Viết 1 Đoạn Văn Có Biện Pháp Tu Từ / Top 12 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 4/2023 # Top View | Phauthuatthankinh.edu.vn

Viết 1 Đoạn Văn Từ 6

Hiện nay an toàn giao thông đang là một trong những vấn đề lớn được cả xã hội quan tâm. Những khẩu ngữ như: “An toàn là bạn, tai nạn là thù”, “An toàn giao thông là hạnh phúc cho mọi nhà”… được giăng lên ở khắp các nẻo đường. Nó như một lời nhắc nhở cũng là lời cảnh báo những người đang tham gia giao thông hãy chấp hành nghiêm chỉnh luật an toàn giao thông để đem lại an toàn cho mình và hạnh phúc cho gia đình. Thế nhưng số vụ tai nạn giao thông hằng năm vẫn không hề suy giảm, ngược lại còn tăng lên rất nhiều. Cứ mỗi năm Việt Nam có tới gần một ngàn vụ tai nạn giao thông. Trong vòng 10 năm qua, số vụ tai nạn giao thông đã tăng gấp 4 lần. Tất cả những nguyên nhân gây ra tai nạn đều bắt nguồn từ sự thiếu hiểu biết về Luật Giao thông. Đã đến lúc chúng ta cần đưa ra những biện pháp hữu hiệu và sáng tạo hơn, chủ động và tích cực hơn để giáo dục lớp trẻ ý thức chấp hành pháp luật khi tham gia giao thông. Trách nhiệm này thuộc về nhà trường, gia đình và toàn xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng dạy: “Người có đức mà không có tài làm việc gì cũng khó nhưng có tài mà không có đức thì cũng vô dụng”. Chính vì vậy, chúng ta cần quan tâm hơn nữa đến giáo dục đạo đức cho học sinh, sinh viên, mà trước hết là giáo dục ý thức công dân. Chấn chỉnh giao thông học đường không chỉ góp phần làm giảm thiểu tai nạn giao thông, mà quan trọng hơn là giáo dục ý thức pháp luật cho thế hệ tương lai. Tuổi trẻ chúng ta mầm sống của đất nước , là nguồn nhân lực dồi dào phát triển đất nước . Các bạn trẻ hãy ý thức rằng : ” Tử thần không ở đâu xa , mà ở cạnh bên bạn trên từng cây số ” Hãy quý trọng mạng sống bản thân cũng như tôn trọng sinh mạng người khác.

Chúc bn hx tốt!

Viết Đoạn Văn Có Sử Dụng Phép Tu Từ Ẩn Dụ Và Hoán Dụ

[Văn mẫu lớp 6] Tuyển tập những đoạn văn ngắn hay có sử dụng các biện pháp tu từ ẩn dụ và hoán dụ dành cho học sinh tham khảo.

Đề bài: Viết một đoạn văn ngắn (thể loại tự do) có sử dụng phép tu từ ẩn dụ, hoán dụ.

Top 5 đoạn văn đạt điểm cao có sử dụng các phép ẩn dụ và hoán dụ của học sinh lớp 6

Bình minh vừa rạng, phương đông ửng hồng. Từ phía xa xa, ông mặt trời mặc bộ xiêm y hoàng bào lộng lẫy từ tư bước lên cao. Trên trời những đám mây màu vàng nhạt lững lờ trôi đi. Những chú gà trống oai phong như những chàng hiệp sí dạo lên những khúc kèn hoành tráng: “Ò ó o o”,… từ xa vọng lại. Những chị gió thướt tha mang những luồng khí mát lạnh đến quê huơng tôi. Ngoài đồng, các bác nông dân đang gặt lúa. Khung cảnh thật yên bình tuyệt đẹp trong buổi sáng mùa hè trên quê hương tôi !

Mỗi khi hè về, gia đình tôi thường về bà ngoài chơi. Nhà ngoại tôi ở một làng chài ven biển. Ngước nhìn trên bầu trời trông nó giống như một bức tranh đầy giá trị kèm theo là những chú chim hải âu. Một bầu trời cao, biển cả rộng mênh mông. Những cô mây đuổi bắt nhau. Chị gió cùng với anh biển cả thổi rì rào tạo thành một bản nhạc tình ca. Tiếng nói véo von của chim, tiếng rì rào của những tán lá, tiếng trò chuyện của những nàng sóng. Tất cả cùng hòa nhau một àu sắc tuyệt vời. Với màu sắc này chắc chị nắng vẫn còn ngơ ngàng với vẻ đẹp kì diệu đó. Với vẻ đẹp xung quanh cũng ghen tị với màu sắc ấy. Còn con người thì cùng nhau làm việc của họ như là: đánh cá, buôn bán,…Và tôi cũng làm việc với họ. Khi một ngày mệt mỏi còn gì bằng khi vừa nhấp trà hoặc cà phê kèm theo là một ít bánh kem thơm ngon. Ước gì mình có thể ngắm khung cảnh này mỗi ngày.

Hình ảnh hoa đào chớm nở hay hoa mai đâm chồi báo hiệu một mùa xuân đang tràn về. Những bài hát về mùa xuân như những dòng chảy nhỏ ca lên khúc ca yêu thương một mùa mới, khoảnh khắc giao cảm mãnh liệt trong tâm hồn mỗi người. Mùa xuân là mùa đẹp nhất trong năm, là thời điểm hồi sinh của muôn loài sau mùa đông buốt giá. Mỗi con người ai cũng có mùa xuân xinh tươi, hồn nhiên nhưng phải biết nắm bắt.

Ai đã từng đến quê hương tôi hẳn sẽ không thể quên được khung cảnh thiên nhiên tươi đẹp vào mỗi buổi sớm mai. Bầu trời ửng hồng, cao vời vợi và rộng. Trên trời, những cô mây, cậu mây bồng bềnh như những chiếc kẹo bông đang vui đùa cùng làn gió sớm. Ông mặt trời tròn xoe, ửng hồng còn e ấp sau lũy tre làng, tỏa ánh sáng lấp lánh như hình rẻ quạt lung linh sắc màu rực rỡ. Từng đàn chim ríu rít bay về đua nhau hát ríu rít trên những hàng dây điện như thể chúng đang gẩy đàn vậy. Những giọt sương long lanh đọng trên lá như những viên pha lê sáng lấp lánh. Làn gió nhè nhẹ thổi mơn man trên những cành cây, ngọn cỏ. Cánh đồng lúa như một tấm thảm khổng lồ màu vàng rực rỡ trải dài mênh mông. Ven cánh đồng là dòng sông quê uốn mềm như dải lụa xanh nhẹ nhàng. Vào mỗi buổi sớm mai, con sông mới êm đềm, đáng yêu làm sao! Dưới ánh nắng bình minh, mặt sông lấp lánh, lăn tăn những gợn sóng. Cây cầu dường như chỉ có lúc này mới tranh thủ soi mình xuống mặt sông. Phía xa xa vút tầm mắt theo con đê làng là dãy núi xanh mờ chừng như chưa tan sương sớm. Cả không gian thiên nhiên quê hương tôi thật đẹp và yên bình như một bức tranh vậy. Càng yêu quê hương tươi đẹp biết bao nhiêu, tôi càng tự nhủ phải chăm chỉ học tập để sau này góp phần xây dựng quê hương giàu đẹp hơn.

Giờ ra chơi, sân trường ồn như vỡ chợ. Vài nhóm nữ sinh tụ tập dưới tán lá mát rượi của cụ bàng; từng cặp từng cặp bạn nam chơi đá cầu với nhau, trên vai ai nấy đều ướt đẫm ánh nắng; một đám học sinh khác lại ùa đến căn-tin ăn quà vặt;… Cảnh vui tươi, nhộn nhịp đó khó có người học trò nào quên được. Bởi sau mỗi giờ ra chơi lại khiến chúng tôi thấy tinh thần sảng khoái hơn, tràn trề sức lực để học tập tốt hơn.

Đoạn Văn Phân Tích Hiệu Quả Nghệ Thuật Của Biện Pháp Tu Từ

Yêu cầu về nội dung: – Xác định chính xác câu thơ, câu văn trích trong tác phẩm nào, của tác giả nào, nội dung phản ánh là gì; biện pháp tu từ được sử dụng trong câu đó là biện pháp gì. – Phân tích hiệu quả tu từ của biện pháp tu từ trong việc thể hiện nội dung. – Đánh giá câu thơ, câu văn đó. Yêu cầu về hình thức: như yêu cầu về hình thức chung của đoạn văn.

Đoạn văn phân tích hiệu quả nghệ thuật của biện pháp tu từ Hướng dẫn viết đoạn: Yêu cầu về nội dung: – Xác định chính xác câu thơ, câu văn trích trong tác phẩ m nào, của tác giả nào, nội dung phản ánh là gì; biện pháp tu từ được sử dụng trong câu đó là biện pháp gì. – Phân tích hiệu quả tu từ của biện pháp tu từ trong việc thể hiện nội dung. – Đánh giá câu thơ, câu văn đó. Yêu cầu về hình thức: như yêu cầu về hình thức chung của đoạn văn. Ví dụ 1: – Bài tập: Viết một đoạn văn phân tích giá trị gợi hình và biểu cảm của các từ láy trong hai câu thơ sau: ” Một bếp lửa chờn vờn trong sương sớm Một bếp lửa ấp iu nồng đượm”. ( ” Bếp lửa” – Bằng Việt) – Đoạn văn minh hoạ:

Đây là hai câu thơ mở đầu bài thơ ” Bếp lửa”, khơi nguồn cho kí ức Bằng Việt từ nơi xa nhớ về quê hương, nhớ về người bà kính yêu của mình: ” Một bếp lửa chờn vờn trong sương sớm Một bếp lửa ấp iu nồng đượm”. Nhà thơ nhớ về những kỉ niệm gắn với hình ảnh ” bếp lửa”: ” Một bếp lửa chờn vờn trong sương sớm”. Từ láy tượng hình ” chờn vờn” gợi ánh lửa cháy bập bùng được nhìn qua làn sương mỏng giăng giăng buổi sớm. Đó là một hình ảnh thực in dấu trong tâm khả m, được nhà thơ nhớ lại nó thành một hình ảnh huyền ảo trong ánh hồi quang, mang đầy kỉ niệm đẹp về bếp lửa quê hương. Từ hình ảnh ấy nhà thơ cảm nhận được một sức ấm nóng toả ra không chỉ từ bếp lửa hồng sớm mai: ” Một bếp lử ấp iu nồng đượm”. Từ láy tượng hình ” ấp iu” trong câu thơ có giá trị biểu cảm cao, gợi đôi bàn tay nhóm lửa khéo léo, tần tảo, chịu thương, chịu khó của bà ” mỗi sớm, mỗi chiều lại bếp lửa bà nhen”. Đồng thời từ “ấp iu” còn gợi tấm lòng chăm chút yêu thương của tình bà dành cho cháu trong suốt những năm tháng tuổi thơ sống bên bà. Tình cảm bà cháu lớn lên cùng hình ảnh bếp lửa ngày càng “nồng đượm”. Với sự góp mặt của hai từ láy ” chờn vờn”, “ấp iu” khiến cho câu thơ mang nặng kỉ niệ m về kí ức ân tình, về bếp lửa, về tấm lòng bà, về tình bà cháu thiêng liêng. Ví dụ 2: – Bài tập:

Viết một đoạn văn tổng phân hợp trình bày cảm nhận của em về hai câu thơ: ” Cỏ non xanh tận chân trời Cành lê trắng điểm một vài bông hoa”. ( “Truyện Kiều” – Nguyễn Du) ( Trong đó có sử dụng câu văn đánh giá, so sánh câu thơ của Nguyễn Du với câu thơ cổ Trung Quốc có nội dung tương tự). Đoạn văn minh hoạ: – Hai câu thơ trên trích trong bài ” Cảnh mùa xuân” ( ” Truyện Kiều” – Nguyễn Du) là hai câu thơ đặc sắc tả cảnh thiên nhiên mùa xuân trong tiết thanh minh. Nguyễn Du không miêu tả nhiều mà ông chỉ chọn tả một số hình ảnh đặc sắc, tiêu biểu, đó là hình ảnh ” cỏ non xanh” tận chân trời, ” cành lê trắng” điểm vài bông hoa. Cỏ xanh non, tươi tốt mơn mởn, mỡ màng được trải dài đến tận chân trời dường như còn được nối với xanh của bầu trời mùa xuân. Thảm cỏ non làm nền để làm nổi bật vẻ đẹp của mấy cành lê đang ra hoa, hoa nở điểm xuyết trên cành. Bằng nghệ thuật đảo ngữ ” trắng điểm”, tác giả đã tạo nên một điể m nhấn cho bức tranh, tô đậm sắc trắng tinh khiết của hoa lê nổi bật trên nền xanh non của cỏ. Hai câu thơ của Nguyễn Du thực ra có mượn hai câu thơ cổ của Trung Quốc: ” Phương thảo liên thiên bích Lê chi sổ điểm hoa”

Vui lòng điền thông tin của bạn để tải tài liệu

(Ưu tiên sđt của Viettel hoặc Mobifone)

Vui lòng chờ 10 giây, một tin nhắn chứa mã số xác thực OTP sẽ được gởi đến số điện thoại của ban. Hãy nhập mã OPT đó vào ô bên dưới để xác nhận việc download tài liệu.

Phòng và trị bệnh cho cây trồng, vật nuôi

Trồng cây rừng, cây công nghiệp

Trồng trọt, chăn nuôi theo mùa

Vật tư, trang thiết bị nông nghiệp

Bảo quản, chế biến sau thu hoạch

Các chuyên đề nông nghiệp khác

NÔNG HỌC TRÊN FACEBOOK

HÃY KẾT NỐI VỚI NÔNG HỌC

GIÁ NÔNG SẢN

HOA LAN BÍ KÍP

chợ nông sản

Hãy khám phá chức năng mới của chúng tôi: tạo gian hàng, đăng sản phẩm để rao bán trực tuyến một cách miễn phí.

Cơ hội để bạn mở rộng kinh doanh, tìm kiếm đối tác và tăng doanh số nhanh nhất.

Bạn cũng đang kinh doanh trong lĩnh vực nông sản?

Tham gia ngay

KỸ THUẬT THỦY SẢN

Kỹ thuật nuôi tôm

Kỹ thuật nuôi cá

B

Cá basa

Cá bóp (cá giò)

Cá bớp

Cá bống tượngC

Cá chép

Cá chẽm (cá vược)

Cá chim trắng

Cá chim (biển)

Cá chim biển vây vàngCá chìnhCá chốt nghệCá cóc DCá đốiCá đối mụcCá điêu hồngGCá giò (cá bóp)H

Cá hô

Cá hồi

Cá hồi vân

Cá hồng mỹKCá kèoLCá lăngCá lăng vàngCá lăng chấmCá lăng nhaCá lóc (cá quả), lóc đen, lóc bôngLươnMCá măngCá mè hoaCá mú (cá song)NCá ngựaQCá quả (cá lóc, lóc đen, lóc bông)R

Cá rô đồng, rô đầu vuông

Cá rô phiSX cá con rô phi, mè trắng làm thức ăn cho thủy đặc sảnS

Cá sặc rằn

Cá sấu

Cá song (cá mú)TCá tai tượngCá tầmCá thát lát

Cá tra

Cá trắm, trắm đen, trắm trắng, trắm cỏCá trêVCá vược, vược trắng, vược nước lợ (cá chẽm)

Cá nước lạnh

Nuôi cá nước lạnh

Các bệnh thường gặp ở cá hồi

Phương thức nuôi cá lồng biển

Nuôi cá trong ao

Kỹ thuật ương cá giống, cá hương

Kỹ thuật nuôi cá ao nước tĩnh

Cấy lúa – nuôi cáLàm ổ cho cá đẻ Khác

Kỹ thuật nuôi các loại thủy hải sản khác

Vật tư & trang thiết bị: thuốc, hóa chất xử lý môi trường, thức ăn, dụng cụ, thiết bị

Nuôi thủy sản theo luật và tiêu chuẩn

An toàn thực phẩm thủy hải sản

Các chuyên đề khác

WEBSITE LIÊN KẾT

Luận Văn Biện Pháp Tu Từ Ngữ Âm Và Biện Pháp Tu Từ Cú Pháp Trong Văn Chính Luận Hồ Chí Minh

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI TRẦN THỊ THẮM BIỆN PHÁP TU TỪ NGỮ ÂM VÀ BIỆN PHÁP TU TỪ CÚ PHÁP TRONG VĂN CHÍNH LUẬN HỒ CHÍ MINH LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN HÀ NỘI, 2011 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI TRẦN THỊ THẮM BIỆN PHÁP TU TỪ NGỮ ÂM VÀ BIỆN PHÁP TU TỪ CÚ PHÁP TRONG VĂN CHÍNH LUẬN HỒ CHÍ MINH Chuyên ngành: Ngôn ngữ học Mã số: 60.22.01 LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN Người hướng dẫn khoa học: chúng tôi Bùi Minh Toán HÀ NỘI, 2011 1 MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài 1.1. Bên cạnh việc nghiên cứu những vấn đề thuộc về từ vựng học, nghiên cứu những vấn đề về ngữ âm và ngữ pháp có vai trò vô cùng to lớn trong việc nghiên cứu ngôn ngữ học hiện nay. Nghiên cứu về ngữ âm và ngữ pháp góp phần hoàn thiện việc nghiên cứu về hệ thống ngôn ngữ một cách toàn diện, tạo ra diện mạo nhiều chiều với nhiều sắc vẻ của các đơn vị ngôn ngữ. Ở những phương diện khác nhau, các đơn vị ngôn ngữ lại hiện lên với những trạng thái sinh động, mới mẻ và chứa đựng nhiều nội dung thú vị. Trong quá trình nghiên cứu về ngữ âm và ngữ pháp, biện pháp tu từ là một vấn đề nhận được nhiều sự quan tâm. Thông qua việc nghiên cứu các biện pháp tu từ – được thể hiện qua vỏ âm thanh và cấu trúc ngữ pháp, chúng ta có thể thấy rõ sự linh hoạt trong việc sử dụng ngôn ngữ, thấy rõ sự đa dạng trong cách diễn đạt, cảm nhận rõ vẻ đẹp của tiếng Việt. Từ đó, người sử dụng ngôn ngữ có thể vận dụng vào việc phân tích và tạo lập văn bản, tiếp nhận văn bản văn học một cách có hệ thống, toàn vẹn và hoàn chỉnh hơn ở nhiều góc độ khác nhau. 1.2. Trong sự nghiệp lớn lao của Hồ Chí Minh – có một di sản đặc biệt biệt để lại cho dân tộc, đó là sự nghiệp trước tác. Người đã để lại cho chúng ta một sự nghiệp trước tác lớn lao về tầm vóc, phong phú đa dạng về thể loại và đặc sắc về phong cách sáng tác. [43, 419] Từ những năm 20 của thế kỉ XX, các bài văn chính luận với bút danh Nguyễn Ái Quốc đăng trên báo Người cùng khổ, Nhân đạo, Đời sống thợ thuyền đã tác động và ảnh hưởng lớn đến quần chúng Pháp và nhân dân những nước thuộc địa, kêu gọi thức tỉnh nhân dân nô lệ bị áp bức liên hiệp lại trong mặt trận đấu tranh chung. “Văn chương Hồ Chí Minh đã kết hợp được sự sâu sắc tự bên trong mối quan hệ giữa chính trị và văn học, giữa tư tưởng và nghệ thuật, giữa truyền thống và hiện đại. Mỗi loại hình văn học của người đều có phong cách riêng, độc đáo, hấp dẫn và có giá trị bền vững. Hồ Chí Minh là người đầu tiên sử dụng có hiệu quả 2 cao thể văn chính luận hiện đại… Văn chính luận của Hồ Chí Minh mang cốt cách, đặc điểm của văn chính luận hiện đại của giai cấp vô sản”. Vì thế, văn chính luận của Người được độc giả và giới nghiên cứu quan tâm trên nhiều phương diện khác nhau. 1.3. Nghiên cứu các biện pháp tu từ trên mặt ngữ âm và ngữ pháp trong văn chính luận của Hồ Chí Minh là vấn đề giúp chúng tôi có thể tiếp cận, tìm hiểu thêm một phương diện mới về phong cách viết văn của Người. Những lí do trên là cơ sở để chúng tôi chọn đề tài “Biện pháp tu từ ngữ âm và biện pháp tu từ cú pháp trong văn chính luận Hồ Chí Minh”. 2. Lịch sử nghiên cứu 2.1. Về biện pháp tu từ Lí thuyết về biện pháp tu từ đã được nhiều nhà ngôn ngữ học trên thế giới cũng như ở Việt Nam quan tâm nghiên cứu. Aristote là một trong các nhà khởi xướng, có công trong việc tạo nên các lời văn hoa mĩ, các thuật hùng biện, hình thành môn “Mĩ từ pháp”. Tu từ học đã trở thành một bộ môn bắt buộc trong Tam khoa của nhà trường Trung cổ và nhà trường cận đại ở Châu Âu. Vấn đề tu từ học được tiếp tục phát triển, nâng cao thành hệ thống lí luận ở các tác giả như: Ciceron, Quitilien, Horace, Virgile Từ thế kỉ XIX, tu từ học – phong cách học đã trở thành một ngành riêng của ngôn ngữ học. Ở nước ta, tên gọi “Tu từ học” xuất hiện vào thập niên 50 của thế kỉ XX, những công trình nghiên cứu về tu từ học thời kì này có thể kể đến như: Vũ trung tuỳ bút của Phạm Đình Hổ, Việt – Hán văn khảo của Phan Kế Bính, Quốc văn cụ thể của Bùi Kỉ, Việt Nam văn học sử yếu của Dương Quảng Hàm, Thơ ca Việt Nam – Hình thức và thể loại của Bùi Văn Nguyên và Hà Minh Đức… Vào khoảng thập niên 60 của thế kỉ XX, tên gọi Phong cách học xuất hiện, Phong cách học chính là Khoa tu từ học được hiện đại hoá có cơ sở lí thuyết nhằm vào đối tượng cơ bản là các phong cách ngôn ngữ. [37, 238] 3 Cùng với sự ra đời của lí luận về biện pháp tu từ là các công trình nghiên cứu của các tác giả: Cù Đình Tú, Đinh Trọng Lạc, Nguyễn Thái Hoà, Hữu Đạt, Lê Anh Hiền… Có thể kể đến một số công trình có vai trò nền tảng trong việc trình bày về vấn đề biện pháp tu từ. Cụ thể: – Tác giả Lê Anh Hiền với cuốn Khái luận tu từ học, Đại học Sư phạm Hà Nội, 1961. – Tác giả Cù Đình Tú, Lê Anh Hiền, Nguyễn Nguyên Trứ, Tu từ học tiếng Việt hiện đại (sơ thảo), Đại học Sư phạm Việt Bắc, 1975 – Tác giả Cù Đình Tú với cuốn Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng Việt, nhà xuất bản Giáo dục, 1983. – Tác giả Hữu Đạt với cuốn Phong cách học tiếng Việt hiện đại, Nhà xuất bản Đai học quốc gia Hà Nội, 2001. – Tác giả Đinh Trọng Lạc với cuốn Chín mươi chín phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt, nhà xuất bản Giáo dục (tái bản lần thứ bảy), 2003. – Tác giả Đinh Trọng Lạc, Nguyễn Thái Hoà với cuốn Phong cách học tiếng Việt, nhà xuất bản Giáo dục (tái bản lần thứ tám), 2008. Trong những công trình trên, các tác giả đã đề cập đến những vấn đề cơ bản về lí thuyết biện pháp tu từ như: khái niệm về biện pháp tu từ, đặc điểm tu từ của các loại đơn vị trong tiếng Việt, các phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt (tu từ từ vựng, ngữ nghĩa, cú pháp, văn bản, ngữ âm của phong cách học)… Đây là những nhận thức lí luận rất cần thiết, có chức năng dẫn đường cho việc tìm hiểu các vấn đề về biện pháp tu từ. 2.2. Về văn chính luận Hồ Chí Minh Thơ văn của Hồ Chí Minh luôn là đối tượng hứng thú của nhiều nhà nghiên cứu. Chính vì vậy, từ trước đến nay có không ít công trình nghiên cứu về tác phẩm của Người với những tác giả có tên tuổi như: Nguyễn Đăng Mạnh, Hà Minh Đức, Phong Lê Riêng về mặt ngôn ngữ, các tác phẩm văn thơ của Hồ Chí Minh đã có những công trình khảo cứu về các phương diện sau: 4 – Việc dùng thành ngữ, tục ngữ, ca dao trong văn Hồ Chí Minh. – Phép so sánh trong văn thơ Hồ Chí Minh. – “Tập Kiều” trong ngôn ngữ Hồ Chí Minh. – Tên các bài báo của Hồ Chí Minh. – Tiếng cười (phong cách hài hước) trong văn Hồ Chí Minh. – Ý kiến của Hồ Chủ Tịch về việc mượn từ gốc Hán. Có thể kể ra một số công trình, bài viết như sau: Trong bài viết Phương pháp nghiên cứu thơ văn Hồ Chí Minh [54, 207], Nguyễn Đăng Mạnh chỉ rõ: “Văn chính luận chủ yếu được viết theo tư duy logic. Sức thuyết phục của nó không phải ở chỗ dựng nên những hình tượng, những bức tranh sinh động mà ở chỗ đưa ra những lí lẽ đanh thép, những lập luận chặt chẽ, những luận cứ hùng hồn Trên cơ sở những đặc trưng cơ bản của thể loại văn chính luận như thế, nhiều loại văn chính luận ra đời với những sắc thái khác nhau dưới ngòi bút của Hồ Chí Minh, như tuyên ngôn, lời kêu gọi, báo cáo chính trị, thư từ gửi các ngành các giới, văn bút chiến, văn tiểu phẩm và các thể loại văn báo chí khác” [54, 217]. Phong Lê với bài viết Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh con người và thơ văn [54, 244] nhận xét: thơ văn Hồ Chí Minh có sự tổng hoà, kết hợp của nhiều âm điệu – sự kết hợp ấy làm nên phong cách Hồ Chí Minh. Trong Lời giới thiệu (cho cuốn Văn Hồ Chủ Tịch, Nhà xuất bản Giáo dục, 1971), Huỳnh Lý nêu lên 4 đặc điểm cơ bản về phong cách văn xuôi Hồ Chí Minh: tư tưởng lớn, hình thức diễn đạt ngắn gọn, trong sáng, sinh động, ung dung pha chút hóm hỉnh, “viết sâu ngọt, viết có tình”. Nguyễn Thuý Khanh với bài viết Một số đặc điểm trong ngôn ngữ báo chí chính luận của Hồ Chủ Tịch (Học tập phong cách ngôn ngữ Chủ tịch Hồ Chí Minh, Viện Ngôn ngữ học, NXB Khoa học Hà Nội, 1980) cho rằng “Người đã sử dụng lối diễn đạt quen thuộc của quần chúng, có khả năng tạo ra sức tác động mạnh đến người đọc, có khả năng tạo ra sức tác động trong thông tin, báo chí”. 5 Trong bài viết Câu văn của Bác Hồ (Tạp chí ngôn ngữ số 4, 1970), Lê Xuân Thại đưa ra nhận định “Trong các bài văn của Bác có nhiều cách biện luận, trong đó có cách dùng câu hỏi, những câu hỏi loại này của Bác mang đầy sức mạnh của logic”. Bài viết Bước đầu tìm hiểu ngôn ngữ của Hồ Chủ Tịch qua Những lời kêu gọi (Tạp chí văn học số 6/1965), Nguyễn Phan Cảnh đã đưa ra những nhận định về phong cách chính luận của Người ở những điểm chung nhất. Với bài Tuyên ngôn độc lập một nghệ thuật viết văn nghệ thuật mẫu mực, dân tộc và hiện đại (Tạp chí văn học số 3/1990), Nguyễn Quốc Tuý đã chú trọng phân tích nghệ thuật viết văn của Hồ Chí Minh: một tác phẩm văn xuôi giàu nhịp điệu âm thanh, sử dụng điệp ngữ, điệp từ rất đặc sắc, cách sử dụng từ rất chính xác và tinh tế. Tác giả khẳng định “Tuyên ngôn độc lập là áng văn chính luận mẫu mực”. Theo khảo sát, cho đến nay chưa có công trình nào dành riêng để nghiên cứu về vấn đề biện pháp tu từ ngữ âm và biện pháp tu từ cú pháp trong văn chính luận của Hồ Chí Minh (tuy rải rác trong các sách nghiên cứu và giảng dạy về ngôn ngữ có đề cập đến). Vì vậy, luận văn của chúng tôi nghiên cứu đề tài này với hy vọng hiểu rõ hơn về văn chính luận Hồ Chí Minh từ góc nhìn ngôn ngữ học. 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu – Đối tượng nghiên cứu Luận văn lựa chọn Biện pháp tu từ ngữ âm và biện pháp tu từ cú pháp trong văn chính luận Hồ Chí Minh làm đối tượng nghiên cứu. – Phạm vi nghiên cứu Do hạn chế về mặt thời gian, chúng tôi giới hạn việc tìm hiểu biện pháp tu từ trong văn chính luận Hồ Chí Minh trong phạm vi ngữ âm và ngữ pháp. 4. Mục đích, nhiệm vụ của đề tài – Mục đích của đề tài Mục đích của đề tài này là tìm hiểu các biện pháp tu từ ngữ âm (nhịp điệu, vần, đối, hài hoà thanh điệu) và biện pháp tu từ cú pháp (những phép tu từ cú 6 pháp: phép lặp, liệt kê, nhấn mạnh thành phần câu, cách dùng câu hỏi tu từ) trong văn chính luận của Hồ Chí Minh. – Nhiệm vụ của đề tài Luận văn đặt ra nhiệm vụ khảo sát các biện pháp tu từ ngữ âm và biện pháp tu từ cú pháp trong các tác phẩm văn chính luận của Hồ Chí Minh, thấy được giá trị và hiệu quả biểu đạt của các phép tu từ; góp phần tìm hiểu phong cách ngôn ngữ Hồ Chí Minh trong văn chính luận. Từ đó, rút ra bài học thực tiễn trong dạy học tác phẩm của Hồ Chí Minh và bài học về sử dụng ngôn ngữ nói chung. 5. Phương pháp nghiên cứu Xuất phát từ đặc trưng và yêu cầu của đề tài, trong quá trình triển khai luận văn, chúng tôi kết hợp sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau: – Phương pháp thống kê, phân loại Vận dụng phương pháp này, chúng tôi có thể khảo sát để tìm ra và phân loại các biện pháp tu từ ngữ âm và ngữ pháp trong văn chính luận của Hồ Chí Minh. Từ đó, xác định hiệu quả sử dụng của các biện pháp tu từ ấy. – Phương pháp phân tích Phương pháp này cho phép chúng tôi đi sâu vào nhiều khía cạnh của vấn đề, vừa làm rõ vấn đề vừa tăng sức thuyết phục với những dẫn chứng và cứ liệu, lập luận cụ thể. – Phương pháp tổng hợp Phương pháp tổng hợp giúp chúng tôi dễ dàng hơn trong việc nâng cao vấn đề, khái quát phong cách nhà văn. 6. Đóng góp của luận văn – Về lí luận Trên cơ sở các lí thuyết ngôn ngữ, luận văn góp phần làm sáng tỏ thêm lí thuyết về tu từ ngữ âm, tu từ ngữ pháp, về phong cách chính luận bằng những kết quả nghiên cứu cụ thể. 7 – Về thực tiễn Kết quả nghiên cứu luận văn nhằm phục vụ cho việc đọc, hiểu các tác phẩm văn chính luận của Hồ Chí Minh. Những kiến giải của luận văn có thể góp phần định hướng cho người đọc trong quá trình tiếp cận tác phẩm, đặc biệt là các tác phẩm trong chương trình phổ thông hiện nay. 7. Cấu trúc của luận văn Chúng tôi triển khai luận văn thành ba phần: phần Mở đầu, phần Nội dung và phần Kết luận.Tương ứng với những nhiệm vụ đặt ra, phần Nội dung của luận văn được chia thành 3 chương, trình bày các vấn đề sau: Chương 1: Cơ sở lí thuyết Chương 2: Biện pháp tu từ ngữ âm trong văn chính luận Hồ Chí Minh Chương 3: Biện pháp tu từ cú pháp trong văn chính luận Hồ Chí Minh 8 CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ THUYẾT 1.1. Lí thuyết về biện pháp tu từ Lí luận về tu từ học và biện pháp tu từ xuất hiện từ rất sớm, việc nghiên cứu về vấn đề này đã đạt được những thành tựu đáng kể. Những thành tựu ấy phần nào cho thấy sự phát triển của ngôn ngữ học nói chung và của tu từ học nói riêng – dù nó chưa phản ánh hết được những gì vốn rất phong phú và phức tạp của ngôn ngữ trong quá trình sử dụng. Lí thuyết về vấn đề này ngày càng được nhiều nhà ngôn ngữ học quan tâm nghiên cứu, nhờ thế nó dần được hoàn thiện bởi hệ thống lí luận sâu sắc. Hệ thống lí luận xuất hiện sau mang tính kế thừa hệ thống lí luận trước, đồng thời nó bổ sung nhiều hơn những phát hiện mới mẻ, phù hợp với thực tiễn ngôn ngữ trong hoạt động hành chức. Ở thời kì đầu, nói đến tu từ học người ta thường nhắc đến những khái niệm như nghệ thuật diễn đạt, thuyết phục, tranh biện… Thuật ngữ phương thức tu từ hay tu từ pháp dường như được sử dụng chung cho cả hai khái niệm phương tiện tu từ và biện pháp tu từ. Mặc dù vậy, các nhà nghiên cứu cũng đã xác định và phân loại các phương thức tu từ chủ yếu: ẩn dụ, hoán dụ, phúng dụ, tượng trưng, trùng điệp,… Đây là những kiến thức mang tính tiền đề lí luận, định hướng cho việc nghiên cứu vấn đề biện pháp tu từ ở những khía cạnh khác nhau. Ở giai đoạn sau, các nhà ngôn ngữ học thường dựa vào đặc điểm cấu trúc và đặc điểm ngữ nghĩa của các phương thức tu từ để phân loại. Chẳng hạn, V.V.Odinsov hệ thống hoá các phương thức và biện pháp tu từ thành hai nhóm: các phép tu từ thay thế (gồm hai tiểu nhóm: các phép tu từ số lượng như ngoa dụ, nói giảm và các phép tu từ chất lượng như ẩn dụ, hoán dụ, mỉa mai) và các phép tu từ kết hợp (gồm các phép đồng nhất như so sánh, thế đồng nghĩa; các phép không đồng nhất như đồng nghĩa chính xác hoá, chơi chữ, liên ngữ,… hay các phép đối lập như đối ngữ, nghịch dụ,…) Ngày nay, nhiều nhà ngôn ngữ dùng phổ biến thuật ngữ Phong cách học thay thế thuật ngữ Tu từ học trước đây. Tu từ học vẫn được sử dụng để chỉ phần nghiên 9 cứu các đặc điểm tu từ của các đơn vị ngôn ngữ, các khái niệm màu sắc tu từ, biện pháp tu từ… Các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học của Việt Nam cũng có những kiến giải nhất định về tu từ học và biện pháp tu từ. Trong cuốn Từ điển Hán Việt, ông Phan Văn Các giải thích “tu từ là sửa sang lời văn cho hay cho đẹp”; Tu từ học là “bộ môn ngôn ngữ học nghiên cứu những thuộc tính biểu cảm của các phương tiện ngôn ngữ để sử dụng làm cho lời văn hay hơn đẹp hơn”. Không chỉ dừng lại ở việc đưa ra những định nghĩa, hiện nay nhiều nhà ngôn ngữ học cố gắng đưa ra những tiêu chí để phân chia hai bình diện phương tiện tu từ và biện pháp tu từ, bởi hai khái niệm này có sự khác biệt nhau. Cần tách bạch rõ ràng để tránh sự lúng túng và khó nắm bắt trong quá trình sử dụng. Phong cách học chú ý đến sự phân chia biện pháp tu từ và phương tiện tu từ trên hai bình diện hệ thống (ngôn ngữ) và hoạt động (lời nói). Nhóm tác giả của Nhập môn ngôn ngữ học nhấn mạnh “cơ sở của sự xác lập hai bình diện phương tiện tu từ và biện pháp tu từ xuất phát từ sự phân chia ngôn ngữ và lời nói trong ngôn ngữ học” [9, 417]. Các tác giả đã đưa ra những tiêu chí chủ yếu để phân định phương tiện tu từ và biện pháp tu từ: – Thành phần thông tin bổ sung của các phương tiện tu từ manh tính tương đối ổn định, độc lập với ngữ cảnh, là cơ sở cho sự lựa chọn. Thành phần thông tin bổ sung nảy sinh trong các biện pháp tu từ mang bản chất ngữ cảnh. – Màu sắc tu từ của các phương tiện tu từ được xác định chủ yếu dựa trên mối quan hệ đối đoạn tính của bản thân các phương tiện trong hệ thống ngôn ngữ. Hiệu quả, giá trị phong cách của biện pháp tu từ được xác định chủ yếu dựa trên mối quan hệ của các yếu tố ngôn từ với ngữ cảnh tu từ. – Phương tiện tu từ thuộc về bình diện hệ thống (ngôn ngữ) còn biện pháp tu từ thuộc về bình diện hoạt động (lời nói). Đinh Trọng Lạc trong cuốn “99 phương tiện và biện pháp tu từ” cũng đưa ra những nhận định xác đáng để phân biệt phương tiện tu từ và biện pháp tu từ. 10 Biện pháp tu từ là những cách phối hợp sử dụng trong hoạt động lời nói các phương tiện ngôn ngữ không kể trung hoà hay diễn cảm trong một ngữ cảnh rộng để tạo ra hiệu quả tu từ. [40, 5] Phương tiện tu từ là phương tiện ngôn ngữ mà ngoài ý nghĩa cơ bản chúng còn có ý nghĩa bổ sung còn gọi là màu sắc tu từ . [40, 5] Tác giả cũng đưa ra những tiêu chí nhất định để phân biệt 2 khái niệm phương tiện tu từ và biện pháp tu từ, những tiêu chí ấy có phần đồng nhất với ý kiến của nhóm tác giả Mai Ngọc Chừ – Nguyễn Thị Ngân Hoa – Đỗ Việt Hùng – Bùi Minh Toán. Tóm lại, có thể nhận diện phương tiện tu từ và biện pháp tu từ qua sự khái quát sau: Phương tiện tu từ được nhận diện ở những điểm sau: – Là phương tiện ngôn ngữ, ngoài ý nghĩa cơ bản (ý nghĩa sự vật – logic) chúng còn có ý nghĩa bổ sung, còn có màu sắc tu từ. – Là những phương tiện được tu sức về mặt tu từ hoặc đôi khi được đánh dấu về mặt tu từ. [41, 59] – Phương tiện tu từ là những yếu tố ngôn ngữ thuộc các cấp độ khác nhau, được đánh dấu về tu từ học trong giới hạn của một cấp độ nào đó trong ngôn ngữ [40, 9] – Ý nghĩa tu từ học của phương tiện tu từ bị quy định bởi những quan hệ hệ hình của các yếu tố cùng bậc. [40, 9] – Ý nghĩa tu từ học của phương tiện tu từ được củng cố ở ngay phương tiện đó [40, 9]. – Phương tiện tu từ bao giờ cũng nằm trong thế đối lập tu từ học (tiềm tàng trong ý thức của người bản ngữ) với phương tiện tương liên có tính chất trung hoà của hệ thống ngôn ngữ. [40, 11] – Phương tiện tu từ mang tính khách quan. Các phương tiện tu từ của mỗi ngôn ngữ đều tồn tại trong ý thức và tiềm thức của người dùng, người ta có thể sử dụng trong lời nói hằng ngày và cũng giống như các tín hiệu từ, các câu nói… người 11 quen dùng không hỏi do ai tạo ra, vậy mà cách hiểu đều giống nhau. Các phương tiện tu từ có tính chất khách quan và mỗi phương tiện đều có chung một mã giống nhau, độc lập với chủ quan người sử dụng. [37, 193] – Các phương tiện tu từ mang tính hữu hạn trong hệ thống. Biện pháp tu từ được nhận diện ở những điểm sau: – Là cách kết hợp ngôn ngữ đặc biệt trong một hoàn cảnh cụ thể, nhằm mục đích tu từ nhất định. – Biện pháp tu từ là cách diễn đạt mới mẻ, đặc sắc trong những ngữ cảnh cụ thể để tạo ra cái hay của ngôn ngữ. – Biện pháp tu từ là những cách phối hợp sử dụng các đơn vị lời nói trong giới hạn của một đơn vị thuộc bậc cao hơn. [40, 9] – Ý nghĩa tu từ học của biện pháp tu từ bị quy định bởi những quan hệ cú đoạn giữa các đơn vị của một bậc hay của các bậc khác nhau. [40, 9] – Ý nghĩa tu từ học của biện pháp tu từ nảy sinh ra trong ngữ cảnh của một đơn vị lời nói nào đó. [40, 9] – Biện pháp tu từ đối lập với biện pháp sử dụng ngôn ngữ thông thường trong mọi hoàn cảnh, nhằm mục đích diễn đạt lí trí. [40, 142] – Biện pháp tu từ mang tính chủ quan thuộc về lựa chọn kĩ năng diễn đạt của người viết. – Biện pháp tu từ mang tính vô hạn. Tuy giữa các biện pháp tu từ và các phương tiện tu từ có sự khác biệt rõ rệt như vậy nhưng giữa chúng vẫn có mối quan hệ biện chứng. Một mặt, việc sử dụng các phương tiện tu từ sẽ tạo ra các biện pháp tu từ, mặt khác việc sử dụng một biện pháp tu từ nào đó trong lời nói cũng có thể chuyển hoá nó thành phương tiện tu từ. Hơn nữa, cùng một phương tiện tu từ có thể được dùng để xây dựng những biện pháp tu từ rất khác nhau. Ngược lại, những phương tiện tu từ khác nhau có thể tham gia vào việc xây dựng cùng một biện pháp tu từ. Sự phân chia hai phạm trù phương tiện tu từ và biện pháp tu từ cũng chỉ mang tính tương đối. Điều quan trọng là người sử dụng ngôn ngữ cần đặ