Vị Trí Chức Năng Của Quân Đội Nhân Dân Việt Nam / Top 11 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 2/2023 # Top View | Phauthuatthankinh.edu.vn

Quân Đội Nhân Dân Việt Nam Với Chức Năng Của Đội Quân Công Tác

(chiasekienthucnet)-Ngày 22 tháng 12 năm 1944, theo chỉ thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân (tiền thân của Quân đội nhân dân ngày nay) được thành lập. Kể từ đó, ngày này đã trở thành ngày truyền thống của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Từ khi được thành lập đến nay dưới sự lãnh đạo của Đảng, Quân đội đã luôn sát cánh cùng toàn Đảng, toàn dân, lập nên những chiến công hiển hách, đánh thắng các cuộc chiến tranh xâm lược của nước ngoài, thống nhất Tổ quốc. Trong thời bình, Quân đội nhân dân Việt Nam đã làm tốt vai trò chức năng đội quân chiến đấu, đội quân công tác và đội quân lao động sản xuất đặc biệt đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, sẵn sàng chiến đấu, bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc Việt Nam.

Thực hiện chức năng đội quân công tác, Quân đội nhân dân Việt Nam luôn giữ vững mối quan hệ máu thịt với nhân dân. Là một trong các lực lượng nòng cốt tham gia công tác tuyên truyền đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng; vận động quần chúng, xây dựng hệ thống chính trị cơ sở các cấp, các đơn vị Quân đội đã tích cực thực hiện công tác dân vận trên địa bàn đóng quân, luôn xung kích đi đầu trong xây dựng, phát triển kinh tế – xã hội ở các vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo và vùng kinh tế khó khăn của cả nước. Tích cực hướng dẫn chính quyền địa phương, bà con nhân dân trên địa bàn đóng quân xóa đói, giảm nghèo, góp phần nâng cao đời sống vật chất tinh thần cho nhân dân. Đặc biệt Quân đội tích cực tham gia phòng chống lụt, bão, tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn, giảm nhẹ thiên tai và bảo vệ tài nguyên, môi trường…

Bác Hồ gắn huy hiệu chiến sĩ Điện Biên cho bộ đội xuất sắc

Tuy nhiên, với mục đích phi chính trị hóa Quân đội, chia rẽ Quân đội với Đảng, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Quân đội. Các thế lực thù địch ra sức chống phá bằng nhiều thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt. Bằng các hoạt động tuyên truyền xuyên tạc, bóp méo những truyền thống tốt đẹp của Quân đội nhân dân, bôi nhọ hình ảnh, phẩm chất cao đẹp Bộ đội Cụ Hồ. Mặt khác, chúng tán phát tài liệu, tung tin đồn nhảm, gán ghép, ngụy tạo hình ảnh để vu cáo, nói xấu cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân trên các diễn đàn, mạng xã hội… để hòng đạt mục đích của chúng. Đặc biệt thông qua các việc làm của Quân đội với chính quyền, nhân dân địa phương trên cả nước để chúng vu cáo, nói sấu làm mất đi hình ảnh tốt đẹp của Quân đội trong thực hiện chức năng đội quân công tác của mình.

Do đó, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta cần phải cảnh giác, trước những âm mưu của các thế lực thù địch tẩy chay những thông tin độc hại, không tiếp tay cho kẻ xấu lan truyền những thông tin ảo. Làm tốt công tác tư tưởng, giữ vững mặt trận văn hóa tư tưởng không cho kẻ xấu lợi dụng chống phá. Làm tốt công tác giáo dục làm cho mỗi cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội nhận thức rõ mục đích, yêu cầu, quan điểm, nhiệm vụ đối với mặt công tác quan trọng này. Từ đó, đề cao trách nhiệm của cán bộ, chiễn sĩ trong tổ chức thực hiện; vận dụng cụ thể vào từng công việc, trên từng lĩnh vực, địa bàn, xây dựng mô hình dân vận phù hợp, hiệu quả. Được tiến hành thường xuyên, bằng nhiều hình thức, phương tiện; gắn công tác tuyên truyền, giáo dục với đẩy mạnh hoạt động thực tiễn; khắc phục kịp thời tư tưởng lệch lạc, vi phạm kỷ luật dân vận, làm ảnh hưởng đến mối quan hệ đoàn kết quân – dân. Thường xuyên bám sát tình hình địa bàn, nhiệm vụ chính trị của địa phương, đơn vị, chủ động tham mưu, đề xuất, với chính quyền cơ sở những biện pháp lãnh đạo sát đúng; tích cực nghiên cứu, giải quyết những vấn đề mới nảy sinh, đặc biệt là vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng tôn giáo, vùng sâu, vùng xa, biên giới, biển, đảo.

Thực hiện tốt chức năng đội quân công tác là truyền thống của Quân đội ta từ khi thành lập đến nay, làm đẹp phẩm chất cao quý Bộ đội Cụ Hồ – Bộ đội của dân. Đây là nhân tố quan trọng để Quân đội thực hiện tốt vai trò chức năng, nhiệm vụ của mình.

ĐNG (chiasekienthucnet)

Các Quân Khu Quân Đội Nhân Dân Việt Nam

Quân đội nhân dân Việt Nam được chia thành các quân khu 1, 2, 3, 4, 5, 7, 9 và Bộ Tư lệnh Thủ đô (Theo Cổng thông tin điện tử Bộ Quốc phòng)

Quân khu 1 trực thuộc Bộ Quốc phòng Việt Nam, nằm ở vị trí địa – chính trị chiến lược đặc biệt quan trọng về kinh tế – xã hội, quốc phòng – an ninh và đối ngoại trong thế bố trí chung của cả nước, có nhiệm vụ tổ chức, xây dựng, quản lý và chỉ huy lực lượng vũ trang 3 thứ quân; thường xuyên nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng, chú trọng nâng cao chất lượng huấn luyện, khả năng sẵn sàng chiến đấu của lực lượng vũ trang ba thứ quân, xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân vững chắc; tích cực tham gia công tác cứu hộ, cứu nạn, giúp nhân dân khắc phục hậu quả thiên tai, góp phần bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN. Tư lệnh kiêm Chính uỷ đầu tiên của Quân khu 1 là đồng chí Đàm Quang Trung.

Hiện nay, Quân khu 1 có Tư lệnh và các Phó Tư lệnh, Chính uỷ và Phó Chính uỷ; các cơ quan chức năng đảm nhiệm các mặt công tác tham mưu, chính trị, hậu cần, kỹ thuật, các sư đoàn và trung đoàn chủ lực và các đơn vị trực thuộc khác. Quân khu 1 chỉ huy các đơn vị bộ đội địa phương các tỉnh, huyện và dân quân tự vệ trong địa bàn của quân khu.

Ngày truyền thống: 16/10/1945

Truyền thống vẻ vang:

“TRUNG HIẾU, TIÊN PHONG, ĐOÀN KẾT, CHIẾN THẮNG”

Phần thưởng cao quý:

Với những thành tích đặc biệt xuất sắc qua các thời kỳ, Lực lượng vũ trang Quân khu 1 đã được Đảng, Nhà nước tặng nhiều phần thưởng cao quý: Huân chương Sao vàng, 02 Huân chương Hồ Chí Minh, 03 Huân chương Độc lập, 10 Huân chương Quân công, hàng nghìn lượt tập thể đơn vị, hàng vạn cá nhân được thưởng Huân chương Chiến công các hạng; 346 đơn vị và 206 cá nhân được tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân trong kháng chiến, 06 đơn vị được tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang thời kỳ đổi mới (lực lượng vũ trang huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên; lực lượng vũ trang và nhân dân xã Thị Hoa, huyện Hạ Lang, tỉnh Cao Bằng; Trung đoàn Xe tăng 409; Lữ đoàn Công binh 575; Lữ đoàn Pháo binh 382; Tiểu đoàn Hoá học 23/ Bộ Tham mưu); 916 Mẹ Việt Nam Anh hùng và nhiều phần thưởng cao quý khác của bạn bè quốc tế.

Quân khu 2 trực thuộc Bộ Quốc phòng Việt Nam, có nhiệm vụ tổ chức, xây dựng, quản lý và chỉ huy các cơ quan, đơn vị trực thuộc; các đơn vị bộ đội địa phương các tỉnh, huyện và dân quân tự vệ trong địa bàn quân khu. Tư lệnh và Chính uỷ đầu tiên của Quân khu 2 là các đồng chí Bằng Giang, Bùi Quang Tạo.

Hiện nay, Quân khu 2 có Tư lệnh và các Phó Tư lệnh, Chính uỷ và Phó Chính uỷ; các cơ quan chức năng đảm nhiệm các mặt công tác tham mưu, chính trị, hậu cần, kỹ thuật, các sư đoàn và trung đoàn chủ lực và các đơn vị trực thuộc khác. Quân khu 2 chỉ huy các đơn vị bộ đội địa phương các tỉnh, huyện và dân quân tự vệ trong địa bàn của quân khu.

Ngày truyền thống: 19/10/1946

Truyền thống vẻ vang:

“TRUNG THÀNH, TỰ LỰC, ĐOÀN KẾT, ANH DŨNG, CHIẾN ĐẤU”

Phần thưởng cao quý:

– Huân chương Sao vàng;

– Huân chương Hồ Chí Minh…

Quân khu 3 trực thuộc Bộ Quốc phòng, có nhiệm vụ tổ chức, xây dựng, quản lý và chỉ huy các cơ quan, đơn vị trực thuộc; các đơn vị bộ đội địa phương các tỉnh, huyện và dân quân tự vệ trong địa bàn quân khu. Tư lệnh, Chính uỷ đầu tiên của Quân khu 3 là các đồng chí Hoàng Sâm, Trần Độ.

Hiện nay, Quân khu 3 có Tư lệnh và các Phó Tư lệnh, Chính uỷ và Phó Chính uỷ; các cơ quan chức năng đảm nhiệm các mặt công tác tham mưu, chính trị, hậu cần, kỹ thuật, các sư đoàn và trung đoàn chủ lực và các đơn vị trực thuộc khác. Quân khu 3 chỉ huy các đơn vị bộ đội địa phương các tỉnh, huyện và dân quân tự vệ trong địa bàn của quân khu.

Ngày truyền thống: 31/10/1945.

Truyền thống vẻ vang:

“ĐOÀN KẾT, CHỦ ĐỘNG, SÁNG TẠO, HY SINH, CHIẾN THẮNG”

Phần thưởng cao quý:

– 02 Huân chương Sao Vàng;

– 02 Huân chương Hồ Chí Minh…

Quân khu 4 trực thuộc Bộ Quốc phòng Việt Nam, nằm trên một địa bàn chiến lược trong thế trận chiến tranh nhân dân Việt Nam, có nhiệm vụ chỉ huy, quản lý và tổ chức lực lượng vũ trang quân khu chiến đấu bảo vệ vùng Bắc Trung Bộ Việt Nam.

Thực hiện chỉ thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngày 15/10/1945 Chiến khu 4 được thành lập gồm 6 tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên – Huế và ngày này trở thành Ngày truyền thống của lực lượng vũ trang Quân khu 4. Ngày 03/6/1957, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Sắc lệnh số 17/SL về việc thành lập Quân khu 4 trên cơ sở Liên khu 4.

Tư lệnh, Chính uỷ đầu tiên của Quân khu 4 là các đồng chí Nguyễn Đôn, Chu Huy Mân.

Hiện nay, Quân khu 4 có Tư lệnh và các Phó Tư lệnh, Chính uỷ và Phó Chính uỷ; các cơ quan chức năng đảm nhiệm các mặt công tác tham mưu, chính trị, hậu cần, kỹ thuật, các sư đoàn và trung đoàn chủ lực và các đơn vị trực thuộc khác. Quân khu 4 chỉ huy các đơn vị bộ đội địa phương các tỉnh, huyện và dân quân tự vệ trong địa bàn của quân khu.

Ngày truyền thống: 15/10/1945

Phần thưởng cao quý:

– 01 Huân chương Sao vàng;

– 03 Huân chương Hồ Chí Minh…

Quân khu 5 trực thuộc Bộ Quốc phòng Việt Nam, hiện nay có chức năng nhiệm vụ cơ bản là tổ chức, xây dựng, quản lí và chỉ huy lực lượng vũ trang thuộc Quân khu chiến đấu bảo vệ vùng Nam Trung Bộ, xây dựng và củng cố nền quốc phòng toàn dân ở địa phương trên địa bàn. Địa bàn Quân khu 5 bắt đầu từ đèo Hải Vân đến cực nam tỉnh Ninh Thuận, gồm 11 tỉnh thành phố: Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hoà, Ninh Thuận, Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc và Đắc Nông. Tổ chức hiện nay có Tư lệnh và các Phó Tư lệnh; Chính uỷ và Phó Chính uỷ; các cơ quan chức năng đảm nhiệm các mặt công tác tham mưu, chính trị, hậu cần, kỹ thuật, các sư đoàn, trung đoàn chủ lực và các đơn vị trực thuộc.

Ngày truyền thống: 16/10/1945

Truyền thống vẻ vang:

“TỰ LỰC TỰ CƯỜNG, KHẮC PHỤC KHÓ KHĂN, CHỊU ĐỰNG GIAN KHỔ, MƯU TRÍ SÁNG TẠO, CHIẾN ĐẤU KIÊN CƯỜNG, CHIẾN THẮNG VẺ VANG”.

Trải qua hai cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm và 35 năm xây dựng, bảo vệ Tổ quốc, lực lượng vũ trang Quân khu 5 đã có 162.768 liệt sỹ hy sinh vì sự nghiệp độc lập, tự do của dân tộc, hơn 100 nghìn thương, bệnh binh, 13.772 Mẹ Việt Nam Anh hùng. Với những đóng góp to lớn vào sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, lực lượng vũ trang Quân khu 5 đã được Đảng và Nhà nước trao tặng nhiều phần thưởng cao quý:

– Huân chương Sao vàng (1985);

– 898 tập thể và 392 cá nhân và được tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, trong đó có: Trung đoàn Ba Gia – đơn vị được 3 lần tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân: Trung đoàn Ba Gia và các đơn vị được 2 lần tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân: Sư đoàn 2; Trung đoàn 95; Trung đoàn 812; Tiểu đoàn 840/Trung đoàn 812; Đại đội Công binh Hải Vân/Quảng Đà; Đại đội 2/Trung đoàn 66; Đại đội 5/26/Đoàn 5504; Lực lượng vũ trang và nhân dân các địa phương huyện Duy Xuyên và (Quảng Nam); Lực lượng vũ trang và nhân dân các địa phương huyện Đại Lộc (Quảng Nam); xã Tịnh Khê (Sơn Tịnh, Quảng Ngãi); xã Hoà Hải (Ngũ Hành Sơn, Đà Nẵng)..

Trong thời kỳ đổi mới, lực lượng vũ trang Quân khu 5 có 5 tập thể vinh dự được Nhà nước tuyên dương danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân (lực lượng vũ trang và nhân dân huyện Đại Lộc/Quảng Nam, Lữ đoàn công binh 270, Viện Quân y 13, Trung đoàn Pháo binh 368 và Binh đoàn 15), 1 cá nhân được Nhà nước tuyên dương Anh hùng Lao động; 25 tập thể được tặng Cờ Thủ tướng Chính phủ; 85 tập thể và 35 cá nhân được tặng Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ; 68 tập thể được tặng Cờ Thi đua Bộ Quốc phòng; 542 tập thể và cá nhân được Bộ Quốc phòng tặng Bằng khen và các hình thức khen thưởng khác.

Quân khu 7 là tổ chức quân sự theo vùng lãnh thổ, được thành lập ngày 10/12/1945, bao gồm thành phố Sài Gòn và các tỉnh Gia Đinh, Chợ Lớn, Bà Rịa, Biên Hòa, Thủ Dầu Một và Tây Ninh. Nay gồm Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh: Bà Rịa – Vũng Tàu, Bình Dương, Bình Phước, Bình Thuận, Đồng Nai, Lâm Đồng, Long An và Tây Ninh.

Trong 30 năm kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, lực lượng vũ trang Quân khu 7 vừa xây dựng vừa chiến đấu, từ trong muôn vàn thiếu thốn, gian khổ hy sinh, đã sáng tạo ra những cách đánh hết sức độc đáo, có hiệu quả, lập nên nhiều chiến công xuất sắc ở cả ba vùng đô thị, đồng bằng và rừng núi, góp phần làm chuyển đổi cục diện chiến trường, lần lượt đánh bại các chiến lược chiến tranh của địch, cùng quân và dân cả nước làm nên trận Điện Biên Phủ và cuộc Tổng tiến công mùa Xuân năm 1975.

Trong thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, phát huy chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong chiến tranh giải phóng dân tộc, lực lượng vũ trang Quân khu 7 thực hành quân quản, sắp xếp lại lực lượng, khắc phục hậu quả chiến tranh, tham gia xây dựng chế độ xã hội mới: Vừa đánh bại kiểu chiến tranh phá hoại của địch, xây dựng tiềm lực quân sự – quốc phòng, vừa kiên cường chiến đấu bảo vệ biên giới Tây Nam, làm nhiệm vụ Quốc tế xây dựng và bảo vệ đất nước Campuchia, góp phần đập tan chế độ diệt chủng Pôn Pốt. Trong bối cảnh lịch sử mới, lực lượng vũ tranh Quân khu 7 tập trung xây dựng đơn vị cách mạng, chính quy, tinh nhuệ và từng bước hiện đại, ra sức huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Trải qua hơn 60 năm, xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, lực lượng vũ trang Quân khu 7 được tặng thưởng: 02 Huân chương Sao vàng, 02 Huân chương Hồ Chí Minh, 01 Huân chương Quân công hạng nhất và 340 cá nhân Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Thành phố Hồ Chí Minh và hầu hết các tỉnh của Quân khu 7 đều được tặng Huân chương Sao vàng, Huân chương Hồ Chí Minh và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Lực lượng vũ trang Quân khu 7 luôn chú trọng việc quán triệt các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước, các chỉ thị, nghị quyết của Đảng ủy quân sự Trung ương, Bộ quốc phòng, vận dụng linh hoạt sáng tạo đường lối quân sự, đường lối ngoại giao, thống nhất ý chí và hành động, khắc phục khó khăn, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.

Kế thừa và phát huy chủ nghĩa anh hùng cách mạng mà ông, cha đã dày công vun đắp, phấp đấu xây dựng lực lượng vũ trang Quân khu 7 ngày càng lớn mạnh, tô thắm thêm truyền thống vẻ vang: “Trung thành vô hạn, chủ động sáng tạo, tự lực tự cường, đoàn kết quyết thắng” lực lượng vũ trang Quân khu 7 mãi mãi xứng đáng với sự tin yêu của Đảng, Nhà nước và nhân dân.

Quân khu 9 trực thuộc Bộ Quốc phòng Việt nam có nhiệm vụ quản lý, tổ chức, xây dựng và chỉ huy quân đội chiến đấu bảo vệ vùng Đồng bằng Sông Cửu long Việt Nam. Tư lệnh và Chính uỷ đầu tiên của Quân khu 9 là các đồng chí Nguyễn Thành Thơ, Nguyễn Văn Bé.

Hiện nay, Quân khu 9 có Tư lệnh và các Phó Tư lệnh, Chính uỷ và Phó Chính uỷ; các cơ quan chức năng đảm nhiệm các mặt công tác tham mưu, chính trị, hậu cần, kỹ thuật, các sư đoàn và trung đoàn chủ lực và các đơn vị trực thuộc khác. Quân khu 9 chỉ huy các đơn vị bộ đội địa phương các tỉnh, huyện và dân quân tự vệ trong địa bàn của quân khu.

Ngày truyền thống: 10/12/1945

Phần thưởng cao quý:

– 03 Huân chương Sao vàng;

– Huân chương Hồ Chí Minh;

– Huân chương Ăng Ko…

Ra đời từ phong trào cách mạng của quần chúng, lực lượng vũ trang (LLVT) Thủ đô Hà Nội là một bộ phận quan trọng của LLVT nhân dân Việt Nam đã kế thừa, phát huy truyền thống anh hùng bất khuất chống ngoại xâm của Thủ đô Hà Nội, truyền thống “Ngàn năm văn hiến Thăng Long – Hà Nội” cùng các tầng lớp nhân dân Thủ đô viết nên trang sử hào hùng, góp phần làm rạng danh non sông đất nước.

Ngày 19/8/1945, nhân dân Hà Nội được sự hậu thuẫn của lực lượng vũ trang đã đứng lên giành chính quyền trong cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 (Ảnh: Tư liệu)

Trước và trong cách mạng tháng Tám, các đội tiền thân của LLVT Thủ đô xung kích đi đầu, làm nòng cốt cho các tầng lớp nhân dân Hà Nội đẩy mạnh đấu tranh vũ trang, tích cực chuẩn bị mọi điều kiện khi thời cơ đến vùng dậy khởi nghĩa giành chính quyền ở Hà Nội, góp phần quyết định thắng lợi cách mạng tháng Tám năm 1945, đập tan ách thống trị hơn 80 năm của chủ nghĩa thực dân, lật đổ chế độ phong kiến mấy nghìn năm, giành độc lập tự do cho dân tộc, mang lại quyền làm chủ cho nhân dân Việt Nam. LLVT Thủ đô Hà Nội đã cùng các tầng lớp nhân dân kiên quyết đấu tranh đập tan hoạt động chống phá của kẻ thù, bảo vệ vững chắc thành quả của cách mạng, đưa cách mạng Việt Nam thoát ra khỏi tình thế ngàn cân treo sợi tóc.

Sau khi được thành lập, ngày 19/12/1946 hưởng ứng lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh và chấp hành quyết định của Thường vụ Trung ương Đảng, quân và dân Chiến khu XI với tinh thần “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh” đã nổ súng mở đầu cho toàn quốc kháng chiến. Lịch sử dân tộc Việt Nam nói chung, quân và dân Thủ đô nói riêng mãi mãi lưu truyền cuộc chiến đấu 60 ngày đêm, làm thất bại âm mưu đánh nhanh, thắng nhanh của thực dân Pháp, vượt chỉ tiêu Trung ương giao, bảo vệ tuyệt đối an toàn cơ quan đầu não của Đảng, Nhà nước, tạo điều kiện cho cả nước có thời gian thực hiện công việc kháng chiến lâu dài. Suốt chặng đường kháng chiến chống thực dân Pháp, LLVT Thủ đô Hà Nội đã kiên trì trụ vững bám dân, bám đất, xây dựng cơ sở, dựa vào dân chiến đấu và lập được nhiều chiến công vẻ vang. Nhiều trận đánh tiêu biểu, hiệu quả để lại kinh nghiệm quý cho chiến tranh nhân dân, góp phần tạo ra bước ngoặt quan trọng trong kháng chiến chống thực dân Pháp. Các địa phương thuộc tỉnh Hà Đông và Sơn Tây là địa bàn hoạt động của các đơn vị LLVT Mặt trận Hà Nội, nhiều địa phương được xây dựng thành căn cứ kháng chiến và căn cứ của Bộ chỉ huy Mặt trận Hà Nội, hai tỉnh cung cấp nhiều nhất cho Hà Nội lương thực, thực phẩm…

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, lực lượng vũ trang Thủ đô vừa sản xuất, vừa tăng cường chi viện cho chiến trường, dũng cảm, kiên cường, mưu trí, sáng tạo, phối hợp chặt chẽ với lực lượng phòng không, không quân quốc gia đánh thắng hai cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân của đế quốc, đỉnh cao là cuộc chiến đấu 12 ngày đêm cuối tháng Chạp năm 1972, lập nên kỳ tích của thế kỷ XX Hà Nội “Điện Biên Phủ trên không” để trở thành “Thủ đô lương tri và phẩm giá con người”.

Thời kỳ cả nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội, thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, LLVT Thủ đô luôn nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, vượt mọi khó khăn, vừa tăng cường chi viện cho các mặt trận bảo vệ biên giới, làm nhiệm vụ quốc tế, vừa là lực lượng nòng cốt góp phần cùng các tấng lớp nhân dân Thủ đô làm thất bại âm mưu thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch, bảo vệ vững chắc thành quả của cách mạng, bảo vệ, kiến thiết Thủ đô ngày càng văn minh, hiện đại.

Trng quá trình xây dựng, chiến đấu, trưởng thành, các thế hệ cán bộ, chiến sĩ LLVT Thủ đô Hà Nội lập nên những chiến công oanh liệt, viết nên những trang sử hào hùng, góp phần quan trọng vào thắng lợi vĩ đại của cách mạng Việt Nam. Sự hy sinh, cống hiến cùng những chiến công của các thế hệ cán bộ, chiến sĩ đã hun đúc nên giá trị tiêu biểu, đặc sắc như lời Bác Hồ khen “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh”.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự thương yêu đùm bọc giúp đỡ của nhân dân, lớp lớp các thế hệ cán bộ, chiến sĩ LLVT Thủ đô đã không ngại gian khổ hy sinh ra sức phấn đấu xây dựng và vun đắp nên truyền thống Anh hùng, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ cấp trên giao. Kế thừa, phát huy truyền thống vẻ vang của LLVT Thủ đô là vinh dự và trách nhiệm của mỗi cán bộ, chiến sĩ LLVT Thủ đô hôm nay.

Ngày truyền thống

Để chuẩn bị cho cuộc kháng chiến lâu dài, toàn dân, toàn diện, ngày 19/10/1946, Chiến khu XI – Tổ chức hành chính quân sự thống nhất của các LLVT Thủ đô Hà Nội được thành lập. Chiến khu XI đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Trung ương. Ngày 25/7/1947 trước yêu cầu của cuộc kháng chiến, Trung ương ra quyết định địa bàn hoạt động của Chiến khu XI được mở rộng bao gồm: Hà Nội, Hà Đông và Sơn Tây. Qua Hội thảo khoa học và thực tiễn hoạt động quân sự, quốc phòng của Chiến khu XI đã mang đầy đủ tính chất chức năng, nhiệm vụ của Bộ Tư lệnh Thủ đô Hà Nội ngày nay. Vì vậy, ngày 19/10/1946 là ngày truyền thống của LLVT Thủ đô Hà Nội theo Quyết định số 1850/QĐ-QP ngày 31/5/2010 của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng.

Phần thưởng cao quý

– 03 lần tuyên dương Đơn vị Anh hùng LLVT nhân dân (1978, 2002, 2005);

– 01 Huân chương Sao vàng (2011);

– 03 Huân chương Hồ Chí Minh (1984, 1985, 2002);

– 04 Huân chương Quân công (hạng Nhất: 1984; hạng Nhì: 2006; 02 hạng Ba: 2004);

– 04 Huân chương Chiến công (02 hạng Nhất: 1983 và 2000; 02 hạng Ba: 2004 và 2006);

– 01 Huân chương Bảo vệ Tổ quốc hạng Nhất (2005);

– 06 lần được tặng Cờ thưởng luân lưu Quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược;

– 02 Huân chương Itxala do Nhà nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào tặng (01 hạng Nhì cho tập thể; 01 hạng Ba cho cá nhân năm 2010)…

Tổng Hợp

Bài 3. Tổ Chức Quân Đội Và Công An Nhân Dân Việt Nam

TỔ CHỨC QUÂN ĐỘI VÀ CÔNG AN NHÂN DÂNVIỆT NAM

Sở GDĐT Quảng Ngãi Trường THPT Sơn Hà Tổ: TD-GDQPGiáo Viên: Nguyễn Võ Trường LinhBÀI GiẢNG MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU:Hiểu được chức năng, nhiệm vụ chính của một số tổ chức cơ bản trong Quân đội, Công an.Nhận biết được cấp bậc quân hàm, quân hiệu, cấp hiệu, phù hiệu của Quân đội, Công an.Xây dựng ý thức trách nhiệm và tích cực góp phần xây dựng Quân đội, Công an vững mạnh I. QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN ViỆT NAM:1/Tổ chức và hệ thống tổ chức của Q. Đ. N. D. Việt Nam:Tổ chức của Quân đội: Gồm:– Bộ đội chủ lực.– Bộ đội địa phương.– Bộ đội biên phòng.*Lực lượng thường trực và lực lượng dự bị.b. Hệ thống tổ chức: Gồm:– Bộ Quốc phòng.– Các cơ quan Bộ Quốc phòng.– Các đơn vị trực thuộc Bộ Quốc phòng.– Các bộ, ban chỉ huy quân sự.I. QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN ViỆT NAM:1/Tổ chức và hệ thống tổ chức của Q. Đ. N. D. Việt Nam:Tổ chức của Quân đội: Gồm:– Bộ đội chủ lực.– Bộ đội địa phương.– Bộ đội biên phòng.*Lực lượng thường trực và lực lượng dự bị.b. Hệ thống tổ chức: Gồm:– Bộ Quốc phòng.– Các cơ quan Bộ Quốc phòng.– Các đơn vị trực thuộc Bộ Quốc phòng.– Các bộ, ban chỉ huy quân sự.2. Chức năng, nhiệm vụ chính của một số cơ quan, đơn vị trong Quân đội nhân dân Việt Nama. Bộ Quốc phòng: – Là đơn vị thuộc Chính phủ do Bộ trưởng Bộ quốc phòng đứng đầu.– Chức năng: quản lý, chỉ đạo, chỉ huy.b. Bộ Tổng Tham mưu và cơ quan tham mưu:Bộ Tổng Tham mưu: Tổng Tham mưu trưởng: Thượng tướng Nguyễn Khắc Nghiên (từ tháng 8 năm 2006)Là cơ quan chỉ huy lực lượng vũ trang quốc gia.– Chức năng: + Bảo đảm trình độ sẵn sàng chiến đấu. + Điều hành các hoạt động quân sự.– Nhiệm vụ: + Tổ chức nắm chắc tình hình. + Nghiên cứu, đề xuất những chủ trương chung. + Tổ chức lực lượng, chỉ huy quân đội và dân quân tự vệ. + Điều hành các hoạt động quân sự.c. Tổng cục Chính trị và cơ quan chính trị các cấp trong Quân đội nhân dân Việt Nam: * Tổng cục Chính trị: Chủ nhiệm Tổng cục: Đại tướng Lê Văn Dũng Chức năng: Đảm nhiệm công tác Đảng, công tác chính trị trong toàn quân.– Nhiệm vụ: + Đề nghị ĐUQSTƯ quyết định chủ trương, biện pháp lớn về công tác Đảng, công tác chính trị trong quân đội. + Đề ra những nội dung, biện pháp, kế hoạch chỉ đạo, kiểm tra cấp dưới thực hiện.* Cơ quan chính trị các cấp:– Nhiệm vụ: + Nghiên cứu, đề xuất những chủ trương, biện pháp công tác Đảng, công tác chính trị. + Hướng dẫn và tổ chức cho các cơ quan, đơn vị thực hiện. d. Tổng cục Hậu cần và cơ quan hậu cần các cấp:Chủ nhiệm Tổng cục: Thiếu tướng Ngô Huy Hồng – Chức năng: + Đảm bảo vật chất, quân y, vận tải. – Nhiệm vụ: + Nghiên cứu, đề xuất. + Chỉ đạo công tác đảm bảo hậu cần.e. Tổng cục Kỹ thuật và cơ quan kỹ thuật các cấp:Chủ nhiệm Tổng cục:Thiếu tướng Nguyễn Châu Thanh – Chức năng: + Bảo đảm vũ khí, trang bị, kỹ thuật, phương tiện. – Nhiệm vụ: + Nghiên cứu đề xuất. + Bảo đảm kỹ thuật.

g. Tổng cục Công nghiệp quốc phòng, cơ quan, đơn vị sản xuất quốc phòng: Chủ nhiệm Tổng cục: Trung tướng Trương Quang Khá – Chức năng: + Quản lý các cơ sở sản xuất quốc phòng.– Nhiệm vụ: + Nghiên cứu, đề xuất. + Chỉ đạo các đơn vị sản xuất.– Quân khu: Tổ chức quân sự theo lãnh thổ.– Chức năng, nhiệm vụ: + Chỉ đạo công tác quốc phòng; + Xây dựng tiềm lực quân sự;+ Chỉ đạo lực lượng vũ trang.

h. Quân khu, quân đoàn, quân chủng, binh chủng:

h. Quân khu, quân đoàn, quân chủng, binh chủng:

– Quân đoàn: Đơn vị tác chiến chiến dịch hoặc chiến dịch – chiến thuật. Là lực lượng thường trực của quân đội.

h. Quân khu, quân đoàn, quân chủng, binh chủng:

– Quân chủng: Bộ phận quân đội hoạt động ở môi trường địa lý nhất định như: (trên không, trên bộ, trên biển) h. Quân khu, quân đoàn, quân chủng, binh chủng:

– Binh chủng: là một bộ phận của quân chủng, làm chức năng trực tiếp chiến đấu, hoặc bảo đảm chiến đấu có vũ khí, trang bị kĩ thuật, phương pháp tác chiến và hoạt động đặc thù. Mỗi quân chủng có một số binh chủng đặc thù. Theo truyền thống, một số bộ đội chuyên môn cũng được gọi là binh chủng (BC công binh, BC thông tin liên lạc, v v.).

Bộ đội Biên phòng: – Là bộ phận của Quân đội. – Chức năng: làm nòng cốt, chuyên trách quản lý, bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, an ninh, trật tự biên giới quốc gia.Chỉ huy hiện tại bộ đội biên phòngTư lệnh: Thiếu tướng Trần Hoa. Phó Tư lệnh, Tham mưu trưởng: Thiếu tướng Trần Đình Dũng. Phó Tư lệnh: Thiếu tướng Phạm Sóng HồngPhó Tư lệnh: Thiếu tướng Nguyễn Cảnh HiềnPhó Tư lệnh: Thiếu tướng Nguyễn Phước Lợi

3. Quân hiệu, cấp hiệu và phù hiệu của Quân đội.

II. CÔNG AN NHÂN DÂN:1. Tổ chức và hệ thống tổ chức của Công an nhân dân Việt Nam:a. Tổ chức của công an: Gồm: – Lực lượng an ninh.– Lực lượng cảnh sát.b. Hệ thống tổ chức: – Bộ Công an.– Các cơ quan Bộ Công an.– Công an tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. – Công an huyện, quận, thị xã, thành phố, trực thuộc tỉnh.– Công an xã, phường, thị trấn. – Các học viện, nhà trường đào tạo cán bộ sĩ quan công an và hạ sĩ quan chuyên nghiệp công an.2. Chức năng, nhiệm vụ chính của một số cơ quan, đơn vị trong Công an:Bộ Công an: Bộ trưởng Đại tướng Lê Hồng AnhLà cơ quan lãnh đạo, chỉ huy cao nhất.– Nhiệm vụ: + Quản lý Nhà nước về bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội,+ Xây dựng nền an ninh nhân dân và các lực lượng công an.b. Tổng cục An ninh: Tổng cục trưởng: Thiếu tướng Phạm Dũng– Là lực lượng nòng cốt của Công an.– Nhiệm vụ:+ Nắm chắc tình hình.+ Đấu tranh phòng, chống tội phạm.+ Làm thất bại mọi âm mưu, hành động xâm phạm an ninh quốc gia.+ Bảo vệ an ninh quốc gia.c. Tổng cục Cảnh sát: Tổng cục trưởng Thiếu tướng Phạm Quý Ngọ– Là lực lượng nòng cốt.– Nhiệm vụ:+ Chủ động đấu tranh phòng, chống tội phạm.+ Làm thất bại mọi âm mưu hành động gây mất trật tự, an toàn xã hội.+ Bảo vệ trật tự an toàn xã hội.d. Tổng cục Xây dựng lực lượng: Tổng cục trưởng Trung tướng Lê Quý Vương– Là cơ quan chuyên trách đảm nhiệm công tác xây dựng hệ thống tổ chức, cán bộ, các lực lượng nghiệp vụ trong Bộ Công an.e. Tổng cục Hậu cần:Tổng cục trưởng: Trung tướng Lê Quốc Sự – Là cơ quan tham mưu, bảo đảm về mặt hậu cần, cơ sở vật chất và khai thác sử dụng vật tư, trang bị cho các lực lượng của Bộ Công an. g. Tổng cục Tình báo:Tổng cục trưởng: Trung tướng Bùi Văn Nam– Là lực lượng đặc biệt, nhằm ngăn chặn và đập tan những âm mưu, hành động chống phá của các thế lực thù địch, giữ vững an ninh quốc gia.h. Tổng cục Kỹ thuật: Quyền Tổng cục trưởng: Trung tướng Cao Ngọc Oánh – Là cơ quan đảm bảo trang bị phương tiện kỹ thuật cho các hoạt động, ứng dụng những thành tựu khoa học công nghệ vào nghiệp vụ công an. i. Bộ Tư lệnh cảnh vệ: Tư lệnh: Thiếu tướng Vũ Xuân Sinh – Là lực lượng bảo vệ cán bộ cao cấp, cơ quan đầu não của Đảng, Nhà nước và các đoàn khách quốc tế, các cơ quan ngoại giao và tổ chức quốc tế, chuyên gia nước ngoài đến công tác tại Việt Nam. Ngoài ra, còn có các đơn vị như:– Văn phòng.– Thanh tra.– Cục Quản lý trại giam.– Vụ Tài chính.– Vụ pháp chế.– Vụ hợp tác Quốc tế.– Công an xã.3. Cấp hiệu, phù hiệu, quân hiệu của Công an nhân dân Việt Nam: a. Sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ:– Hạ sĩ quan có ba bậc.– Sĩ quan cấp uý có bốn bậc.– Sĩ quan cấp tá có bốn bậc.– Sĩ quan cấp tướng có bốn bậc.b. Sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật– Hạ sĩ quan có ba bậc.– Sĩ quan cấp uý có bốn bậc.– Sĩ quan cấp tá có ba bậc.c. Hạ sĩ quan, chiến sĩ phục vụ có thời hạn– Chiến sĩ có hai bậc.– Hạ sĩ quan có ba bậc.

Bản Chất, Truyền Thống Cách Mạng Của Quân Đội Nhân Dân Việt Nam

QĐND Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh tổ chức, xây dựng, lãnh đạo, giáo dục và rèn luyện; mang bản chất giai cấp công nhân (GCCN), có tính nhân dân và dân tộc sâu sắc. Theo Thượng tướng Song Hào, bản chất đó được thể hiện qua “trung thành tuyệt đối với Đảng, với Tổ quốc và nhân dân; có ý chí quyết chiến quyết thắng rất cao, anh dũng chiến đấu, cần cù lao động, tận tụy công tác; thông minh sáng tạo trong hành động; đoàn kết nội bộ chặt chẽ, dân chủ tốt, kỷ luật nghiêm, đoàn kết quân dân thắm thiết; đoàn kết quốc tế chí nghĩa chí tình; ham học tập, cầu tiến bộ; tích cực rèn luyện, không ngừng nâng cao bản chất cách mạng và năng lực hành động; chịu đựng gian khổ, khắc phục khó khăn, cần kiệm liêm chính trong xây dựng và chiến đấu, làm tròn nhiệm vụ, đánh thắng mọi kẻ thù”.

Bản chất và truyền thống cách mạng của QĐND Việt Nam là sự tiếp nối và phát huy truyền thống yêu nước chống giặc ngoại xâm của dân tộc Việt Nam, được các thế hệ cán bộ, chiến sĩ củng cố và phát huy, đồng thời, “thấm nhuần bản chất cách mạng kiên quyết, triệt để của GCCN mà Đảng là đội tiên phong”, trở thành một nét đặc trưng riêng có của QĐND Việt Nam.

Luận giải về bản chất, truyền thống cách mạng của QĐND Việt Nam, Thượng tướng Song Hào khẳng định:

Thứ nhất, Quân đội ta luôn trung thành tuyệt đối với Đảng, với Tổ quốc và nhân dân.

Đây là vấn đề có tính nguyên tắc, bởi QĐND Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức và lãnh đạo. Đảng ta đã trang bị cho quân đội bản chất cách mạng của GCCN; vận dụng lý luận chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối nghệ thuật quân sự của Đảng, của chiến tranh nhân dân vào rèn luyện quân đội. Đảng mang truyền thống đấu tranh anh hùng của dân tộc để bồi dưỡng cho cán bộ, chiến sĩ và đem truyền thống đoàn kết nhất trí của Đảng giáo dục, tăng cường đoàn kết nội bộ quân đội, đoàn kết quân dân và đoàn kết quốc tế. Thượng tướng Song Hào chỉ rõ, Quân đội ta là “một đội quân cách mạng, một đội quân kiểu mới do Đảng ta, một Đảng mác-xít – lê-nin-nít chân chính xây dựng, lãnh đạo và giáo dục”. Do đó, cần phải “đặt quân đội dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp và toàn diện của Đảng, không ngừng tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội”. Vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và bản chất GCCN, tính nhân dân, tính dân tộc sâu sắc, quyết định sự trưởng thành và lớn mạnh của QĐND Việt Nam.

Cũng theo Thượng tướng Song Hào, biểu hiện rõ nét của lòng trung thành vô hạn với Đảng, với Tổ quốc và nhân dân là: Quân đội ta phải kiên quyết thực hiện thắng lợi đường lối chính trị-quân sự, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; nắm vững và hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ của quân đội; luôn nêu cao tinh thần kiên quyết, tích cực, chủ động tiến công địch và xây dựng mình theo đường lối, nguyên tắc của Đảng; luôn kính trọng, quý mến và giữ nghiêm kỷ luật với nhân dân, coi việc giúp đỡ nhân dân, bảo vệ nhân dân là trách nhiệm, nghĩa vụ của mình… Lòng trung thành tuyệt đối của quân đội với Tổ quốc, với Đảng, với nhân dân, với chế độ xã hội chủ nghĩa vừa là một phẩm chất cao quý của quân đội cách mạng, vừa là cội nguồn sức mạnh, làm nên những chiến thắng vang dội của QĐND Việt Nam trong các cuộc chiến tranh giải phóng và chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, giữ vững độc lập dân tộc, hòa bình, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, mang lại hạnh phúc cho nhân dân.

Thứ hai, có ý chí quyết chiến quyết thắng, anh dũng chiến đấu, cần cù lao động, tận tụy công tác, thông minh sáng tạo.

Truyền thống quyết chiến quyết thắng của QĐND Việt Nam bắt nguồn từ lòng tin tưởng tuyệt đối vào lý tưởng và mục tiêu cách mạng cao quý, vào con đường và phương pháp cách mạng đúng đắn, sáng tạo của Đảng; từ ý chí “Không có gì quý hơn độc lập tự do”, từ tinh thần cách mạng triệt để, tư tưởng cách mạng tiến công của GCCN kết hợp với truyền thống đấu tranh anh hùng bất khuất của dân tộc ta. Đó là sự tiếp nối, phát triển từ truyền thống đấu tranh anh hùng của dân tộc, của giai cấp, của Đảng, là sự kết tinh tinh thần yêu nước, chung đúc ý chí cách mạng kiên cường và tinh thần sáng tạo của các LLVT nhân dân.

Truyền thống quyết chiến quyết thắng của QĐND Việt Nam được thể hiện ở quyết tâm “đâu có giặc là ta cứ đi”; bất cứ nơi nào Tổ quốc cần, Quân đội ta đều có mặt. Thượng tướng Song Hào cho rằng, Quân đội ta phải không ngừng được rèn luyện, nâng cao bản lĩnh chính trị, mưu trí và sáng tạo trong chiến đấu, tìm ra cách đánh phù hợp với điều kiện vũ khí trang bị, tổ chức chiến trường và truyền thống đánh giặc của tổ tiên; phải biết đánh giá đúng kẻ địch, tìm cách hạn chế chỗ mạnh, khoét sâu chỗ yếu của địch để đánh địch, luôn nêu cao tinh thần mưu trí, dũng cảm và táo bạo, khiến địch bất ngờ, giành thế chủ động trên chiến trường, đẩy địch vào thế bị động, lúng túng, dẫn đến thất bại. Ý chí quyết chiến quyết thắng của QĐND Việt Nam còn thể hiện rõ trong lao động sản xuất và công tác. Thực hiện bất cứ nhiệm vụ gì, trong bất luận hoàn cảnh nào, cán bộ, chiến sĩ cũng luôn dũng cảm, cần cù, tận tụy, đem hết tinh thần, sức lực, trí tuệ, tài năng, kiên quyết hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ.

Thứ ba, đoàn kết nội bộ chặt chẽ, dân chủ tốt, kỷ luật nghiêm.

Đoàn kết thống nhất trong QĐND Việt Nam là cơ sở để xây dựng và phát triển. Thượng tướng Song Hào khẳng định: “Quân đội ta luôn luôn đoàn kết chặt chẽ như keo sơn; cán bộ, chiến sĩ thương yêu nhau như ruột thịt, trên dưới một lòng, đồng cam cộng khổ, thường xuyên thực hiện dân chủ, không ngừng đề cao kỷ luật tự giác nghiêm minh, thống nhất ý chí, thống nhất hành động”. Truyền thống đoàn kết, dân chủ, kỷ luật của Quân đội ta kế thừa truyền thống đoàn kết dân tộc, ý chí đoàn kết, thống nhất hành động của Đảng, thấm nhuần lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công”.

Theo Thượng tướng Song Hào, Quân đội ta luôn đoàn kết chặt chẽ trên cơ sở đường lối, chủ trương, nguyên tắc của Đảng, lợi ích của nhân dân và chức năng, nhiệm vụ của quân đội, trên cơ sở mối quan hệ bình đẳng về chính trị và tình thương yêu giữa cán bộ và chiến sĩ, giữa cấp trên và cấp dưới. Toàn quân kết thành một khối thống nhất, vững chắc. Để thực hiện được điều đó, cán bộ, chiến sĩ phải luôn chân thành giúp đỡ lẫn nhau, lấy lý tưởng, mục tiêu, đường lối, nhiệm vụ cách mạng, lấy kinh nghiệm chiến đấu, công tác và cuộc sống để bồi dưỡng lẫn nhau, cùng nhau hoàn thành nhiệm vụ.

Cùng với tăng cường đoàn kết nội bộ là phát huy dân chủ, rèn luyện kỷ luật trong quân đội; dân chủ thể hiện mối quan hệ bình đẳng về chính trị trong QĐND Việt Nam. Trên cơ sở lấy kỷ luật làm sức mạnh của quân đội, Thượng tướng Song Hào chỉ rõ, trong bất cứ điều kiện, hoàn cảnh nào, Quân đội ta cũng phải giữ nghiêm kỷ luật. Cán bộ, chiến sĩ quân đội phải phục tùng sự lãnh đạo, chỉ huy, triệt để chấp hành mệnh lệnh, chỉ thị của cấp trên, làm tròn chức trách, nhiệm vụ của quân nhân; chấp hành nghiêm điều lệnh, điều lệ, chế độ, quy định của quân đội; kiên quyết hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao. Thượng tướng Song Hào khẳng định: “Kỷ luật của Quân đội ta vừa nghiêm minh, vừa tự giác”.

Thứ tư, đoàn kết quân dân gắn bó.

Theo Thượng tướng Song Hào, QĐND Việt Nam từ nhân dân mà ra, do đó Quân đội ta “luôn luôn đoàn kết khăng khít với nhân dân; toàn tâm, toàn ý phục vụ nhân dân; dựa vào dân, được nhân dân chăm sóc, giáo dục, phối hợp cùng nhân dân chiến đấu; hết lòng bảo vệ, quý trọng và giúp đỡ nhân dân”. Truyền thống quý báu đó được hình thành ngay từ khi Quân đội ta mới ra đời và phát triển không ngừng trong quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành; thể hiện tình cảm quân dân “như cá với nước”.

Không chỉ chiến đấu vì dân, Quân đội ta luôn biết dựa vào dân, luôn thương yêu, quý trọng, đồng cam cộng khổ, chia ngọt sẻ bùi với nhân dân; thường xuyên chú trọng công tác tuyên truyền, vận động, giúp đỡ và bảo vệ nhân dân; tiết kiệm của cải, kết hợp với tăng gia sản xuất để giảm việc đóng góp của nhân dân. Đúc kết mối quan hệ thắm thiết giữa quân đội và nhân dân, Thượng tướng Song Hào khẳng định: “Đoàn kết quân dân là một hình ảnh đẹp, đầy tự hào của toàn quân ta, toàn dân ta. Đó là sức mạnh to lớn của Quân đội ta. Giữ gìn và phát huy truyền thống quý báu ấy là để không ngừng tăng cường sức mạnh chiến đấu của quân đội, không ngừng nâng cao phẩm chất cách mạng của mỗi cán bộ, chiến sĩ ta”.

Thứ sáu, ham học tập, cầu tiến bộ, tích cực rèn luyện, không ngừng nâng cao phẩm chất cách mạng và năng lực hành động

Thượng tướng Song Hào chỉ rõ: “Quân đội ta luôn nêu cao tinh thần học tập, cầu tiến bộ, tích cực rèn luyện, bồi dưỡng phẩm chất đạo đức cách mạng, không ngừng nâng cao bản lĩnh chiến đấu, năng lực công tác, trình độ làm chủ khoa học-kỹ thuật”. Đó là nghĩa vụ, trách nhiệm, tiêu chuẩn, thành tích của người quân nhân cách mạng. Do vậy, cán bộ, chiến sĩ quân đội phải chú trọng học tập, rèn luyện về chính trị tư tưởng và tổ chức, đường lối chính trị và quân sự của Đảng, nghệ thuật quân sự chiến tranh nhân dân và cả về những kiến thức văn hóa, khoa học-kỹ thuật; đồng thời, nghiêm khắc phê phán thái độ đi ngược lại bản chất, truyền thống cách mạng của Quân đội ta… Theo Thượng tướng Song Hào, đó là quá trình “phấn đấu hết sức kiên trì, bền bỉ, anh dũng và đầy sáng tạo của toàn quân ta”, để không ngừng nâng cao phẩm chất đạo đức cách mạng, trình độ chính trị tư tưởng, năng lực lãnh đạo, chỉ huy và trình độ chuyên môn kỹ thuật, nghiệp vụ, nâng cao sức mạnh chiến đấu toàn diện, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của quân đội.

Để tiếp tục xây dựng QĐND Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ và từng bước hiện đại, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới, việc tiếp tục giữ gìn và phát huy bản chất, truyền thống cách mạng của Quân đội ta có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Đó không chỉ là trách nhiệm của riêng quân đội mà còn là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, của mọi cấp, mọi ngành, mọi lực lượng, của cả hệ thống chính trị, trong đó QĐND Việt Nam là nòng cốt. Bản chất và truyền thống cách mạng là cội nguồn sức mạnh chiến đấu, là tài sản vô giá của quân đội trong công cuộc xây dựng và chiến đấu trước đây, hiện nay cũng như mãi mãi sau này. Giữ gìn và phát huy bản chất, truyền thống cách mạng của quân đội, chúng ta sẽ tạo nên sức mạnh phi thường, cổ vũ, thúc đẩy Quân đội ta tiến lên giành thắng lợi mới trong giai đoạn cách mạng mới. Như lời Thượng tướng Song Hào từng khẳng định: “Việc phát huy truyền thống quý báu đó vẫn là nhân tố quan trọng thúc đẩy mạnh mẽ việc xây dựng và chiến đấu của Quân đội ta thành công và thắng lợi. Do đó, bất luận trong hoàn cảnh, thời gian nào, cán bộ, chiến sĩ quân đội cũng phải đem hết sức lực và trí tuệ của mình góp phần vào việc xây đắp nên truyền thống vẻ vang của quân đội, có trách nhiệm kế thừa, phát huy bản chất, truyền thống cách mạng của QĐND Việt Nam. Đặc biệt, chúng ta “phải biến lòng tin, biến niềm tin tự hào về bản chất và truyền thống của Quân đội ta thành hành động cách mạng một cách tích cực nhất và anh dũng nhất”.

Đại tá, TS NGUYỄN HOÀNG NHIÊN(Viện trưởng Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam)