Ví Dụ Về Chức Năng Giáo Dục Của Đạo Đức / Top 11 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 2/2023 # Top View | Phauthuatthankinh.edu.vn

Giải Pháp Về Giáo Dục Đạo Đức Cho Học Sinh Thpt

Giáo dục đạo đức, lối sống cho học sinh thông qua các hoạt động ngoại khóa.

Giáo dục chính trị tư tưởng, phẩm chất đạo đức là nhiệm vụ cốt lõi và có tính chiến lược để nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh nói chung, nhất là bậc học THPT. Tuy nhiên, nhiều trường THPT thường lãng quên hoặc ít quan tâm đến nhiệm vụ này nên các em hạn chế sự hiểu biết về đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước, tình hình thời sự, ảnh hưởng tới tình cảm cách mạng, ý thức trách nhiệm của học sinh.

Nhà trường THPT làm tốt nhiệm vụ giáo dục chính trị, tư tưởng sẽ có tác động tích cực đến việc bồi dưỡng lòng yêu nước, ý thức trách nhiệm của các em. Có nhiều cách để tuyên truyền đường lối chính sách, thời sự cho học sinh qua các tổ chức chính trị của trường, qua các tiết dạy trên lớp của thầy, cô giáo, phổ biến tin tức thời sự vào buổi chào cờ đầu tuần. Các lớp dành khoảng 10 phút đọc báo trước giờ tiết đầu hàng ngày, bản tin nhà trường ghi những nội dung thời sự hàng ngày.

Hàng năm, Chi bộ, Đảng bộ nhà trường có kế hoạch bồi dưỡng về đường lối, chủ trương, chính sách pháp luật của Đảng, Nhà nước cho học sinh. Nội dung bồi dưỡng thiết thực, phù hợp tâm sinh lý học sinh THPT.

Cùng đó, xây dựng tổ chức đoàn trong trường học vững mạnh là khâu mấu chốt. Đoàn có trách nhiệm giáo dục, rèn luyện ĐVTN không sa vào các tệ nạn xã hội, thực hiện nghiêm túc luật pháp của Nhà nước, có nếp sống văn hóa lành mạnh, gương mẫu trong học tập và sinh hoạt.

Đoàn trường cần tổ chức nhiều nội dung, hình thức để ĐVTN gắn bó với đời sống xã hội như bảo vệ môi trường, di sản, làm công tác từ thiện, đảm nhận những công trình do nhà trường phát động. Bên cạnh đó cần chú trọng xây dựng tập thể, cá nhân tiêu biểu trong rèn luyện phẩm chất đạo đức, ý chí trong học tập để tạo động lực thúc đẩy phong trào thi đua dạy tốt, học tốt.

Đổi mới dạy, học môn Giáo dục công dân

Môn Giáo dục công dân (GDCD) có ưu thế trong việc giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, kỹ năng sống cho học sinh. Hiện nay, ở các trường THPT, việc dạy và học môn học này chưa có chất lượng. Nội dung, chương trình ít có sự đổi mới, còn nặng tính hàn lâm, thiếu kiến thức thực tế cuộc sống. Phương pháp giảng dạy của các thầy, cô giáo thiếu sinh động, nặng về lý thuyết, không sát với cuộc sống và tâm tư, tình cảm của học sinh.

Bản thân học sinh chưa coi trọng việc học tập môn GDCD vì không phải môn thi tốt nghiệp. Sự chỉ đạo giảng dạy, học tập môn học này của lãnh đạo nhà trường ít được quan tâm rút kinh nghiệm. Cơ sở vật chất phục vụ cho việc giảng dạy còn thiếu.

Toàn tỉnh có 48 trường THPT, trong đó giáo viên GDCD có 103 người, giáo viên dạy giỏi 15, chiếm 14,6%, còn thiếu 3 giáo viên. Trước yêu cầu đổi mới, nâng cao chất lượng giảng dạy môn học này, đội ngũ giáo viên phải được đào tạo chuyên sâu về kiến thức và phương pháp giảng dạy. Trong chương trình đào tạo bồi dưỡng, giáo viên được quán triệt các quan điểm, đường lối của Đảng về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo.

Giáo viên dạy môn GDCD phải có bản lĩnh chính trị vững vàng, lối sống trong sáng, gương mẫu, tâm huyết, trách nhiệm, có tình thương yêu học sinh, chân tình cởi mở, dân chủ, thân thiện. Nội dung chương trình đào tạo bồi dưỡng sát với yêu cầu nhà trường THPT, tạo sự hứng thú, ham mê giảng dạy, học tập của thầy, cô giáo và học sinh. Có những chính sách chế độ ưu tiên đối với giáo viên môn GDCD nhằm nâng cao vị thế, trách nhiệm. Làm tốt khâu đào tạo bồi dưỡng giáo viên sẽ tạo được chất lượng dạy và học môn học này.

Phối hợp nhà trường, gia đình và xã hội

Học sinh Trường THPT Dân lập Nguyên Hồng (TP Bắc Giang) duy trì việc đọc sách báo đầu giờ học. Ảnh: Đỗ Quyên.

Xây dựng quy chế, nguyên tắc, phương pháp tổ chức mối quan hệ phối hợp giữa nhà trường, gia đình, xã hội trong giáo dục đạo đức cho học sinh THPT là nhiệm vụ quan trọng. Sự phối hợp này không chặt chẽ, thiếu thường xuyên sẽ ảnh hưởng lớn đến chất lượng giáo dục và đào tạo.

Để có sự phối hợp tốt, đi vào thực chất bền vững, khâu then chốt là phải xây dựng quy tắc, nội dung phối hợp. Nhà trường xây dựng quy định học sinh học trên tham gia các hoạt động ngoại khóa, giữ gìn cơ sở vật chất nhà trường, môi trường xanh, sạch, đẹp văn minh… Học sinh ở nhà, gia đình có những quy định học tập, lao động, vui chơi, tham gia các hoạt động xã hội. Các đoàn thể chính trị – xã hội ở địa phương có quy định chăm lo giáo dục học sinh, tạo điều kiện cho các em được tham gia hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể thao, bảo vệ môi trường, chăm sóc bảo vệ cây xanh nơi công cộng, giữ gìn an ninh trật tự.

Để việc kết hợp nhà trường, gia đình, xã hội thực sự có hiệu quả khâu quan trọng là xây dựng được cơ chế phối hợp, thành lập ban chỉ đạo điều hành sát sao, chặt chẽ, trách nhiệm vì sự tiến bộ của học sinh. Thành phần ban chỉ đạo gồm lãnh đạo nhà trường, đại diện phụ huynh học sinh, đại diện lãnh đạo đảng, chính quyền, MTTQ ở địa phương. Hằng năm, Ban chỉ đạo xây dựng kế hoạch hoạt động, lịch làm việc.

Trong công tác phối hợp không chỉ thực hiện mục đích, yêu cầu, nội dung phương châm, phương pháp giáo dục mà còn thể hiện tính thực tiễn, tính khoa học, đặc biệt là giáo dục đạo đức học sinh THPT.

Nguyễn Ngọc Sơn

(Chủ tịch Hội Cựu giáo chức tỉnh Bắc Giang)

Skkn Giáo Dục Đạo Đức Cho Học Sinh

PHẦN THỨ NHẤT.MỞ ĐẦUI.LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI.Giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức là một bộ phận hết sưc quan trọng trong quá trình giáo dục rèn luyện nhân cách học sinh. Đạo đức được coi là nền tảng trong phẩm chất, nhân cách, là cái gốc của con người. Vì thế, trong công tác giáo dục ở nhà trường phải luôn chú trọng cả đức lẫn tài: Việc dạy chữ phải kết hợp với dạy người, dạy nghề nhằm rèn luyện học sinh trở thành con người phát triển toàn diện.Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, với xu thế toàn cầu hoá, hoà nhập khu vực và quốc tế, tận dụng khoa học kỹ thuật và công nghệ để tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước thắng lợi; yêu cầu đòi hỏi nhân tài cho đất nước ngày càng cao hơn, chất lượng hơn.Vì vậy, hơn bao giờ hết nhận thức và hành động của việc “giáo dục đạo đức phải chiếm vị trí hàng đầu trong toàn bộ công tác giáo dục học sinh”.Từ nhận thức đó, là một giáo viên Tổng Phụ Trách Đội bản thân tôi luôn có suy nghĩ, trăn trở, tìm ra các biện pháp có sức thuyết phục trong công tác giáo dục đạo đức cho học sinh. Đó là lý do tôi chọn đề tài này.II. NHIỆM VỤ CỦA ĐỀ TÀI: Nghiên cứu những biện pháp giáo dục đạo đức cho học sinh, kết hợp kinh nghiệm bản thân, nhằm tìm ra các biện pháp thích hợp, vận dụng có hiệu quả trong việc nâng cao chất lượng đạo đức trong học sinh ở trường THCS.III.ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU:– Học sinh trường THCS.IV.PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:– Nghiên cứu lý luận về giáo dục đạo đức của học sinh thông qua quá trình theo dõi, giảng dạy và sinh hoạt Đoàn Đội– Phương pháp điều tra, khảo sát, thống kê, trao đổi và tổng kết các năm học, kinh nghiệm của các đồng chí giáo viên chủ nhiệm và bản thân qua các năm.

PHẦN THỨ 2: NỘI DUNGCHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC HỌC SINH THCS.I. CƠ SỞ LÝ LUẬN.– Theo quan niệm của Mác, đạo đức là một yếu tố trong ý thức xã hội, trong đời sống tinh thần của con người. Về lý luận, nó là một bộ phận của kiến thức xã hội, được xây dựng trên cơ sở kinh tế- xã hội. Đạo đức bao gồm các tri thức về kĩ năng, các chuẩn mực và phẩm chất đạo đức. Như vậy, đạo đức tồn tại trong mọi dạng ý thức, hoạt động và giao lưu trong mọi hoạt động sống của con người. Đạo đức được biểu hiện dưới dạng những tư tưởng, những quan điểm của con người; đồng thời là những nguyên tắc, tiêu chuẩn hướng con người điều chỉnh hành vi của mình trong mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên, con người với con người, con người với xã hội. Việc ý thức được đầy đủ và định hướng rõ rệt về tính chất, nội dung của chuẩn mực đạo đức, của các mối quan hệ trong cuộc sống mỗi con người đều có khả năng ảnh hưởng tới sự hình thành và phát triển nhân cách của con người đó.Trong đạo đức cách mạng, Bác Hồ đặc biệt rất chú ý đến cặp phạm trù “Đức” và “Tài”. Người cho: “Đức phải đặt trước tài” và “Phải có chính trị trước rồi mới có chuyên môn”. Chính trị là đức , chuyên môn là tài. Chính vì vậy, ngoài việc trang bị những tri thức khoa học, nhà trường cần phải đặc biệt đến giáo dục đạo đức cách mạng cho học sinh để trong hành trang lập thân, lập nghiệp, các em có đủ đức, đủ tài như Bác Hồ đã dạy “Có tài mà không có đức là người vô dụng, có đức mà không có tài làm việc gì cũng khó”. Tài và đức trở thành yếu tố thiết yếu tạo nên sự phát triển cân đối, hài hoà của mỗi con người.

Xét về mặt tâm lý, thì học sinh trung học cơ sở là lứa tuổi thiếu niên, thanh niên thường đam mê những cái mới lạ, cho nên các em tiếp cận rất nhanh, nhạy cảm với cái mới, cái đẹp, cái hay. Học sinh là những người thích tìm tòi, sáng tạo, biết kết hợp theo sở thích và lợi ích cho nên các em thường nản chí trước những khó khăn, rất ưa chuộng hình thức và ít xem đến kết quả, xa rời với thực tiễn cuộc sống. Cho nên quan điểm giáo dục đaọ đức cho học sinh nói chung là giáo dục lòng yêu thương, quý trọng mọi người, biết đoàn kết anh em, bè bạn.Vì thế ta phải có phương pháp giáo dục sao cho sát với thực tế, phù hợp với đối tượng, nhiệm vụ cụ thể. Có như vậy

Nêu Ví Dụ Về 5 Chức Năng Của Tiền Tệ Câu Hỏi 37236

1.Thước đo giá trị

Mỗi vật phẩm đều có giá trị khác nhau và được so sánh bằng giá trị của tiền tệ. Một đôi giày bảo hộ có giá trị bằng 5 xu ( tiền xu ngày xưa được làm từ nhôm). Một cuốn sách có giá trị bằng 1 đồng (tiền đồng được đúc từ đồng). Mà 1 đồng cũng có giá trị bằng 10 xu.Vì thế có thể nói Giá trị hàng hóa tiền tệ (vàng) thay đổi không ảnh hưởng gì đến “chức năng” tiêu chuẩn giá cả của nó.

2.Phương tiện lưu thông

Ngày xưa Việt Nam lưu hành những đồng tiền làm bằng nhôm. Để thuận tiện người ta đã đục lỗ ở giữa đồng tiền để tiện lưu trữ và đến. Những đồng tiền bị đục lỗ đó vẫn có giá trị lưu thông trong xã hội ngày đó.

Như vậy, giá trị thực của tiền tách rời giá trị danh nghĩa của nó. sở dĩ có tình trạng này vì tiền làm phương tiện lưu thông chỉ đóng vai trò trong chốc lát. Người ta đổi hàng lấy tiền rồi lại dùng nó để mua hàng mà mình cần. Làm phương tiện lưu thông, tiền không nhất thiết phải có đủ giá trị.

Lợi dụng tình hình đó, khi đúc tiền nhà nước tìm cách giảm bớt hàm lượng kim loại của đơn vị tiền tệ. Giá trị thực của tiền đúc ngày càng thấp so với giá trị danh nghĩa của nó. Thực tiễn đó dẫn đến sự ra đời của tiền giấy. Bản thân tiền giấy không có giá trị mà chỉ là ký hiệu của giá trị, do đó việc in tiền giấy phải tuân theo quy luật lưu thông tiền giấy.

3.Phương tiện cất trữ

Người giàu ngày xưa hay có thói quen cất trữ vàng, bạc trong hũ, trong rương. Bạn dễ dàng nhìn thấy trong các phim truyện xưa, cổ tích. Ngày nay cũng có nhiều người có thói quen cất trữ tiền trong ngân hàng. Việc làm này không đúng vì tiền cất giữ phải là tiền có giá trị như tiền vàng, bạc.

4.Phương tiện thanh toán

Hiện nay ngân hàng điều cho vay tín dụng. Bạn dễ dàng trở thành con nợ của ngân hàng nếu tiêu xài không đúng cách.

6.Tiền tệ thế giới

Hiện nay ngành du lịch phát triển, mọi người dễ dàng du lịch nước ngoài. Khi đi du lịch bạn cần đổi tiền tệ của mình sang tiền tệ nước bạn. Tỷ giá hối đoái dự vào nền kinh tế của các nước nên có giá trị khác nhau. Hiện tại 1usd = 23.000 VNĐ…

Chức Năng Của Tiền Tệ, Ví Dụ Cụ Thể?

Tiền là thứ dùng để trao đổi lấy hàng hóa và dịch vụ nhằm thỏa mãn bản thân và mang tính dễ thu nhận (nghĩa là mọi người đều sẵn sàng chấp nhận sử dụng). Tiền là một chuẩn mực chung để có thể so sánh giá trị của các hàng hóa và dịch vụ. Thông qua việc chứng thực các giá trị này dưới dạng của một vật cụ thể (thí dụ như tiền giấy hay tiền kim loại) hay dưới dạng văn bản (dữ liệu được ghi nhớ của một tài khoản) mà hình thành một phương tiện thanh toán được một cộng đồng công nhận trong một vùng phổ biến nhất định. Một phương tiện thanh toán trên nguyên tắc là dùng để trả nợ. Khi là một phương tiện thanh toán tiền là phương tiện trao đổi chuyển tiếp vì hàng hóa hay dịch vụ không thể trao đổi trực tiếp cho nhau được.

Người ta cũng có thể nhìn tiền như là vật môi giới, biến việc trao đổi trực tiếp hàng hóa và dịch vụ, thường là một trao đổi phải mất nhiều công sức tìm kiếm, thành một sự trao đổi có 2 bậc.

Tiền thường được nghiên cứu trong các lý thuyết về kinh tế quốc dân nhưng cũng được nghiên cứu trong triết học và xã hội học Định nghĩa

Tiền ra đời từ nhu cầu kinh tế thực tế của loài người khi mà nền sản xuất đạt đến một trình độ nhất định và con người đã có thể tự do đi lại trong một phạm vi lãnh thổ tương rộng lớn. Khi đó, thay vì phải chuẩn bị hành lý cồng kềnh cho chuyến đi dài ngày, con người chỉ cần mang theo một lượng nhỏ kim loại quý hoặc tiền được ưa chuộng ở nhiều nơi để đổi cho mình những nhu yếu phẩm cần thiết. Từ đó các hoạt động thương mại đã ra đời, tiền tệ được quy ước và ban hành, quản lý bởi nhà nước. Đổi lại, nhà nước có quyền thu thuế thừ các hoạt động thương mại. Nói một cách chặt chẽ thì tiền chỉ là những gì mà luật pháp bắt buộc phải công nhận là một phương tiện thanh toán. Trong kinh tế học, có một số khái niệm về tiền.

* Tiền mặt: là tiền dưới dạng tiền giấy và tiền kim loại. * Tiền gửi: là tiền mà các doanh nghiệp và cá nhân gửi vào ngân hàng thương mại nhằm mục đích phục vụ các thanh toán không dùng tiền mặt. Chúng có thể dẽ dàng chuyển thành tiền mặt. * Chuẩn tệ: là những tài sản có thể dễ dàng chuyển thành tiền, chẳng hạn như trái phiếu, kỳ phiéu, hối phiếu, tiền tiết kiệm, ngoại tệ.