Tác Dụng Của Các Biện Pháp Tu Từ Lớp 9 / Top 11 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 2/2023 # Top View | Phauthuatthankinh.edu.vn

Tác Dụng Của Các Biện Pháp Tu Từ

[Ngữ văn 11]Tác dụng của các biện pháp tu từ

Đề bài : Tìm và phân tích tác dụng của các biện pháp tu từ trong bài hát Đêm thánh ca ta là thác đổ ( TCS ). Đề hơi dài mn thông cảm

Một đêm bước chân về gác nhỏ

Chợt nhớ đóa hoa Tường Vi

Bàn tay ngắt hoa từ phố nọ

Giờ đây đã quên vườn xưa

Một hôm bước qua thành phố lạ

Thành phố đã đi ngủ trưa

Đời ta có khi tựa lá cỏ

Ngồi hát ca rất tự do

Nhiều khi bỗng như trẻ nhớ nhà

Từ những phố xưa tôi về

Ngày xuân bước chân người rất nhẹ

Mùa xuân đã qua bao giờ

Nhiều đêm thấy ta là thác đổ

Tỉnh ra có khi còn nghe

***

Một hôm bước chân về giữa chợ

Chợt thấy vui như trẻ thơ

Đời ta có khi là đóm lửa

Một hôm nhóm trong vườn khuya

Vườn khuya đóa hoa nào mới nở

Đời tôi có ai vừa qua

Nhiều khi thấy trăm nghìn nấm mộ

Tôi nghĩ quanh đây hồ như

Đời ta hết mang điều mới lạ

Tôi đã sống rất ơ hờ

Lòng tôi có đôi lần khép cửa

Rồi bên vết thương tôi quì

Vì em đã mang lời khấn nhỏ

Bỏ tôi đứng bên đời kia

Chợt nhớ đóa hoa Tường Vi

Bàn tay (Hoán dụ) ngắt hoa từ phố nọ

Giờ đây đã quên vườn xưa

Một hôm bước qua thành phố lạ

Thành phố (hoán dụ) đã đi ngủ trưa

Đời ta có khi tựa lá cỏ (so sánh)

Ngồi hát ca rất tự do

Nhiều khi bỗng như trẻ nhớ nhà

Từ những phố xưa tôi về

Ngày xuân bước chân người rất nhẹ

Mùa xuân đã qua bao giờ

Nhiều đêm thấy ta là thác đổ (so sánh)

Tỉnh ra có khi còn nghe

***

Một hôm bước chân về giữa chợ

Một hôm nhóm trong vườn khuya

Vườn khuya đóa hoa nào mới nở

Đời tôi có ai vừa qua

Nhiều khi thấy trăm nghìn nấm mộ

Tôi nghĩ quanh đây hồ như

Đời ta hết mang điều mới lạ

Tôi đã sống rất ơ hờ

Lòng tôi có đôi lần khép cửa(hình như là … hoán dụ)

Rồi bên vết thương (ẩn dụ) tôi quì

Vì em đã mang lời khấn nhỏ

Bỏ tôi đứng bên đời kia

Cố lên nào…!!! Đại học Bách Khoa – Đại học Đà Nẵng D520207

Cuộc đời là những chuyến đi, đừng dừng lại!!!

Cách Nhớ Phân Biệt Các Biện Pháp Tu Từ Lớp 9 Dễ Dàng

Biện pháp tu từ là cách sử dụng ngôn ngữ theo một cách đặc biệt ở một đơn vị ngôn ngữ (về từ, câu, văn bản) trong một ngữ cảnh nhất định nhằm tăng sức gợi hình, gợi cảm trong diễn đạt và tạo ấn tượng với người người độc về một hình ảnh, một cảm xúc, một câu chuyện trong tác phẩm.

Mục đích của biện pháp tu từ là gì?

a/ Khái niệm: So sánh là đối chiếu 2 hay nhiều sự vật, sự việc mà giữa chúng có những nét tương đồng để làm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho lời văn.

Chi tiết nội dung bài học trong trương trình: Soạn bài So sánh

c/ Các kiểu so sánh:

– Phân loại theo đối tượng:

Lưu ý: Ẩn dụ và hoán dụ cùng chung cấu trúc nói A chỉ B nhưng khác nhau: – Ẩn dụ: A và B có quan hệ tương đồng (giống nhau) – Hoán dụ: A và B có quan hệ gần gũi, hay đi liền với nhau.

– Nói quá là phép tu từ phóng đại mức độ, quy mô, tính chất của sự vật, hiện tượng được miêu tả để nhấn mạnh, gây ấn tượng, tăng sức biểu cảm.

Để ôn lại kiến thức và các bài tập vận dụng có thể xem: Soạn bài nói quá

– Khái niệm: Là biện pháp tu từ nhắc đi nhắc lại nhiều lần một từ, cụm từ có dụng ý làm tăng cường hiệu quả diễn đạt: nhấm mạnh, tạo ấn tượng, gợi liên tưởng, cảm xúc… và tạo nhịp điệu cho câu/ đoạn văn bản.

1.Biện pháp tu từ nhân hóa

Đối với việc thể hiện tư tưởng, tình cảm cuả người viết thì tạo ra những lối nói cảm xúc làm giá trị biểu đạt cao.

3. Biện pháp tu từ ẩn dụ.

trong biên pháp ẩn dụ về A thường ẩn đi mà chỉ xuất hiện vế B

Ví dụ: Làn thu thủy nét xuân sơn

8. Biện pháp tu từ nói giảm nói tránh:

xác định biện pháp tu từ và nêu tác dụng trong câu văn sau:

a,Trăng bao nhiêu tuổi là trăng già

Núi bao nhiêu tuổi gọi là núi non

Trả lời: Hai câu thơ trên đã sử dụng biện pháp tu từ Điệp ngữ và Chơi chữ. Điệp ngữ ” Bao nhiêu tuổi ” được lặp lại 2 lần với ý muốn nói đến sự bất tận của trăng và núi. Trăng và núi không hề có tuổi tác. trăng luốn sống mãi với núi, luôn xanh tươi. Ngoài ra biện pháp nghệ thuật Chơi chữ đã dùng cặp từ trái ngữ là ” già” và “non ” chỉ sự vĩnh cửu của trăng và núi.

b, mặt trời xuống biển như hòn lửa

Sóng đã cài then đêm sập cửa

Hai câu thơ trên đã sử dụng biện pháp tu từ nhân hóa và so sánh. Biện pháp tu từ so sánh đã được sử dụng trong câu thơ ” Mặt trời xuống biển như hòn lửa” ý muốn nói mặt trời trong lúc hoàng hôn buông xuống có màu đỏ, cảnh hoàng hôn trở nên huy hoàng, tráng lệ. Biện pháp nhân hoá trong câu “sóng đã cài then” và “đêm sập cửa”. khi mặt trời xuống biển như hòn lửa thì đó là lúc muôn vật của biển gác mọi noạt động tạo nên khung cảnh yên bình lãng mạn, nhân hoá giúp thiên nhiên có linh hồn, trở nên gần gũi, vũ trụ giống như một ngôi nhà chung ấm áp.

Nguồn : luyện 9 lên 10 tại Hà Nội

Bài 9: Luyện Tập Về Các Biện Pháp Tu Từ Từ Vựng

Bài 9: Luyện tập về các biện pháp tu từ từ vựng

Bài 10: Luyện tập trau dồi vốn từ

Hướng dẫn Luyện tập về các biện pháp tu từ từ vựng:

Bài tập 1: Xác định và phân tích phép tu từ có trong các đoạn thơ sau: A. Đau lòng kẻ ở người đi

Lệ rơi thấm đá tơ chia rũ tằm. (Nguyễn Du)

B. Rễ siêng không ngại đất nghèo

Tre bao nhiêu rễ bấy nhiêu cần cù (Nguyễn Duy)

C. Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu Ngàn dâu xanh ngắt một màu

Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai? (Chinh phụ ngâm khúc)

D. Bàn tay ta làm nên tất cả

Có sức người sỏi đá cũng thành cơm (Chính Hữu)

Gợi ý:

A. Nói quá: thể hiện nỗi đau đớn chia li khôn xiết giữa người đi và kẻ ở.

B. Nhân hoá – ẩn dụ: Phẩm chất siêng năng cần cù của tre như con người Việt Nam trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc.

C. Điệp ngữ: Nhấn mạnh không gian xa cách mênh mông bát ngát giưa người đi và kẻ ở. Từ đó tô đậm nỗi sầu chia li, cô đơn của người chinh phụ.

D. Hoán dụ: bàn tay để chỉ con người.

Bài tập 2: Câu nào sau đây sử dụng biện pháp nói giảm nói tránh?

Thôi để mẹ cầm cũng được.

Mợ mày phát đạt lắm, có như dạo trước đâu.

Bác trai đã khá rồi chứ.

Lão hãy yên lòng mà nhắm mắt.

Gợi ý: D

Bài tập 3: Cho các ví dụ sau: Chân cứng đá mềm, đen như cột nhà cháy, dời non lấp biển, ngàn cân treo sợi tóc, xanh như tàu lá, long trời lở đất.

Nhận xét nào sau đây nói đúng nhất về các ví dụ trên?

A- Là các câu tục ngữ có sử dụng biện pháp so sánh.

B- Là các câu thành ngữ có sử dụng biện pháp nói quá.

C- Là các câu tục ngữ có sử dụng biện pháp nói quá.

D- Là các câu thành ngữ dùng biện pháp so sánh.

Gợi ý: B

Bài tập 4: Vận dụng các phép tu từ đã học để phân tích đoạn thơ sau:

” Cứ nghĩ hồn thơm đang tái sinh

Ngôi sao ấy lặn, hoá bình minh.

Cơn mưa vừa tạnh, Ba Đình nắng

Bác đứng trên kia, vẫy gọi mình”

Gợi ý: – Xác định được các phép tu từ có trong đoạn thơ:

hoán dụ: Hồn thơm; ẩn dụ: Ngôi sao, bình minh

Từ ngữ cùng trường từ vựng chỉ các hiện tượng tự nhiên: Ngôi sao, lặn, bình minh, cơn mưa, tạnh, nắng.

– Phân tích cách diễn đạt bằng hình ảnh để thấy cái hay cái đẹp của đoạn thơ: thể hiện sự vĩnh hằng, bất tử của Bác: hoá thân vào thiên nhiên, trường tồn cùng thiên nhiên đất nước, giảm nhẹ nỗi đau xót sự ra đi của Người. Hình ảnh thơ vừa giàu sắc thái biểu cảm vừa thể hiện tấm lòng thành kính thiêng liêng của tác giả đối với Bác Hồ.

Bài 9: Luyện tập về các biện pháp tu từ từ vựng

Phân Tích Tác Dụng Của Biện Pháp Tu Từ Nói Giảm, Nói Tránh

Nguyễn Khuyến và Dương Khuê là hai người bạn rất thân với nhau, mỗi người một cách sống khác nhau. Khi thực dân Pháp xâm chiếm nước ta, Nguyễn Khuyến từ quan không hợp tác với Pháp, Dương Khuê vẫn ở lại làm quan. Mặc dù vậy, hai người vẫn giữ tình bạn thân thiết, gắn bó không hề thay đổi. Năm 1902, Dương Khuê mất, Nguyễn Khuyến nghe tin đã làm bài thơ khóc bạn, mở đầu bằng những câu thơ đầy xúc động: “Bác Dương thôi đã thôi rồi Nước mây ngan ngác ngậm ngùi lòng ta” “Bác Dương” là cách xưng hô đối với những người bạn cao tuổi, vừa tha thiết vừa kính trọng. Tác giả nén đau thương trong hình thức tu từ nói giảm, nói tránh. Đây là phương thức diễn đạt tế nhị trong hoàn cảnh mà người nói không tiện nói ra vì sợ phũ phàng hoặc xúc phạm đến người nghe. Nói giảm là phương thức trái với ngoa dụ, phóng đại. Khi nói về cái chết, để giảm bớt nỗi đau buồn, người ta nói: cụ tôi về năm ngoái, cụ ấy đã đi rồi… Nguyễn Khuyến đã dùng hình ảnh “thôi đã thôi rồi”, vừa giản dị, vừa thể hiện được tình cảm của mình phải kìm nén lòng thương tiếc. Có lẽ sẽ không thể có cách diễn đạt nào hợp lý, sâu sắc hơn có thể thay thế cho cụm từ “thôi đã thôi rồi”. Nó vừa diễn tả sự thảng thốt, bàng hoàng, vừa như một lời than đau đớn, xót xa, nghẹn ngào. Nhà thơ cố gắng nén đau thương trong hình thức tu từ nhã ngữ, vậy mà tình cảm đau thương tang tóc vẫn nhuốm cả không gian “nước mây ngan ngác ngậm ngùi lòng ta”. Những từ láy: “man mác”, “ngậm ngùi” càng biểu lộ rõ hơn nỗi buồn đau trong lòng thi nhân. Lòng người buồn nhuốm sầu sang cảnh vật. Nguyễn Du cũng đã từng viết lên quy luật tự nhiên ấy: “Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ” Nỗi đau mất bạn được Nguyễn Khuyến diễn tả một cách tự nhiên, chân thực mà cảm động. Có lẽ thế mà “Khóc Dương Khuê” được xem là bài thơ hay nhất về tình bạn. Và nếu Trung Quốc có những câu chuyện Bá Nha – Chung Tử Kì bất hư trong lịch sử thì nước ta có Lưu Bình – Dương Lễ, tình bạn của Nguyễn Khuyến và Dương Khuê cũng sống mãi trong lòng độc giả với bài thơ “Khóc Dương Khuê”.