần ổn định phát triển và tiến bộ xã hội. Mục tiêu cơ bản của an sinh xã hội là tạo một môi trường công bằng cho các tầng lớp dân cư, cho người nghèo, cho người lao động, cho các đối tượng gặp biến cố rủi ro tham gia. An sinh xã hội phải thực sự là công cụ phát triển tiến bộ xã hội. Ngoài việc giảm bớt, hạn chế những khó khăn cho đối tượng nghèo đói, an sinh xã hội còn phải đa dạng hoá các hình thức hoạt động khác nhau đối với các đối tượng khác nhau để góp phần thúc đẩy xã hội phát triển. An sinh xã hội thể hiện truyền thống tương thân tương ái, đoàn kết giúp đỡ nhau của cộng đồng. Trên cơ sở sự liên kết, hợp tác của cộng đồng những rủi ro hoạn nạn được chia sẻ, đây là yếu tố phát huy sức mạnh của cộng đồng, phát huy giá trị truyền thống của dân tộc ta. An sinh xã hội góp phần phân phối lại thu nhập giữa các tầng lớp dân cư, giữa những người lao động làm công ăn lương, giữa những người có công với nước, giữa những người gặp khó khăn, biến cố rủi ro, giữa những người nghèo, người già cô đơn không nơi nương tựa… II. KHÁI NIỆM VÀ CÁC NGUYÊN TẮC CƠ BẢN CỦA AN SINH XÃ HỘI 1. Khái niệm an sinh xã hội Khái niệm an sinh xã hội là một thuật ngữ được dịch ra từ cụm từ social security (Tiếng Anh) hoặc từ sécurites sociale (Tiếng Pháp). Đây là thuật ngữ xuất hiện trong một đạo luật của Mỹ năm 1935. Trong đạo luật này an sinh xã hội được hiểu là sự bảo đảm nhằm bảo tồn nhân cách cùng giá trị cá nhân, đồng thời tạo lập cho mỗi con người một đời sống sung mãn và hữu ích để phát triển tài năng đến tột độ. Thuật ngữ an sinh xã hội cũng được Tổ chức lao động quốc tế ILO ghi nhận: “an sinh xã hội là sự bảo vệ của xã hội đối với các thành viên của mình thông qua một loạt biện pháp công cộng, nhằm chống lại những khó khăn về kinh tế và xã hội do bị ngừng hoặc bị giảm về thu nhập, gây ra bởi ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, thất nghiệp, thương tật, tuổi già và chết; bảo đảm chăm sóc y tế và trợ cấp cho các gia đình đông con.” Theo quan điểm của Tổ chức lao động quốc tế thì hệ thống an sinh xã hội bao gồm các nhánh sau: Chăm sóc y tế Trợ cấp ốm đau Trợ cấp thất nghiệp Trợ cấp tuổi già Trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp Trợ cấp gia đình Trợ cấp thai sản Trợ cấp tàn tật Trợ cấp tử tuất. 4

5. An sinh xã hội là một vấn đề phong phú, phức tạp, là một “khái niệm mở” nên có thể hiểu theo hai nghĩa: rộng và hẹp. Theo nghĩa rộng, an sinh xã hội bao trùm lên nhiều mặt cuộc sống của con người. Đó là các quan hệ hình thành trong lĩnh vực nhằm ổn định đời sống, nâng cao chất lượng sống của các thành viên xã hội, góp phần ổn định, phát triển và tiến bộ xã hội. Theo nghĩa này, an sinh xã hội có thể bao gồm các nhóm quan hệ sau: – Nhóm quan hệ trong lĩnh vực giải quyết việc làm, chống thất nghiệp. – Nhóm quan hệ trong lĩnh vực chăm sóc y tế, bảo vệ sức khỏe nhân dân … – Nhóm quan hệ trong lĩnh vực dân số, kế hoạch hóa gia đình, – Nhóm quan hệ trong lĩnh vực bảo hiểm bảo hiểm xã hội, – Nhóm quan hệ trong lịch vực cứu trợ xã hội, – Nhóm quan hệ trong lĩnh vực ưu đãi xã hội, – Nhóm quan hệ trong lĩnh vực môi trường …. Theo nghĩa hẹp, an sinh xã hội là sự bảo vệ của xã hội đối với các thành viên của mình, trước hết và chủ yếu là những trường hợp bị giảm sút thu nhập đáng kể do gặp những rủi ro như ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, tàn tật, mất việc làm, mất người nuôi dưỡng, nghỉ thai sản, về già cũng như các trường hợp bị thiên tai, địch họa. Đồng thời, xã hội cũng ưu đãi những thành viên của mình đã có những hành động xả thân vì nước, vì dân, có những cống hiến đặc biệt cho sự nghiệp cách mạng, xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam. Theo nghĩa này, an sinh xã hội bao gồm ba nhóm quan hệ chủ yếu sau: – Nhóm các quan hệ bảo hiểm xã hội – Nhóm các quan hệ cứu trợ xã hội – Nhóm các quan hệ ưu đãi xã hội.1 Ở Việt Nam, thuật ngữ an sinh xã hội được tiếp cận dưới nhiều tên gọi khác nhau như: bảo trợ xã hội, bảo tồn xã hội, bảo đảm xã hội, trật tự an toàn xã hội. Có quan điểm cho rằng an sinh xã hội trước hết là sự bảo vệ của xã hội đối với các thành viên của mình nhờ một loạt các biện pháp công cộng nhằm giúp đỡ chống lại sự thiếu hụt về kinh tế mà họ có thể gặp phải do mất đi hoặc bị giảm quá nhiều nguồn thu nhập bởi nhiều nguyên nhân khác nhau. An sinh xã hội còn thể hiện sự giúp đỡ, chăm sóc về văn hoá, y tế và trợ giúp cho các gia đình góp phần ổn định và thúc đẩy tiến bộ xã hội. Có thể nói, khái niệm an sinh xã hội hiểu một cách chung nhất đó là sự bù đắp một phần thu nhập cho người lao động và gia đình khi họ bị ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hưu trí, tử tuất hoặc có những sự kiện pháp lý khác, cho người có công với cách mạng; cho những người già cô đơn không nơi nương tựa, cho trẻ em mồ côi, cho người tàn tật, cho những người gặp hoàn cảnh khó khăn, gặp thiên tai, dịch bệnh và cho những người nghèo đói trong xã hội. An sinh xã hội có các đặc trưng sau: * Đối tượng của an sinh xã hội bao gồm những nhóm đối tượng sau: + Người lao động và gia đình họ. + Người có công với cách mạng, người đóng góp công sức cho tổ quốc. + Người già cô đơn, trẻ mồ côi không nơi nương tựa, người tàn tật, người nghèo khó, túng thiếu. + Người gặp thiên tai hoả hoạn, địch hoậ hoặc các rủi ro khác. * An sinh xã hội nhằm bù đắp một phần thu nhập cho cho những người bị mất hoặc bị giảm khả năng lao động. 1 Giáo trình Luật an sinh xã hội, NXBTP, trang 13. 5

6. * An sinh xã hội là sự trợ giúp vừa mang tính kinh tế, vừa mang tính xã hội. Sự thụ hưởng của các bên được đảm bảo thực hiện trên cơ sở sự đóng góp nhưng cũng tính đến yếu tố cộng đồng, yếu tố nhân đạo. * Nguồn quỹ của an sinh xã hội rất đa dạng có thể do sự hỗ trợ từ ngân sách của nhà nước, của người lao động, người sử dụng lao động, có thể do sự hỗ trợ quyên góp của cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước. * Về bản chất, an sinh xã hội là sự san sẻ trách nhiệm của mọi người đối với những người gặp rủi ro, khó khăn hoặc những yếu tố khác mà bị giảm hoặc mất thu nhập do bị giảm hoặc mất khả năng lao động. 2. Các nguyên tắc cơ bản của an sinh xã hội * Nhà nước quản lý hoạt động an sinh xã hội + Nhà nước có trách nhiệm việc tổ chức các biện pháp bảo đảm xã hội đối với các đối tượng bị giảm hoặc mất thu nhập. + Nhà nước ban hành các văn bản pháp luật tạo hành lang pháp lý điều chỉnh các hoạt động của an sinh xã hội + Nhà nước thường xuyên kiểm tra, giám sát hoạt động của an sinh xã hội. + Nhà nước tăng cương công tác thanh tra, phát hiện và xử lý nghiêm minh mọi hành vi vi phạm pháp luật về an sinh xã hội. + Nhà nước hỗ trợ một phần kinh phí để thực hiện hoạt động an sinh xã hội trong phạm vi cả nước. * Phải bảo đảm xã hội cho mọi người bị giảm hoặc mất khả năng lao động dẫn đến bị giảm hoặc mất thu nhập do bị mất việc làm, do gặp thiên tai, hoả hoạn hoặc các rủi ro khác. * Thực hiện an sinh xã hội trên cơ sở sự đóng góp của các bên và sự trợ giúp của xã hội, sự chia sẻ của cộng đồng. * An sinh xã hội không nhằm mục đích lợi nhuận mà chủ yếu thực hiện mục đích xã hội vì cộng đồng. * Mức an sinh xã hội nhằm trợ giúp bảo đảm nhu cầu tối thiểu cho những người thụ hưởng. * Hoạt động an sinh xã hội được thực hiện trên cơ sở mức đóng góp của các bên, sự trợ giúp của các cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước cũng như là sự bảo trợ của nhà nước. III. LUẬT AN SINH XÃ HỘI 1. Đối tượng điều chỉnh Pháp luật an sinh xã hội là bộ phận rất quan trọng nằm trong hệ thống pháp luật của nước ta. Pháp luật bảo đảm xã hội có nhiều cách tiếp cận khác nhau. Có quan điểm cho rằng pháp luật an sinh xã hội là tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình giải quyết các vấn đề xã hội, xác định quyền và nghĩa vụ của nhà nước, cá nhân trong việc hỗ trợ về vật chất, tinh thần cho các thành viên xã hội gặp khó khăn trong cuộc sống, hoà nhập với cộng đồng, đền đáp công lao đối với người có công với đất nước. Pháp luật an sinh xã hội cũng được hiểu là tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong các lĩnh vực bảo hiểm xã hội, cứu trợ xã hội và ưu đãi xã hội. Pháp luật an sinh xã hội điều chỉnh các nhóm quan hệ cơ bản sau: * Nhóm quan hệ bảo hiểm xã hội: Đây được coi là bộ phận trụ cột trong hệ thống an sinh xã hội nhằm trợ giúp cho những người lao động khi họ bị mất hoặc giảm khả năng lao động dẫn đến mất hoặc giảm thu nhập. Nhóm quan hệ này có một số đặc trưng cơ bản sau: 6

8. nước là chủ thể tối cao sử dụng quyền uy để điều chỉnh các quan hệ về an sinh xã hội, các cơ quan, các tổ chức, các cá nhân được nhà nước trao quyền cũng là chủ thể của phương pháp này. Đối với quan hệ bảo hiểm xã hội nhà nước quy định các trường hợp phải tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, tỷ lệ hưởng bảo hiểm xã hội, các điều kiện hưởng bảo hiểm, các chế độ hưởng bảo hiểm buộc các bên phải tuân thủ mà không được phép thoả thuận. Kể cả việc thiết lập quỹ bảo hiểm xã hội nhà nước cũng quy định cụ thể tỷ lệ đóng góp của các bên. Đối với quan hệ ưu đãi xã hội, nhà nước quy định các điều kiện được hưởng ưu đãi, mức hưởng cụ thể cho từng đối tượng nhất định khi họ thoả mãn điều kiện mà pháp luật đã quy định. Đối với quan hệ cứu trợ xã hội, nhà nước quy định các trường hợp được hưởng chế độ cứu trợ xã hội thường xuyên, các trường hợp được hưởng chế độ cứu trợ xã hội đột xuất, điều kiện và chế độ cụ thể cho từng đối tượng… b. Phương pháp tuỳ nghi Xuất phát từ đối tượng điều chỉnh đa dạng, phức tạp do đó pháp luật an sinh xã hội sử dụng phương pháp tuỳ nghi trong đó nhà nước cho phép các bên tham gia quan hệ được tự do lựa chọn cách xử sự của mình không được trái với pháp luật và đạo đức xã hội. Phương pháp tuỳ nghi được sử dụng một cách rất linh hoạt khi tác động lên từng quan hệ cụ thể về bảo hiểm xã hội, cứu trợ xã hội, và ưu đãi xã hội. Đối với quan hệ bảo hiểm xã hội, bên cạnh việc nhà nước quy định các bên tham gia bảo hiểm xã hội phải đóng góp một tỷ lệ nhất định cho bảo hiểm xã hội bắt buộc thì nhà nước cũng ghi nhận bảo hiểm xã hội tự nguyện để cho các đối tượng có nhu cầu tự nguyện tham gia. Ngoài ra, các bên cũng có thể lựa chọn việc hưởng chế độ trợ cấp hưu trí hàng tháng hay chế độ trợ cấp hưu trí một lần. Đối với quan hệ ưu đãi xã hội và cứu trợ xã hội nhà nước thiết lập quỹ ưu đãi xã hội và cứu trợ xã hội chi trả cho những người cống hiến cho xã hội, những người gặp rủi ro, bất hạnh nhưng bên cạnh đó nhà nước cũng kêu gọi trách nhiệm chia sẻ khó khăn của cộng đồng, của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước. Nhà nước thông qua các quy phạm tuỳ nghi huy động, khuyến khích sự đóng góp tự nguyện của những tấm lòng vàng, khuyến khích việc xây dựng nhà tình nghĩa, nhà dưỡng lão, lập quỹ đền ơn đáp nghĩa… Có thể nói, việc phân chia phương pháp điều chỉnh của pháp luật an sinh xã hội chỉ có tính chất tương đối. Trên thực tế, tuỳ thuộc vào từng quan hệ cụ thể mà sử dụng phương pháp nào cho phù hợp. Thông qua đối tượng điều chỉnh và phương pháp điều chỉnh Luật an sinh xã hội được định nghĩa như sau: Luật an sinh xã hội là tổng thể các quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong các lĩnh vực bảo hiểm xã hội, cứu trợ xã hội và ưu đãi xã hội. Luật an sinh xã hội cũng được định nghĩa như sau Luật an sinh xã hội Việt Nam là tổng thể các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hnàh điều chỉnh các quan hệ xã hội hình thành trong lĩnh vực tổ chức và thực hiện việc trợ giúp đối với các cá nhân (thành viên xã hội) trong trường hợp rủi ro, hiểm nghèo nhằm giảm bớt những khó khăn, bất hạnh mà bản thân họ không thể tự mình khắc phục được, góp phần bảo đảm cho xã hội tồn tại và phát triển an toàn, bền vững, công bằng và tiến bộ.1 1 Giáo trình Luật an sinh xã hội, trang 23. 8

10. CHƯƠNG II QUAN HỆ PHÁP LUẬT AN SINH XÃ HỘI1 I. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM CỦA QUAN HỆ PHÁP LUẬT AN SINH XÃ HỘI 1.Khái niệm Trong cuộc sống, các cá nhân, gia đình và nhiều khi cả cộng đồng có thể gặp phải những rủi ro do thiên tai hay những biến động trong đời sống kinh tế, xã hội gây ra những bão lụt, bệnh tật, chiến tranh… Những rủi ro này khó lường trước và cũng khó có thể phòng ngừa được ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của chính bản thân họ và cộng đồng. Bởi vậy, từ xa xưa, cá nhân mỗi người và mỗi gia đình đều tìm những biện pháp đề phòng cần thết để tự bảo vệ mình trước các rủi ro. Họ có thể áp dụng các cơ chế truyền thống để chia sẻ rủi ro dựa trên sự tự nguyện tích luỹ, trao đổi tài sản… trong phạm vi gia đình, họ hàng và cộng đồng làng xã… Cơ chế này hình thành nên những quan hệ xã hội đầu tiên có mục đích tương trợ cộng đồng, chủ yếu trên cơ sở những quan hệ tình cảm, trách nhiệm, bổn phận con người nên được điều chỉnh bằng tập quán làng xã, họ tộc và những quan niệm đạo đức trong xã hội. Ở khía cạnh nào đó, những quan hệ này không chắc chắn, song cho đến nay, nó vẫn được duy trì như những nét đẹp truyền thống của mỗi gia đình, cộng đồng, bất cứ sự ảnh hưởng của đời sống hiện đại, có thể nhận được sự hỗ trợ nhưng hầu như không chịu sự điều chỉnh của công quyền. Tuy nhiên, quá trình công nghiệp hóa và thành thị hóa nông thôn đã thay đổi cơ cấu xã hội, nhiều cá nhân lập nghiệp xa gia đình và cộng đồng làng xã họ tộc để gia nhập công cuộc sống công nghiệp nơi thành thị. Điều đó cũng làm mất dần tác dụng cơ chế an sinh xã hội truyền thống và không chính thức này, trong xã hội hiện đại đã bắt đầy xuất hiện các loại rủi ro mới như tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, mất việc làm, phá sản do đầu tư cổ phiếu, thiên tai và nhân tai ngày càng khắc nghiệt…Vì vậy, cơ chế bảo đảm có tính truyền thống nói trên đã không thể giúp cho các cá nhân khắc phục hậu quả rủi ro trong xã hội hiện đại. Đặc biệt, trong cơ chế thị trường những rủi ro không chỉ xảy ra đối với một hoặc vài cá nhân mà có thể xảy ra đổi với một số lượng lớn các thành viên trong xã hội như trường hợp các doanh nghiệp, công ty bị phá sản, giải thể dẫn đến người lao động bị mất việc làm. Cũng vì quan niệm lợi dụng tối ưu cơ chế thị trường mà nhiều hoàn cảnh khó khăn như tàn tật nặng, tâm thần, người già cô đơn… không được giúp đỡ đúng mức. Thực tế cũng xuất hiện những cơ chế chia sẻ rủi ro mới mang tính thị trường như ký kết các hợp đồng bảo hiểm nhưng đây là hình thức kinh doanh theo nguyên tắc người kinh doanh phải có lợi nên không phải cá nhân nào cũng có khả năng tham gia. Đối với những người có thể tham gia cơ chế này thì quan hệ của các bên hình thành trên cơ sở thỏa thuận tự nguyện do luật dân sự, luật thương mại điều chỉnh. Tuy nhiên, việc khắc phục rủi ro cho những người tham gia loại bảo hiểm này chủ yếu mang tính cá thể, tác dụng xã hội của hình thức này rất hạn chế. Vì vậy, ngày nay, bên cạnh những hình thức trên, đời sống xã hội cần một cơ chế an toàn hơn, đó là sự quản lý và chia sẻ rủi ro có bảo đảm chắc chắn từ phía Nhà nước, mang tính xã hội và thực hiện trong cả cộng đồng để tất cả các thành viên đều được bảo vệ và những rủi ro của họ (nếu có) được chia sẻ trong phạm vi rộng rãi. Nếu không những giúp người gặp rủi ro vượt qua khó khăn mà còn có thể ngăn ngừa hậu quả ở mức độ nhất định, giúp họ tái hòa nhập cộng đồng trong những trường hợp rủi ro xảy ra. Cơ chế quản lý và chia sẻ rủi ro thông qua vai trò của Nhà nước và hoàn toàn mang tính xã hội, không nhằm mục đích kinh doanh như bảo hiểm xã hội và các hình thức trợ giúp xã hội khác sẽ góp phần cải thiện đáng kể điều kiện sống của người dân càng tạo môi trường tốt cho việc phát triển kinh tế và bảo đảm an sinh xã hội. Việc thực hiện mục đích này làm hình thành nên những quan hệ xã hội mới thuần túy với mục đích đảm bảo an toàn 1 Giáo trình Luật an sinh xã hội, trang 59-96 10

11. trong đời sống của cộng đồng xã hội. Đó là quan hệ giữa nhà nước, thông qua các thiết chế được nhà nước thành lập hoặc thừa nhận từ cộng đồng xã hội, do nhà nước tổ chức và điều hành, với tất cả các thành biên trong xã hội gặp khó khăn cần được trợ giúp, không bị phân biệt và giới hạn theo bất cứ một tiêu chí nào. Từ nhu cầu hình thành, mục đích tồn tại, phạm vi lan tỏa và tác dụng đặc biệt đối với xã hội của những quan hệ này mà có thể gọi đó là các quan hệ san sinh xã hội. Do tầm quan trọng của vấn đề an sinh trong điều kiện xã hội phát triển, những quan hệ này phải được pháp luật điều chỉnh. Sự điều chỉnh của pháp luật đối với nó phải theo một hướng khác với sự điều chỉnh quan hệ mang tính chia sẻ rủi ro truyền thống hoặc theo hình thức kinh doanh nói trên. Yêu cầu đó làm hình thành nên một lĩnh vực pháp luật mới, luật an sinh xã hội. Nó được xây dựng trên cơ sở các chính sách xã hội của mỗi quốc gia, có thể rộng hay hẹp tùy thuộc vào điều kiện kinh tế, , chính trị xã hội của mỗi quốc gia đó. Trong đó, các nhà nước, nhân danh người quản lý và đại diện chính thức cho toàn xã hội, đều xác định trách nhiệm của mình trong việc thực hiện an sinh xã hội. Nhưng để có hiệu quả tốt hơn, nhà nước phải có chính sách thu hút cả cộng đồng cũng như các tổ chức, cá nhân nếu có khả năng và lòng hảo tâm để họ tham gia thực hiện vấn đề này. Đặc biệt, nhà nước phải có những quy định hợp lý để xác định các trường hợp, đối tượng cần trợ giúp, hình thức trợ giúp hoặc đối tượng phải tham gia quan hệ đóng quỹ như một điều kiện thụ hưởng… tùy theo từng loại tổ chức. Những quy định của nhà nước phải thực hiện được mục đích vấn đề an sinh xã hội nhưng không làm ảnh hưởng đến các chính sách khác như chính sách lao động, việc làm, khuyến khích phát triển kinh tế… Như vậy, các chủ thể này khi tham gia quan hệ sẽ phải tuân theo những khuôn khổ pháp lý nhất định. Những quan hệ an sinh xã hội trong khuôn khổ các quy định của pháp luật, được gọi là các quan hệ pháp luật an sinh xã hội. Như vậy, quan hệ pháp luật về an sinh xã hội là nhưng quan hệ xã hội hình thành trong lĩnh vực nhà nước tổ chức thực hiện các hìnhh thức bảo vệ, trợ giúp các thành viên xã hội trong những trường hợp cần thiết nhằm đảo bảo an toàn trong đời sống xã hội, được các quy phạm pháp luật an sinh xã hội điều chỉnh. Từ đó, có thể thấy rằng các quan hệ xã hội hình thành với mục đích an sinh xã hội trên thực tế tồn tại dưới nhiều hình thức: do Nhà nước tổ chức và đảm bảo thực hiện hoặc do các bên tự do thiết lập cơ chế nhu cầu và lợi ích của mỗi bên hoặc hình thành trong đời sống các cộng đồng dân cư làng xã, họ tộc, tôn giáo, nghề nghiệp… Pháp luật chỉ điều chỉnh nhữnh quan hệ an sinh xã hội mang tính xã hội sâu sắc, được Nhà nước tổ chức và đảm bảo thực hiện trên phạm vi rộng lớn hoặc những quan hệ cần thiết phải quy định cụ thể quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia. Những quan hệ mang tính an sinh xã hội không do pháp lụât điều chỉnh và tồn tại và vận hành theo tập quán hoặc trên cơ sở tình cảm, quan niệm đạo đức của cộng đồng. An sinh xã hội được hiểu theo hai nghĩa, nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Ở Việt Nam, dưới góc độ pháp lý, phạm vi an sinh xã hội thường được hiểu theo nghĩa hẹp, tức là chỉ bao gồm các vấn đề bảo hiểm xã hội, cứu trợ xã hội và ưu đãi xã hội. Khi được pháp luật đièu chỉnh, các quan hệ đó trở thành các quan hệ pháp luật an sinh xã hội tương ứng: quan hệ pháp luật về bảo hiểm xã hội, quan hệ pháp luật về cứu trợ xã hội, quan hệ pháp luật về ưu đãi xã hội. 2. Đặc điểm Những quan hệ pháp luật an sinh xã hội cụ thể có đối tượng chủ thể khác nhau, mang những tính chất khác nhau để thực hiện những mục đích đa dạng của vấn đề an sinh xã hội nhưng vẫn có những nét chung nhất định có thể phân biệt loại quan hệ này với các quan hệ khác trong hệ thống các quan hệ bảo đảm xã hội (quan hệ an sinh xã hội hiểu theo nghĩa rộng) và các quan hệ chia sẻ rủi ro khác như: Thứ nhất, trong quan hệ pháp lụât an sinh xã hội, thông thường có một bên tham gia là Nhà nước. 11

12. Nhà nước tham gia quan hệ này thông qua các cơ quan do Nhà nước thành lập hoặc các tổ chức được Nhà nước thừa nhận và trao trách nhiệm. Các chủ thể đại diện cho Nhà nước thường tham gia quan hệ pháp luật an sinh xã hội với tư cách là người thực hiện các chế độ an sinh xã hội bằng nguồn lực của mình, ngân sách Nhà nước hoặc với tư cách là người tổ chức và huy động các nguồn lực xã hội để nhà nước bổ sung cho các chế độ an sinh cố định trong những trường hợp cần thiết. Như vậy, có thể hiểu Nhà nước vừa là người đảm bảo tối thiểu các nhu cầu an sinh xã hội trong phạm vi quốc gia vừa là người tạo phong trào thực hiện các họat động tương trợ cộng đồng để các thành viên trong xã hội, thông qua Nhà nước, bù đắp những khoảng trống mà pháp luật an sinh xã hội không thể đáp ứng được do tính nghiêm trọng của rủi ro cần chia sẻ trong những trường hợp cá biệt hoặc để mục đích an sinh xã hội đạt được ở mức độ cao hơn. Thứ hai, tham gia quan hệ pháp luật an sinh xã hội có thể là tất cả các thành viên trong xã hội không phân biệt theo bất cứ tiêu chí nào. Khác với quan hệ tương trợ cộng đồng khác có giới hạn trong những phạm vi nhất định dựa trên cơ sở địa bàn sinh sống, tôn giáo, họ tộc hoặc các điều kiện tham gia khác, quan hệ pháp luật an sinh xã hội được hình thành trong phạm vi rộng lớn của quốc gia. Do Nhà nước, chủ thể đại diện cho toàn xã hội, tham gia với tư cách là một bên của quan hệ này nên tất cả các thành viên của xã hội trong phạm vi quốc gia đều có thể được hưởng trợ giúp. Để hưởng được một chế độ cụ thể nào đó chỉ phụ thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh thực tế đã được pháp luật xác định, không có bất kỳ một giới hạn hoặc một sự phân biệt nào khác. Thậm chí, nhiều trường hợp không có sự phân biệt về quốc tịch như phần lớn các quan hệ xã hội được pháp luật quốc gia điều chỉnh. Ví dụ, khi có thiên tai, hoạn nạn xảy ra, mọi cá nhân trong phạm vi ảnh hưởng đều được nhận sự trợ giúp, không có sự phân biệt đó là người Việt Nam hay người nước ngoài để xác định quyền hoặc mức độ đảm bảo quyền trợ giúp của xã hội đối với mỗi cá nhân. Tuy nhiên, các quan hệ pháp luật an sinh xã hội được thiết lập theo nhiều tầng nấc để tạo thành một hệ thống các quan hệ hỗ trợ, bổ sung cho nhau, đảm bảo an toàn ở những mức cần thiết trợ giúp cho tất cả các thành viên xã hội theo từng nhóm. Vì vậy, những nhóm quan hệ nhỏ trong hệ thống các quan hệ pháp luật an sinh xã hội như bảo hiểm xã hội, ưu đãi xã hội đã quy định những điều kiện nhất định đối với những người được thụ hưởng. Đó không phải là giới hạn phạm vi tham gia loại quan hệ pháp luật này mà chỉ để đảm bảo công bằng, trên cơ sở nhu cầu của đối tượng đó, phù hợp với trình độ quản lý rủi ro của nhà nước. Mỗi thanh viên bất kỳ trong toàn xã hội đều có thể tham gia một hoặc một số quan hệ cụ thể thuộc hệ thống quan hệ pháp luật an sinh xã hội, phụ thuộc vào điều kiện thực tế của họ được pháp luật xác định. Tất cả các thành viên trong xã hội, nếu có công với nước sẽ được hưởng chế độ ưu đãi xã hội, nếu tham gia bảo hiểm xã hội sẽ được đảm bảo thu nhập khi ốm đau, tai nạn… Ngay cả những người chưa được hưởng bất cứ một chế độ nào thì cũng không có nghĩa là họ không được chính sách an sinh xã hội bảo vệ. Thứ ba, chủ thể hưởng an sinh xã hội có quyền tham gia quan hệ pháp luật này ngay từ khi sinh ra. Đặc điểm này do an sinh xã hội là quyền của con người trong xã hội. Trước hết, nó là vấn đề đạo đức và nhân văn của xã hội loài người, không phụ thuộc vào sự phụ thuộc của pháp luật hay việc thực hiện nghĩa vụ của các cá nhân thành viên. Khi các nhà nước muốn khẳng định vị trí đại diện chính thức và quản lí toàn xã hội thì phải có trách nhiệm giải quyết, quản lý các vấn đề mà bản thân đời sống con người trong xã hội đề ra, trong đó những rủi ro cho cuộc sống của cá nhân thành viên hoặc của cả cộng đồng. Để đảm bảo quyền hưởng an toàn về đời sống cho các công dân và các thành viên khác trong cộng đồng xã hội. Nhà nước cho phép các cá nhân sinh sống trong phạm vi lãnh thổ mà mình quản lý được tham gia quan hệ pháp luật an sinh xã hội từ rất sớm, không phụ thuộc vào khả năng nhận thức hay sự đóng góp cho xã hội của họ. Nói cách khác, năng lực pháp luật hưởng an sinh xã hội của các công dân thường xuất hiện từ khi mới sinh 12

13. ra, không phụ thuộc vào năng lực hành vi của họ. Đó cũng là đặc điểm của quan hệ pháp luật an sinh xã hội so với những quan hệ pháp luật khác. Thứ tư, quan hệ pháp luật an sinh xã hội được thiết lập chủ yếu trên cơ sở nhu cầu quản lý rủi ro, tương trợ cộng đồng trong xã hội. Như trên đã phân tích, có nhiều quan hệ được thiết lập để chia sẻ rủi ro trong đời sống con người. Trong đó, có những quan hệ hình thành trên cơ sở tình cảm, đạo đức hoặc sự tự nguyện vào lòng hảo tâm của cộng đồng xã hội; có những quan hệ kinh doanh, dịch vụ trên cơ sở đáp ứng nhu cầu chia sẻ rủi ro của các cá nhân trong xã hội. Riêng các quan hệ pháp luật an sinh xã hội hình thành trên cơ sở nhu cầu chung của xã hội, để quản lý và chia sẻ rủi ro cho cả cộng đồng, không phụ thuộc vào những quan hệ xã hội khác, không nhằm thực hiện mục đích khác. Trên cơ sở này, Nhà nước xác định những lọai quan hệ xã hội do pháp luật an sin xã hội điều chỉnh. Điều đó giải thích vì sao nhiều quan hệ mang tính chia sẻ rủi ro khác pháp luật an sinh xã hội không điều chỉnh song quan hệ bảo hiểm xã hội chủ yếu do người tham gia bảo hiểm đóng góp tài chính, có thực hiện cân đối thu chi lại vẫn thuộc hệ thống quan hệ pháp luật an sinh xã hội. Thứ năm, quyền và nghĩa vụ chủ yếu của các chủ thể là trợ giúp và được trợ giúp vật chất, do Nhà nước đảm bảo thực hiện. Do mục đích của quan hệ pháp luật an sinh xã hội là đảm bảo an toàn về đời sống dân sinh (theo nghĩa hẹp) cho con người nên nội dung chính của quan hệ này là vấn đề trợ giúp vật chất cho các thành viên xã hội trong những trường hợp cần thiết. Điều đó không có nghĩa là việc trợ giúp vật chất quan trọng hơn những lĩnh vực trợ giúp khác mà nó chỉ ra lĩnh vực đặc thù làm nên thuộc tính của quan hệ an sinh xã hội. Các lĩnh vực khác trong xã hội như giáo dục đào tạo, việc làm và thu nhập, đảm bảo điều kiện sống hòa bình cho người dân… cũng là những vấn đề rất quan trọng nhưng nó thuộc lĩnh vực bảo đảm xã hội nói chung. Đời sống của con người gắn liền với vấn đề quot;cơm, áo, gạo, tiềnquot; nên khi gặp khó khăn về kiếm sống như tuổi già, tàn tật, mất nguồn nuôi dưỡng, mất phương tiện sinh sống do thiên tai…thì xã hội phải trợ giúp cho thành viên của mình nguồn vật chất để đáp ứng nhu cầu thiết thực nhất đó.quot; Có thực mới vực được đạoquot; cũng là thực tế chung trong đời sống con người. Vì vậy quyền và nghĩa vụ chủ yếu nhất của các bên trong quan hệ pháp luật an sinh xã hội được Nhà nước đảm bảo thực hiện là trợ giúp vật chất cho người cần trợ giúp. Chế độ trợ cấp vật chất cho người có đủ điều kiện luật định là nội dung chính xuyên suốt các chế độ an sinh xã hội không chỉ ở pháp luật Việt Nam mà còn là nội dung pháp luật của tất cả các nước có điều chỉnh loại quan hệ này. II. CÁC QUAN HỆ PHÁP LUẬT AN SINH XÃ HỘI CỤ THỂ 1. Quan hệ pháp luật bảo hiểm xã hội 1.1. Khái niệm và đặc điểm. a. Khái niệm Người lao động tham gia vào quan hệ lao động thường với mục đích để có thu nhập đảm bảo cuộc sống cho mình và gia đình. Khi họ gặp phải những khó khăn, rủi ro trong cuộc sống như tai nạn lao động, bệnh tật…hoặc đến lúc về già thì nguồn thu nhập thường xuyên đó thường bị mất hoặc bị giảm. Đặc biệt, quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và sự cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường còn làm xuất hiện một số rủi ro mới như mất việc làm, thất nghiệp… Chính vì vậy, để ổn định cuộc sống, người lao động phải tìm các biện pháp đảm bảo thu nhập cho mình trong những trường hợp rủi ro nói trên. Một trong các biện pháp đó là tham gia bảo hiểm xã hội. Trong xã hội hiện đại, các nhà nước cũng nhận thức rằng người lao động là nguồn lực chính, là thành phần quan trọng nhất của xã hội. Nếu cuộc sống của người lao động gặp khó khăn sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất, đến vấn đề an sinh xã hội. Vì vậy, pháp luật an sinh xã hội của hầu hết các nước đều bắt đầu từ chế độ bảo hiểm xã hội. Cho đến nay, quan hệ bảo hiểm xã 13

14. hội vẫn luôn được coi là nòng cốt của hệ thống quan hệ pháp luật an sinh xã hội. Theo yêu cầu chung của các hình thức bảo hiểm, bên có nhu cầu bảo hiểm, người lao động phải tham gia đóng quỹ theo quy định. Nhà nước tham gia với tư cách là người tổ chức, quản lý, bảo trợ cho hình thức bảo hiểm này để đảm bảo tính xã hội và mục đích tương trợ cộng đồng cho tất cả các thành viên. Việc xác định các đối tượng đóng quỹ, quản lý đúng quỹ, chi trả các chế độ bảo hiểm xã hội phải thực hiện đúng mục đích, công bằng…nên phải đặt trong khuôn khổ các quy định của pháp luật, được gọi là quan hệ pháp luật về bảo hiểm xã hội. Như vậy, quan hệ pháp luật về bảo hiểm xã hội là những quan hệ xã hội hình thành trong quá trình đóng góp và chỉ trả các chế độ bảo hiểm xã hội, được quy phạm pháp luật điều chỉnh. b. Đặc điểm Quan hệ pháp luật bảo hiểm xã hội cũng mang các đặc điểm chung của hệ thống các quan hệ pháp luật an sinh xã hội như: – Có một bên tham gia do Nhà nước thành lập và quản lý (cơ quan thực hiện bảo hiểm xã hội) và bên kia là bất kỳ người lao động nào trong xã hội, nếu có nhu cầu (bên tham gia và được hưởng bảo hiểm xã hội). – Tính chất của bảo hiểm xã hội cũng là tương trợ cộng đồng giữa những người lao động trong phạm vi quốc gia. – Mục đích của bảo hiểm xã hội cũng là bảo đảm thu nhập cho người lao động thông qua các chế độ trợ cấp bảo hiểm. Bên cạnh đó, quan hệ pháp luật bảo hiểm xã hội còn có một số đặc điểm riêng biệt so với các quan hệ pháp luật an sinh xã hội khác: – Thứ nhất, quan hệ pháp luật bảo hiểm xã hội chủ yếu mang tính bắt buộc và thường phát sinh trên cơ sở của quan hệ lao động. Bảo hiểm xã hội là một trong những chính sách xã hội cơ bản của Nhà nước, được áp dụng cho mọi người lao động. Tuy nhiên, bảo hiểm xã hội lại có tính bắt buộc đối với một số đối tượng lao động nhất định và đây là một trong những đặc trưng của quan hệ pháp luật bảo hiểm xã hội so với các quan hệ pháp luật an sinh khác. Nhìn chung, các thành viên xã hội tham gia quan hệ pháp luật ưu đãi xã hội, quan hệ pháp luật cứu trợ xã hội trên cơ sở tự nguyện vì những quan hệ pháp luật đó chỉ để đảm bảo quyền cho họ. Riêng quan hệ pháp luật bảo hiểm xã hội lại chủ yếu mang tính bắt buộc. Bởi vì, khác với các đối tượng khác trong hệ thống các quan hệ pháp luật an sinh xã hội, chế độ bảo hiểm xã hội để đảm bảo ổn định đời sống cho những người lao động có thu nhập. Khi có thu nhập thường xuyên, chính mỗi người đều phải có trách nhiệm tích lũy để phòng những rủi ro trong cụôc sống. Mặt khác, quy định bắt buộc của Nhà nước còn nhằm mục đích ràng buộc trách nhiệm của người sử dunhg lao động.Họ không chỉ phải trả tiền lương cho người lao động khi làm việc mà còn phải đóng quỹ bảo hiểm để đảm bảo đời sống cho người lao động khi ốm đau, tai nạn, già yếu…Vì vậy, đối với những người lao động có việc làm thu nhập tương đối ổn định, dù muốn hay không, khi đã tham gia quan hệ lao động thì đồng thời họ và người sử dụng sức lao động của họ cũng phải tham gia quan hệ bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật. Do đó, quan hệ pháp luật lao động được coi là cơ sở làm phát sinh các quan hệ pháp luật bảo hiểm xã hội chủ yếu. Theo pháp luật hiện hành, bảo hiểm xã hội bắt buộc áp dụng đối với các bên hợp đồng lao động có thời hạn từ 3 tháng trở lên. Khi tham gia quan hệ lao động, họ phải đóng góp bảo hiểm theo những mức nhất định đồng thời phải tham gia tất cả các chế độ bảo hiểm xã hội do Nhà nước quy định. Những quan hệ bảo hiểm bắt buộc này là nòng cốt hình thành quỹ bảo hiểm và tạo cơ sở để mở rộng và hoạch định chế độ bảo hiểm xã hội tự nguyện. – Thứ hai, trong quan hệ pháp luật bảo hiểm xã hội,người hưởng bảo hiểm có nghĩa vụ đóng góp để hình thành quỹ bảo hiểm. Trong các quan hệ pháp luật an sinh xã hội khác như quan hệ pháp luật ưu đãi xã hội, quan hệ pháp luật cứu trợ xã hội, những đối tượng được hưởng không phải đóng góp quỹ. Nguồn 14

15. quỹ để thực hiện các chế độ đó được lấy chủ yếu từ ngân sách của Nhà nước và sự hỗ trợ của các tổ chức cá nhân trong và ngoài nước. Riêng trong quan hệ pháp luật về bảo hiểm xã hội, quỹ bảo hiểm lại được hình thành trên sự đóng góp của các bên tham gia bảo hiểm. Với tư cách là người tổ chức, thực hiện các chính sách xã hội, Nhà nước có trách nhiệm bảo trợ cho quỹ để đảm bảo thực hiện các chế độ bảo hiểm xã hội đã được Nhà nước quy định. Đây cũng là điều dễ lý giải bởi người có nhu cầu bảo hiểm xã hội hoàn toàn khác so với những đối tượng được hưởng trong quan hệ ưu đãi xã hội và quan hệ cứu trợ xã hội là những người có công với nước cần được ưu tiên, ưu đãi hoặc những người yếu thế cần được trợ giúp. Còn trong quan hệ pháp luật về bảo hiểm xã hội, người có nhu cầu bảo đảm cuộc sống, tham gia quan hệ pháp luật bảo hiểm xã hội là những người lao động có thu nhập. Khi còn sức lao động, còn khả năng lao động, người lao động tham gia quan hệ lao động, được hưởng lương và mang lại lợi nhuận cho người sử dụng lao động. Vì vậy, khi họ không còn khả năng lao động nữa hoặc họ bị suy giảm khả năng lao động thì sử dụng lao động phải có một phần trách nhiệm đối với họ. Về phía người lao động, họ cũng có trách nhiệm đối với chính bản thân mình: tích lũy đề phòng những bất trắc, rủi ro có tính tất yếu trong cuộc sống như ốm đau, tuổi già…Nhà nước thì chỉ hỗ trợ cho quá trình tích lũy cá nhân trở thành sự tích lũy của cộng đồng để giảm thiểu mức để dành (đóng góp) nhưng lại tăng hiệu quả sử dụng quỹ do có sự tương trợ cộng đồng giữa những người tham gia bảo hiểm xã hội. Bởi vậy, họ phải đóng góp vào quỹ bảo hiểm xã hội để bảo đảm cho mình và tương trợ lẫn nhau khi rủi ro xảy ra hoặc khi không còn tham gia quan hệ lao động nữa. c. Phân loại – Nếu căn cứ vào các khâu nghiệp vụ trong quá trình thực hiện bảo hiểm xã hội, có thể thấy bảo hiểm xã hội giống như các hình thức bảo hiểm khác, cũng bao gồm hai loại công việc khác nhau (hình thành quỹ và chi trả bảo hiểm) nên có thể chi sẽ quan hệ bảo hiểm xã hội thành hai quan hệ nhỏ: quan hệ pháp luật trong việc tạo quỹ bảo hiểm và quan hệ pháp luật trong việc chi trả các chế độ bảo hiểm xã hội. Quan hệ pháp luật trong việc tạo quỹ bảo hiểm xã hội là quan hệ giữa cơ quan bảo hiểm xã hội với người được hưởng bảo hiểm xã hội trong lĩnh vực chi trả các chế độ bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật. Cách phân loại này giúp chúng ta hiểu chi tiết hơn về thực chất của các quan hệ pháp luật bảo hiểm xã hội, từ đó hình thành nên hệ thống các quyền và nghĩa vụ pháp lý của các chủ thể tương ứng với từng quan hệ nhỏ. – Nếu căn cứ vào hình thức bảo hiểm xã hội, có thể chia các quan hệ pháp luật bảo hiểm xã hội thành quan hệ bảo hiểm xã hội bắt buộc và quan hệ bảo hiểm xã hội tự nguyện. Quan hệ pháp luật bảo hiểm xã hội bắt buộc là quan hệ bảo hiểm phát sinh trên cơ sở các quy định bắt buộc của Nhà nước, để bảo hiểm thu nhập cho những lao động trong các quan hệ tương đối ổn định (còn gọi lao động trong khu vực chính quy, có kết cấu như: công chức, cán bộ nhà nước những chức danh chuyên trách trong lực lượng vũ trang và những người lao động có hợp đồng lao động với thời hạn ba tháng trở lên trong các doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức. Đây là quan hệ pháp luật bảo hiểm xã hội chủ yếu, người lao động thuộc đối tượng này bắt buộc phải tham gia và được hưởng, chiếm số lượng lớn trong số những tham gia và hưởng bảo hiểm xã hội. Quan hệ pháp luật bảo hiểm xã hội tự nguyện là những quan hệ bảo hiểm xã hội hình thành trên cơ sở kết hợp giữa việc tổ chức, bảo trợ của Nhà nước với sự tham gia tự nguyện của người lao động có nhu cầu bảo hiểm. Bảo hiểm xã hội tự nguyện chủ yếu được áp dụng đối với những người lao động không thuộc diện bảo hiểm xã hội bắt buộc (còn gọi là trong khu vực phi tập trung, phi kết cấu) nhưng có nhu cầu tham gia bảo hiểm, ví dụ như các lao động cá thể riêng lẻ, xã viên hợp tác xã không có hợp đồng lao động, những người lao động có hợp đồng lao động dưới ba tháng… Hiện nay người có nhu cầu tham gia bảo hiểm tự nguyện chưa có nhiều nên hình thức này chưa được tổ chức rộng rãi. Thực tế ở Việt Nam mới chi có lĩnh vực bảo hiểm y tế được 15

16. tổ chức theo loại hình tự nguyện. Vấn đề bảo hiểm tuổi già (hưu trí) đó được tổ chức thí điểm nhưng còn trong phạm vi hẹp ở một số tỉnh. Dự kiến trong tương lai, bảo hiểm tự nguyện sẽ được mở rộng đối với lĩnh vực bảo hiểm hưu trí. Cùng với sự phát triển của khu vực tư nhân, các quan hệ bảo hiểm xã hội tự nguyện sẽ phát sinh ngày càng nhiều. Đến một mức nào đó, từ sự phát triển của các quan hệ pháp luật bảo hiểm nên những quỹ (tổ chức) bảo hiểm xã hội mới, làm thay đổi nhận thức và diện mạo của bảo hiểm xã hội Việt Nam. 1.2. Chủ thể của quan hệ pháp luật bảo hiểm xã hội Qua phân loại trên cũng có thể thấy quan hệ pháp luật về bảo hiểm xã hội gồm 3 chủ thể chính: người tham gia bảo hiểm xã hội, người được hưởng bảo hiểm xã hội và cơ quan thực hiện bảo hiểm xã hội. Có thể hiểu vị trí, điều kiện tham gia… quan hệ bảo hiểm xã hội của các chủ thể này được pháp luật quy định như sau: a. Bên tham gia bảo hiểm xã hội Bên tham gia bảo hiểm xã hội là người có nghĩa vụ đóng phí bảo hiểm để hình thành quỹ bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật. Hiện nay, pháp luật quy định một trong những đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội chủ yếu là người lao động. Như vậy, năng lực pháp luật và năng lực hành vi tham gia bảo hiểm xã hội của họ do khả năng lao động quyết định. Họ có thể là người tham gia do khả năng lao động có thu nhập. Khi có thu nhập bằng sức lao động của chính mình, người lao động có đủ điều kiện để tham gia quan hệ pháp luật bảo hiểm xã hội với tư cách là người tham gia bảo hiểm. Điều đó làm cho tư cách chủ thể của quan hệ pháp luật bảo hiểm xã hội khác với các quan hệ bảo hiểm khác. Nếu thuộc đối tượng bảo hiểm xã hội bắt buộc (như đã đề cập đến ở phần phân loại), người lao động tham gia bảo hiểm xã hội thông qua việc thực hiệc quy định đóng 5% tiền lương của mình vào quỹ bảo hiểm xã hội để bảo hiểm khi về hưu và chi phí tử tuất. Nếu không thuộc diện bảo hiểm bắt buộc, người lao động có thể tham gia hoặc không tham gia đóng góp vào quỹ bảo hiểm, tùy thuộc cách lựa chọn của họ. Chính việc cho phép của pháp luật và sự lựa chọn của người tham gia bảo hiểm xã hội cũng là biểu hiện của năng lực pháp luật và năng lực hành vi tham gia bảo hiểm xã hội của họ. Nếu tham gia, họ cũng có thể chọn tham gia một hoặc một số hoặc tất cả các chế độ bảo hiểm xã hội mà Nhà nước (thông qua cơ qua bảo hiểm xã hội) tổ chức. Từ đó có thể thấy rằng những người tham gia bảo hiểm bắt buộc vẫn là đối tượng chính của bên tham gia bảo hiểm xã hội. Người sử dụng các lao động thuộc đối tượng bảo hiểm bắt buộc nói trên cũng bắt buộc phải tham gia bảo hiểm xã hội. Có thể nói đây là chủ thể tham gia bảo hiểm đặc biệt của hình thức bảo hiểm xã hội, bởi vì, họ không chỉ đóng quỹ cho mình hưởng bảo hiểm mà chủ yếu đóng quỹ cho người lao động mà họ sử dụng được hưởng. Nhà nước bắt buộc họ đóng quỹ bảo hiểm xã hội cho người lao động do việc sử dụng sức lao động của người lao động chỉ có thể thực hiện được trong một thời hạn nhất định, phụ thuộc vào tuổi tác, sức khỏe con người. b. Bên hưởng bảo hiểm xã hội. Bên hưởng bảo hiểm xã hội là những cá nhân được nhận tiền bảo hiểm (còn gọi là trợ cấp bảo hiểm xã hội) từ quỹ bảo hiểm xã hội khi có đủ điều kiện bảo hiểm theo quy định của pháp luật. Quan hệ pháp luật bảo hiểm xã hội mang đặc điểm chung của hệ thống quan hệ pháp luật an sinh xã hội nên người hưởng bảo hiểm xã hội cũng có năng lực pháp luật hưởng bảo hiểm xã hội từ khi mới sinh ra, không phụ thuộc năng lực hành vi của họ. Hiện nay, theo quy định, người được hưởng bảo hiểm xã hội là người lao động đã hoặc đang tham gia quan hệ bảo hiểm xã hội. Cũng có trường hợp người được hưởng bảo hiểm xã hội là một số thành viên trong gia đình người lao động. Đây cũng là chủ thể được hưởng bảo hiểm xã hội đặc thù của hình thức bảo hiểm xã hội bởi đối tượng bảo hiểm trong bảo hiểm xã hội là thu 16

18. – Khiếu nại, tố cáo với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền khi cơ quan bảo hiểm xã hội hoặc cá nhân, tổ chức khác có hành vi vi phạm pháp luật về bảo hiểm. b. Quyền và nghĩa vụ của bên hưởng bảo hiểm xã hội Các quyền của người được hưởng bảo hiểm xã hội – Được nhận sổ bảo hiểm xã hội – Được nhận trợ cấp bảo hiểm xã hội đầy đủ, kịp thời thuận tiện khi có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật; – Có quyền khiếu nại hoặc yêu cầu giải quyết tranh chấp khi quyền bảo hiểm của họ bị xâm phạm. Các nghĩa vụ của người hưởng bảo hiểm xã hội: – Cung cấp thông tin trung thực về bảo hiểm xã hội với cơ quan có thẩm quyền. – Có nghĩa vụ thực hiện đúng các quy định về lập hồ sơ để hưởng bảo hiểm xã hội. – Bảo quản, sử dụng sổ bảo hiểm xã hội và hồ sơ bảo hiểm xã hội đúng mục đúch, đúng quy định. c. Nhiệm vụ và quyền hạn của bên thực hiện bảo hiểm xã hội Với tư cách là cơ quan nhà nước có chức năng tổ chức và thực hiện chính sách, chế độ bảo hiểm xã hội, bên thực hiện bảo hiểm xã hội có quyền và trách nhiệm sau: – Tổ chức, chỉ đạo thức hiện các chế độ bảo hiểm xã hội, thu các khoản đóng góp bảo hiểm xã hội bắt buộc và tự nguyện, chi trả trợ cấp bảo hiểm xã hội cho đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội kịp thời đầy đủ, thuận tiện và đúng thời hạn. – Lưu giữ hồ sơ của đối tượng tham gia và hưởng bảo hiểm xã hội, cấp sổ và các loại thẻ bảo hiểm xã hội theo quy định. – Quản lý, sử dụng và hạch toán quỹ bảo hiểm xã hội, cấp sổ và các loại thẻ bảo hiểm xã hội theo quy định. – Xây dựng và trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt và thực hiện đề án bảo tồn giá trị và tăng trưởng quỹ bảo hiểm xã hội. – Tổ chức các phương thức quản lý, hợp tác với các đơn vị sử dụng lao động, cơ sở khám chữa bệnh….để thực hiện các chế độ bảo hiểm xã hội có hiệu quả. – Từ chối việc chi trả các chế độ bảo hiểm xã hội khi đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội không đủ điều kiện hưởng bảo hiểm xã hội theo quy định hoặc khi có căn cứ pháp lý về hành vi man trá, làm giả hồ sơ để hưởng bảo hiểm xã hội. – Bồi thường mọi khoản thu, chi sai quy định cho đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật; – Giải quyết kịp thời và đúng đắn các khiếu nại, tố cáo của tổ chức và cá nhân về thực hiện chính sách, chế độ bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật. Ngoài ra, với tư cách là cơ quan sự nghiệp đầu nghành của Nhà nước, Bảo hiểm xã hội Việt Nam còn có quyền và trách nhiệm trong việc ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện việc giải quyết các chế độ bảo hiểm xã hội, kiến nghị Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ và các cơ quan nhà nước hữu quan về vịêc sửa đổi, bổ sung các quy định về bảo hiểm xã hội; thực hiện báo cáo về thu, chi và các họat động của bảo hiểm xã hội với các cơ quan quản lý của Nhà nước có thẩm quyền, tuyên truyền vận động để mọi người tham gia bảo hiểm xã hội… 2. Quan hệ pháp luật về ưu đãi xã hội. 2.1. Khái niệm đặc điểm a. Khái niệm Xuất phát từ hoàn cảnh lịch sử của nước ta, đất nước đã trải qua một thời gian dài có chiến tranh, một bộ phận dân cư, nhiều thế hệ đã có những đóng góp, hy sinh cho sự nghiệp cách mạng, xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc. Họ có thể đã hy sinh cả tính mạng, một phần thân thể và cả những người thân yêu của mình cho đất nước. Ngày nay, khi đất nước đã bình yên và phát triển, 18

19. họ trở thành những người có công với nước, được Nhà nước và dân tộc ghi nhận. Những người có công hoặc người thân của họ xứng đang được hưởng những chế độ ưu tiên, ưu đãi đó không chỉ dựa vào lòng biết ơn của các thành viên trong xã hội mà phải được pháp luật ghi nhận, trở thành trách nhiệm pháp lý của cơ quan nhà nước và quyền của người có công. Việc thực hiện trách nhiệm đó đã hình thành nên quan hệ giữa Nhà nước, người ưu đãi và những người có công được ưu đãi. Đó là một trong những quan hệ xã hội quan trọng được pháp luật điều chỉnh, trở thành quan hệ pháp luật ưu đãi xã hội. Như vậy, quan hệ pháp luật ưu đãi xã hội là quan hệ xã hội hình thành trong việc Nhà nước ưu đãi người có công và một số thành viên gia đình họ trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, được các quy phạm pháp luật điều chỉnh. b. Đặc điểm Ngoài các đặc điểm chung của hệ thống quan hệ pháp luật an sinh xã hội, quan hệ pháp luật ưu đãi xã hội còn có những đặc điểm riêng sau: Thứ nhất, căn cứ chủ yếu để xác định chủ thể ưu đãi là sự đóng góp đặc bịêt của họ hoặc thân nhân của gia đình họ cho xã hội. Đó là điểm khác biệt của quan hệ pháp luật ưu đãi xã hội nếu so sánh nó với các quan hệ pháp luật khác trong hệ thống quan hệ pháp luật an sinh xã hội. Những đóng góp của họ không nhằm mục đích và không thể tính toán giá trị hoàn trả, bù đắp. Ngoài căn cứ đặc biệt này, việc xác định chủ thể được thụ hưởng trong quan hệ ưu đãi cũng căn cứ vào hoàn cảnh cụ thể của đối tượng, như các quan hệ an sinh khác. Tuy nhiên, đó không phải là căn cứ chính xác định chủ thể trong quan hệ ưu đãi xã hội. Thứ hai, quan hệ pháp luật ưu đãi xã họi được thiết lập không chỉ nhằm mục đích tương trợ cộng đồng mà chủ yếu để thực hiện sự ưu đãi của Nhà nước đối với người có công. Nhìn chung, các quan hệ pháp luật an sinh xã hội đều thể hiện mục đích chính là để tương trợ cộng đồng trong xã hội. Quan hệ ưu đãi xã hội cũng thể hiện mục đích này trong việc xác định đối tượng được hưởng chủ yếu là những người gặp khó khăn như người bị thương tật, người già, trẻ mồ côi… Tuy nhiên, cũng như đặc điểm trên, đó không phải là mục đích chính của việc thiết lạp quan hệ pháp luật này. Nếu chỉ để trợ giúp những đối tượng đó thì không cần phải hình thành chế độ ưu đãi xã hội riêng mà họ có thể được giúp đỡ thông qua các loại chế độ an sinh xã hội như bảo hiểm xã hội, cứu trợ xã hội. Khác với hệ thống an sinh xã hội của nhiều nước khác, hệ thống an sinh xã hội của Việt Nam xác định chế độ ưu đãi xã hội là một trong những nội dung quan trọng, để thực hiện mục đích chủ yếi là ưu tiên, ưu đãi đối với những người có công. Vì vậy, chủ thể hưởng ưu đãi là người có công, thường được trợ cấp ưu đãi cao hơn các mức trợ cấp khác trong hệ thống an sinh xã hội. Thậm chí Nhà nước chủ trương đảm bảo mức ưu đãi xã hội cao hơn mức sống trung bình của người dân. Nội dung ưu đãi xã hội cũng rộng rãi hơn các chế độ an sinh khác. Người được ưu đãi không chỉ được trợ cấp đảm bảo cuộc sống mà còn được hưởng các chế độ ưu đãi toàn diện về y tế, giáo dục, việc làm, nhà ở và các ưu đãi về đời sống tinh thần, bao hàm hầu hết các nhu cầu thiết yếu của con người trong xã hội. Tuy nhiên, điều đó không làm mất đi tính chất an sinh xã hội của quan hệ này bởi vì chỉ có những đối tượng có cống hiến của mình cho Tổ quốc mới được xác định là chủ thể được ưu đãi. Những người có công trong các lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hóa nghệ thuật, thể thao… cống hiến và mang lại vinh quang cho dân tộc, được tôn vinh các danh hiệu, ví dụ: Thầy thuốc ưu tú, nhà giáo nhân dân… nhưng họ không gặp khó khăn trong cuộc sống vì những gì đã cống hiến cho đất nước nên không phải là chủ thể chủ yếu của quan hệ pháp luật ưu đãi xã hội. 2.2. Chủ thể của quan hệ pháp luật ưu đãi xã hội. a. Người ưu đãi Người ưu đãi trong quan hệ pháp luật ưu đãi xã hội là người đảm bảo thực hiện các chế độ ưu đãi đối với người có công theo quy định của pháp luật. Nhà nước là chủ thể có trách nhiệm 19

21. b. Quyền và nghĩa vụ của người được ưu đãi – Được hưởng ưu đãi trợ cấp, các ưu đãi khác và chế độ nuôi dưỡng, điều dưỡng, phục hồi chức năng… tùy từng đối tượng luật định. – Thực hiện đúng các quy định của Nhà nước về điều kiện, thủ tục để hưởng chế độ ưu đãi. – Không được có những hành vi gian dối, giả mạo giấy tờ để hưởng chế độ ưu đãi xã hội. 3. Quan hệ pháp luật về cứu trợ xã hội 3.1. Khái niệm và đặc điểm a. Khái niệm Trong cuộc sống, một số người không may gặp phải những rủi ro do thiên tai hoặc những lý do bất khả kháng khác mà bản thân họ cũng như những người thân của họ không thể tự khắc phục được. Bên cạnh đó, còn có một số người bị thiệt thòi, yếu thế bởi nhiều lý do khác nhau như người gìa cô đơn, trẻ mồ côi, người tàn tật. Những đối tượng này cần đến sự trợ giúp của nhà nước, của xã hội, của cộng đồng để vượt qua những khó khăn trong cuộc sống, có điều kiện để tồn tại và có cơ hội tái hòa nhập vào cộng đồng. Với tư cách là chủ thể quản lý và đại diện chính thức cho toàn xã hội, các nhà nước cũng đảm bảo và tổ chức cả cộng đồng thực hiện việc trợ giúp cho các gia đình, cá nhân gặp hoàn cảnh khó khăn nói trên. Tuy là vấn đề trợ giúp nhưng nó cũng thuộc lĩnh vực phân phối trong xã hội, đặc biệt khi ngân sách Nhà nước vẫn là nguồn tài chính chủ yếu để thực hiện nên cần có sự công bằng và hợp lý theo những nguyên tắc chung. Để đảm bảo yêu cầu đó, pháp luật cũng điều chỉnh vấn đề này ở mức độ phù hợp. Quan hệ cứu tế, trợ giúp của nhà nước, xã hội và cộng đồng đối với những đối tượng nói trên trong khuôn khổ những quy định của pháp luật được gọi là quan hệ pháp luật về cứu trợ xã hội. Như vậy, quan hệ hợp pháp về cứu trợ xã hội là những quan hệ xã hội hình thành trong việc người cứu trợ hỗ trợ, giúp đỡ về vật chất và nhu cầu thiết yếu để giải quyết khó khăn cho người cần cứu trợ, được các quy phạm pháp luật điều chỉnh. b. Đặc điểm Quan hệ pháp luật cứu trợ xã hội cũng có đầy đủ các đặc điểm của QHPL an sinh xã hội như: không hạn chế đối tượng tham gia mục đích chủ yếu là tương trợ cồng đồng… được thể hiện rất rõ nét trong quan hệ pháp luật cứu trợ xã hội. Bên cạnh đó, là một nhánh của quan hệ pháp lụât an sinh, quan hệ pháp luật cứu trợ xã hội còn có một số đặc điểm riêng như sau: Thứ nhất, trong quan hệ pháp luật cứu trợ xã hội, chủ thể tham gia với tư cách là người cứu trợ đa dạng. Nếu trong quan hệ bảo hiểm xã hội, người thực hiện bảo hiểm là một tổ chức thống nhất do nhà nước thành lập (Bảo hiểm xã hội Việt Nam), trong quan hệ pháp luật ưu đãi xã hội, người thực hiện ưu đãi là cơ quan nhà nước (Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Cục Thương binh liệt sỹ và người có công) thì trong quan hệ cứu trợ xã hội, bên cạnh chủ thể có trách nhiệm chính là Nhà nước, còn có nhiều chủ thể khác có thể tham gia với tư cách là người cứu trợ. Bất cứ cá nhân, tổ chức nào, không phân biệt trong nước hay ngoài nước, quốc tế… nếu có khả năng và lòng hảo tâm đều có thể tham gia với tư cách là người cứu trợ, giúp đỡ những người gặp hoàn cảnh khó khăn, thiên tai, túng thiếu… Những quan hệ cứu trợ này tùy trường hợp, căn cứ vào quy mô tổ chức, phạm vi cứu giúp… mà có thể thông qua Nhà nước được pháp luật điều chỉnh hoặc không. Như vậy, Nhà nước là chủ thể chính tham gia quan hệ pháp luật cứu trợ với tư cách là người cứu trợ. Bên cạnh đó, Nhà nước có thể tham gia với tư cách là người tổ chức và huy động các nguồn lực cứu trợ trong xã hội, người tạo điều kiện thuận lợi cho các họat động đó được thực hiện và kiểm soát các quan hệ cứu trợ ở mức độ cần thiết… Nhà nước không phải lúc nào cũng tham gia với tư cách là người cứu trợ, không phải là người cứu trợ duy nhất. Thứ hai, trong quan hệ pháp luật cứu trợ xã hội, không có nghĩa vụ đóng góp của người được cứu trợ. 21

Ô Nhiễm Môi Trường Giao Thông Tại Vn: Thực Trạng Và Giải Pháp

Thứ năm – 10/09/2020 09:19

Vấn đề ô nhiễm không khí do Giao thông vận tải đô thị gây ra ở nước ta xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau. Trước hết, đó là ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa gắn liền với công nghiệp hóa.

Tổng quan

Ô nhiễm môi trường đã trở thành một vấn đề không chỉ của một quốc gia, một khu vực mà là mối quan tâm chung của toàn nhân loại. Quá trình phát triển kinh tế – xã hội của các quốc gia trên thế giới dẫn đã đến những tác động to lớn đến môi trường, làm cho môi trường sống của loài người bị biến đổi và có xu hướng ngày càng trở nên xuống cấp trầm trọng. Đó là sự biến đổi của khí hậu – nóng lên toàn cầu, sự suy giảm tầng ôzôn và mưa axít… đặc biệt là ô nhiễm không khí do hoạt động giao thông vận tải gây ra. Ở Việt Nam ô nhiễm môi trường trên địa bàn các đô thị lớn đang trở thành một vấn đề bức xúc.

Từ nhiều năm qua, các nhà khoa học tại các trung tâm nghiên cứu môi trường của Đại học Yale và Đại học Columbia ở Mỹ đã tiến hành nghiên cứu chỉ số hiệu suất môi trường (Environmental Performance Index – EPI) ở 132 quốc gia, kết quả cho thấy Việt Nam được xếp hạng thứ 79 trong danh sách này. Trên cơ sở tiêu chuẩn cho phép của thế giới về đánh giá chất lượng không khí (Air Quality Index- AQI), nếu mức độ sạch của không khí từ 150-200 điểm thì đã bị coi là ô nhiễm, từ 201-300 thì coi là cực kỳ cấp bách, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của người dân. Trong khi đó, tại Việt Nam, hai khu vực ô nhiễm nhất là Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, chỉ số AIQ trong ngày ở mức 122-178. Còn vào các khung giờ cao điểm, khi xảy ra các vụ ùn tắc hoặc ùn ứ giao thông thì chỉ số AIQ trên địa bàn các đô thị lớn phải lên tới trên 200. Điều đó cho thấy Việt Nam đang đứng ở ngưỡng ô nhiễm không khí nghiêm trọng, gây ra những hiểm họa khôn lường đối với sức khỏe của người dân.

Tác hại của khí thải phương tiện giao thông tới sức khoẻ và môi trường

Vấn đề ô nhiễm không khí do hoạt động Giao thông vận tải đô thị gây ra ở nước ta xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau. Trước hết, đó là ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa gắn liền với quá trình công nghiệp hóa. Quá trình đô thị hóa một mặt sẽ thúc đẩy sự phát triển kinh tế, xã hội và kéo theo đó dân số đô thị sẽ không ngừng gia tăng.

Thực trạng

Theo kết quả Tổng điều tra Dân số và Nhà ở 2019, tổng số dân của Việt Nam là 96.208.984 người, trong đó, dân số nam là 47.881.061 người, chiếm 49,8% và dân số nữ là 48.327.923 người, chiếm 50,2%.

Kết quả Tổng điều tra dân số 2019 cũng cho thấy Việt Nam là quốc gia có mật độ dân số cao so với các nước trên thế giới và trong khu vực. Năm 2019, mật độ dân số của Việt Nam là 290 người/km2, tăng 31 người/km2 so với năm 2009. Tp.Hà Nội và chúng tôi là hai địa phương có mật độ dân số cao nhất cả nước, tương ứng là 2.398 người/km2 và 4.363 người/km2.

Phân bố dân cư giữa các vùng kinh tế-xã hội có sự khác biệt đáng kể, vùng Đồng bằng sông Hồng là nơi tập trung dân cư lớn nhất của cả nước với 22,5 triệu người, chiếm gần 23,4%; tiếp đến là vùng Bắc Trung bộ và Duyên hải miền Trung với 20,2 triệu người, chiếm 21,0%. Tây Nguyên là nơi có ít dân cư sinh sống nhất với tổng dân số là 5,8 triệu người, chiếm 6,1% dân số cả nước.

Con số thực tế năm 2019, dân số khu vực thành thị ở Việt Nam là 33.059.735 người, chiếm 34,4%; ở khu vực nông thôn là 63.149.249 người, chiếm 65,6%.

Từ năm 2009 đến nay, tỉ trọng dân số khu vực thành thị tăng 4,8 điểm phần trăm.

Theo số liệu của Cục Cảnh sát giao thông, năm 2015 toàn quốc có 50.682.934 phương tiện (2.932.080 xe ô tô, 47.760.854 xe mô tô, xe máy).

Đến tháng 7/2020, thành phố Hồ Chí Minh có 8,94 triệu phương tiện cá nhân, tăng gần 7% so với cùng kỳ năm 2018. Trong đó, có hơn 825.000 ô tô (tăng gần 16%) và 8,12 triệu xe máy (tăng hơn 6%). Như vậy, chỉ trong khoảng 10 năm (từ năm 2010 đến nay) đã tăng thêm hơn 4 triệu phương tiện giao thông. Theo thống kê, bình quân mỗi tháng có 30.000 phương tiện giao thông đăng ký mới, tức mỗi ngày có 1.000 phương tiện đăng ký mới.

Còn theo ông Đào Việt Long, Phó Trưởng phòng CSGT Hà Nội , tính đến Quý 1/2019, CSGT Hà Nội phải quản lý 6.649.596 phương tiện. Trong đó có 739.731 ôtô, 5.761.436 xe máy và xe máy điện là 148.429 chiếc. Đánh giá tổng hợp 2014 – 2019 cho thấy, trong năm 2017, số lượng phương tiện tăng 5,3%, đến năm 2018 tăng 4,2% và năm 2019 so với 2018 đã tăng 1,5%. Theo số liệu phương tiện được phòng CSGT thống kê, xe máy đang chiếm đến 86% lượng phương tiện giao thông đang tham gia ở Hà Nội.

Chất lượng của các phương tiện giao thông cũng là một vấn đề rất đáng bàn. Hầu hết những loại xe ô tô cũ và xe máy đang lưu hành đều không có bộ kiểm soát khí thải ra môi trường. Trong khi đó, nhiều người tham gia giao thông tại Việt Nam còn chưa có thói quen bảo dưỡng phương tiện định kỳ theo khuyến cáo của nhà sản xuất. Các phương tiện giao thông sau một thời gian sử dụng hệ thống phun xăng sẽ bị hở ra, xăng có nguy cơ bốc cháy. Động cơ đốt không hết xăng cũng sẽ sinh ra benzen trong ống xả.

Khi phương tiện được bảo dưỡng định kỳ sẽ giúp động cơ hoạt động tốt hơn, lượng nhiên liệu tiêu hao ít hơn nên lượng khí thải xe ra môi trường cũng ít hơn. Mặt khác, nó còn giúp kết cấu phương tiện tốt hơn, an toàn hơn trong khi lưu hành. Do đó, nhiều phương tiện cá nhân không thực hiện nghiêm túc chế độ bảo hành bảo dưỡng định kỳ là nguyên nhân làm tăng lượng khí phát thải ra môi trường với mức độ độc hại ngày càng lớn. Đặc biệt, nhiều phương tiện cũ nát, hết niên hạn sử dụng vẫn tham gia giao thông, không chỉ đe dọa đến sự an toàn tính mạng cho người tham gia giao thông mà còn gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng không khí của các đô thị, đe dọa đến sức khỏe và cuộc sống của người dân.

Mỗi ngày lại có thêm nhiều người chết và thương tích do tai nạn giao thông, nhiều đô thị lớn thường xuyên bị ùn tắc đó là những gì mà các phương tiện truyền thông thường xuyên nhắc đến trong suốt những năm qua. Khi quá quan tâm đến mảng an toàn giao thông thì vấn đề ô nhiễm môi trường lại bị bỏ qua. Ô nhiễm môi trường giao thông là tiếng ồn, khói bụi, phát thải nhiên liệu xăng dầu vào không khí của các phương tiện tham gia giao thông như xe gắn máy, ô tô cá nhân gây ra.

Ô nhiễm môi trường trong hoạt động giao thông vận tải

Nhưng chúng ta vẫn cứ mặc nhiên chịu đựng sự ngột ngạt ô nhiễm trong không khí trên đường giao thông để cố đổi lấy sự đi lại cho tự do bằng việc mỗi người một phương tiện! Đặc biệt khi bị ùn tắc giao thông trong các đô thị thì sự lãng phí nhiên liệu tăng lên, đồng thời sự ô nhiễm càng gia tăng do khối lượng phương tiện dồn ứ không di chuyển được.

Hơn 50 triệu phương tiện đang hoạt động đồng nghĩa với việc hơn 50 triệu phương tiện bình xăng cùng với 50 triệu phương tiện ống xả đang là “gánh nặng” cho bầu không khí. Trong khi sông Đồng Nai bị ô nhiễm do công ty bột ngọt Vedan đã nhiều năm lén lút xả xuống chất thải độc hại, thì bầu không khí cũng trong tình trạng ô nhiễm nhưng không phải do lén lút mà rất đường hoàng từ chính phương tiện cá nhân của mỗi chúng ta!

Sử dụng giao thông cá nhân không phù hợp hay hoạch định sách lược về giao thông vận tải không đúng hướng đã dẫn đến nhiều hệ lụy. Thật khó tự lý giải vì sao một đất nước còn nghèo giá cả xăng dầu đã tăng cao mà phương tiện đi lại bằng xe gắn máy ô tô cá nhân thì thi nhau phát triển đem lại quá nhiều hệ lụy cho xã hội.

Mặt khác, từ nông thôn đến thành thị từ nhà giàu đến người nghèo đâu đâu cũng phương tiện cá nhân từ ôtô du lịch, xe máy cao cấp, xe máy thông dụng, xe máy rẻ tiền phù hợp cho đủ mọi tầng lớp… Đi đôi với nó là các dịch vụ đáp ứng như trạm xăng dầu các điểm sửa chửa và rửa xe tư nhân được tự do mọc lên như nấm. làm phát thải hơi xăng dầu vào không khí.

Nhiều dịch vụ xăng dầu lại “tự nhiên” mọc lên ngay ở khu dân cư hay ở khu vực chợ. Các dịch vụ sửa chửa và rửa xe nhỏ lẻ có mặt khắp nơi lại cho ra hướng ô nhiễm khác. Đó là cặn dầu mỡ các loại từ sửa chữa và nước rửa xe ra mọi nơi vào đất đai hay ao cống gây ô nhiễm vào đất và nước.

Chưa ai thống kê hết những hệ lụy do sự bùng nổ phương tiện giao thông cá nhân bằng xe gắn máy gây ra. Điều lạ cũng là năng lượng ngang nhau nhưng với nguồn điện thì được khuyến cáo cần tiết kiệm tối đa. Còn xăng dầu phải nhập siêu có lúc giá đã lên trên 20.000 đồng/lít thì không được sự cảnh báo vào cuộc của cơ quan chức năng của xã hội đề cập đến cần tiết kiệm xăng dầu phương tiện từ nhiều phương tiện cá nhân không cần thiết.

Trong khi đó, ở Mỹ khi giá cả xăng dầu tăng cao, tại một số đô thị chính quyền và các cơ quan đã kêu gọi người dân đi lại bằng xe đạp và đi bộ. Người Hà lan một đất nước giàu mà vẩn giữ truyền thống từ lâu đi làm bằng xe đạp.

Lưu lượng phương tiện tham gia giao thông tăng nhanh trong điều kiện kết cấu hạ tầng chưa được cải thiện nhiều, chủ trương di dời các bệnh viện, trường học, cơ quan hành chính lớn, bến xe… ra khỏi nội đô thành phố chưa được thực hiện tốt. Việc thi công, xây dựng mới các công trình giao thông vừa kéo dài, vừa chiếm diện tích mặt đường lớn, công tác tổ chức giao thông gặp nhiều khó khăn đã ảnh hưởng lớn đến tình hình TTATGT, cảnh quan và môi trường đô thị gây nên tình trạng ùn tắc giao thông nghiêm trọng.

Ô nhiễm môi trường trong hoạt động giao thông vận tải

Trong năm 2015, trên địa bàn thủ đô Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh tuy không xảy ra ùn tắc giao thông trên 30 phút, nhưng tình hình ùn ứ giao thông vẫn còn xảy ra do mật độ phương tiện cao, nhất là vào giờ cao điểm. Mặt khác khi xảy ra mưa to gây ngập nước trên một số tuyến đường gây cản trở giao thông. Khi xảy ra tình trạng ùn ứ giao thông, mức độ ô nhiễm hơi xăng dầu có thể tăng lên 4 – 5 lần so với lúc bình thường. Ô nhiễm khí CO và hơi xăng dầu (HC) thường xảy ra ở các nút giao thông lớn. Do đó, nguồn khí thải từ giao thông vận tải đang trở thành một nguồn gây ô nhiễm chính đối với môi trường không khí ở đô thị, nhất là ở các đô thị lớn như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh.

Có thể khẳng định, khí thải ô nhiễm môi trường ở đô thị có tới 70% bắt nguồn từ các phương tiện giao thông. Ở Việt Nam, khoảng 75% số lượng ôtô chạy bằng nhiên liệu xăng, 25% số lượng ôtô chạy bằng dầu DO, 100% xe máy chạy bằng xăng. Khi các phương tiện sử dụng nhiên liệu để vận hành, động cơ sẽ phát thải một lượng lớn các chất khí có thành phần độc hại gây ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng trực tiếp tới sức khỏe người tham gia giao thông và sinh sống dọc các tuyến đường giao thông.

Các khí gây ô nhiễm chính từ khí thải của các phương tiện như CO, NOx (NO, NO2, N2O3, N2O5), CnHm. Tìm hiểu về khí thải của các phương tiện giao thông cho thấy những ảnh hưởng trực tiếp của các khí này tới sức khỏe của người dân:

– Oxit cacbon (CO) ảnh hưởng đến hệ thần kinh và tim mạch gây hiện tượng ngạt thở (cản trở quá trình vận chuyển oxy đến các mô tế bào). Khí oxit cacbon là khí không màu và không mùi. Triệu chứng chính của ngộ độc oxit cacbon (sự xuất hiện của triệu chứng đau đầu) xảy ra khi nồng độ của oxit cacbon đạt 200 mg/m3 trong khoảng thời gian chịu tác dụng từ 2 – 3 giờ. Trong trường hợp oxit cacbon vượt quá nồng độ nói trên thì sẽ xuất hiện cảm giác đầu óc choáng váng. Giai đoạn tiếp theo của ngộ độc oxit cacbon là tình trạng buồn ngủ và dẫn đến trạng thái bất tỉnh.

– Ôxit Nitơ (NOx) cũng là khí không mùi, không vị và ảnh hưởng rất lớn đến đường hô hấp của cơ thể người. Đặc biệt, trên địa bàn các thành phố lớn ôxit Nitơ kết hợp với hydrocacbon (CnHn) trong khí thải của các phương tiện dưới tác dụng của ánh nắng mặt trời và tạo nên chất oxy hóa do ánh sáng. Khi đó độc tố của hợp chất này bị tăng lên vài lần so với các hợp chất ban đầu. Ngộ độc ôxit Nitơ bắt đầu bằng dấu hiệu cảm cúm nhẹ. Trong trường hợp hàm lượng của ôxit Nitơ tăng lên thì tình trạng cảm cúm sẽ nặng hơn, thậm chí dẫn đến hiện tượng nôn và đau đầu. Nếu hàm lượng của ôxit Nitơ tăng lên một cách đáng kể thì triệu chứng ngộ độc trở nên trầm trọng hơn và có thể đe dọa đến tính mạng.

– Hydrocacbon (CnHn) có mùi khó chịu đặc trưng, có tác dụng gây mê. Với hàm lượng của hydrocacbon thấp thì sẽ làm giảm hoạt động, gây đau đầu và chóng mặt. Ví dụ trong trường hợp tiếp xúc với khí benzen (C6H6) trong khoảng thời gian 8 giờ với nồng độ xấp xỉ 600 mg/m3 sẽ gây ra đau đầu, cảm cúm và cảm giác khó chịu trong cổ họng.

Ngoài ra, nồng độ bụi (TSP và PM10) trong không khí trung bình ở các đô thị Việt Nam cao hơn trị số quy chuẩn kỹ thuật về môi trường không khí xung quanh cho phép từ 1,5-3 lần, một số nơi ô nhiễm trầm trọng cao hơn trị số quy chuẩn cho phép 5-7 lần nhưng vẫn chưa có giải pháp nào thỏa đáng để cải thiện tình hình trên.

Giải pháp

Đất nước ta đang trên thời kỳ phát triển hội nhập mở ra nhiều cơ hội và những thách thức. Phương tiện giao thông đã và đang là thách thức lớn cho đất nước ta sự phát triển không đúng hướng đã dẩn đến nhiều vấn nạn về an toàn, ùn tắc giao thông cho đến sự lãng phí và gây ô nhiễm đến môi trường. Đi lại bằng phương tiện cá nhân hay bằng giao thông công cộng đây là một sự lựa chọn từ cá nhân mổi con người cho đến nhà hoạch định sách lược về giao thông.

Một đất nước vốn đất chật người đông để bảo đảm cho an toàn giao thông tiết kiệm nhiên liệu phương tiện lại giảm thiểu về ô nhiểm môi trường. “Khéo ăn thì no khéo co thì ấm” không cách nào khác hơn là cần phải hướng tới giao thông công cộng.

Đối với hệ thống cung ứng nhiên liệu bán xăng dầu cần có hướng tập trung có giới hạn trên các tuyến quốc lộ chính khoảng 5 đến 10km mới cần một trạm không nên để tự do phát triển tràn lan. Thực tế đã cho thấy do quá nhiều điểm bán xăng dầu cơ quan chức năng đã khó lòng kiểm soát nổi trong việc gian lận bán ăn bớt xăng dầu, còn nói gì đến việc quản lý gây ô nhiễm môi trường.

Các điểm bán xăng dầu phải xây dựng xa khu dân cư và nơi tập trung đông đúc như chợ trường học bệnh viện. Tiến tới cần nhập công nghệ hiện đại trong kỹ thuật bơm dầu không để thoát hơi xăng dầu ra môi trường, khuyến khích và hỗ trợ các phương tiện công cộng dùng nhiên liệu sạch như CNG,…

Các dịch vụ sửa chửa và rửa ôtô xe máy cần có điểm tập trung đủ lớn, phải qua trình duyệt được cấp phép của các đơn vị, cơ quan về môi trường. Như thế mới có hệ thống thu gom chất thải từ dầu mỡ để xử lý. Mặt khác các dịch vụ rửa xe vốn sử dụng lãng phí rất nhiều nước, nước thải ra lại lẫn với dầu mỡ, chất tẩy. Cần phải có hệ thống xử lý giữ lại dầu mỡ và thanh lọc chất ô nhiễm để dùng lại nước này rửa xe hay mới được thải ra môi trường….

Khuyến khích sự phát triển của các phương tiện giao thông sử dụng năng lượng sạch như khí thiên nhiên, khí hóa lỏng, cồn nhiên liệu, biodiesel và điện. Đồng thời việc thu phí môi trường đối với các phương tiện tham gia giao thông cũng cần được xem xét như một giải pháp nâng cao ý thức, trách nhiệm người dân với môi trường hiện nay.

Các khu vực bến xe là nơi tập trung đông các phương tiện và hành khách do đó các bến xe phải ký cam kết bảo vệ môi trường, đầu tư hệ thống lọc không khí. Xây dựng hệ thống phòng chờ, mái che để đảm bảo sức khỏe cho hành khách. Ngoài ra, cần tăng cường diện tích trồng cây xanh tại các khu vực bến, bãi để làm trong lành môi trường.

Ô nhiễm môi trường gây ra từ phương tiện giao thông ảnh hưởng trực tiếp đời sống dân sinh của mổi chúng ta. Hơn thế, sự biến đổi khí hậu toàn cầu không thể thiếu sự đóng góp quan trọng từ số lượng quá lớn phương tiện giao thông ôtô, xe gắn máy do đốt cháy nhiên liệu hóa thạch “góp phần” làm gia tăng hiệu ứng nhà kính. Ai cũng hiểu tài nguyên dầu mỏ có giới hạn vậy mà chúng ta sử dụng phương tiện tiêu tốn xăng dầu thì không giới hạn. Cần phải có cách ứng xử thân thiện với môi trường trong giao thông./.