Ví Dụ Về Chức Năng Giao Tiếp Của Ngôn Ngữ / Top 3 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 2/2023 # Top View | Phauthuatthankinh.edu.vn

Giao Tiếp Phi Ngôn Ngữ Là Gì? Chức Năng Của Giao Tiếp Phi Ngôn Ngữ

Giao tiếp phi ngôn ngữ là cách gửi và nhận thông điệp từ những gì mà chúng ta thể hiện ra bên ngoài trong quá trình giao tiếp. Nó bao gồm tất cả những thao tác của từng bộ phận trên cơ thể như cử chỉ, biểu cảm khuôn mặt, ánh mắt, nụ cười, giọng điệu, dáng đứng, khoảng cách…

Vai trò của giao tiếp phi ngôn ngữ

Trong xã hội hiện đại, nhất là công việc kinh doanh, giao tiếp phi ngôn ngữ lại có tầm quan trọng rất lớn. Nó giúp cho mỗi người trở nên tinh tế hơn, biết tự kiềm chế cảm xúc, tự ý thức và điều khiển được ngôn ngữ cơ thể. Đồng thời, giao tiếp phi ngôn ngữ cũng giúp chúng ta hiểu rõ đối tác mà ta đang tiếp cận để đưa ra những định hướng đúng đắn.

Tầm quan trọng của giao tiếp phi ngôn ngữ còn được thể hiện trong những tình huống khi chúng ta tiếp xúc lần đầu với một người khác. Ngoài việc để ý các cử chỉ, điệu bộ và nội dung của người đối diện, bạn còn phải học cách đọc và hiểu ý nghĩa của những chúng. Từ đó, bạn sẽ có được kinh nghiệm, giúp bạn nhận biết được người đối diện, nhận ra chính mình và học cách kiểm soát bản thân trong giao tiếp tốt hơn.

Những điều cần lưu ý về giao tiếp phi ngôn ngữ

Ở mỗi quốc gia, mỗi cử chỉ trong giao tiếp phi ngôn ngữ mang những ý nghĩa khác nhau. Và nó khiến bạn phải chủ động tìm hiểu về văn hóa giao tiếp của họ để đạt hiệu quả giao tiếp cao nhất.

Nụ cười được xem là vũ khí lợi hại mang đến sự thoải mái, vui vẻ, cởi mở trong giao tiếp. Thế nhưng, trong nhiều trường hợp nụ cười lại có nhiều ý nghĩa khác. Nụ cười của người Mỹ mang xu hướng biểu lộ cảm xúc rõ ràng hơn người Nga hay người châu Á. Và với người Nhật, họ cười để thể hiện lòng kính trọng hoặc che giấu sự buồn phiền.

Với chúng ta, lắc đầu có nghĩa là không, gật đầu là có, thì với đất nước Hy Lạp hay Bulagria, bạn sẽ không khỏi bất ngờ khi thấy mọi thứ đều ngược lại hoàn toàn. Gật đầu trong văn hóa của họ là “không” còn lắc đầu lại mang ý nghĩa là “Có”. Vì thế, hãy cẩn thận khi sử dụng cử chỉ của cái để tránh gây ra những hiểu nhầm ngớ ngẩn.

Khoảng cách giữa những người trong cuộc trò chuyện cũng mang những ý nghĩa khác biệt. Nếu như ở Trung Đông, các nước Mỹ Latinh, người nói chuyện có xu hướng gần nhau để thể hiện sự thân mật, thì ở Mỹ hay một vài nước châu Âu, người ta sẽ giữa khoảng cách xa hơn để thể hiện sự tôn trọng.

Đối với quan niệm của người châu Âu, khi trò chuyện và nhìn chăm chăm vào người đối diện sẽ thể hiện sự thành thật, không cố che giấu điều gì đó. Ngược lại, ở các nước châu Á, nhìn vào người đối diện sẽ bị cho rằng vô lễ và làm mất lòng người khác.

Với những thông tin trên, hy vọng bạn đã hiểu rõ giao tiếp phi ngôn ngữ là gì cũng như tầm quan trọng của nó. Mong rằng bạn sẽ vận dụng thật tốt vào cuộc sống và công việc hằng ngày!

Giao Tiếp Phi Ngôn Ngữ Là Gì

Giao tiếp không lời có sức mạnh hơn ngôn từ

Theo các nhà phân tích ngôn ngữ, để biểu đạt thông tin, chúng ta sử dụng 7% ngữ điệu, 38% âm thanh nhưng đến 55% là ngôn ngữ cơ thể, còn gọi là “phi ngôn ngữ”.

Theo các nhà phân tích ngôn ngữ, để biểu đạt thông tin, chúng ta sử dụng 7% ngữ điệu, 38% âm thanh nhưng đến 55% là ngôn ngữ cơ thể, còn gọi là “phi ngôn ngữ”.

Sự kết hợp hài hòa của giao tiếp phi ngôn ngữ

Công sở là nơi diễn ra giao tiếp khá đa dạng và giao tiếp “phi ngôn ngữ” được đánh giá là một trong những nhân tố quan trọng tạo nên thành công trong giao tiếp của giới văn phòng.

Ánh mắt

Trong giao tiếp, ánh mắt là yếu tố bộc lộ rõ nhất cảm xúc của con người. Người ta vẫn thường nói “liếc mắt đưa tình”, nhưng với công sở là “liếc mắt đưa tin”…

Công sở cũng như một xã hội thu nhỏ, có nhiều kiểu giao tiếp với nhiều mối quan hệ đan xen… Hãy giữ một ánh mắt biết cười, nó sẽ giúp bạn hạn chế bất đồng trong giao tiếp để thành công hơn trong công việc.

Nụ cười

Nụ cười được xem là trang sức trong giao tiếp và cũng là phương tiện làm quen hay xin lỗi rất tinh tế và ý nhị.

Đến công sở mỗi ngày với nụ cười thân thiện sẽ tạo được kết quả giao tiếp tốt hơn bao giờ hết, bởi nụ cười là dấu hiệu có tác động rất mạnh, giúp truyền tải sự vui vẻ, thân thiện, nhiệt tình và thích thú. Cười thường dễ “lây” từ người này sang người khác và khiến phản ứng giữa người với người thuận lợi hơn. Nhân viên luôn cảm thấy thoải mái và lắng nghe nhiều hơn với những người lãnh đạo có nụ cười thân thiện.

Trang phục

Quần áo, trang phục cũng là hành vi phi ngôn ngữ, có sức biểu cảm mạnh mẽ trong giao tiếp nơi công sở. Qua trang phục, mọi người có thể đoán biết được tính cách, “gu” thẩm mỹ cũng như xuất thân của bạn. Do vậy, nó đôi khi còn là cầu nối cho những ai “hợp gu” dễ dàng thân thiết và bắt chuyện với nhau khi có cùng sở thích. Công sở dễ dàng làm thân hơn khi cùng “gu” thời trang.

Trang phục chính là một trong những nhân tố quan trọng để “lấy lòng” người đối diện. Hãy ăn mặc đẹp và phù hợp với công việc của bạn, bởi điều đó sẽ giúp bạn tự tin giao tiếp thành công và hơn thế nữa, đó còn là biểu hiện thái độ tôn trọng người khác.

Tư thế, điệu bộ

Hàng tá thông điệp được truyền tải thông qua việc phát ngôn và chuyển động cơ thể.

Một tư thế đứng thẳng, bước chân nhanh nhẹn, nhẹ nhàng khiến mọi người xung quanh đều cảm nhận được sự năng động, nhiệt huyết trong con người bạn, từ đó sinh ra sự quý mến hay cảm giác ngưỡng mộ, tin tưởng…

Ngược lại, sẽ không ai có cảm tình hay ngợi khen những tư thế ngỗ ngược, mất mỹ quan hay dáng đi hiện rõ sự “luồn lách” xu nịnh, sự khép nép, thiếu tự tin… Mọi người phần nào đoán biết tính cách và con người bạn thông qua các tư thế của bạn, do đó hãy cẩn thận nếu không muốn ai đó nắm được yếu điểm của mình.

Đằng sau những cử chỉ giao tiếp phi ngôn ngữ – chúng tôi (vi)

Hãy học cách tìm kiếm những ứng cử viên tài năng thông qua để ý tới những cử chỉ, hành động và lời nói của họ trong suốt quãng thời gian phỏng vấn.

Trước khi một ứng cử viên tài năng bước vào phòng phỏng vấn, bạn nên có những hình dung nhất định về người bạn sẽ lựa chọn. Bạn có thể sử dụng những dấu hiệu giao tiếp phi ngôn ngữ hỗ trợ mình trong quá trình tuyển dụng. Rất nhiều người có những hồ sợ tốt nhưng thực tế thì lại không có nhiều kĩ năng trong khi làm việc thực tế. Vào thời điểm ứng viên bước vào phòng phỏng vấn, bạn có thể biết nhiều hơn về họ thông qua sự tự tin, cái tôi, và những tính cách chìa khóa khác bằng cách họ thể hiện chính bản thân mình và cách họ giao tiếp với bạn. Hãy học cách tìm kiếm những ứng cử viên tài năng thông qua để ý tới những cử chỉ, hành động và lời nói của họ trong suốt quãng thời gian phỏng vấn.

Ăn mặc để tạo ấn tượng

Tạo tương tác trực tiếp với những nhân nhân viên tiềm năng của bạn

Sau khi bạn đánh giá sự chuyên nghiệp của những ứng viên thông qua cách ăn mặc của họ, bạn nên chú ý tới cách họ chào đón bạn. Họ nắm tạy bạn thật chặt, thật hờ hững hay là vừa phải? Những chi tiết này cũng sẽ cho bạn những hình dung nhất định về cái tôi của ứng cử viên. Một cái bắt tay chắc chắn, nhưng không phải là cái bắt tay thể hiện quyền lực. Những cái nắm tay quá chặt là dấu hiệu của tính cách hống hách và hung hăng. Những cái nắm tay yếu ớt là dấu hiệu của sự thiếu tự tin, hay những điểm khác có thể có tác động tiêu cực tới môi trường làm việc của bạn.

Để ý tới cách họ giao tiếp

Bây giờ chính là lúc bạn để ý những yếu tố nào đã tạo nên tính cách của ứng viên, không chỉ qua những gì họ nói, mà cả cách họ thể hiện điều đó nữa. Họ nên nói trong một tông giọng vừa phải và rõ ràng, không lẩm bẩm. Nếu như bạn tuyển dụng một ai đó có thói quen lẩm bẩm hay là thì thầm trong buổi phỏng vấn, bạn có thể tưởng tượng ra một nhân viên thụ động nhu mì trong công việc. Trái lại, những ai đó nói quá to trog buổi phỏng vấn có thể là những người hung hăng, hống hách.

Giao tiếp thông qua ánh mắt

Hãy chú ý tới hướng nhìn của ứng viên trong quá trình phỏng vấn. Họ nên tạo những giao tiếp thông qua ánh mắt với bạn và tập trung vào những câu hỏi phỏng vấn xuyên suốt buổi phỏng vấn. Nếu như họ nhìn xung quanh phòng, điều đó có nghĩa là họ không tập trung và dễ dàng bị tác động. Mặt khác, nếu một ai đó nhìn chằm chằm vào bạn, họ có thể là một người có tính cách hung hăng. Nếu như bất kỳ ai không nhìn thẳng vào mắt bạn khi giao tiếp, đó là một người không đáng tin tưởng. Yama Jewayni, một trong những chủ sở hữu của nhà hàng Eighteenth Street Lounge, Dragonfly and Local 16 đã nói rằng: ” Khi chúng tôi tuyển dụng, tôi thường chú ý tới cách ứng viên nhìn tôi trong suốt quãng thời gian phỏng vấn. Tôi muốn cho họ biết rằng họ có thể nhìn tôi khi nói chuyện. Điều nay khiến tôi nghĩ rằng tôi có thể tin họ và họ có thể làm giao tiếp tốt với khách hàng”.

Quan sát ngôn ngữ cơ thể

Có một vài những dấu hiệu đơn giản mà bạn có thể sử dụng để đánh giá ứng viên thông qua ngôn ngữ cơ thể. Những ứng cử viên tài năng nhất sẽ là những người có dáng ngồi ngay thẳng, tư thế tốt, nhưng vấn khá thoải mái. Buông thõng vai xuống chính là dấu hiệu của sự tùy tiện và bạn chắc chắc sẽ nhìn thấy điểm tiêu cực này trong quá trình làm việc. Những tư thế tốt sẽ thể hiện được sự tự tin và cái tôi. Những ai đó có thói quen cho tay sau đầu hay tì toàn bộ tay lên bàn với ghi chú của họ chính là những người có tính cách hống hách. Một ứng cử viên an toàn chính là những người từ tốn trong việc ghi chú và có tư thế ngồi gọn gàng. Hãy sử dụng đôi mắt và đôi tai để đánh giá ứng viên, đó chính là phương thức dễ dàng nhất để tìm kiếm những ứng viên tài năng nhất.

Nguồn:

http://www.hcareers.com/us/resourcecenter/tabid/306/articleid/301/default.aspx

Ảnh: soompi.com/topstarnews.net

Dịch : B.H.D

[HCM-TRAILER] GIẢI PHÓNG NGÔN NGỮ CƠ THỂ ĐỂ GIAO TIẾP VỚI KHÁCH HÀNG HIỆU QUẢ

Mục tiêu: * Hiểu rõ hơn một số khái niệm ứng dụng của ngôn ngữ hình thể tổng quát * Nắm được kỹ thuật phát huy ngôn ngữ hình thể trong giao tiếp dành cho những bạn thường xuyên làm việc với khách hang * Được hướng dẫn cách thức ứng dụng ngôn ngữ hình thể trong giao tiếp với khách hàng thực tế

Phần 1: Khái quát và tự đánh giá * Giao tiếp phi ngôn ngữ (ngôn ngữ cơ thể) là gì? * Tầm quan trọng của giao tiếp phi ngôn ngữ khi làm việc với khách hàng * Chia sẻ những thất bại và thành công khi giao tiếp phi ngôn ngữ với khách hàng * Để giao tiếp phi ngôn ngữ với khách hàng hiệu quả

Phần 2: Để giao tiếp phi ngôn ngữ với khách hàng hiệu quả Bước 1: Loại bỏ những ngôn ngữ cơ thể tiêu cực

Bước 2: Phát huy ngôn ngữ cơ thể tích cực * Ngôn ngữ cơ thể tích cực cơ bản * Ngôn ngữ cơ thể thể hiện sự thân thiện khi chào hỏi khách hàng * Ngôn ngữ cơ thể thể hiện sự tự tin trong cuộc họp, khi làm việc với khách hàng * Ngôn ngữ cơ thể thể hiện sự chân thành khi tiễn khách ra về * Ngôn ngữ cơ thể thể hiện sự chuyên nghiệp khi đối ứng khách hàng qua điện thoại

Bước 3: Luôn săn sóc và duy trì

* Nhà lãnh đạo được chứng nhận bởi LEAD ACROSS CULTURE intl.LLC * Kinh nghiệm hơn 18 năm Quản lý, Lãnh đạo tại Unilever, Coca-Cola, Mead Johnson,… * Bằng MBA do Trường Kinh Doanh UBIS, Thụy Sĩ cấp * Chứng chỉ quốc tế về Chuyên gia huấn luyện & đào tạo – Master or Train the Trainer * Chứng chỉ quốc tế Người điều phối bậc thầy – Master Facilitator

Giao tiếp phi ngôn ngữ – tính năng, giao tiếp, cử chỉ, loại – Tâm lý học và Tâm thần học

Tương tác phi ngôn ngữ đóng một vai trò quan trọng trong quá trình trao đổi cảm xúc.

Các loại giao tiếp phi ngôn ngữ:

– giọng nói, cử chỉ, ngoại hình (bao gồm cả quần áo, vị trí cơ thể);

– nét mặt (sự hiện diện của một nụ cười, hướng nhìn);

– cử động (gật đầu hoặc lắc đầu, vung tay chân, mô phỏng một số hành vi, v.v.);

– dáng đi, chạm, ôm, bắt tay, không gian cá nhân.

Giọng nói là âm thanh mà một cá nhân tạo ra trong một cuộc trò chuyện, trong khi hát hoặc la hét, cười và khóc. Sự hình thành giọng nói xảy ra do sự rung động của dây thanh âm, tạo ra các sóng âm thanh trong quá trình luồng không khí thở ra qua chúng. Nếu không có sự tham gia của thính giác, giọng nói không thể phát triển, đến lượt đó, thính giác cũng không thể được hình thành nếu không có sự tham gia của bộ máy phát âm. Vì vậy, ví dụ, ở một cá nhân bị điếc, giọng nói không hoạt động, do thực tế là không có nhận thức thính giác và kích thích của các trung tâm vận động lời nói.

Ngoại hình là thành phần quan trọng nhất của giao tiếp phi ngôn ngữ và nó ngụ ý một hình ảnh nhìn thấy và cảm nhận môi trường của con người.

Giao tiếp kinh doanh phi ngôn ngữ bắt đầu phù hợp với đánh giá các thuộc tính bên ngoài của cá nhân. Ngoại hình có thể chấp nhận phụ thuộc vào các đặc điểm sau: gọn gàng, giáo dục, tự nhiên trong cách cư xử, sự hiện diện của cách cư xử, biết đọc biết nói, sự phản ứng phù hợp với những lời chỉ trích hoặc khen ngợi, lôi cuốn. Điều rất quan trọng đối với mỗi cá nhân trong cuộc sống là có thể sử dụng chính xác các khả năng của chính cơ thể mình trong việc truyền thông tin đến người đối thoại.

Giao tiếp phi ngôn ngữ trong giao tiếp kinh doanh là hoàn toàn cần thiết. Rốt cuộc, những người kinh doanh thường phải thuyết phục đối thủ về một cái gì đó, để nghiêng họ theo quan điểm riêng của họ và thực hiện một số hành động nhất định (thực hiện giao dịch hoặc đầu tư một khoản nghiêm trọng vào sự phát triển của một doanh nghiệp). Sẽ dễ dàng hơn để đạt được điều này nếu có thể chứng minh với đối tác rằng người được phỏng vấn là trung thực và cởi mở.

Quan trọng không kém là vị trí của cơ thể (tư thế) trong suốt cuộc trò chuyện. Với sự giúp đỡ của một tư thế, người ta có thể thể hiện sự phụ thuộc, quan tâm đến một cuộc trò chuyện, sự nhàm chán hoặc mong muốn hợp tác chung, v.v.

Невербальное деловое общение для достижения успешности не предполагает использование на деловых встречах поз, демонстрирующих закрытость, агрессивность. Также не рекомендуется в ходе любых коммуникаций надевать с затемненными стеклами очки, особенно при первой встрече. Vì, nếu không nhìn thấy mắt của đối tác giao tiếp, người đối thoại có thể cảm thấy xấu hổ, bởi vì phần thông tin của con sư tử vẫn không thể tiếp cận được với anh ta, do đó không khí chung của tương tác giao tiếp bị xáo trộn.

Cũng trong các tư thế phản ánh sự phụ thuộc tâm lý của những người tham gia cuộc trò chuyện. Ví dụ, mong muốn đệ trình hoặc thống trị.

Do đó, tương tác giao tiếp phi ngôn ngữ là một trong những công cụ đại diện cá nhân của riêng tôi, tôi, một công cụ ảnh hưởng giữa các cá nhân và điều chỉnh các mối quan hệ, tạo thành hình ảnh của người đối thoại, chỉ định và thúc đẩy thông điệp bằng lời nói.

Cử chỉ giao tiếp phi ngôn ngữ

Thông thường, các cá nhân thốt ra tất cả những gì họ muốn nói, và người đối thoại của họ hiểu hoàn toàn không phải những gì họ muốn truyền đạt cho họ. Tất cả điều này là do không thể đọc chính xác ngôn ngữ cơ thể.

Giao tiếp phi ngôn ngữ có thể được chia thành như sau:

– chuyển động biểu cảm và biểu cảm, bao gồm biểu cảm trên khuôn mặt, vị trí cơ thể, dáng đi và cử chỉ tay;

– cử động xúc giác, bao gồm chạm, gõ vào vai, hôn, bắt tay;

– nhìn, đặc trưng bởi tần số hướng mắt, thời gian;

– chuyển động trong không gian, bao gồm các vị trí tại bàn, định hướng, hướng, khoảng cách.

Với sự giúp đỡ của cử chỉ có thể được thể hiện sự tự tin, vượt trội hoặc ngược lại, sự phụ thuộc. Ngoài ra, có những cử chỉ trá hình và rào cản không hoàn chỉnh. Thông thường trong cuộc sống, các đối tượng có thể gặp phải tình trạng khi họ không hoàn toàn thoải mái, nhưng đồng thời họ cần tỏ ra tự tin. Ví dụ, trong một bài thuyết trình trước một lượng lớn khán giả. Trong tình huống này, các cử chỉ phòng thủ trực quan khiến người nói lo lắng, cá nhân cố gắng ngăn chặn, và do đó một phần thay thế chúng bằng các rào cản không hoàn chỉnh. Những rào cản này bao gồm một tình huống như vậy trong đó một tay ở trạng thái yên tĩnh, trong khi tay kia giữ cẳng tay hoặc vai của bàn tay thứ hai. Với sự giúp đỡ của các cử chỉ ngụy trang, cá nhân cũng có thể đạt được mức độ tự tin và bình tĩnh cần thiết. Như bạn đã biết, một hàng rào bảo vệ được thể hiện dưới hình thức cố định khoanh tay trên cơ thể. Thay vì tình huống này, nhiều đối tượng chủ động sử dụng các thao tác với các phụ kiện khác nhau, ví dụ như xoắn khuy măng sét, kéo dây đeo đồng hồ hoặc vòng đeo tay, v.v. Trong trường hợp này, một tay vẫn ở khắp cơ thể, điều này cho thấy việc lắp đặt rào chắn.

Tay đặt trong túi cũng có thể có nhiều ý nghĩa. Ví dụ, một người có thể chỉ lạnh hoặc anh ta chỉ tập trung vào một cái gì đó. Ngoài ra, cần phân biệt cử chỉ với thói quen của cá nhân. Vì vậy, ví dụ, thói quen vung chân hoặc gõ gót khi ngồi vào bàn có thể được coi là sự miễn cưỡng khi tiếp tục giao tiếp.

Cử chỉ của giao tiếp phi ngôn ngữ được chia thành như sau:

– cử chỉ minh họa bản chất (hướng dẫn, đánh dấu);

– bản chất điều tiết (gật đầu, lắc đầu);

– cử chỉ, biểu tượng, nghĩa là cử chỉ thay thế từ hoặc thậm chí toàn bộ cụm từ (ví dụ: bàn tay nắm chặt biểu thị một lời chào);

– bản chất thích nghi (chạm, vuốt, kéo các vật);

– cử chỉ, tình cảm, nghĩa là thể hiện cảm xúc, cảm xúc;

– Cử chỉ vi mô (co giật môi, đỏ mặt).

Khái niệm và tầm quan trọng và đặc điểm của phi ngôn từ

Khái niệm và tầm quan trọng và đặc điểm của phi ngôn từ:

Để làm rõ khái niệm Phi ngôn từ, chúng ta hãy phân biệt với Ngôn từ. Ngôn từ là nội dung thông điệp hoặc bài thuyết trình được các diễn giả nói ra hoặc viết ra. Phi ngôn từ là giọng nói (bao gồm các yếu tố như: ngữ điệu, chất giọng, độ cao…) và hình ảnh (bao gồm những gì người nhận thông điệp/ thính giả nhìn thấy: nét mặt, dáng vẻ, trang phục, di chuyển…) khi ta thuyết trình.

Các nghiên cứu của các nhà xã hội học cho thấy, để giao tiếp hay thuyết trình thành công ngoài yếu tố nội dung, người chuyển thông điệp hay diễn giả cần quan tâm đến việc thuyết phục người nghe bằng giọng nói, dáng điệu, cử chỉ, trang phục, mắt quan sát hội trường…

Khi ta truyền tải một thông điệp thì hiệu quả của ngôn từ, giọng nói và hình ảnh được thể hiện như sau:

Chắc hẳn là trước khi bước vào một cuộc họp hay hội thảo quan trọng, ai cũng đều phải chuẩn bị bài thuyết trình rất kỹ lưỡng. Chúng ta dành hàng tuần, hàng tháng, thậm chí hàng năm hay nhiều năm để chuẩn bị nội dung thuyết trình. Bao nhiêu tâm huyết như vậy, tại sao đến khi ta nói lại không mấy ai chú ý lắng nghe? Tại sao cũng cùng một nội dung, người này nói thì được cả hội trường chú ý, vỗ tay tán thưởng, người khác nói lại không thuyết phục thậm chí khiến cả hội trường ngủ gật?

Vấn đề không phải là cái gì mà là nói như thế nào. Vấn đề không phải nói như thế nào mà là người nghe cảm nhận như thế nào. Vấn đề quan trọng nhất không phải là người nghe cảm nhận như thế nào mà là người nghe sẽ thay đổi như thế nào.

b. Đặc điểm phi ngôn từ

– Luôn tồn tại: Khi ta giao tiếp với một đám đông, dù ta nói hay không nói thì phi ngôn từ vẫn luôn thể hiện và được người khác ghi nhận. Ví dụ: nét mặt, dáng đứng, trang phục, di chuyển…

– Có giá trị thông tin cao: Hai người khác biệt về văn hóa, ngôn ngữ gặp nhau họ vẫn có thể hiểu nhau qua hành vi, cử chỉ. Trẻ con chưa biết nói, chưa biết đọc, chưa biết viết vẫn có thể cảm nhận được những gì người khác nói thông qua phi ngôn từ. Phi ngôn từ giúp thay thế, bổ trợ hoặc nhấn mạnh thông điệp muốn truyền tải. Ví dụ: Khi muốn một người lại gần, ta chỉ cần vẫy tay, không nhất thiết phải nói “lại đây”.

– Mang tính quan hệ: Qua hành vi cử chỉ khi giao tiếp/ thuyết trình thể hiện sự gần gũi, thân thiện giữa người nói và người nghe.

– Khó hiểu: Cùng một cử chỉ nhưng được hiểu theo nhiều ý nghĩa khác nhau. Điều này gây nên sự lầm lẫn trong giao tiếp hoặc thuyết trình.

– Chịu ảnh hưởng của văn hoá: Phi ngôn từ chịu ảnh hưởng nhiều của văn hóa. Một số hành vi, cử chỉ phù hợp với địa phương này nhưng lại không phù hợp địa phương khác. Ví dụ: Hành động giơ ngón tay cái lên cao, với Châu Âu, với Bắc Mỹ được coi là nhất, là khen ngợi, đồng ý nhưng với Úc thì bị coi là chửi tục.

Quantri.vn – Biên tập và hệ thống hóa

Cách dùng ngôn ngữ cơ thể và tông giọng

Ngoài những lời nói với trẻ, bố mẹ nên chú ý đến cả việc giao tiếp phi ngôn ngữ nữa, để truyền tải được những thông điệp đúng đắn nhất tới con mình.

Giao tiếp không phải chỉ có lời nói, mà còn bao gồm cả ngôn ngữ cơ thể, biểu cảm khuôn mặt, ánh mắt, tông giọng và khoảng cách giữa những người giao tiếp với nhau, hay còn gọi là giao tiếp phi ngôn ngữ.

Tầm quan trọng của giao tiếp phi ngôn ngữ

Giao tiếp phi ngôn ngữ tích cực có thể cải thiện mối quan hệ giữa bố mẹ và trẻ, gắn kết cảm xúc giữa các thành viên trong gia đình. Ví dụ, khi bố mẹ ôm và âu yếm trẻ, hành động này đã truyền tải thông điệp tới trẻ rằng bố mẹ muốn ở bên con.

Tuy vậy, với giao tiếp phi ngôn ngữ tiêu cực, ví dụ như bố mẹ dùng giọng cáu bẳn hoặc cau mày khi chơi với trẻ, trẻ sẽ cảm thấy rằng bố mẹ không thích chơi với mình. Nếu bố mẹ thường xuyên thể hiện như vậy thì trẻ có thể cảm thấy mình bị ghét bỏ.

Vậy tức là, giao tiếp phi ngôn ngữ giúp củng cố những thông điệp bằng lời của bố mẹ chuyển tới trẻ.

Giao tiếp phi ngôn ngữ giúp củng cố những thông điệp bằng lời của bố mẹ chuyển tới trẻ.Ngoài ra, cách giao tiếp phi ngôn ngữ của bố mẹ cũng dạy trẻ cách xây dựng mối quan hệ tốt với những người xung quanh. Ví dụ, khi bố mẹ có những cử chỉ âu yếm và quan tâm tới trẻ, thì trẻ sẽ học được cách thể hiện tình yêu thương với người khác.

Dùng ngôn ngữ cơ thể và tông giọng để giao tiếp với trẻ tốt hơn

Thông qua ngôn ngữ cơ thể và tông giọng, bố mẹ có thể truyền những thông điệp tích cực và nhấn mạnh những gì mình muốn nói với trẻ. Bố mẹ có thể áp dụng một vài cách sau:

Chạm vào tay trẻ để thể hiện rằng bố mẹ quan tâm tới những gì con đang nói hoặc làm.

Hướng mặt về phía trẻ, nhìn vào mắt trẻ, cho trẻ thấy rằng bố mẹ đang hoàn toàn chú ý tới con, và coi những điều con nói là rất quan trọng.

Ngồi hoặc khom người xuống ngang với tầm của trẻ, cho thấy bố mẹ muốn gần gũi trẻ hơn và trẻ cũng sẽ cảm thấy an toàn hơn. Bằng cách này, bố mẹ cũng dễ nhìn vào mắt trẻ hơn.

Bố mẹ hãy ngồi hoặc khom người xuống ngang với tầm của trẻ.

Bắt chước biểu cảm khuôn mặt và tông giọng của trẻ, thể hiện rằng bố mẹ đang cố hiểu cảm giác của con. Ví dụ, khi trẻ cười, bố mẹ hãy cười lại với con.

Dùng tông giọng nhẹ nhàng, cử chỉ và biểu cảm vui tươi, thoải mái khi trò chuyện với trẻ, để trẻ thấy bố mẹ luôn sẵn sàng lắng nghe. Hơn nữa, việc này cũng giúp trẻ dễ dàng nhận ra sự khác biệt vào những lúc bố mẹ không hài lòng với hành động của trẻ.

Ôm ấp, âu yếm trẻ thật nhiều.

Trường hợp trẻ có nhu cầu đặc biệt

Những trẻ mắc bệnh tự kỷ hoặc có những nhu cầu đặc biệt khác thì có thể gặp khó khăn trong giao tiếp, bao gồm cả giao tiếp phi ngôn ngữ. Ví dụ, trẻ tự kỷ thường phải được dạy về cách giao tiếp qua ánh mắt. Bố mẹ có thể dạy trẻ bằng cách cầm những đồ vật mà trẻ thích ngay trước mắt bố mẹ, cứ làm vậy nhiều lần, cho đến khi trẻ tự động ngước lên nhìn bố mẹ khi muốn điều gì đó.

Với những trẻ có nhu cầu đặc biệt, bố mẹ cũng nên có những cách riêng để hướng dẫn con.Ngoài ra, những trẻ quá nhạy bén về cảm giác (một kiểu rối loạn có thể gặp ở những trẻ tự kỷ) sẽ không thích tiếp xúc cơ thể (ôm, hôn…). Trong trường hợp này, bố mẹ nên sử dụng các loại biểu cảm, cử chỉ khác, như vỗ tay, nháy mắt hoặc đưa ngón cái lên thể hiện sự đồng tình.

Kỹ năng phi ngôn ngữ

Kỹ năng giao tiếp phi ngôn ngữ là một trong những yếu tố quan trọng trong kỹ năng bán hàng giỏi. Tuy nhiên không phải kỹ năng phi ngôn ngữ nào cũng có thể tùy tiện sử dụng. Tùy thuộc vào hoàn cảnh xung quanh, âm lượng của người nói, sự phối hợp của cơ thể… mà hành động phi ngôn ngữ mang đến hiệu quả khác nhau.

Kỹ năng giao tiếp là một công cụ thiết yếu giúp chúng ta rất nhiều trong cuộc sống, công việc, nhất là những người hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh bán hàng. Thông thường, chúng ta giao tiếp bằng kỹ năng nói hoặc văn bản. Thế nhưng, ít ai biết rằng phi ngôn ngữ cũng là một cách giao tiếp rất hiệu quả, quan trọng và nó chiếm một lượng phần trăm rất lớn trong giao tiếp hàng ngày của chúng ta.

Theo nghiên cứu, một cuộc giao tiếp ứng xử thành công cần dựa vào 3 yếu tố đó là: Giọng điệu, ngôn ngữ và phi ngôn ngữ. Trong đó, yếu tố giao tiếp phi ngôn ngữ chiếm đến gần 40%, điều đó thể hiện đây là một trong những yếu tố vô cùng quan trọng và cần thiết.

Khi giao tiếp, chúng ta thể hiện suy nghĩ, cảm xúc thông qua lời nói thế nhưng điều đó vẫn chưa đủ để truyền tải hết ý thức, tâm trạng mà bên cạnh đó khi chúng ta sử dụng ngôn ngữ cơ thể như các cử chỉ, ánh mắt, nụ cười, nét mặt, dáng điệu,… lại là một trong những cách thể hiện thái độ một cách rõ nét nhất !

1. Chú ý tới các cử chỉ khác của cơ thể ngoài ngôn ngữ

Có rất nhiều cách để con người truyền đạt bằng ngôn ngữ cơ thể như: điệu bộ, nét mặt, ánh mắt, chuyển động cơ thể và âm lượng của giọng nói.

Ngoài ngôn từ, đây là một trong những cách truyền tải thông tin quan trọng đến người đối diện. Đôi khi sự từ chối hay đồng ý chỉ là một cử động nhỏ của cơ thể vì vậy khi giao tiếp bạn cần chú ý đến những dấu hiệu này để nắm bắt thông tin một cách tốt nhất.

Để ý kỹ những hành động phi ngôn ngữ của người khác sẽ giúp bạn cải thiện được kỹ năng giao tiếp của mình.

Một trong những cách để nhận biết được tâm trạng của người khác chính là âm lượng giọng nói. Tùy thuộc vào cách nói và điều chỉnh âm lượng bạn sẽ thể hiện cảm xúc của mình hoặc hiểu được cảm xúc của đối phương.

Ví dụ khi bạn hào hứng kể về một câu chuyện với âm lượng lớn cùng giọng điệu sôi nổi, điều ấy sẽ thể hiện tâm trạng bạn đang rất tốt ngược lại nếu ai đó nói chuyện một cách chậm rãi, nhỏ nhẹ kèm nét mặt u sầu bạn cũng có thể hiểu rằng họ đang có chuyện buồn.

3. Lưu ý những hành động mẫu thuẫn, không nhất quán

Khi giao tiếp, ngoài những lời nói mà đối phương truyền đạt bạn cần chú ý đến cử chỉ, thái độ của họ. Đôi khi trong giao tiếp, ngôn từ và hành động phi giao tiếp có sự không nhất quán.

Ví dụ: Khi bạn hỏi một ai đó nhưng họ trả lời miễn cưỡng, mắt nhìn xuống đất hoặc nhìn sang hướng khác, mặt cúi gằm đó có thể là câu trả lời không chính xác, cũng có thể đó là câu hỏi làm cho họ khó xử hoặc khó chịu.

4. Đặt câu hỏi về dấu hiệu phi ngôn ngữ

Trong giao tiếp sẽ có những lúc bạn không hiểu được suy nghĩ của đối phương, có thể cử chỉ điệu bộ và lời nói không nhất quán khiến bạn khó hiểu được ác dấu hiệu phi ngôn ngữ của một ai đó, vậy thì đừng ngại đặt câu hỏi như: ” Có phải điều anh/chị đang nói có nghĩa là?”, ” vậy điều anh muốn nói là..?”

5. Giao tiếp bằng mắt là một phương thức hữu hiệu

Người ta vẫn thường nói, đôi mắt là cửa sổ của tâm hồn. Điều ấy có nghĩa đôi khi ánh mắt còn mạnh mẽ hơn cả lời nói. Giao tiếp bằng mắt rất quan trọng, nó thể hiện sự chăm chú, sự tôn trọng của mình với người khác mà không ngôn ngữ nào thay thế được.

Trong giao tiếp nên nhìn thẳng vào mắt người đối diện, thỉnh thoảng mới nhìn xuống để đỡ bị bối rối khi bắt gặp ánh mắt người đối thoại quá nhiều. Một số chuyên gia về giao tiếp khuyên rằng khoảng thời gian cho mỗi lần giao tiếp bằng mắt nên kéo dài 4-5 giây.

6. Cẩn thận vì các cử chỉ phi ngôn ngữ có thể bị hiểu sai

Hành động phi ngôn từ là cách thể hiện thái độ, suy nghĩ nhưng đôi khi có thể do một vài yếu tố nào đó nó cũng có thể khiến đối phương hiểu sai ý nghĩa mà bản thân muốn truyền đạt.

Ví dụ khi bạn được đối phương hỏi điều gì đó nhưng vì không được khỏe nên cách trả lời không được nhiệt tình, âm lượng giọng nói nhỏ dễ khiến đối phương có thể nghĩ mình thờ ơ, không quan tâm.

Vì vậy, để tránh hiểu sai tín hiệu phi ngôn ngữ chúng ta nên quan sát thật kỹ để nắm bắt tín hiệu theo nhóm. Thái độ tổng thể của một người nói lên nhiều điều hơn là một hành động riêng rẽ của họ.

7. Ngữ cảnh giao tiếp cũng ảnh hưởng tới hành động phi ngôn ngữ

Bối cảnh giao tiếp cũng là yếu tố ảnh hưởng đến hành động phi ngôn ngữ khi giao tiếp. Bạn cần cân nhắc xem cử chỉ và những hành động cơ thể của mình có thích hợp với bối cảnh hay không. Ví dụ trong những cuộc vui của bạn bè thân thiết không cần những cử chỉ quá trang trọng, điều này sẽ khiến bạn bị lạc lõng.

Một cử chỉ đơn lẻ có thể mang nhiều ý nghĩa nhưng cũng có thể chẳng có nghĩa gì. Để hiểu và đánh giá được ý nghĩa truyền đạt từ đối phương tránh bị hiểu sai ý bạn cần nhìn vào những nhóm tín hiệu nhằm nhấn mạnh một điểm chung. Nếu bạn chỉ tập trung tới một tín hiệu trong số rất nhiều tín hiệu thì rất có khả năng bạn sẽ hiểu lầm ý người khác.

Ví dụ để biết thái độ, bạn cần chú ý đển tổng thể tín hiệu ánh mắt, nét mặt và điệu bộ không thể căn cứ theo một dấu hiệu và kết luận vọi vàng.

9. Cử chỉ sẽ giúp giao tiếp hiệu quả và có ý nghĩa hơn

Giao tiếp bằng ngôn ngữ và phi ngôn ngữ đều có chức năng là góp phần truyền tải thông điệp vì vậy cải thiện kỹ năng giao tiếp bằng cách sử dụng những tín hiệu phi ngôn ngữ và cử chỉ để nhấn mạnh và hỗ trợ cho lời nói của mình là một cách rất hiệu quả trong giao tiếp đặc biệt là khi đi phỏng vấn, thuyết trình hoặc nói trước đám đông.

10. Rèn luyện thường xuyên

Bạn hoàn toàn có thể rèn luyện kỹ năng giao tiếp không lời một cách hiệu quả và hiểu đúng cử chỉ của những người khác bằng cách để tâm đến hành vi phi ngôn ngữ và rèn luyện nhiều kiểu giao tiếp phi ngôn ngữ khác nhau với mọi người. Đây là cách nâng cao khả năng giao tiếp của bạn một cách đáng kể!

Mỗi người có một ngôn ngữ cơ thể riêng, chỉ cần bạn chú ý và nắm bắt được những dấu hiệu phi ngôn ngữ chắc chắn bạn sẽ hiểu được đối tượng giao tiếp. Tóm lại giao tiếp phi ngôn ngữ đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình giao tiếp, vì vậy để giao tiếp với người nghe hiệu quả và thuyết phục cần rèn luyện khả năng giao tiếp bằng ngôn ngữ cơ thể thường xuyên.

Thông tin bài viết được chúng tôi tổng hợp

Các Kiểu Giao Tiếp Phi Ngôn Ngữ Mà Bạn Không Thể Phớt Lờ

Hầu hết mọi người đều biết “cái nhìn” dường như rất phổ biến với các bà mẹ. Ngay từ nhỏ, khi chúng ta ra ngoài và làm điều gì đó không tốt, tất cả điều bạn cần lúc này là cái nhìn chằm chằm của mẹ bạn để ngăn cản bạn làm điều đó. Bạn ngay lập tức biết rằng bạn sẽ bị cấm không được ra ngoài khoảng hai mươi năm- mà thậm chí mẹ bạn không cần nói lời nào! Đó là sức mạnh giao tiếp không dùng lời nói.[1]

Liệu rằng bạn có nhận ra nó hay không thì vài thứ vẫn xảy ra trong cuộc sống hằng ngày. Và khi bạn khám phá nhiều hơn về nó, bạn có thể tạo ra sự tương tác xung quanh bạn tốt hơn.

Giao tiếp phi ngôn ngữ thực ra giúp bạn bày tỏ bản thân tốt hơn

Cả thế giới đã bị sốc khi vụ bê bối tình dục của Bill Clinton với Monica Lewinsky được chứng minh – sau khi ông ta cương quyết phủ nhận vụ bê bối này! Nhưng nhiều dấu hiệu đã cho thấy ông ta đang nói dối, như việc ông ta chạm vào mũi của mình nhiều hơn mức bình thường ba lần. Đấy là bởi vì khi người ta nói dối, căng thẳng sẽ làm tăng huyết áp và lần lượt khiến các dây thần kinh xung quanh mũi bị kích thích hay cảm thấy ngứa ngáy.[2]

“Những biểu hiện rất nhỏ” là những biểu cảm xuất hiện thoáng qua vài phút trên gương mặt và khác các loại biểu cảm gương mặt khác và hầu như không thể làm giả.[3] Hiểu được giao tiếp không dùng lời nói có thể giúp bạn không chỉ tương tác và giao tiếp với người khác tốt hơn mà còn cải thiện được khả năng để bày tỏ cảm xúc bản thân.

Có nhiều kiểu giao tiếp phi ngôn ngữ khác nhau và vài loại có thể dễ dàng bị lãng quên

Các cuộc nghiên cứu về giao tiếp phi ngôn ngữ bắt đầu với sự xuất bản của Những biểu hiện cảm xúc ở người và động vật của Charles Darwin năm 1872. Kể từ đó, các chuyên gia cho rằng một phần quan trọng của cuộc đối thoại và tương tác của chúng ta không dựa vào lời nói:

1. Động tác của bàn tay truyền tải nhiều thông tin

Hành động bàn tay đặt trên má hay vuốt cằm cho thấy rằng người đó đang đắm chìm trong suy nghĩ. Cắn móng tay hay hành động nghịch tóc cho thấy sự lo lắng hay sự bất an.

Loại này chiếm đa số trong giao tiếp phi ngôn ngữ.

Hãy xem xét có bao nhiêu kiểu cười khác nhau mà bạn đã từng nhìn thấy; sự khác nhau của nụ cười có thể cho thấy sự hạnh phúc, sự nhớ nhung, hồi tưởng, sự khó chịu hay thậm chí sự buồn bã.

Hạ thấp đầu và gương mặt hướng xuống dưới có thể hiểu là người đó đang trốn tránh thứ gì đó hoặc đơn giản là mắc cỡ, ngại ngùng.

Cách một người giữ tư thế khi đứng hay ngồi thể hiện nhiều điều.

Khoanh tay trước ngực có thể ám chỉ sự phòng thủ. Vắt chéo chân khi ngồi hay đứng cho thấy sự lo âu.

Người ta nói rằng đôi mắt là cửa sổ tâm hồn. Có nhiều thứ mà đôi mắt có thể tiết lộ ra – thậm chí là không có khả năng giao tiếp bằng mắt cũng nói lên nhiều điều.

Mọi người có xu hướng nhìn lên trên và hướng qua phải khi họ không trung thực và họ ngước mắt lên trên qua bên trái khi họ đang nhớ điều gì đó. (Điều này có thể ngược lại với những người thuận tay trái.)

Truyền thông xã hội đã khai sinh ra một hình thức mới của giao tiếp không dùng lời nói. Làn sóng mới này bao gồm các biểu tượng cảm xúc (emoticons) mà mọi người sử dụng đến việc cố tình đăng những dòng trạng thái cập nhật hay những bức ảnh để tạo phản ứng.

Mọi người có thể chắc chắn hiểu được họ cảm thấy như thế nào mà không dùng lời nói chỉ bằng một cú nhấn chuột đơn giản để thể hiện một khuôn mặt đang cười hay đang buồn.

Đầu tiên, nếu bạn nhận thức nhiều hơn về những dấu hiệu không dùng lời nói xung quanh bạn, điều này ngay lặp tức sẽ cải thiện sự tương tác của bạn.

Cũng có nhiều thứ nhỏ nhặt bạn có thể làm để giao tiếp tốt hơn mà thậm chí không cần nói một lời.

Hãy chú ý tới những điệu bộ, cử chỉ nhỏ nhặt của bạn

Hãy xem xét ngôn ngữ cơ thể của bạn thể hiện như thế nào.

Ví dụ, khi bạn gặp ai đó lần đầu tiên thì bạn có cười không? Nếu có thì nụ cười của bạn nói lên điều gì? Một cái bắt tay chắc nịch cùng sự giao tiếp bằng mắt và một nụ cười đáng tin cậy sẽ giúp bạn tự tin hơn.

Hãy nhận biết bất kì sự mâu thuẫn nào trong ngôn ngữ cơ thể

Liệu rằng với bản thân hay với người khác, lời nói luôn hòa hợp với biểu hiện của cơ thể?

Hãy xem các các nghĩa khác nhau khi bạn nói “Tôi vẫn ổn” với một nụ cười toe toét và khi bạn nói câu này với một tiếng thở dài lớn. Nói câu này với một nụ cười ấm áp sẽ cho thấy sự chân thành và bạn thực sự cảm thấy “ổn, tốt”. Nếu câu nói đi kèm với sự thở dài hay tâm trạng chán ngán thì nó cho thấy điều ngược lại.

Đừng hiểu nhầm sự căng thẳng với sự không trung thực

Bao nhiêu lần bạn biết về người mà đọc rất nhiều tin nhắn và nhận nhiều cuộc điện thoại, đơn giản bởi vì người ở đầu dây bên kia đang có một ngày căng thẳng và vì vậy họ trở nên giận dữ?

Rất dễ đọc vị sai người khác hay bị hiểu nhầm khi đang căng thẳng, vì vậy hãy nhận thức về điều này khi bạn đang có một ngày đầy khó khăn. Lần tới, lúc bạn nhận tin nhắn hay email khi bạn bị căng thẳng, có lẽ cách tốt nhất là trì hoản sự phản hồi của bạn cho đến khi bạn bình tĩnh hơn.

Chú ý những phản ứng của người khác

Chú ý nhiều hơn về giao tiếp phi ngôn ngữ với người khác sẽ có thể giúp bạn tương tác với người khác thành công hơn.

Ví dụ, nếu bạn đi cùng ai đó đang đan tay vào nhau, hành động của họ cho thấy họ cảm thấy dễ bị tổn thương hay không đang thoải mái. Sau đó hãy xem xét việc bạn có thể làm để họ cảm thấy thư giản, thoải mái hơn.

Hãy luyện tập những kỹ xảo nhỏ này mỗi ngày và mọi lúc khi bạn đang nói chuyện với người khác và bạn cũng sẽ giỏi hơn trong việc giao tiếp với ngôn ngữ cơ thể của chính bạn.

Nguồn ảnh bìa: Flaticon từ flaticon.com

Tài liệu tham khảo

Giao Tiếp Phi Ngôn Ngữ Là Gì?

Ngôn ngữ cơ thể là việc sử dụng các hành vi vật lý, biểu hiện, phong thái để giao tiếp phi ngôn ngữ, thường được thực hiện theo bản năng hơn là có ý thức.

Cho dù bạn có nhận ra hay không, khi bạn tương tác với người khác, bạn sẽ liên tục đưa ra và nhận lại các tín hiệu không lời. Tất cả các hành vi phi ngôn ngữ của bạn, các cử chỉ bạn thực hiện, tư thế, giọng nói, mức độ giao tiếp bằng mắt của bạn khiến cho các thông tin rõ ràng hơn. Chúng có thể khiến mọi người thoải mái tạo dựng niềm tin và thu hút sự chú ý của người khác về phía bạn. Chúng cũng có thể xúc phạm, gây nhầm lẫn và làm sai lệch đi những gì bạn đang cố gắng truyền đạt. Ngay cả khi bạn im lặng, bạn vẫn đang giao tiếp phi ngôn ngữ.

Trong một số trường hợp, những gì phát ra từ miệng bạn và những gì bạn giao tiếp qua ngôn ngữ cơ thể có thể không thực sự đồng nhất. Nếu bạn nói một điều, nhưng ngôn ngữ cơ thể của bạn lại nói điều khác, đối phương có thể cảm nhận được. Ví dụ, nếu bạn nói ” Vâng, anh đi đi” nhưng trong ánh mắt bạn lại như nũng nịu, sắp khóc và cái đầu hơi lắc. Khi phải đối mặt với tình huống như vậy, người nghe sẽ khó khăn để nhận thông tin và đáp trả thông tin lại. Tuy nhiên, bằng cách cải thiện cách hiểu và sử dụng giao tiếp phi ngôn ngữ, bạn có thể bày tỏ ý định thực sự của mình, kết nối với người khác và xây dựng mối quan hệ tốt hơn.

Tại sao giao tiếp phi ngôn ngữ lại quan trọng?

Nếu bạn muốn trở thành người giao tiếp tốt hơn, điều quan trọng là bạn cần nhạy bén hơn không chỉ với ngôn ngữ cơ thể và tín hiệu phi ngôn ngữ của người khác mà còn với chính bạn.

Lặp lại: Nó lặp lại và thường củng cố thông điệp bạn đang thực hiện bằng lời nói

Mâu thuẫn: Nó có thể mâu thuẫn với thông điệp bạn đang cố gắng truyền tải, khiến người nghe suy luận bạn đang nói không đúng sự thật

Thay thế: Nó có thể thay thế cho một thông điệp bằng lời nói. Ví dụ, biểu cảm khuôn mặt của bạn thường truyền tải một thông điệp nào đó sống động hơn nhiều so với các từ ngữ biểu đạt.

Bổ sung: Nó có thể thêm hoặc bổ sung cho lời nói của bạn. Là một ông chủ, nếu bạn vỗ vai một nhân viên, ngoài việc khen ngợi, nó có thể làm tăng tác động thông điệp bạn gửi gắm.

Dấu nhấn: Bạn có thể nhấn mạnh tầm quan trọng bằng việc nói to hơn, chậm hơn.

Các loại giao tiếp phi ngôn ngữ

Biểu cảm khuôn mặt: Khuôn mặt con người vô cùng biểu cảm, có thể truyền tải vô số cảm xúc mà không cần nói gì. Và không giống như một số hình thức giao tiếp phi ngôn ngữ khác, biểu cảm trên khuôn mặt được cho là phổ quát. Các biểu hiện hạnh phúc, buồn, giận dữ, sợ hãi, … là giống nhau trên các nền văn hóa.

Chuyển động cơ thể và tư thế: Cách bạn di chuyển cũng truyền đạt thông tin đến người khác. Kiểu giao tiếp phi ngôn ngữ này bao gồm tư thế, sức chịu đựng và các động tác tinh tế mà bạn thực hiện.

Cử chỉ: Cử chỉ được hình thành trong cuộc sống hàng ngày. Bạn có thể vẫy tay, chỉ tay, vẫy gọi hoặc dùng tay khi tranh luận hoặc khi nói một cách sinh động. Tuy nhiên, ý nghĩa của một số cử chỉ có thể khác nhau giữa các nền văn hóa. Ví dụ, khi dấu hiệu ” OK ” được thực hiện bằng tay truyền tải thông điệp tích cực ở các quốc gia nói tiếng Anh, thì nó lại gây khó chịu ở các quốc gia khác như Đức, Nga, Brazil. Do vậy, bạn cần có sự tìm hiểu và cẩn thận hơn khi sử dụng cử chỉ để tránh hiểu lầm.

Giao tiếp bằng mắt: Vì cảm giác thị giác chiếm ưu thế đối với hầu hết mọi người, giao tiếp bằng mắt là một loại giao tiếp phi ngôn ngữ đặc biệt quan trọng. Cách bạn nhìn vào ai đó cũng có thể giải thích được sự quan tâm, tình cảm, sự thù địch hay sự hấp dẫn,… Giao tiếp bằng mắt cũng rất quan trọng trong việc duy trì dòng chảy của cuộc trò chuyện và để đo lường sự quan tâm và phản ứng của người khác.

Chạm: Hãy thử suy nghĩ về những thông điệp khác nhau được đưa ra bởi một cái bắt tay yếu ớt/ một cái ôm ấm áp/ một cái vỗ nhẹ vào đầu,…

Không gian: Bạn đã bao giờ cảm thấy khó chịu trong một cuộc trò chuyện vì người kia đang đứng quá gần và xâm chiếm không gian của bạn? Tất cả chúng ta đều có nhu cầu về không gian vật lý, mặc dù nhu cầu đó khác nhau và tùy thuộc vào văn hóa, tình huống và sự gần gũi của mối quan hệ. Bạn có thể sử dụng không gian vật lý để giao tiếp nhiều thông điệp phi ngôn ngữ khác nhau, bao gồm các tín hiệu của sự thân mật, tình cảm, sự gây hấn hoặc sự thống trị.

Ngữ điệu: Không chỉ là những gì bạn nói, đó còn là cách bạn nói. Khi bạn nói, ngoài việc lắng nghe nội dung, đối phương còn chú ý tới tốc độ, âm lượng, giọng điệu, âm sắc, … mà bạn truyền đạt.

Giao tiếp phi ngôn ngữ là một quá trình qua lại nhanh chóng đòi hỏi bạn phải tập trung hoàn toàn vào trải nghiệm từng khoảnh khắc. Nếu bạn đang lên kế hoạch cho những gì bạn sẽ nói tiếp theo, khi bạn sử dụng điện thoại hoặc suy nghĩ về một điều khác, bạn chắc chắn sẽ bỏ lỡ các tín hiệu phi ngôn ngữ và không hiểu đầy đủ về sự tinh tế của những gì được truyền đạt. Bạn có thể cải thiện cách giao tiếp phi ngôn ngữ bằng cách quản lý căng thẳng và phát triển nhận thức cảm xúc của bạn.

Học quản lý căng thẳng

Căng thẳng làm ảnh hưởng đến khả năng giao tiếp của bạn. Khi bạn căng thẳng, bạn có nhiều khả năng đọc sai ý của người khác, gửi các tín hiệu không lời hoặc gây nhầm lẫn và đưa đưa vào các kiểu hành vi không lành mạnh. Và nên nhớ rằng cảm xúc có tính lan truyền, nếu bạn buồn bã, nó rất có thể khiến cho người nghe của bạn buồn theo.

Nếu bạn cảm thấy quá tải vì căng thẳng, hãy dành thời gian ra ngoài. Dành một khoảng không để bình tĩnh trước khi trò chuyện.

Phát triển nhận thức cảm xúc của bạn

Để gửi tín hiệu phi ngôn ngữ chính xác, bạn cần nhận thức được cảm xúc của mình và cách chúng ảnh hưởng đến bạn. Bạn cũng cần có khả năng nhận ra cảm xúc của người khác và cảm xúc thật đằng sau những tín hiệu mà họ gửi.

Nhận thức về mặt cảm xúc cho phép bạn:

Đọc chính xác những thông tin mà họ gửi

Tạo niềm tin trong các mối quan hệ bằng cách gửi tín hiệu phi ngôn ngữ phù hợp với lời nói của bạn

Trả lời theo cách cho người khác thấy rằng bạn hiểu và quan tâm.

Giao tiếp phi ngôn ngữ đóng một vai trò quan trọng trong cách chúng ta truyền đạt ý nghĩa và thông tin cho người khác, cũng như cách chúng ta diễn giải hành động của những người xung quanh. Điều quan trọng cần nhớ khi nhìn vào những hành vi phi ngôn ngữ như vậy là xem xét các hành động trong nhóm. Những gì một người thực sự nói cùng với biểu cảm, ngoại hình và giọng nói của người đó có thể cho bạn biết rất nhiều về những gì người đó đang thực sự muốn nói.

Chức Năng Của Ẩn Dụ Đối Với Ngôn Ngữ Và Nhận Thức

Ngay từ thời Aristotle người ta đã đề cập tới chức năng của ẩn dụ. Trong cuốn “Thi pháp học”. Aristottle đã viết rằng ẩn dụ có nhiều loại quan trọng trong cả thơ lẫn văn xuôi, nhưng trong thơ nhiều hơn. Ẩn dụ có tính sáng sủa, dễ yêu và tác động mạnh… Rải rác trong các công trình nghiên cứu, các tác giả đã đề cập đến chức năng của ẩn dụ đối với ngôn ngữ. Đại để, ẩn dụ có những chức năng cơ bản đối với ngôn ngữ như sau.

a. Ẩn dụ làm phong phú thêm cho vốn từ của một ngôn ngữ

Trong vốn từ vựng của một ngôn ngữ có rất nhiều từ được tạo ra nhờ phương thức ẩn dụ. Các từ như đầu sông, ngọn suối, mũi súng, chân núi…được tạo ra từ phương thức này. Trong phương trình nghiên cứu của mình. Nguyễn Thiện Giáp đã có nhận xét các từ da trời, da cam, cánh sen, cỏ úa, cứt ngựa… làm cho các từ chỉ màu sắc của tiếng Việt trở nên phong phú,

b. Ẩn dụ làm tăng thêm ý nghĩ cho một từ

Nhờ phương thức ẩn dụ từ có thêm nhiều nghĩa mới. Từ ốc lẽ ra chỉ có nghĩa là động vật, thân mềm có vỏ cứng và xoắn, sống ở dưới nước. Nhờ chuyển nghĩa theo phương thức ẩn dụ, từ ốc còn có nghĩa là đinh ốc. Đó là từ ốc trong cách nói “Hộp ốc vít của tôi đâu?” hay “Bộ phạn này có năm con ốc”. Từ cá ngoài nghĩa là động vật có xương sống sống ở dưới nước, thở bằng mang, bơi bằng vây, còn để chỉ miếng gỗ khi giữ chặt mộng để giữ miếng ghép, như cách nói: cá áo quan; hay để chỉ miếng cứng cài vào cạnh đứng của răng trong bộ bánh cóc, làm cho bánh răng chỉ quay được một chiều, như trong cách nói: xe bị sập cá; và từ cá cũng còn để chỉ: miếng sắt đóng vào đế giầy da cho đỡ mòn, như trong cách nói: cá giày bong mất rồi!. Từ bươm bướm ngoài nghiã chỉ: bọ có cánh mỏng, phủ một vẩy nhỏ như phấn, thường có nhièu màu, có vòi để hút mật hoa. Còn để chỉ một loại truyền đơn, như trong cách nói: giải bươm bướm giữa chợ.

Theo Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên), từ có thêm nhiều nghĩa nhất nhờ phương thức ẩn dụ là từ đánh: ngoài nghĩa chính, từ đánh có thêm 26 nghĩa sinh ra từ nghĩa chính và nghĩa phụ của từ này. Đây là minh chứng điển hình cho nhận xét “ẩn dụ làm giàu thêm ý nghĩa cho một từ”

Hàng loạt các từ khác như đầu, mũi, đường, đi …cũng có thêm rất nhiều nghĩa mới nhờ phương thức ẩn dụ.

Trong Từ điển phong cách học, tác giả Weles viết: bằng cách trung hoà hoá sự lệnh chuẩn về mặt ngữ nghĩa và sự sử dụng liên tục với một nghĩa mới thông qua cách dùng lặp đi lặp lại các ẩn dụ sẽ là một phương thức để gia tăng hàng nghìn nghĩa mới cho ý nghĩa của từ. (tr.117)

Theo Đỗ Hữu Châu, ẩn dụ không chỉ là “kết quả của những qui luật điều khiển sự tạo nghĩa cho từ”, mà nó còn là cách thức tạo từ mới và tạo nghĩa mới cho từ.

Thông qua việc tạo từ mới và nghiã mới, ẩn dụ giúp ngôn ngữ mau chóng đáp ứng được đòi hỏi phải kịp thời sáng tạo ra những phương tiện mới để biểu thị sự vật, hiện tượng và những nhận thức mới xuất hiện trong xã hội, để thay thế những cách diễn đạt, những tên gọi cũ đã mòn, không còn khả năng gợi tả, bộc lộ cảm xúc và gây ấn tượng sâu sắc ở người nghe nữa… Đó cũng là cách khai thác và phát huy tiềm năng của ngôn ngữ” (Đỗ Hữu Châu, Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt, trang 152).

c. Ẩn dụ tạo ra những cách nói mới làm cho cách diễn đạt trở nên phong phú

Tác giả Xi-xi-rô nói rằng: ẩn dụ lúc đầu xuất hiện cho sự hạn chế, sự nghèo nàn từ vựng của một ngôn ngữ nào đó. Nhưng khi ngôn ngữ đó là trưởng thành, đã có một số vốn từ vựng phong phú thì ẩn dụ sẽ làm giàu thêm cho ngôn ngữ đó bằng cách cung cấp cho người nói những cách nói hấp dẫn hơn để diễn đạt, để biểu thị, để bộc lộ chính mình. Bectle thì coi ẩn dụ có tác dụng trang trí, giúp cho người viết phương tiện để quyến rũ lí trí. Tác giả Đỗ hữu Châu đã dẫn ra ví dụ: lẽ ra cần nói em rất đẹp thì có thể nói em là một bông hoa. Hay một chút hi vọng thì gọi là hạt mầm hi vọng; Muốn nói con đáng yêu quá thì nói con chó con của mẹ, muốn nói ông thật xảo quyệt thì nói đồ cáo già.

d. Ẩn dụ làm cho cách nói trở nên hàm súc.

Nhờ ẩn dụ người ta có thể diễn đạt ngắn gọn nhưng rất cô đọng, súc tích ý mình. Lẽ ra phải nói “bộ phận nhọn của vũ khí” thì cần nói mũi dao, mũi súng; “bộ phận trước của thuyền” thì chỉ cần nói mũi thuyền; phần đất nhô ra ở ngoài biển thì nói mũi đất;…Nếu không có ẩn dụ thì đầu làng sẽ phải gọi là “vị trí đầu tiên của đầu làng tính từ chỗ người nói”; chân núi sẽ phải gọi là “phần cuối cùng tiếp giáp với mặt đất của núi”; tài năng chín sẽ phải gọi là ” tài năng đã trải qua quá trình nung nấu kĩ, quá trình rèn luyện chu đáo, phải đem ra thi thố với đời nếu không cái chín sẽ trở thành trì trệ”. Cách diễn đạt ” tình thế của những kẻ hèn kém bị dồn vào thế đường cùng, không lối thoát, mặc dù đã xoay sở hết cách” có thể xoay bằng cụm từ cố định ngắn gọn ” chuột chạy cùng sào “.

Những cách gọi tên không dùng phương thức ẩn dụ nói trên nhiều khi rất dài, khó nhớ và tai hại hơn là không thể diễn tả hết các sắc thái ý nghĩa tinh tế trong đó. Chẳng hạn cách gọi đầu làng ngoài tác dụng chỉ vị trí của đầu làng còn gợi cho ta sắc thái nghĩa: đây là một bộ phận của cái gì sống động chứ hoàn toàn không phải là một vật vô tri vô giác như cách gọi “vị trí đầu tiên …” vừa phân tích ở trên.

Cách gọi chi trên, chi dưới trong dòng họ cho ta thấy được tính chất gắn bó, ràng buộc như các bộ phận của một cơ thể, điều đó đã vừa diễn đạt tính chất cội nguồn, vừa diễn tả một cách sinh động cụ thể mối quan hệ của những tổ chức gia đình, họ hàng này.

Đỗ Hữu Châu đã phân tích ẩn dụ chịu tang trong câu thơ: “Rặng liễu dìu hiu đứng chịu tang” của Xuân Diệu. Theo ông, khó lòng tường minh hoá nghĩa của từ chịu tang bằng trường ngữ hoá như ” những rặng liễu đìu hiu giống như người đàn bà đang khóc than trong một đám tang” hoặc “những rặng liễu đìu hiu giống như người đàn bà đang xoã tóc khóc than trong một đám tang”.

Có rất nhiều trường hợp không thể trường nghĩa hoá được các ẩn dụ vì đó là cách nói chuẩn xác nhất, hàm súc nhất, hàm súc nhất, cách nói mà “ngôn ngữ thường ngày không đủ khả năng diễn đạt chúng”.

Đối với ngôn ngữ, ẩn dụ là một bộ phận hợp thành của sự sáng tạo ra ngôn ngữ. Và có thể nói rằng thật khó tưởng tượng về sự tồn tại của một ngôn ngữ nếu không có ẩn dụ.

e. Ẩn dụ giúp cho người nói diễn đạt được mọi cung bậc tình cảm, thái độ của mình

Đầu tiên phải nói đến ưu thế đặc biệt của ẩn dụ trong lối nói kiêng tránh. Chẳng hạn khi nói về cái chết có thể và nên dùng từ đi như cách nói: Ông cụ đi tối hôm qua.

Nhiều trường hợp để tránh lối mòn trần tục, thô thiển, làm người nói ngượng mồm và người nghe xấu hổ thì cách nói ẩn dụ là cách nói rất hiệu quả. Người xưa đã rất khéo léo dùng ẩn dụ khi diễn tả tình huống sau đây:

Trách người quân tử vô tình. Chơi hoa rồi lại bẻ cành bán rao.

Và ngày nay chúng ta vẫn phát huy thế mạnh của phương thức chuyển nghĩa này. Chẳng hạn như cách nói “Híc, híc, dạo này đèn dầu của tớ cứ hay …dựng đứng bất tử lắm! hay nó bị… hỏng”? (trích Hoa học trò số 589). Hoặc “Đỉnh núi đôi của tớ bé tẹo à. Tớ lo sau này, cục cưng của tớ sẽ phải bú bình mất”? (Hoa học trò số 609) và “Đèn dầu của tớ bình thường, nhưng dầu của nó thì hầu như có vấn đề. Trong veo. Hay là mình không sản xuất được tinh binh” (Trích hoa học trò, số 613).

Ẩn dụ giúp người nói thể hiện được những tình cảm hết sức tinh tế như tình yêu chẳng hạn. Cách tỏ tình sau đây trong ca dao là một minh chứng:

Bây giờ mận mới hỏi đào Vườn hồng đã có ai vào hay chưa? Mận hỏi thì đào xin thưa Vườn hồng có lối nhưng chưa ai vào.

Khi muốn nhấn mạnh sắc thái biểu cảm trong lời nói, ẩn dụ cũng tỏ ra là một trợ thủ rất đắc lực. khi muốn nói em thật đáng yêu và có sức mạnh tuyệt đối với anh thì có thể nói là: “Em là thiên thần bé nhỏ của anh”. Đó là những tình cảm tích cực. Còn muốn thể hiện những tình cảm tiêu cực cũng có thể dùng cách này. Chẳng hạn để nói: đồ nhỏ nhen ghê tởm thì chỉ cần nói đồ sâu bọ.

2. Chức năng của ẩn dụ đối với nhận thức

a. Theo G. Lakoff, ẩn dụ có ở khắp nơi trong cuộc sống thường ngày của chúng ta, không chỉ ở trong ngôn ngữ mà trong cả tư duy và hành động. Hệ thống khái niệm của chúng ta suy nghĩ và hành động, về cơ bản, về bản chất có tính chất ẩn dụ… Các khái niệm của chúng ta tri giác được. Nó cấu trúc lại cách chúng ta ứng xử trong đời sống và cấu trúc cả cách chúng ta quan hệ với những người khác. Ông đã dùng các ẩn dụ so sự tranh luận (argument), theo đó thì tranh luận là chiến tranh, để chứng minh cho nhận xét trên. Theo ông, ẩn dụ này chi phối cách chúng ta nhận thức về tranh luận và người tranh luận với chúng ta. Chúng ta xem người tranh luận với chúng ta là đối phương của mình. Chúng ta tấn công quan điểm của anh ta vào bảo vệ trận địa của mình. Chúng ta dựng lên và dùng những chiến lược. Nếu chúng ta thấy luận điểm của chúng ta không bảo vệ được thì chúng ta có thể bỏ luận điểm đó và chọn một chiến tuyến tấn công khác. Một khái niệm khác mà G. Lakoff dẫn ra để chứng minh rằng ẩn dụ không chỉ có vai trò đối với ngôn ngữ mà nó còn chi phối nhận thức của con người và từ đó chi phối hành động của con người là ẩn dụ thời gian là tiền bạc. Vì nhận thức về thời gian như là tiền bạc. Đó là thói quen trả lương cho người theo giờ, theo tháng, theo năm…Các cuộc nói nói chuyện bằng điện thoại, tiền thuê khách sạn tính theo thời gian, rồi tiền lời, tiền trả nợ cho xã hội tính theo thời gian…Người ta hiểu và thể nghiệm thời gian như một loại sự vật mà người ta có thể tiêu, có thể lãng phí, có thể lập thành quỹ, có thể đầu tư một cách khôn khéo hoặc dại dột, có thể tiết kiệm hay phung phí. Toàn bộ những cái đó đều bị chi phối bởi cái ẩn dụ trên.

Cũng trong công trình nghiên cứu của mình, G. Lakoff đã khẳng định rằng: chức năng đầu tiên của ẩn dụ là cung cấp cho chúng ta một cách hiểu bộ phận về một loại kinh nghiệm khác và chức năng này có thể vận dụng vào việc hiểu những sự giống nhau đã tồn tại từ trước ngoài ẩn dụ, bao gồm cả sự sáng tạo ra những sự giống nhau mới, nghĩa là việc lý giải, hiểu biết những sự giống nhau từ trước, những sự sáng tạo ra những cái giống nhau mới cũng là theo nguyên tắc chúng ta hiểu sự giống nhau này dựa trên sự giống nhau khác.

Như vậy, G. Lakoff không những khẳng định ẩn dụ không chỉ là những vấn đề của ngôn ngữ mà còn là vấn đề tư duy, nhận thức: đó là có thể nhận thức sự vật này qua qua kinh nghiệm hiểu biết vè sự vật khác nếu chúng giống nhau.

b. Cùng với sự phát triển của đời sống xã hội, nhận thức của con người ngày càng được nâng cao. Con người ngày càng phát hiện ra nhiều sự vật, hiện tượng xung quanh mình và các sự vật hiện tượng đó ngày càng được nhận thức toàn diện, sâu sắc hơn. Nhưng số lượng từ ngữ để biểu hiện những nhận thức đó thì còn có hạn. Do đó, buộc phải có những cách thức khác nhau để dùng số lượng hữu hạn các từ để thoả mãn nhu cầu ngày càng tăng của nhận thức. Như vậy, ẩn dụ đã góp phàn làm cho ngôn ngữ đáp ứng được sự phát triển ngày càng cao của nhận thức con người.

c. Có rất nhiều sự vật, hiện tượng hay những phương diện, khía cạnh khác nhau của các sự vật, hiện tượng nhận thức bằng phương thức ẩn dụ. Trong khoa học tự nhiên có rất nhiều ví dụ chứng tỏ điều này. Có thể dẫn ra đây một hiện tượng như sau: Để tìm ra những quy luật của dòng điện, người ta ví dòng điện như dòng nước. Đây là một ẩn dụ. Trên cơ sở đó những quy luật của dòng điện đi qua dây dẫn có thiết diện nhỏ thì điện trở lớn, ngược lại dòng điện đi qua dây dẫn lớn tức là thiết diện lớn thì điện tích nhỏ. Điều đó giồng như dòng nước khi đi qua ống dẫn có thiết diện lớn thì sức cản đối với dòng nước sẽ nhỏ và ngược lại. Như vậy, để nhận thức về dòng điện là cái mắt thường không nhìn thấy được, người ta so sánh với dòng nước là cái có thể nhìn thấy được.

Hay hai khái niệm trường hấp dẫn, trường điện từ cũng được nhận thức trên cơ sở ẩn dụ. Trường “là một khoảng đất rộng, bằng phẳng dùng làm nơi tiến hành một loại hoạt động nhất định, có đông người tham gia, thường là thi đấu hoặc tập luyện như trường đua, trường bắn”. (Theo Từ điển tiếng Việt, Hoàng Phê chủ biên, Nxb Khoa học xã hội, 1994). Trường hấp dẫn, trường điện từ là hai khái niệm trừu tượng, nhưng giống trường ở chỗ đều là một khoảng không gian nhất định và trong đó tồn tại một cái gì đó nhất định. Do đó, để hiểu hai khái niệm này người ta đã dùng hai khái niệm trường để nhận thức chúng. Và trường hấp dẫn, trường điện từ được hiểu như sau: “Dạng vật chất tồn tại trong một khoảng không gian mà vật nào trong đó cũng chịu tác động của một lực” (dẫn theo từ điển trên, tr. 1057).

Tương tự như vậy hai hiện tượng sóng điện từ và sóng âm cũng được nhận thức qua khái niệm sóng. Nhờ phương thức ẩn dụ người ta coi sóng điện từ và sóng âm như dòng nước. Sóng điện từ “là sự lan truyền trong không gian của điện từ với tốc độ hữu hạn”. Sóng âm “là giao động cơ học truyền đi trong môi trường đàn hồi kích thích được thần kinh thính giác”. Hai loại sóng này không thể nhận biết bằng các giác quan của con người, mà phải nhờ các thiết bị đặc biệt ghi lại hình ảnh sự tồn tại của nó. Nó giống nước ở sự giao động dâng lên, hạ xuống và đều ở trong một môi trường, một không gian. Khi được ví với sóng nước, hai khái niệm trên được nhận thức một cách dễ dàng hơn.

Phần trung tâm của nguyên tử, nơi tập trung hầu hết các khối lượng mang điện tích dương được gọi là hạt nhân. Nhờ ẩn dụ này (coi phần nói trên là hạt nhân giống như hạt quả, mà sự vật trừu tượng trên dễ được nhận thức hơn. Sở dĩ được gọi là hạt nhân vì nó giống nhân của hạt ở vị trí bên trong và vì chức năng quan trọng của nhân đối với hạt.

Tương tự như vậy, khái niệm nhân tế bào cũng được nhận thức rõ hơn qua phương thức ẩn dụ. Đây là bộ phận ở giữa tế bào, thường hình cầu, có chức năng quan trọng trong hoạt động sống, sinh sản và di truyền của tế bào. Bộ phận này không thể quan sát bằng mắt thường. Như vậy, khi được gọi là nhân bộ phận này sẽ dễ dàng nhận thức hơn.

Những thí dụ phân tích trên cho thấy chức năng quan trọng của ẩn dụ đối với nhận thức. Nhờ ẩn dụ, người ta có thể hiểu, có thể nhận thức những hiện tượng, sự vật chưa biết qua các hiện tượng, sự vật đã biết bằng cách so sánh ngầm giữa chúng. Vì bản chất của ẩn dụ là so sánh, do đó chức năng nhận thức của so sánh chính là chức năng nhận thức của ẩn dụ.

Ẩn dụ là một cách thức để con người nhận thức thế giới. Tìm hiểu chức năng của ẩn dụ đối với nhận thức sẽ giúp cho việc hiểu rõ hơn chức năng của ẩn dụ đối với ngôn ngữ.

Tóm lại, rất nhiều kinh nghiệm và hoạt động của chúng ta có bản chất là ẩn dụ. Phần lớn hệ thống khái niệm của chúng ta được hệ thống trong các ẩn dụ, bởi vì chúng ta phát hiện ra những sự giống nhau theo các phạm trù của hệ thống khái niệm. Ẩn dụ là nét độc đáo của ngôn ngữ tự nhiên. Năng lực hiểu các ẩn dụ và dùng được các ẩn dụ là dấu hiệu về khả năng ngôn ngữ của con người. Do đó ẩn dụ không chỉ là vấn đề của ngôn ngữ mà còn là vấn đề của tư duy, của nhận thức của con người.

Tài liệu tham khảo Tiếng Việt

1. Đỗ Hữu Châu – Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt, Nxb. GD, H, 1981.

2. Nguyễn Thiện Giáp – Từ vựng học tiếng Việt, Nxb. GD, H, 1998.

3. Hoàng Phê chủ biên – Từ điển tiếng Việt, Nxb. KHXH, 1994.

4. Đỗ Xuân Thảo – Lê Hữu Tỉnh – Giáo trình tiếng Việt 2 (Hệ từ xa, bậc tiểu học), Nxb, ĐHSP Hà Nội, 1998.

Tiếng Anh

1. Aristotle – Thi pháp học. Tạp chí Văn học, số 1. 1997.

2. Asher R. E (Ed. In-Chief) – The Encyclopedia of Language and Linguistics (mục từ Metaphor). Tập V. Pergamon Press, New York, 1994.