Ví Dụ Về Chức Năng Của Ngân Hàng Thương Mại / Top 3 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 2/2023 # Top View | Phauthuatthankinh.edu.vn

Ngân Hàng Thương Mại Là Gì? Chức Năng Của Ngân Hàng Thương Mại

Ngân hàng thương mại là gì?

Ngân hàng thương mại (commercial bank ) Theo nghĩa rộng, khái niệm này dùng để chỉ các định chế tài chính được phép nhận tiền gửi và cho vay dưới nhiều hình thức và điều kiện khác chúng tôi nghĩa hẹp, khái niệm này dùng để chỉ các ngân hàng tổng hợp thực hiện các nghiệp vụ như nhận tiền gửi viết séc, tiền gửi tiết kiệm cầm cố, cho vay (thường là ngắn hạn), môi giới chứng khoán v,v….

Chức năng trung gian tín dụng

Chức năng trung gian tín dụng được xem là chức năng quan trọng nhất của ngân hàng thương mại. Khi thực hiện chức năng trung gian tín dụng, ngân hàng thương mại đóng vai trò như là cầu nối giữa đơn vị thặng dư và đơn vị thâm hụt trong nền kinh tế. Với chức năng này, ngân hàng thương mại vừa đóng vai trò nhận tiền gửi, vừa đóng vai trò là người cho vay và hưởng lợi nhuận là khoản chênh lệch giữa lãi suất nhận gửi và lãi suất cho vay và góp phần tạo lợi ích cho tất cả các bên tham gia: người gửi tiền và người đi vay… Nhận tiền gửi và cho vay luôn là hoạt động quan trọng nhất của ngân hàng thương mại, nó mang đến lợi nhuận lớn nhất cho ngân hàng thương mại.

Chức năng trung gian thanh toán

Ở đây ngân hàng thương mại đóng vai trò là thủ quỹ cho các doanh nghiệp và cá nhân, thực hiện các thanh toán theo yêu cầu của khách hàng như trích tiền từ tài khoản tiền gửi của họ để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ hoặc nhập vào tài khoản tiền gửi của khách hàng tiền thu bán hàng và các khoản thu khác theo lệnh của họ.

Các ngân hàng thương mại cung cấp cho khách hàng nhiều phương tiện thanh toán tiện lợi cả ở trong nước hay ở nước ngoài như séc, ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu, thẻ rút tiền, thẻ thanh toán, thẻ tín dụng… Tùy theo nhu cầu, khách hàng có thể chọn cho mình phương thức thanh toán phù hợp. Nhờ đó mà các chủ thể kinh tế không phải giữ tiền trong túi, mang theo tiền để gặp chủ nợ, gặp người phải thanh toán dù ở gần hay xa mà họ có thể sử dụng một phương thức nào đó để thực hiện các khoản thanh toán. Do vậy các chủ thể kinh tế sẽ tiết kiệm được rất nhiều chi phí, thời gian, lại đảm bảo thanh toán an toàn. Chức năng này vô hình trung đã thúc đẩy lưu thông hàng hóa, đẩy nhanh tốc độ thanh toán, tốc độ lưu chuyển vốn, từ đó góp phần phát triển kinh tế.

Chức năng tạo tiền

Tạo tiền là một chức năng quan trọng, phản ánh rõ bản chất của ngân hàng thương mại. Với mục tiêu là tìm kiếm lợi nhuận như là một nhiệm vụ chính cho sự tồn tại và phát triển của mình, các ngân hàng thương mại với nghiệp vụ kinh doanh mang tính đặc thù của mình đã vô hình trung thực hiện chức năng tạo tiền cho nền kinh tế.

Chức năng tạo tiền được thực thi trên cơ sở hai chức năng khác của ngân hàng thương mại là chức năng tín dụng và chức năng thanh toán. Thông qua chức năng trung gian tín dụng, ngân hàng sử dụng số vốn huy động được để cho vay, số tiền cho vay ra lại được khách hàng sử dụng để mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ hay kinh doanh trong khi số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng vẫn được coi là một bộ phận của tiền giao dịch, được họ sử dụng để mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ… Với chức năng này, hệ thống ngân hàng thương mại đã làm tăng tổng phương tiện thanh toán trong nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu thanh toán, chi trả của xã hội. Ngân hàng thương mại tạo tiền phụ thuộc vào tỉ lệ dự trữ bắt buộc của ngân hàng trung ương đã áp dụng đối với ngân hàng thương mại. Do vậy ngân hàng trung ương có thể tăng tỉ lệ này khi lượng cung tiền vào nền kinh tế lớn.

Các Chức Năng Của Ngân Hàng Thương Mại

Kết quả

Các chức năng của ngân hàng thương mại:

Ngân hàng thương mại có các chức năng chủ yếu sau:

Khi thực hiện chức năng trung gian tín dụng, ngân hàng thương mại đóng vai trò là “cầu nối” giữa người dư thừa vốn và người có nhu cầu về vốn.

Thông qua việc huy động các khoản vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế, ngân hàng thương mại hình thành nên quỹ cho vay để cung cấp tín dụng cho nền kinh tế. Với chức năng này, ngân hàng thương mại vừa đóng vai trò là người đi vay vừa đóng vai trò là người cho vay.

Với chức năng trung gian tín dụng, ngân hàng thương mại đã góp phần tạo lợi ích cho tất cả các bên tham gia: người gửi tiền, ngân hàng và người đi vay, đồng thời thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế.

* Đối với người gửi tiền, họ thu được lợi từ khoản vốn tạm thời nhàn rỗi của mình dưới hình thức lãi tiền gửi mà ngân hàng trả cho họ. Hơn nữa, ngân hàng còn đảm bảo cho họ sự an toàn về khoản tiền gửi và cung cấp các dịch vụ thanh toán tiện lợi.

* Đối với người đi vay, họ sẽ thoả mãn được nhu cầu vốn để kinh doanh, chi tiêu, thanh toán mà không phải chi phí nhiều về sức lực, thời gian cho việc tìm kiếm nơi cung ứng vốn tiện lợi, chắc chắn và hợp pháp.

* Đối với ngân hàng thương mại, họ sẽ tìm kiếm được lợi nhuận cho bản thân mình từ chênh lệch giữa lãi suất cho vay và lãi suất tiền gửi hoặc hoa hồng môi giới. Lợi nhuận này chính là cơ sở để tồn tại và phát triển của ngân hàng thương mại.

* Đối với nền kinh tế, chức năng này có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế vì nó đáp ứng nhu cầu vốn để đảm bảo quá trình tái sản xuất được thực hiện liên tục và để mở rộng quy mô sản xuất. Với chức năng này, ngân hàng thương mại đã biến vốn nhàn rỗi không hoạt động thành vốn hoạt động, kích thích quá trình luân chuyển vốn, thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển.

Chức năng trung gian tín dụng được xem là chức năng quan trọng nhất của ngân hàng thương mại vì nó phản ánh bản chất của ngân hàng thương mại là đi vay để cho vay, nó quyết định sự tồn tại và phát triển của ngân hàng. Đồng thời nó cũng là cơ sở để thực hiện các chức năng khác.

Ngân hàng thương mại làm trung gian thanh toán khi nó thực hiện thanh toán theo yêu cầu của khách hàng như trích tiền từ tài khoản tiền gửi của họ để thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ hoặc nhập vào tài khoản tiền gửi của khách hàng tiền thu bán hàng và các khoản thu khác theo lệnh của họ. Ở đây ngân hàng thương mại đóng vai trò là người “thủ quỹ” cho các doanh nghiệp và cá nhân bởi ngân hàng là người giữ tài khoản của họ.

Ngân hàng thương mại thực hiện chức năng trung gian thanh toán trên cơ sở thực hiện chức năng trung gian tín dụng vì tiền đề để khách hàng thực hiện thanh toán qua ngân hàng chính là một phần tiền gửi trước đó. Việc các ngân hàng thương mại thực hiện chức năng trung gian thanh toán có ý nghĩa rất to lớn đối với toàn bộ nền kinh tế. Với chức năng này, các ngân hàng thương mại cung cấp cho khách hàng nhiều phương tiện thanh toán thuận lợi. Nhờ đó, các chủ thể kinh tế sẽ tiết kiệm được rất nhiều chi phí, thời gian đi tới gặp chủ nợ, người phải thanh toán và lại đảm bảo được việc thanh toán an toàn. Qua đó, chức năng này thúc đẩy lưu thông hàng hoá, đẩy nhanh tốc độ thanh toán, tốc độ lưu chuyển vốn, từ đó góp phần phát triển kinh tế. Đồng thời, việc thanh toán không dùng tiền mặt qua ngân hàng đã giảm được lượng tiền mặt trong lưu thông, dẫn đến tiết kiệm chi phí lưu thông tiền mặt như chi phí in ấn, đếm nhận, bảo quản tiền…

Đối với ngân hàng thương mại, chức năng này góp phần tăng thêm lợi nhuận cho ngân hàng thông qua việc thu lệ phí thanh toán. Thêm nữa, nó lại làm tăng nguồn vốn cho vay của ngân hàng thể hiện trên số dư có trong tài khoản tiền gửi của khách hàng. Chức năng này cũng chính là cơ sở hình thành chức năng tạo tiền của ngân hàng thương mại.

Khi có sự phân hoá trong hệ thống ngân hàng, hình thành nên ngân hàng phát hành và các ngân hàng trung gian thì ngân hàng trung gian không còn thực hiện chức năng phát hành giấy bạc ngân hàng nữa. Nhưng với chức năng trung gian tín dụng và trung gian thanh toán, ngân hàng thương mại có khả năng tạo ra tiền tín dụng (hay tiền ghi sổ) thể hiện trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng tại ngân hàng thương mại. Đây chính là một bộ phận của lượng tiền được sử dụng trong các giao dịch.

Ban đầu từ những khoản tiền dự trữ tăng lên, ngân hàng thương mại sử dụng để cho vay bằng chuyển khoản, sau đó những khoản tiền này sẽ được quay lại ngân hàng thương mại một phần khi những người sử dụng tiền gửi vào dưới dạng tiền gửi không kỳ hạn. Quá trình này tiễp diễn trong hệ thống ngân hàng và tạo nên một lượng tiền gửi (tức tiền tín dụng) gấp nhiều lần số dự trữ tăng thêm ban đầu. Mức mở rộng tiền gửi phụ thuộc vào hệ số mở rộng tiền gửi. Hệ số này, đến lượt nó chịu tác động bởi các yếu tố: tỷ lệ dự trữ bắt buộc, tỷ lệ dự trữ vượt mức và tỷ lệ giữ tiền mặt so với tiền gửi thanh toán của công chúng.

Với chức năng “tạo tiền”, hệ thống ngân hàng thương mại đã làm tăng phương tiện thanh toán trong nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu thanh toán, chi trả của xã hội. Rõ ràng khái niệm về tiền hay tiền giao dịch không chỉ là tiền giấy do ngân hàng trung ương phát hành ra mà còn bao gồm một bộ phận quan trọng là lượng tiền ghi sổ do các ngân hàng thương mại tạo ra.

Chức năng này cũng chỉ ra mối quan hệ giữa tín dụng ngân hàng và lưu thông tiền tệ. Một khối lượng tín dụng mà ngân hàng thương mại cho vay ra làm tăng khả năng tạo tiền của ngân hàng thương mại, từ đó làm tăng lượng tiền cung ứng.

Các chức năng của ngân hàng thương mại có mối quan hệ chặt chẽ, bổ sung, hỗ trợ cho nhau, trong đó chức năng trung gian tín dụng là chức năng cơ bản nhất, tạo cơ sở cho việc thực hiện các chức năng sau. Đồng thời khi ngân hàng thực hiện tốt chức năng trung gian thanh toán và chức năng tạo tiền lại góp phần làm tăng nguồn vốn tín dụng, mở rộng hoạt động tín dụng.

Nguồn: Ths. Đặng Thị Việt Đức – Ths. Phan Anh Tuấn (Quantri.vn biên tập và hệ thống hóa)

Tiểu Luận Chức Năng Của Ngân Hàng Thương Mại

A- LỜI NÓI ĐẦU Ngày nay, toàn hệ thống ngân hàng ở Việt Nam đã được tổ chức lại từ hệ thống ngân hàng 1 cấp trở thành hệ thống ngân hàng 2 cấp: Cấp 1 bao gồm ngân hàng Trung Ương và các chi nhánh ngân hàng Nhà nước ở 61 tỉnh, thành phố cấp hai bao gồm hệ thống các ngân hàng Thương mại thuộc nhiều thành phần kinh tế. Trong đó NHTM là ngân hàng của các ngân hàng. Nó không có mục đích mưu tìm danh lợi. Nó là trung tâm tác động toàn bộ hoạt động tín dụng, ký thác, tiết kiệm của các ngân hàng trung gian và các định chế tài chính. Bên cạnh đó, NHTM lại là ngân hàng thực hiện nhiều loại nghiệp vụ ngân hàng hơn hết trong số ngân hàng trung gian. Ngày nay, người ta không thể hình dung nổi một nền kinh tế thị trường mà vắng bón các tổ chức tài chính trung gian – có nghĩa là các tổ chức làm chức năng nhỏ chiếc “cầu nối” giữa người cho vay và người đi vay. Trong thực tế, các tổ chức tài chính trung gian được hình thành ở nhiều dạng, nhưng nổi bật trong số đó, hệ thống ngân hàng thương mại chiếm vị trí quan trọng nhất cả về quy mô tài sản và về thành phần các nghiệp vụ. Đồng thời, nó có mối quan hệ đặc biệt khăng khít và gắn bó với ngân hàng Trung ương. Chính vì thấu hiểu được vấn đề này nên em đã chọn đề tài: “Chức năng của ngân hàng Thương mại – mối quan hệ giữa ngân hàng Thương mại với Ngân hàng trung ương”. Do kiến thức còn hạn chế, khả năng hiểu biết thực tế chưa sâu nên chắc chắc bài viết còn nhiều thiếu sót. Vì vậy em rất mong được sự góp ý của thầy cô và các bạn để bài viết được hoàn thiện hơn. Em xin chân thành cảm ơn cô Hoàng Thị Ngọc Thủy đã giúp đỡ, hướng dẫn em hoàn thành bài tiểu luận này. B -NỘI DUNG I. CHỨC NĂNG CỦA NHTM. NHTM là ngân hàng thực hiện nhiều loại nghiệp vụ ngân hàng hơn hết trong số các ngân hàng trung gian. Chức năng của nó thể hiện ở những mặt sau: 1. Cơ chế thanh toán. Đây là một chức năng quan trọng của NHTM thông qua việc sử dụng séc và tín dụng làm hoạt động của mình. Tín dụng là nghiệp vụ phức tạp và gặp nhiều rủi ro nhất. Nó có quan hệ với tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế. Từ lĩnh vực tiêu dùng cá nhân đến sản xuất kinh doanh và một phần tham gia vào đầu tư phát triển. Trong chức năng làm trung gian tín dụng của ngân hàng, việc đảm bảo tiền vay có ý nghĩa không kém phần quan trọng. Điều này xét đến cùng là đảm bảo lợi nhuận cho ngân hàng. Mặt khác, điều này cũng cần thiết cho việc bảo đảm bảo quản tài sản. Bên cạnh đó, séc cũng là một hình thức thanh toán hiện nay rất phổ biến tại các ngân hàng trên thế giới và chiếm một tỷ lệ ngày càng cao trong khối lượng điều động tài nguyên ký thác tại ngân hàng. Về mặt kinh tế, sẽ có 3 công dụng: Là một công cụ rút tiền, là một công cụ chi trả là một công cụ thanh toán bù trù. Hiện nay, và sự phát triển của khoa học kỹ thuật, nhiều phương tiện máy móc hiện đại đã ra đời, ngày càng hỗ trợ đắc lực cho chức năng thanh toán của NHTM. 2. Huy động và tiết kiệm. Một trong những biện pháp thu hút khách hàng đến giao dịch tại các NHTM là hoạt động huy động và tiết kiệm vốn. Vốn được huy động từ nhiều nguồn khác nhau. Có thể là vốn tự tạo của NHTM, có thể là vốn đi vay, có thể là vốn tiền gửi của khách hàng. Số tiền nhàn rỗi ấy được ngân hàng Thương mại sử dụng vào các mục đích khác nhau nhưng mục đích chung là tạo ra lơị nhuận. Đồng thời NHTM cũng bảo đảm lãi suất ở mức độ an toàn nhất cho khách hàng. 3. Mở rộng và cho vay. Khi bước vào hoạt động, hầu hết các NHTM đều có chủ trương đẩy mạnh hoạt động mở rộng và cho vay. Càng hoạt động dưới nhiều hình thức, nhiều lĩnh vực, NHTM càng có khả năng thu hút càng nhiều khách hàng đến gửi tiền, vay tiền. Những lúc nhu cầu về vốn lưu động lớn hơn vốn lưu động tự có, doanh nghiệp phải vay ngân hàng để bù đắp cho đủ nhu cầu. Những doanh nghiệp có nhiều hàng tồn kho hoặc bị khách mua hàng chiếm dụng vốn thì phải vay vốn ngân hàng nhiều hơn. Nhờ có hoạt động cho vay của NHTM mà các doanh nghiệp mới đủ khả năng hoạt động, cũng như nhờ hoạt động cho vay của NHTM mà nhiều hộ gia đình hay nhiều cá nhân mới có thể đủ điều kiện để phát triển sản xuất. 4. Chức năng tạo tiền. Chức năng này được thực hiện thông qua hoạt động cho vay về đầu tư của các NHTM trong mối quan hệ với NHTM. Tiền cho các doanh nghiệp hoặc các đơn vị sản xuất vay, hay tiền sử dụng vào mục đích đầu tư sẽ được quay vòng để tạo ra lợi nhuận. Nếu hệ thống NHTM hoạt động một cách có hiệu quả sẽ kiềm chế được lạm phát, ổn định giá cả, góp phần thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng một cách lành mạnh. 5. Tạo điều kiện cho hoạt động ngoại thương: Trong nền kinh tế thị trường và thời mở cửa như hiện nay, việc thúc đẩy sự phát triển của hoạt động ngoại thương là điều hết sức cần thiết. NHTM có thể tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp nước ngoài đầu tư vào các ngành sản xuất trong nước cũng như giúp các doanh nghiệp trong nước vay vốn hoặc liên kết làm ăn với các doanh nghiệp ở nước ngoài. Điều này có thể làm giảm bớt chi phí, giúp các doanh nghiệp trong nước nắm bắt kịp thời các thành tựu kinh tế kỹ thuật cũng như góp phần làm tăng lợi nhuận trong kinh doanh. 6. Dịch vụ uỷ thác. Chức năng này được ra đời và phát triển khi thu nhập của các cá nhân, các tổ chức kinh tế tăng cao. NHTM lúc này có nhu cầu bảo quản tài sản có giá trị ở mức độ an toàn nhất. II. MỐI QUAN HỆ GIỮA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VỚI NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG. 1. Quyền lực và sự giúp đỡ của NHTƯ đối với NHTM. a. Quyền lực của NHTM đối với NHTM Hoạt động của ngân hàng thương mại bao gồm 3 lĩnh vực nghiệp vụ: Nghiệp vụ nợ (huy động vốn) Nghiệp vụ có (cho vay) Nghiệp vụ môi giới trung gian (dịch vụ thanh toán, đại lý, tư vấn..) Theo các pháp lệnh về ngân hàng của Việt Nam, ngân hàng thương mại làm đủ các nghiệp vụ theo một nguyên tắc gọi là “Ngân hàng tổng hợp” Chính vì những vai trò quan trọng của ngân hàng thương mại nên ngân hàng trung ương các nước đều được luật pháp cho phép có nhiều thẩm quyền đối với ngân hàng thương mại, nhằm mục đích thực thi chính sách tiền tệ, giữ ứng hệ thống ngân hàng lành mạnh, bảo vệ quyền lợi của các thành hần kinh tế, góp phần phát triển kinh tế đất nước. Mối quan hệ cộng sinh, hợp tác thúc đẩy này là không thể phủ nhận. Nó cho phép ngân hàng trung ương có những quyền hạn nhất định đối với ngân hàng thương mại, Và các quyền hạn đó được thể hiện ở các khía cạnh sau: Quyền bắt buộc các ngân hàng thương mại phải ký gửi tại ngân hàng trung ương một phần của tổng số tiền mà họ nhận được từ mọi giới theo một tỷ lệ nhất định. Phần bắt buộc đó gọi là dự trữ bắt buộc. Và ngân hàng Trung ương sẽ ấn định tỷ lệ đó khi tăng, khi giảm tuỳ theo tình hình thực tế. Ngân hàng Trung ương được giao quyền xét đơn xin thành lập các ngana hàng, chế tài các vụ vi phạm luật lệ ngân hàng. Ngân hàng trung ương có nhiệm vụ kiểm soát, thanh tra các ngân hàng trung gian, giằm giúp cho hệ thống ngân hàng hoạt động trên căn bản thanh khiết, trong sạch và lành mạnh, từ đó bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền và quyền lợi chung của xã hội và nền kinh tế. Ngân hàng Trung Ương ấn định các lãi suất, lệ phí, hoa hồng áp dụng cho các ngân hàng trung gian, quy định, những thể lệ điều hành các nghiệp vụ.. b. Sự giúp đỡ của ngân hàng Trung ương đối với NHTM. Như đã nói ở phần đầu, ngân hàng trung ương là hệ thống nằm ở cấp 1. Nó vừa là cơ quan quản lý tiền tệ, tín dụng của chính phủ, vừa là ngân hàng của các ngân hàng và tổ chứ tín dụng. Chính vì vậy mà không chỉ có mối quan hệ trên quyền hạn, ngân hàng trung ương còn có nghĩa vụ giúp đỡ các ngân hàng thương mại, sử dụng các quyền hạn của mình để tạo điều kiện giúp đỡ, thúc đẩy sự phát triển của ngân hàng thương mại sao cho NHTM hoạt động một cách có hiệu quả nhất. Trước hết, ngân hàng trung ương cấp tín dụng cho các ngân hàng trung gian dưới nhiều hình thức như cho vay, mua bán, chiết khấu, tái chiết khấu đối với giấy tờ có giá của ngân hàng thương mại.. Cung cấp những tiện nghi ngân hàng cho các ngân hàng trung gian Giúp các ngân hàng trung gian trong việc thanh toán những món nợ với nhau mà không phải di chuyển tiền bạc bằng cách thiết lập phòng giao bán tại trụ sở của mình. Ngân hàng trung ương còn thành lập trung tâm rủi ro ngân hàng. Trong đó có trung tâm séc không tiền bảo chứng. Trong quan hệ với NHTM, ngoài những thủ tục mang tính chất pháp lý, ngân hàng thương mại phải mở tài khoản tại NHTƯ và phải có một khoản tiền gửi tại NHTM để đảm bảo an toàn và thuận lợi cho hoạt động của mình. 2. Nội dung kinh tế và kỹ thuật nghiệp vụ về mối quan hệ giữa NHTW và NHTM. Trong nền kinh tế thị trường, chính sách tiền tệ xuất phát từ ngân hàng trung ương. Nó là trung tâm tác động toàn bộ hoạt động tín dụng, ký thác, tiết kiệm của các ngân hàng trung gian và các định chế tài chính. Về mục tiêu tiền tệ: Điều hoà khối tiền tệ: điều hoà khối tiền tệ ngày nay có nghĩa là điều chỉnh việc tạo tiền ra sử dụng tiền trong hệ thống ngân hàng 2 cấp. Do việc phân chia hệ thống ngân hàng thành 2 cấp nên do đó có sự phân chia 2 loại tiền: tiền ngân hàng trung ương và tiền ngân hàng. Tiền trung ương là tiền do NHTW độc quyền phát hành, tiền ngân hàng ( tiền tín dụng) là tiền do NHTM tạo ra thông qua việc cấp tín dụng cho nền kinh tế. Hệ thống ngân hàng thương mại không thể tạo ra tiền tín dụng từ hư không mà phải dựa vào tiền trung ương. Một đồng tiền ngân hàng trung ương mà NHTM huy động được tạo khả năng cho NHTM cung ứng cho nền kinh tế số tiền tín dụng gấp nhiều lần, ngược lại mức cung tiền tín dụng của NHTM cũng giảm gấp nhiều lần khi tiền trung ương trong tay họ giảm đi một. Chính vì khả năng tạo ra tiền tín dụng của các NHTM trong việc điều hoà phối tiền tệ, ngân hàng trung ương thường kiểm soát khối dự trữ của NHTM và theo dõi tỷ số giữa các dự trữ của ngân hàng này với tổng số tiền gửi. Như vậy, thông qua việc cung ứng tiền trung ương và các phương tiện trực tiếp hoặc gián tiếp, NHTW hoàn toàn làm chủ khả năng điều hoà khối tiền tệ, cung ứng cho nền kinh tế và đó là lẽ sống của NHTW. III. NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG VÀ VIỆC GIÚP ĐỠ MỞ RỘNG QUY MÔ THỰC TẾ CỦA HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI. Hệ thống ngân hàng thương mại quốc doanh nước ta tuy có mở nhiều chi nhánh nhưng quy mô thực tế còn hạn hẹp, vì tiện nghi ngân hàng còn ngèo nàn về công cụ cũng như về hình thức. Vì vậy dân cư và doanh nghiệp chưa tiếp cận và ứng dụng những tiện nghi đó một cách rộng rãi. Để thu hút và tập hợp được nguồn vốn từ dân cư và từ doanh nghiệp, sau đó chuyển nguồn vốn đó cho các nhà đầu tư, NHTW cần giúp đỡ các ngân hàng thương mại mở rộng quy mô thực tế của hệ thống ngân hàng bằng cách cung ứng những tiện nghi ngân hàng cho mọi người có thể tiếp canạ và sử dụng tiện nghi đó của ngân hàng. Đối với dân cư, những tiện nghi mà NHTM cung ứng hiện nay gồm có tài khoản tiền gửi không kỳ hạn và tài khoản tiền gửi có kỳ hạn. Với tư cách là một trung gian tài chính, NHTM là một doanh nghiệp mà người quản lý của nó đều nhằm tối đa hoá lợi nhuận. Ngân hàng kiếm lợi nhuận bằng cách cho vay và đi vay. Nếu không có khâu trung gian này thì người gửi tiền sẽ không có cả thời gian lẫn trình độ chuyên môn để quyết định cần phải cho vay hoặc đầu tư như thế nào. Đó chính là dịch vụ kinh tế mà ngân hàng cung ứng với tư cách là người trung gian. Đối với doanh nghiệp, ngoài tài hoản gửi sử dụng séc, ngân hàng còn có thể cung ứng tiện nghi khác bằng cách mở tài khoản vãng lai. Đây là tài khoản theo đó ngân hàng cho doanh nghiệp vay một khoản tiền nhất định và doanh nghiệp ngược lại cam kết chuyển những số tiền thu được vào tài khoản này để trừ bớt nợ. Ngoài viẹc cung ứng những tiện nghi ngân hàng cho mọi người cần có thêm những phương tiện chuyển dịch và phân bố rủi ro cho hệ thống ngân hàng thương mại. Một hệ thống ngân hàng hoạt động hoàn hảo còn cung cấp một dịch vụ quan trọng khác. Đó là việc chuyển dịch và phân bố rủi ro. Ngân hàng trung ương có thể góp phần giảm thiếu rủi ro cho các NHTM bằng cách cung ứng những thông tin, cải thiện chất lượng thông tin, tính khả dụng của nó về những người đi vay (nhà doanh nghiệp, công ty…) Một trong phương cách hành động là thiết lập trung tâm rủi ro, là nơi tập trung tất cả thông tin về người đi vay, về ngạch số đi vay, rất bảo đảm, tính sòng phẳng của những người ấy… và cung cấp những thông tin đó cho cơ quan tín dụng. IV. THAY CHO LỜI KẾT Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, hệ thống NHTW cũng như hệ thống NHTM đều có vai trò hết sức quan trọng đối với sự phát triển kinh tế đất nước. Bằng các chức năng đặc biệt của mình, ngân hàng góp phần điều tiết kinh tế, thực thi chính sách tiền tệ, giữ vững hệ thống ngân hàng hoạt động được lành mạnh đồng thời bảo vệ quyền lợi của các doanh nghiệp, công chúng. Đặt trong mối quan hệ tương tác lẫn nhau, ngân hàng thương mại và NHTW đều có vai trò hỗ trợ và giúp đỡ nhau phát triển. NHTW tạo điều kiện thuận lợi, cung cấp phương tiện hoạt động cho NHTM đồng thời NHTM thực hiện chức năng của mình trên phương diện kế tiếp, phát triển hoạt động của NHTW một cách độc lập và đầy hiệu quả. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Giáo trình Tài chính – ĐHQL và KDHN 2. Các nghiệp vụ ngân hàng thương mại – NXB thống kê 3. Thời báo Tài chính – ngân hàng. MỤC LỤC A – Lời nói đầu B – Nội dung I. Chức năng của NHTM II. Mối quan hệ giữa NHTM với NHTW 1. Quyền lực và sự giúp đỡ của NHTW với NHTM 2. Nội dung kinh tế và kỹ thuật nghiệp vụ về mối quan hệ giữa NHTW và NHTM. III. Ngân hàng trung ương và việc giúp đỡ mở rộng quy mô thực tế của hệ thống NHTM. IV. Thay cho lời kết V. Tài liệu tham khảo.

Chức Năng Và Vai Trò Của Ngân Hàng Thương Mại

Trong sự phát triển của nền kinh tế-xã hội, Ngân hàng là một yếu tố không thể thiếu bởi các chức năng cơ bản của nó: là trung gian tài chính, tạo phương tiện thanh toán, trung gian thanh toán

Trung gian tài chính

Ngân hàng là một tổ chức trung gian tài chính với hoạt động chủ yếu là chuyển tiết kiệm thành đầu tư, đòi hỏi sự tiếp xúc với hai loại cá nhân và tổ chức trong kinh tế: Các cá nhân và tổ chức tạm thời thâm hụt chi tiêu (tức là chi tiêu cho tiêu dùng và đầu tư vượt quá thu nhập và vì thế họ là những người cần bổ sung vốn). Các cá nhân và tổ chức thặng dư tạm thời trong chi tiêu (tức là thu nhập hiên tại của họ lớn hơn các khoản chi tiêu cho hàng hóa, dịch vụ và do vậy họ có tiền để tiết kiệm).

Sự tồn tại của hai loại cá nhân và tổ chức trên hoàn toàn độc lập với Ngân hàng, và điều tất yếu là tiền sẽ chuyển từ nhóm thứ hai sang nhóm thứ nhất nếu cả hai cùng có lợi. Khi đó sẽ hình thành nên mối quan hệ tài chính, mà có thể là quan hệ trực tiếp dưới hình thức tín dụng hoặc quan hệ cấp phát, hùn vốn và cũng có thể là quan hệ gián tiếp nếu trong quan hệ trực tiếp bị nhiều giới hạn do không phù hợp về qui mô, thời gian, không gian… Với quan hệ gián tiếp đòi hỏi có sự tham gia của các trung gian tài chính mà với sự chuyên môn hóa họ có thể giảm chi phí giao dịch xuống, làm tăng thu nhập cho người tiết kiệm từ đó mà khuyến khích được tiết kiệm, đồng thời giảm phí tổn tín dụng cho người đầu tư và cũng khuyến khích đầu tư. Trung gian tài chính đã tập hợp những người tiết kiệm và đầu tư, vì vậy giải quyết được mâu thuẫn của quan hệ tài chính trực tiếp.

Đồng thời do sự phân bổ không đều thông tin và năng lực phân tích thông tin thường được gọi là tình trạng “thông tin không cân xứng” làm giảm tính hiệu quả của thị trường và Ngân hàng có năng lực để làm giảm đến mức thấp nhất những sai lệch đó.

Tạo phương tiện thanh toán

Tiền-Vàng có một chức năng quan trọng là làm phương tiện thanh toán trong trao đổi mua bán hàng hóa, dịch vụ, song khi nền sản xuất phát triển cao hơn, lượng phân phối qua lại ngày càng nhiều thì trong thanh toán bằng tiền mặt, vàng gặp nhiều khó khăn và Ngân hàng đã tạo phương tiện thanh toán khi phát hành giấy nhận nợ cho khách hàng, và với những ưu điểm nhất định nó đã trở thành phương tiện thanh toán rộng rãi được nhiều người chấp nhận. Ngoài ra giấy nhận nợ đó còn được thay thế tiền kim loại làm phương tiện lưu thông, phương tiện cất trữ, nó trở thành tiền giấy.

Ngày nay giấy nhận nợ đã được phát triển dưới nhiều hình thức khác nhau như: Séc, kỳ phiếu… đã giúp cho việc thanh toán được diễn ra nhanh gọn và có hiệu quả hơn.

Trung gian thanh toán

Ngân hàng trở thành trung gian thanh toán lớn nhất hiện nay ở hầu hết các quốc gia. Thay mặt cho khách hàng, Ngân hàng thực hiện thanh toán giá trị hàng hóa và dịch vụ, để việc thanh toán nhanh chóng thuận tiện và tiết kiệm chi phí, Ngân hàng đưa ra cho khách hàng nhiều hình thức thanh toán như thanh toán bằng Sec, ủy nhiệm chi, nhờ thu… Cung cấp mạng lưới thanh toán điện tử, kết nối các quỹ và cung cấp tiền giấy khi khách hàng cần. Các Ngân hàng còn thực hiện thanh toán bù trừ với nhau thông qua Ngân hàng trung ương hoặc thông qua các trung tâm thanh toán, công nghệ thanh toán qua Ngân hàng càng đạt hiệu quả cao khi qui mô sử dụng công nghệ đó càng được mở rộng. Nhiều hình thức thanh toán được chuẩn hóa góp phần tạo tính thống nhất trong thanh toán không chỉ giữa các ngân hàng trong một quốc gia mà còn giữa các Ngân hàng trên toàn thế giới. Với các trung tâm thanh toán quốc tế được thiết lập đã làm tăng hiệu quả của thanh toán qua Ngân hàng, biến Ngân hàng trở thành trung tâm thanh toán quan trọng và có hiệu quả, phục vụ đắc lực cho nền kinh tế toàn cầu.