Vị Trí Chức Năng Của Quân Đội Nhân Dân / Top 8 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 2/2023 # Top View | Phauthuatthankinh.edu.vn

Quân Đội Nhân Dân Việt Nam Với Chức Năng Của Đội Quân Công Tác

(chiasekienthucnet)-Ngày 22 tháng 12 năm 1944, theo chỉ thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân (tiền thân của Quân đội nhân dân ngày nay) được thành lập. Kể từ đó, ngày này đã trở thành ngày truyền thống của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Từ khi được thành lập đến nay dưới sự lãnh đạo của Đảng, Quân đội đã luôn sát cánh cùng toàn Đảng, toàn dân, lập nên những chiến công hiển hách, đánh thắng các cuộc chiến tranh xâm lược của nước ngoài, thống nhất Tổ quốc. Trong thời bình, Quân đội nhân dân Việt Nam đã làm tốt vai trò chức năng đội quân chiến đấu, đội quân công tác và đội quân lao động sản xuất đặc biệt đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, sẵn sàng chiến đấu, bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc Việt Nam.

Thực hiện chức năng đội quân công tác, Quân đội nhân dân Việt Nam luôn giữ vững mối quan hệ máu thịt với nhân dân. Là một trong các lực lượng nòng cốt tham gia công tác tuyên truyền đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng; vận động quần chúng, xây dựng hệ thống chính trị cơ sở các cấp, các đơn vị Quân đội đã tích cực thực hiện công tác dân vận trên địa bàn đóng quân, luôn xung kích đi đầu trong xây dựng, phát triển kinh tế – xã hội ở các vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo và vùng kinh tế khó khăn của cả nước. Tích cực hướng dẫn chính quyền địa phương, bà con nhân dân trên địa bàn đóng quân xóa đói, giảm nghèo, góp phần nâng cao đời sống vật chất tinh thần cho nhân dân. Đặc biệt Quân đội tích cực tham gia phòng chống lụt, bão, tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn, giảm nhẹ thiên tai và bảo vệ tài nguyên, môi trường…

Bác Hồ gắn huy hiệu chiến sĩ Điện Biên cho bộ đội xuất sắc

Tuy nhiên, với mục đích phi chính trị hóa Quân đội, chia rẽ Quân đội với Đảng, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Quân đội. Các thế lực thù địch ra sức chống phá bằng nhiều thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt. Bằng các hoạt động tuyên truyền xuyên tạc, bóp méo những truyền thống tốt đẹp của Quân đội nhân dân, bôi nhọ hình ảnh, phẩm chất cao đẹp Bộ đội Cụ Hồ. Mặt khác, chúng tán phát tài liệu, tung tin đồn nhảm, gán ghép, ngụy tạo hình ảnh để vu cáo, nói xấu cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân trên các diễn đàn, mạng xã hội… để hòng đạt mục đích của chúng. Đặc biệt thông qua các việc làm của Quân đội với chính quyền, nhân dân địa phương trên cả nước để chúng vu cáo, nói sấu làm mất đi hình ảnh tốt đẹp của Quân đội trong thực hiện chức năng đội quân công tác của mình.

Do đó, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta cần phải cảnh giác, trước những âm mưu của các thế lực thù địch tẩy chay những thông tin độc hại, không tiếp tay cho kẻ xấu lan truyền những thông tin ảo. Làm tốt công tác tư tưởng, giữ vững mặt trận văn hóa tư tưởng không cho kẻ xấu lợi dụng chống phá. Làm tốt công tác giáo dục làm cho mỗi cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội nhận thức rõ mục đích, yêu cầu, quan điểm, nhiệm vụ đối với mặt công tác quan trọng này. Từ đó, đề cao trách nhiệm của cán bộ, chiễn sĩ trong tổ chức thực hiện; vận dụng cụ thể vào từng công việc, trên từng lĩnh vực, địa bàn, xây dựng mô hình dân vận phù hợp, hiệu quả. Được tiến hành thường xuyên, bằng nhiều hình thức, phương tiện; gắn công tác tuyên truyền, giáo dục với đẩy mạnh hoạt động thực tiễn; khắc phục kịp thời tư tưởng lệch lạc, vi phạm kỷ luật dân vận, làm ảnh hưởng đến mối quan hệ đoàn kết quân – dân. Thường xuyên bám sát tình hình địa bàn, nhiệm vụ chính trị của địa phương, đơn vị, chủ động tham mưu, đề xuất, với chính quyền cơ sở những biện pháp lãnh đạo sát đúng; tích cực nghiên cứu, giải quyết những vấn đề mới nảy sinh, đặc biệt là vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng tôn giáo, vùng sâu, vùng xa, biên giới, biển, đảo.

Thực hiện tốt chức năng đội quân công tác là truyền thống của Quân đội ta từ khi thành lập đến nay, làm đẹp phẩm chất cao quý Bộ đội Cụ Hồ – Bộ đội của dân. Đây là nhân tố quan trọng để Quân đội thực hiện tốt vai trò chức năng, nhiệm vụ của mình.

ĐNG (chiasekienthucnet)

Ba Chức Năng Cơ Bản Của Quân Đội Nhân Dân Trong Thời Bình

Thực hiện chức năng đội quân chiến đấu, đội quân công tác, đội quân sản xuất, trong thời bình, Quân đội Nhân dân Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, góp phần vào công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước.

Nhân kỷ niệm 70 năm thành lập Quân đội Nhân dân Việt Nam, Đại tá Vũ Khanh, Viện Chiến lược quốc phòng, Bộ Quốc phòng có bài viết: Quân đội nhân dân thực hiện tốt ba chức năng trong thời bình.

Tàu Cảnh sát biển Việt Nam 8002 do Tổng công ty Sông Thu (Bộ Quốc phòng) đóng. Ảnh: TTXVN

Ngày 22 tháng 12 năm 1944, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân (tiền thân của Quân đội nhân dân ngày nay) được thành lập theo chỉ thị của lãnh tụ Hồ Chí Minh. Kể từ đó, quân đội đã sát cánh cùng toàn Đảng, toàn dân, lập nên những chiến công hiển hách, đánh đuổi thực dân, đế quốc, thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Những năm tháng trong thời bình, Quân đội nhân dân Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, sẵn sàng chiến đấu, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Các thế hệ sĩ quan, chiến sĩ quân đội vẫn kế tiếp nhau phát huy truyền thống và bản chất tốt đẹp của “Bộ đội cụ Hồ”, luôn làm đúng chức năng của đội quân chiến đấu, đội quân công tác, đội quân sản xuất.

Thực hiện chức năng đội quân chiến đấu: Quân đội nhân dân được tổ chức theo hướng tinh gọn, được trang bị các loại vũ khí, khí tài phù hợp, thường xuyên thực hành huấn luyện, nâng cao khả năng sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc.

Quân đội đã tập trung xây dựng về chính trị, nâng cao chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu, chủ động đấu tranh triệt tiêu các yếu tố “tự diễn biến” trong nội bộ, làm thất bại âm mưu “phi chính trị hoá” quân đội của các thế lực thù địch. Xây dựng và hoàn thiện các kế hoạch tác chiến chiến lược; điều chỉnh cơ bản thế bố trí chiến lược trên các hướng trọng điểm. Duy trì nghiêm chế độ sẵn sàng chiến đấu, sẵn sàng đối phó với các tình huống xảy ra. Thực hiện chấn chỉnh mạnh mẽ tổ chức quân đội theo hướng “tinh, gọn, mạnh”, tập trung xây dựng các lực lượng, ưu tiên các đơn vị thường trực làm nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu.

Quân đội đã thực hiện tốt việc phối hợp với các ngành, các địa phương xây dựng, quản lý và nâng cao chất lượng huấn luyện lực lượng dự bị động viên, xây dựng đội ngũ cán bộ quân sự ở cơ sở có đủ số lượng, chất lượng ngày càng cao. Tiếp tục đổi mới nội dung chương trình huấn luyện đào tạo kết hợp với chấn chỉnh, củng cố hệ thống tổ chức nhà trường quân đội. Nâng cao chất lượng huấn luyện của các đơn vị trong toàn quân sát với yêu cầu, nhiệm vụ và đối tượng tác chiến; tăng cường khả năng sẵn sàng chiến đấu cho các đơn vị. Nghiên cứu phát triển khoa học quân sự phù hợp với sự phát triển của tình hình và điều kiện Việt Nam, đáp ứng yêu cầu tác chiến trong điều kiện địch sử dụng vũ khí công nghệ cao.

Thực hiện chức năng đội quân công tác: Quân đội nhân dân luôn giữ vững mối quan hệ máu thịt với nhân dân. Là một trong các lực lượng nòng cốt tham gia công tác vận động quần chúng, xây dựng hệ thống chính trị cơ sở, các đơn vị quân đội đã tích cực thực hiện công tác dân vận, đi đầu trong xây dựng, phát triển kinh tế – xã hội ở các vùng sâu, vùng xa biên giới, hải đảo; tích cực tham gia phòng chống lụt, bão, tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn, giảm nhẹ thiên tai và bảo vệ tài nguyên, môi trường… Các đơn vị trong quân đội nhân dân đã phối hợp chặt chẽ với các địa phương còn nhiều khó khăn trên địa bàn đóng quân, tích cực tham gia xoá đói, giảm nghèo, góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho các tầng lớp nhân dân.

Quân đội là lực lượng xung kích trong quá trình giải quyết các hậu quả lâu dài của các cuộc chiến tranh, tham gia tích cực “Chương trình hành động quốc gia khắc phục hậu quả bom mìn” của Chính phủ, thực hiện nhiệm vụ rà phá bom mìn, vật liệu nổ còn sót lại sau chiến tranh để giải phóng đất đai phục vụ sản xuất.

Nhiều dự án điều tra, rà phá bom mìn đã được triển khai ở các khu vực bị ô nhiễm nặng nhất và đã đạt được những kết quả tích cực. Hàng chục vạn héc ta đất đai đã được dọn sạch bom, mìn, vật liệu nổ để phục vụ sản xuất. Quân đội cũng tích cực giúp đỡ nạn nhân bom mìn hòa nhập đời sống xã hội. Các đơn vị trong toàn quân đã làm tốt công tác chính sách hậu phương quân đội, xây dựng được hàng vạn Nhà tình nghĩa, Nhà đồng đội… và tìm kiếm, quy tập mộ liệt sĩ trên địa bàn cả 3 nước Việt Nam, Lào và Campuchia.

Công tác khắc phục hậu quả chất độc trong đó có ô nhiễm chất độc hóa học sau chiến tranh đã được Quân đội nhân dân thực hiện đồng thời với bảo tồn và cải thiện môi trường. Công tác tuyên truyền về bảo vệ môi trường trong quân đội được đẩy mạnh, góp phần nâng cao nhận thức cho cán bộ, chiến sĩ về nhiệm vụ bảo vệ môi trường.

Quân đội là lực lượng chủ lực trong nhiệm vụ phòng chống thiên tai, tìm kiếm, cứu nạn, coi đây là một nhiệm vụ chiến đấu trong thời bình. Cán bộ, chiến sĩ Quân đội đã làm tốt kế hoạch phòng chống các loại thiên tai, tìm kiếm, cứu nạn, công tác lãnh đạo, chỉ huy, tổ chức lực lượng, bảo đảm trang bị kỹ thuật, hậu cần, tham mưu, đến trực tiếp cùng với các cấp uỷ Đảng, chính quyền và nhân dân địa phương nơi đóng quân triển khai các biện pháp phòng chống thiên tai, tìm kiếm, cứu nạn. Nhờ làm tốt công tác chuẩn bị, nên khi thiên tai hoặc sự cố do con người xảy ra, quân đội đã kịp thời huy động lực lượng, trang thiết bị, chủ động đối phó có hiệu quả, góp phần hạn chế đến mức thấp nhất thiệt hại cho Nhà nước và nhân dân.

Hưởng ứng phong trào thi đua “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới” do Chính phủ phát động, các đơn vị quân đội đã có nhiều hoạt động thiết thực tham gia xây dựng nông thôn mới tại các địa bàn đóng quân. Các đơn vị trong toàn quân đã tích cực tham gia xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế – xã hội của địa phương (như giao thông, thủy lợi, điện, trường học, cơ sở vật chất văn hóa, chợ, bưu điện, nhà ở dân cư); tham gia thực hiện việc chuyển dịch cơ cấu, chuyển giao kỹ thuật, nâng cao hiệu quả sản xuất, nâng cao thu nhập của người dân, góp phần thực hiện mục tiêu xóa đói, giảm nghèo của địa phương.

Tham gia thực hiện có hiệu quả công tác giáo dục, y tế, chăm sóc sức khỏe nhân dân, bảo vệ môi trường, thực hiện các phong trào, công tác chính sách xã hội, vận động nhân dân thực hiện nếp sống văn hóa mới; tham gia xây dựng tổ chức Đảng, chính quyền, mặt trận và các đoàn thể vững mạnh xuất sắc, củng cố cơ sở chính trị địa phương vững mạnh toàn diện; tham gia đấu tranh phòng, chống tệ nạn xã hội, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, xây dựng địa bàn an toàn, vững mạnh.

Thực hiện chức năng đội quân sản xuất: Các đơn vị quân đội đã tận dụng mọi tiềm năng, nguồn lực lao động, đất đai, kỹ thuật…, đẩy mạnh tăng gia sản xuất, tạo nguồn thực phẩm bổ sung tại chỗ, góp phần giữ ổn định và cải thiện đáng kể đời sống vật chất cho bộ đội. Các nhà máy, xí nghiệp công nghiệp quốc phòng đã sản xuất được một số loại vũ khí, trang bị khí tài phù hợp, đáp ứng yêu cầu tác chiến hiện đại, yêu cầu sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu của quân đội. Nhiều đơn vị làm kinh tế của quân đội đã sản xuất và kinh doanh có hiệu quả, trở thành các tổ chức, tập đoàn kinh tế lớn của đất nước, đi đầu trong việc kết hợp kinh tế với quốc phòng, góp phần xứng đáng vào công cuộc phát triển kinh tế – xã hội và tăng cường, củng cố quốc phòng, an ninh của đất nước…

Các doanh nghiệp quân đội đã tham gia nhiều dự án công trình trọng điểm của quốc gia như Đường Hồ Chí Minh, đường dây 500 KV Bắc – Nam, đường tuần tra biên giới, dịch vụ dầu khí, tham gia xây dựng nhiều công trình thuỷ điện lớn… Hiện có gần 100 doanh nghiệp quân đội đang tham gia hoạt động trên nhiều lĩnh vực kinh tế như dịch vụ bay, dịch vụ cảng biển, viễn thông, công nghiệp đóng tàu, trồng cây công nghiệp… Kim ngạch xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ của các doanh nghiệp này ngày một tăng.

Các khu kinh tế-quốc phòng của quân đội đã giúp dân khai hoang, cải tạo đồng ruộng, xây dựng ruộng lúa nước, trồng cỏ phục vụ chăn nuôi gia súc; hỗ trợ vốn làm nhà và cây con giống, giúp đỡ về kỹ thuật sản xuất, chống di dân và đón nhận dân ở tuyến sau đến định cư, giúp dân ổn định cuộc sống lâu dài; đã phối hợp cùng với các địa phương tuyên truyền, vận động quần chúng nhân dân tích cực tham gia phát triển văn hóa-xã hội.

Các hoạt động văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao và các phong trào xây dựng nếp sống văn minh, gia đình hạnh phúc, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, nuôi con khỏe, dạy con ngoan, kế hoạch hóa gia đình, xóa mù chữ, bài trừ hủ tục, mê tín dị đoan, ăn ở vệ sinh… được nhân dân trên địa bàn tích cực thực hiện, tạo được chuyển biến mới, góp phần từng bước xã hội hóa các lĩnh vực văn hóa, giáo dục, chăm sóc sức khỏe cộng đồng.

Các khu kinh tế-quốc phòng đã xây dựng được hàng chục nhà văn hóa, trạm thu phát truyền hình, đưa hệ thống phát thanh truyền hình về thôn bản; triển khai chương trình quân – dân y kết hợp, tổ chức khám chữa bệnh cho hàng chục nghìn lượt người… góp phần nâng cao đời sống văn hóa, tinh thần cho đồng bào các dân tộc ở địa bàn. Trên cơ sở quy hoạch và đầu tư xây dựng các cụm, điểm dân cư sát tuyến biên giới, các khu kinh tế-quốc phòng đã tiến hành tổ chức xây dựng thế trận quốc phòng, an ninh, góp phần bảo vệ vững chắc chủ quyền biên giới quốc gia trong mọi tình huống.

Quân Đội Nhân Dân Việt Nam

Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, Quân đội nhân dân Việt Nam kể từ khi ra đời đến nay, đã lập nên những chiến công oanh liệt, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. Đặc biệt, Quân đội ta đã thực hiện tốt công tác tuyên truyền, vận động nhân dân, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ XHCN, xứng đáng là “đội quân công tác” của Đảng.

Thấm nhuần tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Dân vận kém thì việc gì cũng kém, dân vận khéo thì việc gì cũng thành công” 1, 70 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Quân đội nhân dân Việt Nam luôn dựa vào dân, sát cánh cùng nhân dân thực hiện tốt chức năng “đội quân công tác”, góp phần tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đoàn kết quân – dân, xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc trong các giai đoạn cách mạng của Đảng. Bởi vậy, trong mọi điều kiện, hoàn cảnh, Quân đội luôn nhận được sự giúp đỡ của nhân dân để tạo nên nguồn sức mạnh to lớn đánh thắng kẻ thù xâm lược; thực sự là đội quân từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, xứng danh với tên gọi trìu mến, thân thương “Bộ đội Cụ Hồ” trong lòng nhân dân.

Để thực hiện tốt chức năng “đội quân công tác”, các đơn vị Quân đội đã thường xuyên bám sát chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, đặc điểm, tình hình và các quy định của địa phương, chức năng, nhiệm vụ của Quân đội làm cơ sở để xác định nội dung, hình thức công tác Dân vận (CTDV), nhất là trên những địa bàn chiến lược, trọng điểm, vùng sâu, vùng xa, biên giới, biển, đảo, vùng dân tộc, tôn giáo. Thông qua thực tiễn bám nắm cơ sở, cán bộ, chiến sĩ (CB,CS) Quân đội đã “cùng ăn, cùng ở, cùng làm với dân”, thực hiện đúng phương châm “Nghe dân nói, nói dân hiểu, làm dân tin”, tạo được niềm tin trong nhân dân, phát huy sức dân để hoàn thành nhiệm vụ. Với tinh thần tích cực, chủ động, 70 năm qua, CTDV trong Quân đội đã có bước đổi mới toàn diện cả về nội dung, hình thức, cách làm, nên đã đạt được những kết quả quan trọng 2. Hoạt động của hệ thống “Chiến sĩ dân vận”, “Tổ CTDV”; kết nghĩa; huấn luyện dã ngoại kết hợp làm CTDV; các chương trình phối hợp; cử cán bộ tăng cường cơ sở các xã biên giới của Bộ đội Biên phòng và CTDV của các binh đoàn, đoàn kinh tế – quốc phòng; Chương trình quân – dân y kết hợp… đã từng bước đi vào nền nếp, có hiệu quả tốt. Trước yêu cầu phát triển của các vùng chiến lược, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đã kịp thời quyết định thành lập và chỉ đạo tổ chức hoạt động của các đội công tác tăng cường cơ sở trên các địa bàn trọng điểm: Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ, Tây Quân khu 4 (Đội công tác 123); thể hiện vai trò nòng cốt góp phần xây dựng cơ sở vững mạnh, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn.

Kết quả nổi bật trong thời gian qua là: CTDV của Quân đội đã góp phần tích cực tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện thắng lợi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các cuộc vận động cách mạng, các phong trào và nhiệm vụ chính trị của địa phương; tham gia xây dựng hệ thống chính trị, tăng cường quốc phòng – an ninh, phát triển kinh tế – xã hội; tích cực giúp dân xóa đói giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới; phòng tránh, khắc phục hậu quả thiên tai, thảm họa, tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn. Đồng thời đã chủ động tuyên truyền, nâng cao ý thức cảnh giác của các tầng lớp nhân dân, đấu tranh có hiệu quả với mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch; bảo vệ vững chắc chủ quyền biên giới, biển, đảo của Tổ quốc, tình đoàn kết các dân tộc, tình hữu nghị với các nước. Mặt khác, đã thực hiện tốt Quy chế dân chủ cơ sở; công tác dân tộc, tôn giáo trên các địa bàn và chính sách dân tộc, tôn giáo trong Quân đội, v.v. Qua đó, góp phần giữ vững ổn định chính trị – xã hội, tăng cường tiềm lực chính trị – tinh thần, xây dựng “thế trận lòng dân”, hậu phương chiến lược vững chắc trong thế phòng thủ chung của cả nước. Thông qua thực tiễn hoạt động, CTDV đã trở thành một trong những phương thức chủ yếu để tăng cường mối quan hệ gắn kết chiến lược giữa Đảng, nhân dân và Quân đội; là điều kiện để giáo dục, rèn luyện tư tưởng, bản lĩnh chính trị, đạo đức, lối sống cho CB,CS Quân đội nhân dân Việt Nam.

Tuy nhiên, cũng phải nhận thấy rằng, ở một số đơn vị việc thực hiện chức năng “đội quân công tác” chưa thực sự rõ nét; việc tham mưu, đề xuất phối hợp với cấp ủy, chính quyền địa phương tiến hành CTDV, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc, tôn giáo, biên giới có lúc chưa kịp thời; sự phối hợp giữa các tổ chức, ban, ngành, các lực lượng trong giải quyết các vụ việc phức tạp hiệu quả chưa cao, chưa tạo sức mạnh tổng hợp trong tiến hành CTDV; phương thức hoạt động của đội công tác chưa mang tính đột phá, có thời điểm còn thiếu tính chủ động, chưa phù hợp với đối tượng và loại hình đơn vị, v.v.

Ngày nay, sự nghiệp xây dựng Quân đội, tăng cường quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc đang đặt ra những yêu cầu mới với không ít khó khăn, phức tạp. Trong khi đó, các thế lực thù địch tiếp tục đẩy mạnh chiến lược “Diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, “phi chính trị hóa” quân đội, chia rẽ sự đoàn kết gắn bó keo sơn giữa nhân dân với Đảng, nhân dân với Quân đội; tình trạng tham nhũng, lãng phí và các tệ nạn xã hội chưa được đẩy lùi, v.v. Tình hình đó, đang hằng ngày, hằng giờ tác động đến tâm tư, tình cảm của các tầng lớp nhân dân và cán bộ, chiến sĩ; đồng thời, là những cản trở không nhỏ chi phối đến việc thực hiện chức năng “đội quân công tác” của Đảng trong Quân đội.

Từ kinh nghiệm thực hiện chức năng “đội quân công tác” 70 năm qua vận dụng vào tình hình hiện nay cho thấy, để nâng cao hiệu quả hoạt động, toàn quân cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho CB,CS về vị trí, vai trò “đội quân công tác” trong tình hình mới. Trước hết, cần nhận thức sâu sắc rằng, thực hiện tốt CTDV chính là biện pháp quan trọng để Quân đội ta hoàn thành chức năng “đội quân công tác” của Đảng và là cơ sở để tăng cường đoàn kết quân – dân, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, chế độ, Quân đội. Bởi vậy, các đơn vị cần làm tốt công tác giáo dục, quán triệt nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò của CTDV trong tình hình mới; làm rõ mục đích, yêu cầu, quan điểm, nhiệm vụ đối với mặt công tác quan trọng này. Từ đó, đề cao trách nhiệm của mọi CB,CS trong tổ chức thực hiện; vận dụng cụ thể vào từng công việc, trên từng lĩnh vực, địa bàn, xây dựng mô hình dân vận phù hợp, hiệu quả. Việc làm này phải được tiến hành thường xuyên, bằng nhiều hình thức, phương tiện, nhất là hệ thống thông tin đại chúng; gắn công tác tuyên truyền, giáo dục với đẩy mạnh hoạt động thực tiễn; nâng cao hiệu quả CTDV với khắc phục kịp thời tư tưởng lệch lạc, vi phạm kỷ luật dân vận, làm ảnh hưởng đến mối quan hệ đoàn kết quân – dân. Đồng thời, xây dựng lề lối, tác phong khoa học, bám sát cơ sở, địa bàn; đẩy mạnh phong trào Thi đua Quyết thắng của đơn vị, gắn với phong trào thi đua yêu nước của địa phương, phong trào thi đua “Dân vận khéo” và các phong trào, các cuộc vận động do Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị – xã hội phát động. Các đơn vị cần tiếp tục chỉ đạo thực hiện tốt Cuộc vận động “Xây dựng môi trường văn hóa tốt đẹp, lành mạnh, phong phú trong Quân đội”, gắn với Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” và “Quân đội chung sức xây dựng nông thôn mới”, với tinh thần “ở đâu có bộ đội, ở đó có CTDV”; giữ vững và phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” – “Bộ đội của dân” trong giai đoạn mới.

Trước tác động của tình hình kinh tế – xã hội đến nhận thức, tư tưởng, tình cảm của nhân dân, làm phân tâm đến các tầng lớp xã hội, thay đổi nếp sống ở các vùng, miền, nên CTDV cần tiếp tục đổi mới nội dung, đa dạng hóa hình thức cho phù hợp với từng địa bàn và từng loại hình đơn vị. Từ thực tiễn tiến hành CTDV, cần tổng kết, rút kinh nghiệm, xác định mô hình sáng tạo, hiệu quả để phát huy; đồng thời, bám sát sự phát triển của tình hình trên các địa bàn để xác định mô hình, nội dung, biện pháp phù hợp. Trên cơ sở đó và căn cứ vào yêu cầu của CTDV hiện nay, các đơn vị cần đổi mới, đa dạng hóa các hình thức tập hợp nhân dân; tiếp tục duy trì, mở rộng hoạt động kết nghĩa, huấn luyện dã ngoại kết hợp làm CTDV; củng cố, nâng cao hiệu quả hoạt động của “Tổ CTDV’; phát huy vai trò của dân quân tự vệ làm CTDV, các tổ, đội công tác liên ngành ở các địa bàn và cán bộ tăng cường cơ sở, nhất là các đồng chí tham gia cấp ủy, chính quyền và Hội đồng nhân dân các cấp. Các đơn vị phải thường xuyên bám sát tình hình địa bàn, nhiệm vụ chính trị của địa phương, đơn vị, chủ động tham mưu, đề xuất, hướng hoạt động CTDV về cơ sở; tích cực nghiên cứu, giải quyết những vấn đề mới nảy sinh, nhất là vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng tôn giáo, vùng sâu, vùng xa, biên giới, biển, đảo. Đồng thời, phối hợp với các địa phương tổ chức tốt các hoạt động bổ ích cho nhân dân trên địa bàn; giải quyết dứt điểm các vụ việc và các hủ tục, tệ nạn, không để tồn đọng kéo dài. Thông qua hoạt động thực tiễn, cần phát hiện, nhân rộng các điển hình tiên tiến, gương “người tốt, việc tốt” trong tiến hành CTDV để nhân rộng cho các đơn vị và mọi CB,CS học tập, noi theo.

Một trong những nhân tố quyết định để việc thực hiện chức năng “đội quân công tác” mang lại hiệu quả thiết thực là phải tăng cường sự lãnh đạo của cấp ủy, trách nhiệm của chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy, cơ quan chính trị, cán bộ chính trị các cấp. Theo đó, các cơ quan, đơn vị phải coi CTDV là nhiệm vụ chính trị thường xuyên, gắn kết quả CTDV với hoạt động của cấp ủy đảng, trách nhiệm của chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy và các tổ chức, lực lượng; khắc phục những nhận thức lệch lạc, coi CTDV là việc của cơ quan chính trị và cán bộ dân vận chuyên trách. Để làm được điều đó, các cấp ủy, tổ chức đảng phải tiếp tục quán triệt và thực hiện nghiêm túc Nghị quyết 25-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) “Về tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với CTDV trong tình hình mới”; coi đây là cơ sở để xác định nội dung, biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo để đổi mới CTDV cho phù hợp với yêu cầu thực tiễn. Đồng thời, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của cấp ủy, tổ chức đảng; phát huy vai trò của cơ quan chính trị, cán bộ chính trị trong việc tham mưu, chỉ đạo, phối hợp với cấp ủy, chính quyền địa phương, các tổ chức chính trị – xã hội và các lực lượng trên địa bàn trong thực hiện CTDV. Ngoài ra, các đơn vị cần tiếp tục củng cố, kiện toàn hệ thống cơ quan dân vận theo Quy chế CTDV trong Quân đội; tập trung xây dựng nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của cơ quan dân vận và đội ngũ cán bộ dân vận các cấp, bảo đảm thực hiện tốt vai trò tham mưu, chỉ đạo, hướng dẫn tổ chức hoạt động CTDV và thực hiện Quy chế Dân chủ cơ sở.

Để cho dân tin, dân yêu, dân làm theo và giúp đỡ bộ đội, các đơn vị cần giáo dục cho CB,CS làm CTDV phải thực sự là những người có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt, lối sống trong sạch, giản dị, phong cách quần chúng, gần cơ sở. Bên cạnh sự giáo dục, rèn luyện của tổ chức, mỗi người phải tự giác ghép mình vào các quy định, kỷ luật của đơn vị; tích cực khắc phục khuyết điểm theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) về xây dựng Đảng và Chỉ thị 03-CT/TW của Bộ Chính trị về “Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, nhất là học tập Bác ở phong cách quần chúng. Trong quá trình làm CTDV, mọi CB,CS phải chấp hành nghiêm chỉnh các quy định của địa phương, kỷ luật Quân đội và kỷ luật trong quan hệ với nhân dân; nói đi đôi với làm, luôn có tinh thần tương thân tương ái, giúp đỡ nhân dân, chia ngọt sẻ bùi trước những khó khăn, vất vả của nhân dân. Trong mọi điều kiện, hoàn cảnh, CB,CS Quân đội phải luôn giữ vững phẩm chất tốt đẹp “Bộ đội Cụ Hồ”, từ lời nói đến hành động phải thể hiện sự khiêm tốn, lễ phép trước nhân dân; khắc phục mọi biểu hiện vô cảm, thiếu trách nhiệm với nhân dân.

Thực hiện tốt chức năng “đội quân công tác” là bản chất, truyền thống của Quân đội ta, làm thắt chặt tình đoàn kết quân – dân, tô thắm thêm phẩm chất cao quý “Bộ đội Cụ Hồ” – “Bộ đội của dân”. Đó là nhân tố quan trọng để Quân đội thực hiện tốt vai trò nòng cốt trong sự nghiệp tăng cường quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới.

1 – Hồ Chí Minh – Toàn tập, Tập 6, Nxb CTQG, H. 2011, tr. 234.

2 – Tổng kết 10 năm hoạt động công tác dân vận (2003 – 2013), toàn quân đã tham gia xây dựng cơ sở chính trị địa phương được 44.230 lượt xã, phường; tham gia cấp ủy, chính quyền địa phương 1.261 lượt cán bộ; đào tạo được hơn 1.000 y tá, y sĩ thôn bản; củng cố được 1.553 trạm y tế xã; khám, chữa bệnh cho hơn 4,3 triệu lượt người; mở 234 lớp xóa mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học cho 2.370 học sinh; xây dựng 3.730 Nhà Đại đoàn kết, Nhà Đồng đội trị giá hơn 200 tỷ đồng; tham gia giúp dân phòng tránh, khắc phục hậu quả thiên tai, hỏa hoạn với 2.700.000 ngày công, di dời 275.600 người dân và 39.350 phương tiện.

Vị Trí, Chức Năng Của Dân Quân Tự Vệ Là Gốc Để Thiết Kế Các Nội Dung Của Luật Dân Quân Tự Vệ (Sửa Đổi)

Bên cạnh đó, về nguyên tắc tổ chức, hoạt động của Dân quân tự vệ, một số thành viên Ủy ban Quốc phòng và An ninh đề nghị cân nhắc quy định “trực tiếp là sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng đoàn, Ban cán sự Đảng”, vì Đảng đoàn, Ban cán sự Đảng ở các cơ quan Trung ương như: Ban cán sự Đảng, Chính phủ, Đảng đoàn Quốc hội… do Bộ Chính trị thành lập và quy định chức năng nhiệm vụ chủ yếu làm tham mưu và tổ chức thực hiện ở tầm vĩ mô, không phải là tổ chức Đảng cấp trên của cơ sở. Đồng thời, Ban soạn thảo báo cáo rõ hơn việc bổ sung chức danh Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam … tại khoản 1 để tránh hiểu lầm giữa “nguyên tắc lãnh đạo” và “nguyên tắc chỉ huy”. Ủy ban Quốc phòng và An ninh đề nghị Ban soạn thảo rà soát, bổ sung, làm rõ các nguyên tắc tổ chức và các nguyên tắc hoạt động của Dân quân tự vệ, bảo đảm tính khái quát. Theo đó, quy định tại các điều khoản khác của dự thảo Luật cần bám sát nội dung của các nguyên tắc này.

Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật Nguyễn Khắc Định phát biểu

Phát biểu tại phiên họp, Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật Nguyễn Khắc Định nêu rõ, trong lịch sử đất nước ta 2 cuộc chiến tranh nhân dân vĩ đại, lực lượng dân quân tự vệ trong lịch sử có vai trò quan trọng và tổ chức lực lượng dân quân tự vệ là đường lối nhất quán, đúng đắn, là quan điểm chiến tranh nhân dân của Đảng và Nhà nước ta, có đóng góp rất to lớn trong các cuộc kháng chiến. Chúng ta đã quan tâm, đã có luật, nay cần phải sửa đổi bởi vì có những chính sách mới, có những yêu cầu mới trong thời đại mới nhưng cũng cần tuyên truyền để tránh các thế lực xấu lợi dụng và củng cố rõ hơn nữa vai trò, chưc năng, nhiệm vụ của dân quân tự vệ…

Phát biểu quan điểm, Phó Chủ tịch Quốc hội Đỗ Bá Tỵ nêu rõ, quy định của Dự Luật cơ bản đảm bảo phù hợp với chủ trương phát triển lực lượng dân quân tự vệ tại Nghị quyết 28- NQ/TW về chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, các nghị quyết, chỉ thị về chiến lược quốc phòng, chiến lược quân sự Việt Nam. Tuy nhiên, cần tiếp tục quán triệt bảo đảm phù hợp với các chủ trương, nghị quyết của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về tính tinh gọn của tổ chức, tinh giản biên chế, giảm số người hoạt động không chuyên trách, cải cách chế độ tiền lương mới được ban hành, v.v… Do đó chủ trương của Luật là làm sao giải quyết được hài hòa, hợp lý giữa việc xây dựng lực lượng dân quân tự vệ với bản chất là lực lượng vũ trang quần chúng không thoát ly sản xuất, công tác vững mạnh, rộng khắp. Đồng thời quy định về chức năng, vị trí của dân quân tự vệ là quy định rất quan trọng, là gốc để thiết kế các nội dung của luật, vì vậy cần nghiên cứu, thiết kế để làm rõ hơn nữa được bản chất của dân quân tự vệ./.

Dân quân tự vệ Việt Nam đưa tin .