Viện Kiểm Sát Nhân Dân Có Chức Năng Gì / Top 2 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 2/2023 # Top View | Phauthuatthankinh.edu.vn

Chức Năng, Nhiệm Vụ Viện Kiểm Sát Nhân Dân

Hiện nay, theo quy định của Hiến pháp năm 2013 và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014, hệ thống cơ quan Viện kiểm sát được tổ chức theo đơn vị hành chính, gồm có Viện kiểm sát nhân dân tối cao, các Viện kiểm sát nhân dân cấp cao, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi tắt là Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh), Viện kiểm sát nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương (gọi tắt là Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện) và các Viện kiểm sát quân sự các cấp (bao gồm: Viện kiểm sát quân sự Trung ương, Viện kiểm sát quân sự quân khu và tương đương (gọi tắt là Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu) và Viện kiểm sát quân sự khu vực).

Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ Hiến pháp và pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất.

Chức năng thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân (điều 3 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014) là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng hình sự để thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội, được thực hiện ngay từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự.

Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố nhằm bảo đảm: – Mọi hành vi phạm tội, người phạm tội phải được phát hiện, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử kịp thời, nghiêm minh, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không làm oan người vô tội, không để lọt tội phạm và người phạm tội; – Không để người nào bị khởi tố, bị bắt, tạm giữ, tạm giam, bị hạn chế quyền con người, quyền công dân trái luật.

Chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát nhân dân (điều 4 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014) là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân để kiểm sát tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động tư pháp, được thực hiện ngay từ khi tiếp nhận và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình giải quyết vụ án hình sự; trong việc giải quyết vụ án hành chính, vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động; việc thi hành án, việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp; các hoạt động tư pháp khác theo quy định của pháp luật.

Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát hoạt động tư pháp nhằm bảo đảm: – Việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố; việc giải quyết vụ án hình sự, vụ án hành chính, vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động; việc thi hành án; việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp; các hoạt động tư pháp khác được thực hiện đúng quy định của pháp luật; – Việc bắt, tạm giữ, tạm giam, thi hành án phạt tù, chế độ tạm giữ, tạm giam, quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù theo đúng quy định của pháp luật; quyền con người và các quyền, lợi ích hợp pháp khác của người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, người chấp hành án phạt tù không bị luật hạn chế phải được tôn trọng và bảo vệ; – Bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật phải được thi hành nghiêm chỉnh; – Mọi vi phạm pháp luật trong hoạt động tư pháp phải được phát hiện, xử lý kịp thời, nghiêm minh.

Cơ Cấu, Tổ Chức Của Viện Kiểm Sát Nhân Dân

Hệ thống Viện kiểm sát nhân dân (điều 40)

Gồm:

1. Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

2. Viện kiểm sát nhân dân cấp cao.

3. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi là Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh).

4. Viện kiểm sát nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương (sau đây gọi là Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện).

5. Viện kiểm sát quân sự các cấp.

Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân các cấp (điều 41)

1. Viện kiểm sát nhân dân tối cao thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất.

2. Viện kiểm sát nhân dân cấp cao thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp đối với các vụ án, vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp cao.

3. Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp trong phạm vi địa phương mình.

Cơ cấu tổ chức của Viện kiểm sát nhân dân tối cao (điều 42)

1. Tổ chức bộ máy của Viện kiểm sát nhân dân tối cao gồm có:

a) Ủy ban kiểm sát;

b) Văn phòng;

c) Cơ quan điều tra;

d) Các cục, vụ, viện và tương đương;

đ) Các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng, các cơ quan báo chí và các đơn vị sự nghiệp công lập khác;

e) Viện kiểm sát quân sự trung ương.

2. Viện kiểm sát nhân dân tối cao có Viện trưởng, các Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên; Thủ trưởng, các Phó thủ trưởng Cơ quan điều tra, Điều tra viên; công chức khác, viên chức và người lao động khác.

Ủy ban kiểm sát Viện kiểm sát nhân dân tối cao (điều 43)

1. Ủy ban kiểm sát Viện kiểm sát nhân dân tối cao gồm có:

a) Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao;

b) Các Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao;

c) Một số Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao do Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết địnhtheo đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

a) Chương trình, kế hoạch công tác của ngành Kiểm sát nhân dân;

b) Dự án luật, pháp lệnh trình Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội; báo cáo của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao trình Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước;

c) Bộ máy làm việc của Viện kiểm sát nhân dân tối cao;

d) Báo cáo của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao trình Ủy ban thường vụ Quốc hội về những ý kiến của Viện trưởng không nhất trí với nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; kiến nghị của Viện kiểm sát nhân dân tối cao về công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm gửi Thủ tướng Chính phủ;

đ) Xét tuyển người đang công tác tại Viện kiểm sát nhân dân tối cao đủ điều kiện dự thi vào ngạch Kiểm sát viên cao cấp, Kiểm sát viên trung cấp, Kiểm sát viên sơ cấp;

e) Đề nghị Hội đồng tuyển chọn Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao tuyển chọn, xem xét việc miễn nhiệm, cách chức Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

Xem xét, đề nghị Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao bổ nhiệm lại, miễn nhiệm, cách chức Kiểm sát viên cao cấp, Kiểm sát viên trung cấp, Kiểm sát viên sơ cấp đang công tác tại Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

3. Ủy ban kiểm sát ban hành nghị quyết khi thực hiện thẩm quyền tại khoản 2 Điều này. Nghị quyết của Ủy ban kiểm sát phải được quá nửa tổng số thành viên biểu quyết tán thành; trường hợp biểu quyết ngang nhau thì thực hiện theo phía có ý kiến của Viện trưởng.

II. VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN CẤP CAO

Cơ cấu tổ chức của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao (điều 44)

1. Tổ chức bộ máy của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao gồm có:

a) Ủy ban kiểm sát;

b) Văn phòng;

c) Các viện và tương đương.

2. Viện kiểm sát nhân dân cấp cao có Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao, các Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên, công chức khác và người lao động khác.

Ủy ban kiểm sát Viện kiểm sát nhân dân cấp cao (điều 45)

1. Ủy ban kiểm sát Viện kiểm sát nhân dân cấp cao gồm có:

a) Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao;

b) Các Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao;

c) Một số Kiểm sát viên.

2. Số lượng thành viên Ủy ban kiểm sát, các Kiểm sát viên quy định tại điểm c khoản 1 Điều này do Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao quyết định theo đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao.

a) Việc thực hiện chương trình, kế hoạch công tác, chỉ thị, thông tư và quyết định của Viện kiểm sát nhân dân tối cao;

b) Báo cáo tổng kết công tác của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao;

c) Xét tuyển người đang công tác tại Viện kiểm sát nhân dân cấp cao đủ điều kiện dự thi vào ngạch Kiểm sát viên cao cấp, Kiểm sát viên trung cấp, Kiểm sát viên sơ cấp;

d) Xem xét, đề nghị Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao bổ nhiệm lại, miễn nhiệm, cách chức Kiểm sát viên cao cấp, Kiểm sát viên trung cấp, Kiểm sát viên sơ cấp đang công tác tại Viện kiểm sát nhân dân cấp cao.

4. Ủy ban kiểm sát ban hành nghị quyết khi thực hiện thẩm quyền tại khoản 3 Điều này. Nghị quyết của Ủy ban kiểm sát phải được quá nửa tổng số thành viên biểu quyết tán thành; trường hợp biểu quyết ngang nhau thì thực hiện theo phía có ý kiến của Viện trưởng. Nếu Viện trưởng không nhất trí với ý kiến của đa số thành viên Ủy ban kiểm sát thì thực hiện theo quyết định của đa số, nhưng có quyền báo cáo Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

III. VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN CẤP TỈNH

Cơ cấu tổ chức của Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh (điều 46)

1. Tổ chức bộ máy của Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh gồm có:

a) Ủy ban kiểm sát;

b) Văn phòng;

c) Các phòng và tương đương.

2. Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh có Viện trưởng, các Phó Viện trưởng, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên, công chức khác và người lao động khác.

Ủy ban kiểm sát Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh (điều 47)

1. Ủy ban kiểm sát Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh gồm có:

a) Viện trưởng;

b) Các Phó Viện trưởng;

c) Một số Kiểm sát viên.

2. Số lượng thành viên Ủy ban kiểm sát, các Kiểm sát viên quy định tại điểm c khoản 1 Điều này do Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao quyết định theo đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh.

a) Việc thực hiện chương trình, kế hoạch công tác, chỉ thị, thông tư và quyết định của Viện kiểm sát nhân dân tối cao; việc thực hiện chương trình, kế hoạch công tác của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao;

b) Báo cáo tổng kết công tác với Viện kiểm sát nhân dân cấp trên, báo cáo công tác trước Hội đồng nhân dân cùng cấp;

c) Xét tuyển người đang công tác tại Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh và cấp huyện đủ điều kiện dự thi vào ngạch Kiểm sát viên cao cấp, Kiểm sát viên trung cấp, Kiểm sát viên sơ cấp;

d) Xem xét, đề nghị Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao bổ nhiệm lại, miễn nhiệm, cách chức Kiểm sát viên cao cấp, Kiểm sát viên trung cấp, Kiểm sát viên sơ cấp đang công tác tại Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh và cấp huyện.

4. Ủy ban kiểm sát ban hành nghị quyết khi thực hiện thẩm quyền tại khoản 3 Điều này. Nghị quyết của Ủy ban kiểm sát phải được quá nửa tổng số thành viên biểu quyết tán thành; trường hợp biểu quyết ngang nhau thì thực hiện theo phía có ý kiến của Viện trưởng. Nếu Viện trưởng không nhất trí với ý kiến của đa số thành viên Ủy ban kiểm sát thì thực hiện theo quyết định của đa số, nhưng có quyền báo cáo Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

IV. VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN CẤP HUYỆN

Cơ cấu tổ chức của Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện (điều 48)

1. Tổ chức bộ máy của Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện gồm có văn phòng và các phòng; những nơi chưa đủ điều kiện thành lập phòng thì có các bộ phận công tác và bộ máy giúp việc.

2. Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện có Viện trưởng, các Phó Viện trưởng, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên, công chức khác và người lao động khác.

(Theo Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 2014)

Cẩm nang pháp luật do các luật sư biên soạn, là tài sản trí tuệ của công ty luật hợp danh Ecolaw, có ý nghĩa và chỉ sử dụng cho mục đích tham khảo. Do pháp luật Việt Nam thường xuyên thay đổi, bổ sung, nên có thể trong một số trường hợp, tại thời điểm quý vị đọc, nội dung bài viết sẽ không còn phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành. Chúng tôi sẽ cố gắng cập nhật, bổ sung khi có sự thay đổi của pháp luật, nhưng không bảo đảm kịp thời và đầy đủ hết.

Lưu ý: Bài viết trên thuộc lĩnh vực “Tố tụng dân sự, hình sự, hành chính”

Viện Kiểm Sát Nhân Dân Tỉnh Phú Yên

Thứ Ba, 25/08/2020 17:11 CH

Trang thông tin điện tử VKSND tỉnh tiếp tục giới thiệu một số nội dung Quy chế kiểm sát việc xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân (Quy chế) được ban hành kèm theo Quyết định số 299/QĐ-VKSTC ngày 19/8/2020 của Viện trưởng VKSND tối cao.

1. Khi nhận được thông báo thụ lý hồ sơ đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính của Tòa án cùng cấp, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên, công chức (sau đây viết tắt là công chức) phải vào sổ thụ lý, lập phiếu kiểm sát.

2. Công chức kiểm sát chặt chẽ các vấn đề sau đây: a) Thẩm quyền thụ lý của Tòa án theo quy định tại Điều 3 Pháp lệnh số 09/2014; b) Thời hạn và đối tượng Tòa án phải gửi thông báo thụ lý theo quy định tại khoản 1 Điều 11 Pháp lệnh số 09/2014; c) Nội dung của văn bản thông báo theo quy định tại khoản 2 Điều 11 Pháp lệnh số 09/2014; d) Hình thức của Thông báo thụ lý theo Mẫu số 01 ban hành kèm theo Nghị quyết số 04/2015/NQ-HĐTP ngày 24/12/2015 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định của pháp luật về xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân (sau đây viết tắt là Nghị quyết số 04/2015).

3. Trường hợp phát hiện việc thụ lý hồ sơ đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính của Tòa án có vi phạm thì công chức tập hợp, báo cáo đề xuất lãnh đạo Viện kiểm sát cấp mình thực hiện quyền kiến nghị theo quy định tại Quy chế này.

Hồ sơ kiểm sát được lập, sắp xếp, đóng dấu bút lục, thống kê tài liệu theo Hướng dẫn số 28/HD-VKSTC ngày 19/10/2018 của VKSND tối cao về lập hồ sơ kiểm sát giải quyết các vụ án hành chính; vụ việc kinh doanh, thương mại; lao động; phá sản; xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.

1. Sau khi nhận được Quyết định mở phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính của Tòa án, công chức kiểm sát các nội dung sau:

a) Thời hạn Thẩm phán ban hành quyết định là 03 ngày làm việc, kể từ ngày được phân công theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 12 Pháp lệnh số 09/2014; b) Nội dung của quyết định theo quy định tại khoản 2 Điều 16 Pháp lệnh số 09/2014; c) Hình thức của quyết định theo Mẫu số 03 ban hành kèm theo Nghị quyết số 04/2015; d) Thời hạn gửi, đối tượng Tòa án phải gửi quyết định theo quy định tại khoản 3 Điều 16 Pháp lệnh số 09/2014.

2. Trường hợp phát hiện Quyết định mở phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính của Tòa án có vi phạm thì công chức tập hợp, báo cáo đề xuất lãnh đạo Viện kiểm sát cấp mình thực hiện quyền kiến nghị theo quy định tại Điều 5 Quy chế này.

Tại phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính, Kiểm sát viên kiểm sát việc tuân theo pháp luật của người tiến hành phiên họp và người tham gia phiên họp về các nội dung sau:

1. Thời hạn Tòa án phải mở phiên họp là 07 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án ra quyết định mở phiên họp theo quy định tại khoản 1 Điều 16 Pháp lệnh số 09/2014. 2. Thành phần, tư cách pháp lý của người tiến hành phiên họp và người tham gia phiên họp theo khoản 2 Điều 16, Điều 17 Pháp lệnh số 09/2014. 3. Việc quyết định thay đổi người tiến hành phiên họp nếu thuộc các trường hợp quy định tại Điều 10 Pháp lệnh số 09/2014. 4. Căn cứ tạm dừng phiên họp theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 20 Pháp lệnh số 09/2014. 5. Việc tuân theo pháp luật về trình tự, thủ tục tại phiên họp theo quy định tại Điều 20 Pháp lệnh số 09/2014; Điều 6 Nghị quyết số 04/2015.

1. Sau khi những người tham gia phiên họp kết thúc tranh luận, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về các nội dung sau: a) Việc tuân theo pháp luật của người tiến hành và người tham gia thủ tục xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính; b) Tính có căn cứ và hợp pháp đối với việc đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính; c) Quan điểm của Viện kiểm sát về việc áp dụng, không áp dụng biện pháp xử lý hành chính hoặc đình chỉ, tạm đình chỉ việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính.

2. Việc phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên họp được thực hiện theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 20 Pháp lệnh số 09/2014 và Điều 7 Nghị quyết số 04/2015.

3. Văn bản phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính phải có chữ ký của Kiểm sát viên tham gia phiên họp. Sau khi kết thúc phiên họp, Kiểm sát viên hoàn thiện nội dung văn bản phát biểu để gửi cho Tòa án và lưu vào hồ sơ kiểm sát.

Viện Kiểm Sát Nhân Dân Thành Phố Hà Nội

Luật xử lý vi phạm hành chính được Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam thông qua ngày 20 tháng 6 năm 2012, có hiệu lực kể từ ngày 01/7/2013. Luật có một số nội dung thay đổi lớn so với Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002, trong đó đáng lưu ý là phần thứ ba “Áp dụng các biện pháp xử lý hành chính”.

Tại Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002, điều 22 quy định:

“Các biện pháp xử lý hành chính khác bao gồm:

1. Giáo dục tại xã, phường, thị trấn;

2. Đưa vào trường giáo dưỡng;

3. Đưa vào cơ sở giáo dục;

4. Đưa vào cơ sở chữa bệnh;

5. Quản chế hành chính.”

Thẩm quyền quyết định các biện pháp: đưa vào cơ sở giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục và đưa vào cơ sở chữa bệnh được quy định tại điều 24, 25, 26; trong đó Chủ tịch UBND cấp huyện có quyền quyết định việc đưa người vào cơ sở giáo dưỡng và cơ sở chữa bệnh, Chủ tịch UBND cấp tỉnh có quyền quyết định việc đưa người vào cơ sở giáo dục.

Tại Luật xử lý vi phạm hành chính, hình thức “đưa vào cơ sở chữa bệnh” được sửa đổi thành hình thức “đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc”, bỏ việc đưa vào cơ sở bắt buộc chữa bệnh đối với các đối tượng bán dâm. Thẩm quyền quyết định đối với 3 biện pháp được thay đổi, biện pháp “đưa vào cơ sở giáo dưỡng”, “đưa vào cơ sở giáo dục” và “đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc” do Tòa án nhân dân quyết định. Thủ tục, quy định về trình tự xây dựng hồ sơ đối với các đối tượng đề nghị các biện pháp này được quy định rất chặt chẽ, với nhiều bước do nhiều cơ quan tham gia. Cơ quan công an cấp huyện là cơ quan tập hợp hồ sơ và chuyển hồ sơ đề nghị Tòa án mở phiên họp để ra quyết định đối với hai hình thức “đưa vào cơ sở giáo dưỡng” và “đưa vào cơ sở giáo dục”, Phòng lao động thương binh và xã hội cấp huyện là cơ quan tập hợp hồ sơ và chuyển hồ sơ đề nghị quyết định áp dụng biện pháp “đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc”.

Tại điều 4 của Pháp lệnh số 09 quy định:

“Điều 4. Kiểm sát việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính

1. Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Tòa án trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính, thực hiện quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị nhằm bảo đảm việc giải quyết kịp thời, đúng pháp luật.

2. Viện kiểm sát tham gia các phiên họp; tham gia việc xét hoãn, miễn, giảm, tạm đình chỉ việc chấp hành quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính theo quy định của Pháp lệnh này.

3. Sau khi nhận được thông báo thụ lý hồ sơ của Tòa án cùng cấp, Viện kiểm sát có quyền nghiên cứu hồ sơ vụ việc tại Tòa án đã thụ lý vụ việc đó.”

Trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ ngày thụ lý, Tòa án phải thông báo việc thụ lý bằng văn bản cho Viện kiểm sát cùng cấp (điều 11). Viện kiểm sát có quyền nghiên cứu hồ sơ, kiểm sát các hoạt động của Tòa án, phát biểu ý kiến tại phiên họp, kiểm tra biên bản phiên họp (điều 22); kiểm sát việc quyết định hoãn, giảm thời hạn, tạm đình chỉ, đình chỉ áp dụng các biện pháp hành chính và việc hủy bỏ các quyết định trên (điều 26, 27, 28). Để thực hiện thẩm quyền kiểm sát hoạt động áp dụng các biện pháp tại Tòa án, Viện kiểm sát nhân dân có quyền kháng nghị các quyết định của Tòa án nhân dân…Như vậy Viện kiểm sát nhân dân có thẩm quyền và trách nhiệm kiểm sát hoạt động của Tòa án nhân dân kể từ khi thụ lý cho đến khi kết thúc hoạt động bằng việc mở phiên họp và ra quyết áp dụng hoặc không áp dụng biện pháp xử lý hành chính.

Theo ý kiến của cá nhân tôi, khi tiến hành kiểm sát việc áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án và ý kiến phát biểu của kiểm sát viên tại phiên họp cần phải có các ý kiến đánh giá về các nội dung:

– Về thẩm quyền thẩm quyền lập hồ sơ của UBND cấp xã, thẩm quyền đề nghị của Phòng lao động thương binh – xã hội và thẩm quyền mở phiên hợp của Tòa án.

– Về việc chấp hành pháp luật đối với trình tự thủ tục mở phiên họp của Tòa án nhân dân. Về sự có mặt, vắng mặt của những người được mời, được triệu tập đến phiên họp.

Để có được ý kiến phát biểu nêu trên, trước khi mở phiên họp kiểm sát viên phải nghiên cứu hồ sơ, kiểm tra tính đúng đắn của các tài liệu có trong hồ sơ về căn cứ pháp lý về trình tự thủ tục thu thập tài liệu, có thể có ý kiến để Tòa án nhân dân yêu cầu cơ quan đề nghị bổ sung tài liệu nếu cần thiết.

Những văn bản pháp luật cần nghiên cứu là:

Luật xử lý vi phạm hành chính, trong đó chú trọng đến phần thứ ba “Các biện pháp xử lý vi phạm hành chính” (Luật số 15/2012/QH13 ngày 20/6/2012);

Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét quyết định các biện pháp xử lý vi phạm hành chính tại Tòa án nhân dân (Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH ngày 20/01/2014);

Nghị định 111 ngày 30/9/2013 của Chính Phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn;

Nghị định 221 ngày 30/12/2013 của Chính Phủ quy định về chế độ áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Bốn văn bản pháp luật trên là những văn bản pháp luật căn bản nhưng để thực hiện được cần có những quy định hướng dẫn cụ thể hơn, như: căn cứ xác định đối tượng nghiện, việc quản lý người bị đề nghị trước khi mở phiên họp, việc vắng mặt của họ và người đại diện hợp pháp của họ hoặc luật sư.

Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét quyết định các biện pháp xử lý vi phạm hành chính tại Tòa án nhân dân có hiệu lực từ ngày 20/01/2014 nhưng năm 2015 là năm đầu tiên thành phố Hà Nội thực hiện việc xử lý vi phạm hành chính đưa người đi cai nghiện bắt buộc theo trình tự, thủ tục tại Tòa án nhân dân. Thực tế nảy sinh khó khăn là: đối với những người nghiện ma túy có nơi cư trú ổn định điều kiện bắt buộc để áp dụng biện pháp đi cai nghiện bắt buộc là phải đã áp dụng biện pháp giáo dục tại xã phường những vẫn tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy. Tuy nhiên trên thực tế ít rất đối tượng đã bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã phường.

Tại Long Biên, tính đến thời điểm hiện tại đã ban hành được 8 quyết định đưa người đi cai nghiện bắt buộc. Để thực hiện được việc xây dựng hồ sơ, mở phiên họp đưa người đi cai nghiện bắt buộc, trước mắt công an các phường tập trung vào việc phát hiện các đối tượng lang thang sử dụng trái phép chất ma túy ở các khu vực nhạy cảm như công viên, bến xe, khu vực có nhiều nhà trọ…Tuy nhiên đây là một giải pháp tạm thời để hoàn thành nhiệm vụ và cần lưu ý một vấn đề là: nhằm tránh việc cơ quan lập hồ sơ – UBND cấp phường mà trực tiếp là công an cấp phường cố hoàn thành chỉ tiêu xây dựng hồ sơ thiếu chính xác, cần kiểm tra chặt chẽ căn cứ về thẩm quyền theo điểm b điều 103 Luật xử lý vi phạm hành chính – “người nghiện ma túy không xác định được nơi cư trú hay còn gọi là đối tượng lang thang”. Việc kiểm tra tính đúng đắn bằng việc yêu cầu phải có lý lịch do nơi đối tượng có hộ khẩu thường trú cấp xác định đối tượng không sống tại địa phương, không thực hiện việc đăng ký tạm vắng; bằng lời khai của đối tượng về việc có nơi cư trú ổn định hay không?

Để thực hiện được việc đưa đối tượng nghiện ma túy vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thì cần làm tốt công tác quản lý đối tượng nghiện cư trú trên địa bàn, nếu phát hiện các đối tượng nằm trong danh sách nghiện ma túy sử dụng trái phép chất ma túy thì phải thực hiện tốt được việc áp dụng biện pháp giáo dục tại xã phường. Giáo dục tại xã phường là vừa là biện pháp răn đe vừa là điều kiện cần để áp dụng biện pháp xử lý đưa đi cai nghiện bắt buộc theo trình tự thủ tục tại Tòa án nhân dân.

Kiểm sát việc áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân trong đó có việc đưa người đi cai nghiện bắt buộc là một hoạt động kiểm sát mới của ngành Kiểm sát nhân dân, để thực hiện tốt nhiệm vụ của mình, các kiểm sát viên phải nghiên cứu kỹ các văn bản pháp luật nhằm hướng tới mục tiêu chung là việc áp dụng các biện pháp xử lý hành chính theo thủ tục tại Tòa án được đúng pháp luật, tránh bỏ lọt người có hành vi vi phạm hành chính, đồng thời góp phần bảo vệ quyền con người.

Ngọc Phong – Viện KSND quận Long Biên