Một Số Giải Pháp Bảo Vệ Môi Trường Trong Sản Xuất Nông Làm Nghiệp / Top 5 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 4/2023 # Top View | Phauthuatthankinh.edu.vn

Giải Pháp Bảo Vệ Môi Trường Trong Sản Xuất Nông Nghiệp

Với chủ trương phát triển nông nghiệp sạch và bền vững, trong đó việc sử dụng các loại phân hữu cơ đang rất được quan tâm, đặc biệt là các loại phân sản xuất từ phụ phẩm nông nghiệp. Sử dụng loại phân bón này sẽ giúp người dân tạo ra sản phẩm sạch, không gây ô nhiễm môi trường, hạn chế sử dụng thuốc bảo vệ thực vật và phân bón hóa học. Từ thành công của Đề tài “Nghiên cứu ứng dụng sản xuất chế phẩm sinh học xử lý phế phẩm nông nghiệp (từ rơm rạ, vỏ cà phê) làm phân bón hữu cơ” sẽ góp phần vào xử lý phụ, phế thải nông nghiệp, bảo vệ môi trường và hướng đến nền nông nghiệp hữu cơ bền vững”

Cán bộ nhóm thực hiện đề tài hướng dẫn bà con kỹ thuật sử dụng chế phẩm sinh học để xử lý rơm rạ.

Theo thống kê, lượng phụ phẩm nông nghiệp trên địa bàn tỉnh là 5,5 triệu tấn/năm. Trong đó, phụ phẩm từ cây lúa 800.000 – 1.000.000 tấn, gồm rơm rạ, vỏ trấu; cây ngô 4 triệu – 5 triệu tấn, gồm thân ngô tươi, lõi ngô; cây sắn 30.000 – 50.000 tấn, gồm bã sắn, vỏ sắn; cây mía 320.000 – 380.000 tấn, gồm bã mía, rỉ mật, tro, bã bùn, ngọn lá mía; cây cà phê 160.000 – 170.000 tấn vỏ quả tươi. Với lượng phế, phụ phẩm lớn, nếu không xử lý tốt sẽ gây ra tình trạng ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến cuộc sống của người dân.

Với mục tiêu sản xuất loại chế phẩm phù hợp để xử lý phụ, phế phẩm nông nghiệp làm phân bón hữu cơ, hướng tới phát triển nông nghiệp bền vững, bổ sung nguồn phân bón tại chỗ, tiết kiệm chi phí cho sản xuất nông nghiệp, tăng hiệu quả kinh tế và giảm thiểu ô nhiễm môi trường. Năm 2016, Trung tâm Ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ triển khai Đề tài “Nghiên cứu ứng dụng sản xuất chế phẩm sinh học xử lý phế phẩm nông nghiệp (từ rơm rạ, vỏ cà phê) làm phân bón hữu cơ”, đề tài do kỹ sư Tòng Văn Thanh làm chủ nhiệm.

Sau hơn 2 năm triển khai, nhóm thực hiện đề tài đã phối hợp với Công ty cổ phần Công nghệ sinh học xây dựng và hoàn thiện 4 quy trình kỹ thuật bao gồm: Nhân giống vi sinh vật; bảo quản lưu giữ giống vi sinh vật; công nghệ sản xuất chế phẩm sinh học Fito-Biomix RR và giám sát, đánh giá chất lượng chế phẩm; sản xuất được 300 kg chế phẩm Fito-Biomix RR phục vụ cho công tác thử nghiệm. Cùng với đó, triển khai mô hình xử lý phế phẩm nông nghiệp (rơm, rạ, vỏ cà phê) trên địa bàn 4 xã, phường: Muổi Nọi (Thuận Châu), Chiềng Ban (Mai Sơn), phường Chiềng Cơi, phường Chiềng Cọ (Thành phố), với sự tham gia của 58 hộ dân trên quy mô nghiên cứu thử nghiệm 6 ha cà phê và 3 ha lúa. Đồng thời, tiến hành xử lý 161 tấn rơm rạ, vỏ cà phê, với khối lượng phân hữu cơ thu được là 64,8 tấn phục vụ mô hình thí nghiệm trên cây lúa và cây cà phê. Kết quả phân tích, đánh giá tại các địa điểm xây dựng mô hình bón phân ủ hữu cơ cho thấy cây trồng sinh trưởng và phát triển tốt, khi bón phân hữu cơ từ vỏ cà phê, rơm, rạ vào đất đã bổ sung cho đất các chất dinh dưỡng cần thiết, cân đối cho cây trồng, tăng hàm lượng mùn, cải tạo độ tơi xốp, tăng khả năng hấp thu dinh dưỡng, duy trì hàm lượng vi sinh vật có ích, hệ sinh vật này hoạt động phân giải các hợp chất cacbon trong đất thành các chất dễ hấp thụ cho cây, tỷ lệ các chất dinh dưỡng như: N, P2O5, K2O, hàm lượng đạm, lân, Kali đều tăng so với đối chứng.

Là một trong những hộ dân tham gia mô hình xử lý phế phẩm nông nghiệp, ông Lò Văn Dọn, bản Pột, phường Chiềng Cơi (Thành phố), cho biết: Năm 2017, gia đình tôi được cán bộ kỹ thuật của Trung tâm Ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ hướng dẫn xử lý rơm, rạ bằng chế phẩm sinh học để làm phân bón hữu cơ, gia đình đã tận dụng toàn bộ rơm, rạ sau thu hoạch để làm phân bón, qua theo dõi thấy việc sử dụng phân bón hữu cơ rất phù hợp, cây phát triển tốt và năng suất cao, tiết kiệm chi phí và bảo vệ môi trường.

Kỹ sư Tòng Văn Thanh, Trung tâm Ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ thuộc sở Khoa học và Công nghệ, chủ nhiệm đề tài, cho biết: Phân hữu cơ sinh học là loại phân được sản xuất từ nguyên liệu hữu cơ theo quy trình lên men có sự tham gia của vi sinh vật sống có ích hoặc các tác nhân sinh học khác. Loại phân này được chế biến từ các nguyên liệu hữu cơ, như: Than bùn, mùn rác thải thành phố, phụ phẩm nông nghiệp, công nghiệp… phơi khô, nghiền nhỏ, ủ lên men với vi sinh vật có tuyển chọn. Đồng thời, phối hợp với Trung tâm khuyến nông Thành phố tổ chức hội nghị đầu bờ đánh giá hiệu quả sử dụng chế phẩm Fito-biomix RR xử lý rơm rạ, vỏ cà phê làm phân bón cho cây trồng. Kết quả sử dụng chế phẩm Fito-biomix RR trong xử lý phế thải nông nghiệp làm phân bón hữu cơ cho thấy cây trồng sinh trưởng và phát triển tốt. Với công nghệ đơn giản, dễ làm, giá thành thấp, thời gian xử lý nhanh, chỉ từ 25-30 ngày, đảm bảo kịp thời vụ nên có thể áp dụng rộng rãi tại các hộ dân, giảm bớt sự hao hụt chất dinh dưỡng trong đất, tiết kiệm chi phí cho sản xuất nông nghiệp, góp phần tăng hiệu quả kinh tế và giảm thiểu ô nhiễm môi trường, bổ sung nguồn phân bón hữu cơ cho cây trồng, nhằm phát triển nông nghiệp bền vững.

Bảo Vệ Môi Trường Trong Sản Xuất Nông Nghiệp: Sạch, An Toàn Và Phát Triển Bền Vững

Moitruong24h- Quảng Ninh không phải vùng trọng điểm sản xuất nông nghiệp nên lượng chất thải trong lĩnh vực này chưa quá lớn và gây tác động nghiêm trọng như chất thải trong công nghiệp. Tuy nhiên với thực tế việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật (BVTV), phân hóa học trong trồng trọt, nguồn thức ăn trong Nhiều mối nguy hại đối với môi trường nuôi trồng thủy sản (NTTS) ngày càng bất hợp lý, mất kiểm soát cùng những bất cập trong xả thải, xử lý thải trong chăn nuôi đã và đang ảnh hưởng đến môi trường các vùng nông thôn. Một bể chứa vỏ bao bì thuốc BVTV chưa đạt chuẩn ở xã Hồng Phong, TX Đông Triều.

Theo kết quả rà soát của Sở NN&PTNT, mỗi năm ngành nông nghiệp sử dụng trên 200 tấn phân bón vô cơ và thuốc BVTV các loại, trong đó chỉ 30% hấp thụ vào cây trồng, còn lại thẩm thấu vào đất, nước làm ô nhiễm môi trường. Chưa kể khoảng 10% – 15% phân, thuốc nguyên chất, vốn là những hợp chất độc hại, đứng đầu danh sách 12 loại độc nguy hiểm còn sót lại ở vỏ các bao bì vứt bừa bãi trên đồng ruộng, kênh mương sẽ tác động trực tiếp đến môi trường. Tình trạng này khiến đất đai bị chai cứng, giữ nước kém và giảm độ màu mỡ, quan trọng hơn đó là khiến con người có nguy cơ mắc các bệnh ung thư.

Hiện nay toàn tỉnh đang có trên 20.000ha NTTS các loại, mỗi năm nuôi từ 2 – 3 vụ, tổng sản lượng thủy sản nuôi trồng năm 2017 đạt trên 54.000 tấn. Theo ông Vương Văn Oanh, Phó Chi cục trưởng Chi cục Thủy sản tỉnh, với diện tích nuôi và sản lượng như trên thì lượng thức ăn tồn dư trong môi trường không hề nhỏ. Một yếu tố khác đe dọa môi trường là tình trạng khai thác thủy sản theo hướng tận diệt; các vật dụng phao xốp dùng trong NTTS, vốn rất khó phân hủy trong điều kiện tự nhiên và lượng dầu mỡ thải ra trên mặt nước từ các phương tiện khai thác thủy sản.Đối với hoạt động sản xuất thủy sản, nguy cơ lớn nhất ảnh hưởng đến môi trường là lượng thức ăn dư thừa và chất thải của đối tượng nuôi tồn dư trong nước lớn do hệ số thức ăn (lượng thức ăn phải tiêu tốn để thu được 1kg tăng trọng) cao. Đơn cử như đối với con tôm, hệ số thức ăn trung bình là trên 2 lần; cá biển là trên 7 lần. Đáng nói phần lớn thức ăn phục vụ NTTS hiện đều là các loại cá tạp xay sống nên ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường.

Theo thống kê của Sở NN&PTNT, hiện toàn tỉnh có đến gần 8.000 lồng bè NTTS các loại, trong đó hầu hết sử dụng vật liệu phao xốp; số lượng phương tiện khai thác thủy sản là trên 7.500, trong đó trên 5.000 chiếc là phương tiện chưa hiện đại, lượng dầu mỡ rò rỉ lớn.

Cần có giải pháp bảo vệ môi trường bền vững

Riêng việc xử lý thải trong chăn nuôi trâu, bò, hiện chỉ có Công ty TNHH Phú Lâm sử dụng hầm bioga; toàn bộ mô hình chăn nuôi gia cầm thả vườn, đồi quy mô nhỏ không xử lý thải. Ngoài ra hiện tình trạng ô nhiễm môi trường từ nguồn thải ở các lò giết mổ gia súc, gia cầm đã ở mức nghiêm trọng. Theo thống kê của Chi cục Phát triển nông thôn tỉnh, toàn tỉnh đang có trên 50 điểm giết mổ song chỉ có 4 điểm giết mổ tập trung có đầu tư hệ thống xử lý thải đạt chuẩn…Hiện tổng đàn gia súc, gia cầm của tỉnh là 46.664 con trâu, 25.263 con bò, 423.793 con lợn và 3,45 triệu con gia cầm; tổng lượng xả thải của các đàn khoảng 1.927 tấn chất thải rắn/ngày đêm, chưa kể lượng nước tiểu. Điều đáng nói, đến 90% mô hình chăn nuôi của tỉnh đều ở dạng nông hộ (18.000 hộ), trong đó mới có khoảng trên 9.000 hộ có đầu tư hầm bioga để xử lý thải, số còn lại xử lý bằng cách ủ để bón ruộng hoặc xả thẳng ra môi trường, chảy tràn khi có mưa, đi vào đất, nước. Ngay việc xử lý thải ở số hộ có sử dụng hầm bioga cũng không đạt chuẩn, bởi diện tích hầm quá nhỏ so với quy mô nuôi nên không thể lưu giữ, xử lý lượng thải sau 30-40 ngày mới đưa ra môi trường như theo quy định.

Theo ông Nguyễn Hữu Giang, Giám đốc Sở NN&PTNT, giải pháp bền vững nhất để bảo vệ môi trường sản xuất nông nghiệp là chuyển đổi lề lối canh tác thì hiện vẫn chưa đạt được kết quả như ý muốn. Tiêu biểu như việc thay thế thức ăn cá tạp bằng thức ăn công nghiệp và vật liệu phao xốp bằng những vật liệu thân thiện khác trong NTTS; xây dựng các điểm giết mổ gia súc, gia cầm tập trung theo đúng quy hoạch; đặc biệt là đẩy mạnh mô hình liên kết sản xuất hoặc sản xuất theo hướng công nghiệp để thu hẹp mô hình nông hộ… Thực tế giá trị kinh tế sản xuất theo quy mô tập trung, công nghiệp đạt cao hơn từ 10 – 70 lần sản xuất nhỏ lẻ tùy từng lĩnh vực. Trong khi đó hiện toàn tỉnh mới có khoảng trên 300 trang, gia trại, doanh nghiệp nông nghiệp có triển khai hoạt động sản xuất, chiếm phần rất nhỏ so với con số sản xuất nông hộ

Tuệ Lâm (theo baoquangninh)

Du Lịch Kết Hợp Với Nông Nghiệp: Một Giải Pháp Bảo Vệ Môi Trường

Du lịch nông nghiệp hay sản xuất nông nghiệp kết hợp khai thác phát triển du lịch, được xem là một cách để người nông dân sáng tạo các giá trị mới, dựa trên cách thức sản xuất, nếp sinh hoạt và các sản phẩm nông sản của địa phương. Đồng thời, đây cũng là một giải pháp góp phần nâng cao ý thức bảo vệ môi trường của cộng đồng và du khách.

Hiệt Nam là quốc gia có nền nông nghiệp chiếm vị trí quan trọng trong cơ cấu ngành kinh tế. Trong khi đó, văn hóa làng hay văn hóa nông nghiệp – văn minh lúa nước, vốn được xem là cội nguồn của văn hóa Việt Nam. Đây có thể xem là nguồn tài nguyên đa dạng và phong phú, phục vụ khai thác phát triển du lịch. Trong đó, du lịch nông nghiệp là sản phẩm đã và đang được một số địa phương chú trọng khai thác. Tỉnh Bạc Liêu xác định nông nghiệp là ngành kinh tế trọng tâm, với cơ cấu sản phẩm vừa đa dạng vừa đặc thù. Để khai thác tối đa lợi thế và đặc trưng về văn hóa và cảnh quan nông thôn vùng Đồng bằng Sông Cửu Long, vài năm trở lại đây, Bạc Liêu đã xây dựng được một số sản phẩm du lịch nông nghiệp. Điển hình như mô hình du lịch tham quan Giồng nhãn Bạc Liêu; du lịch tham quan gắn với biển, dải rừng ngập mặn và sinh thái nông – ngư nghiệp (khu nuôi tôm ứng dụng công nghệ cao, sản xuất muối…); du lịch kết hợp tham quan điện gió; du lịch tham quan các hệ thống vườn chim, vườn cò…

Nói về các sản phẩm du lịch nông nghiệp hấp dẫn của Việt Nam, không thể không nhắc đến tỉnh Quảng Nam. Để tạo ra các điểm đến vệ tinh hấp dẫn, giúp giữ chân du khách dài ngày, từ nhiều năm nay, TP Hội An đã xây dựng nhiều tour trải nghiệm du lịch nông nghiệp cộng đồng, như trải nghiệm “một ngày làm nông dân” trên cánh đồng Trà Quế (Cẩm Hà); tham quan làng gốm Thanh Hà; xay cà phê, đan chiếu tại các làng Duy Nghĩa, Triêm Tây, Điện Phương… Gần đây, sản phẩm du lịch mới tham quan cánh đồng hoa hướng dương (ở vùng 3 xã Gò Nổi, thị xã Điện Bàn), đang thu hút được sự quan tâm của du khách. Cùng với sản phẩm này là các sản phẩm như làng du lịch cộng đồng Cẩm Phú, làng hoa Phú Đông, bãi dâu ven sông Thu Bồn, đang được kỳ vọng sẽ tạo ra một sức bật mới cho du lịch địa phương…

Giống như hai địa phương vừa nêu, Thanh Hóa cũng có nhiều tiềm năng và lợi thế riêng có để có thể khai thác, phát triển du lịch nông nghiệp. Khu vực nông thôn (gồm cả miền núi, đồng bằng, miền biển) chiếm trên 80% diện tích đất tự nhiên toàn tỉnh. Đây được xem là khu sinh thái tự nhiên và là vùng đệm rộng lớn, giúp bao bọc và che phủ các vùng đô thị lớn, nhỏ xung quanh. Đặc biệt, khu vực này có đa dạng các hệ sinh thái, như hệ sinh thái nông nghiệp, hệ sinh thái rừng, hệ sinh thái biển, hệ sinh thái ao hồ, hệ sinh thái đồng cỏ tự nhiên… Tất cả đều có vai trò rất quan trọng, góp phần cân bằng sinh thái giữa nông thôn và thành thị. Đồng thời, các hệ sinh thái cũng ví như những “vành đai xanh”, “lá phổi xanh” nuôi dưỡng sự trong lành của môi trường. Bên cạnh chức năng quan trọng là đảm bảo cho sự chu chuyển oxy, duy trì tính ổn định và sự màu mỡ của đất, các hệ sinh thái này còn giữ vai trò không nhỏ trong việc đảm bảo sinh kế cho phần lớn người dân sống ở khu vực nông thôn. Vì vậy giữ gìn hệ sinh thái và màu xanh cho vùng nông thôn, được xác định là một giải pháp quan trọng, nhằm giảm thiểu nguy cơ ô nhiễm môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu.

Cùng với các điều kiện tự nhiên, thì nhiều hoạt động kinh tế – xã hội và nhất là thành quả trong xây dựng nông thôn mới, đã và đang tạo ra một hệ sinh thái nhân tạo hay một diện mạo mới cho khu vực nông thôn Thanh Hóa. Trong đó, việc phát triển các khu công nghiệp, nông nghiệp tập trung quy mô lớn, đã biến nhiều vùng quê thuần nông thành vùng kinh tế trọng điểm, có tốc độ tăng trưởng cao, điển hình là Khu nông nghiệp công nghệ cao Lam Sơn – Sao Vàng. Ngoài ra, để khai thác tối đa tiềm năng, lợi thế sẵn có, một số huyện ven biển đã thực hiện chuyển đổi đất nông nghiệp thành những khu du lịch sinh thái kết hợp nghỉ dưỡng biển, du lịch sinh thái cộng đồng…

Với những tiềm năng và lợi thế to lớn ấy, Thanh Hóa đang có được điều kiện “cần” để khai thác và phát triển các sản phẩm du lịch nông nghiệp. Thời gian gần đây, đã có một số sản phẩm được đưa vào khai thác và mang lại hiệu quả bước đầu. Trong đó các điểm đến thu hút được sự quan tâm của du khách như Nông trại Golden Cow (huyện Thường Xuân), Nông trại nông nghiệp Queen Farm (huyện Quảng Xương), Nông trại Linh Kỳ Mộc (TP Thanh Hóa), Trang trại T.Farm… Nông trại Golden Cow (xã Lương Sơn, Thường Xuân), có diện tích gần 20 ha và được xây dựng thành nhiều khu riêng biệt. Bao gồm: khu vườn trồng các loại rau, hoa; khu nhà chòi, nhà sàn lưu trú; khu chăn nuôi gia súc, gia cầm; khu vườn thú. Du khách đến đây được tận hưởng không khí mát mẻ, trong lành; tham gia các hoạt động trèo đồi, leo núi và các hoạt động vui chơi khác; được thưởng thức các món ăn ngon từ nông trại… Mặc dù vẫn đang được tiếp tục đầu tư xây dựng và hoàn thiện, song điểm đến này thường xuyên đón hàng nghìn khách tham quan, trải nghiệm mỗi tuần.

Cùng với Golden Cow, Nông trại Queen Farm (xã Quảng Tân, Quảng Xương) cũng đang gây được sự chú ý của du khách. Queen Farm bắt đầu sản xuất một số mặt hàng nông sản, song song với khai thác phát triển du lịch được hơn 1 năm. Thế nhưng, tính riêng từ đầu năm 2020 đến nay, nông trại này đã đón trên 7.000 lượt khách tới tham quan. Điểm hấp dẫn của Queen Farm là ở quy trình sản xuất các sản phẩm nông nghiệp công nghệ cao, như nhà màng trồng dưa lưới và trồng rau thủy canh. Hoặc Trang trại chúng tôi (xã Đông Thịnh, Đông Sơn), có tổng diện tích hơn 20 ha; bao gồm khu nhà lưới trồng dưa công nghệ cao; khu nuôi ngựa bạch, đà điểu, chim công và nhiều con nuôi đặc sản; khu vui chơi giải trí ngoài trời và hệ thống khuôn viên cây xanh… Nhờ không gian thoáng rộng và có các điểm tham quan mới, nên dù đưa vào khai thác chưa lâu, chúng tôi đã thu hút được lượng khách du lịch đáng kể…

Kết quả bước đầu từ việc xây dựng và phát triển một số sản phẩm du lịch nông nghiệp như vừa nêu, đã mở thêm một hướng khai thác phát huy hiệu quả tiềm năng đất đai vùng nông thôn. Đồng thời, góp phần đa dạng hóa các sản phẩm du lịch Thanh Hóa. Mặc dù vẫn là sản phẩm mới và chưa được nhân rộng nhiều, song những lợi ích về mặt kinh tế, xã hội và môi trường, là không thể phủ nhận. Bởi sự tồn tại và phát triển của du lịch gắn liền với môi trường. Nói cách khác, du lịch chỉ phát triển hiệu quả và bền vững khi môi trường được bảo vệ tốt. Do đó, việc xây dựng các sản phẩm du lịch nông nghiệp chất lượng, được xem là một hướng góp phần bảo vệ môi trường, kể cả môi trường thiên nhiên và môi trường xã hội. Du lịch gắn với nông nghiệp, không chỉ cộng đồng dân cư bản địa được hưởng lợi từ việc khai thác các tiềm năng, lợi thế về cảnh quan, văn hóa và nông sản phục vụ du lịch; mà qua đó, ý thức và tinh thần trách nhiệm của người dân trong việc bảo vệ môi trường, cảnh quan làng quê, bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống… cũng được nâng lên. Đồng thời, khách du lịch khi đến các điểm tham quan này, ngoài việc trải nghiệm một “đời sống khác”, thì bản thân họ cũng sẽ tự ý thức và điều chỉnh hành vi cho phù hợp với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội nơi làng quê.

Bài và ảnh: Hoàng Xuân

Thực Hiện Các Giải Pháp Giảm Thiểu Ô Nhiễm Môi Trường Trong Sản Xuất Nông Nghiệp

Thực hiện các giải pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường trong sản xuất nông nghiệp

Người dân xã Đông Phú (Đông Sơn) cải tạo đệm lót sinh học.

Những năm gần đây, sản xuất nông nghiệp của tỉnh ngày càng phát triển. Tuy nhiên, bên cạnh lợi ích kinh tế, người dân đã và đang phải đối mặt với thách thức không nhỏ do tình trạng ô nhiễm môi trường (ÔNMT) từ việc gia tăng lượng nước thải, chất thải, khí thải, hóa chất, tồn dư thuốc bảo vệ thực vật (BVTV)…

Theo số liệu thống kê của Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật tỉnh, mỗi năm các địa phương phát sinh khoảng từ 15 đến 20 triệu tấn phế phẩm thực vật, như: rơm rạ, thân cây, lá,… sau khi thu hoạch các loại cây trồng. Việc lạm dụng thuốc BVTV và phân bón hóa học cũng đang ảnh hưởng không nhỏ tới môi trường thông qua nhiều con đường khác nhau, như: nước mưa chảy tràn qua các kho chứa đã bị xuống cấp, lượng thuốc còn dư đọng lại trong chai bị quăng xuống ao, hồ, sông hay lượng thuốc dư thừa trong quá trình sử dụng quá liều lượng ngấm vào đất…; đồng thời, tác động đến sinh vật có ích trong môi trường và gia tăng các sinh vật có hại, làm đất đai cằn cỗi. Ngoài ra, việc không tuân thủ thời gian cách ly sau khi phun thuốc, tình trạng vứt bao bì hóa chất, thuốc BVTV bừa bãi sau sử dụng diễn ra khá phổ biến; thói quen rửa bình bơm và dụng cụ pha chế hóa chất không đúng nơi quy định gây ô nhiễm nước, không khí và hệ sinh thái. Hằng năm, khối lượng thu gom ước tính khoảng từ 2 đến 2,5 tấn, phần lớn xử lý bằng cách tự đốt hoặc tự thiêu hủy thủ công tại các địa phương. Đối với chăn nuôi, sự gia tăng đàn đã dẫn đến tình trạng chất thải trong chăn nuôi ngày càng tăng, mỗi năm có khoảng 10 đến 15 triệu tấn chất thải. Bên cạnh đó, hầu hết các trang trại, gia trại chăn nuôi trên địa bàn tỉnh nằm trong khu dân cư, chất thải chăn nuôi được xả chung với chất thải sinh hoạt ra hệ thống cống thoát nước dân sinh.

Trước thực trạng đó, để hạn chế tình trạng ÔNMT từ hoạt động sản xuất nông nghiệp, UBND tỉnh đã ban hành Kế hoạch hành động số 135/KH-UBND ngày 15-9-2016 thực hiện Nghị quyết số 05-NQ/TU ngày 18-8-2016 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh về tăng cường lãnh đạo của Đảng đối với công tác bảo vệ môi trường đến năm 2020, định hướng đến năm 2025. Theo đó, trên địa bàn tỉnh đã xây dựng được hơn 20.000 bể chứa vỏ bao bì thuốc BVTV; hỗ trợ xây dựng nhiều công trình khí sinh học, triển khai ứng dụng đệm lót sinh học trong chăn nuôi, thực hiện mô hình nhà lưới, sản xuất nông nghiệp theo quy trình VietGAP… Thời gian tới, để giảm thiểu tối đa ảnh hưởng của sản xuất nông nghiệp đến môi trường, các địa phương cần tiếp tục hướng dẫn người dân chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo hướng tránh gây ÔNMT đất, làm suy thoái đất. Bên cạnh đó, tổ chức tập huấn cho cán bộ nông nghiệp và người dân các biện pháp để phòng, trừ dịch hại; khi sử dụng thuốc BVTV phải theo nguyên tắc “4 đúng” là đúng thuốc, đúng liều lượng nồng độ, đúng lúc và đúng cách để giảm thiểu tối đa ảnh hưởng đối với môi trường; khuyến khích sử dụng phân bón hữu cơ, sử dụng thuốc BVTV có nguồn gốc sinh học. Tại các địa phương, cần quy hoạch bãi tập kết, khu vực lưu chứa bao gói thuốc BVTV, phân bón; tuyên truyền để người dân thực hiện thu gom các vỏ bao bì thuốc BVTV sau khi sử dụng vào bể chứa đã xây tại đồng ruộng; thực hiện vận chuyển đúng quy định, góp phần hạn chế dư lượng hóa chất BVTV rơi vãi phát tán ra môi trường, đất, nước… Mặt khác, cần có chính sách đầu tư, phát triển phân bón hữu cơ, tận dụng dư thừa từ sản xuất nông nghiệp, như rơm, phế thải… Đồng thời, tích cực tuyên truyền, nâng cao ý thức của các chủ trang trại, gia trại trong việc bảo vệ môi trường chăn nuôi; hướng dẫn xây dựng mô hình chăn nuôi an toàn sinh học, như: Nuôi gia súc, gia cầm trên nền đệm lót sinh học; sử dụng chế phẩm sinh học, công nghệ khí sinh học biogas,… nhằm xử lý chất thải chăn nuôi, giảm mùi hôi thối, diệt khuẩn có hại và tăng khả năng phòng, chống dịch bệnh cho vật nuôi, nâng cao hiệu quả chăn nuôi; xử lý chất thải chăn nuôi trước khi xả ra môi trường. Bên cạnh đó, thực hiện các chính sách hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi di dời các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ ra khỏi khu dân cư, từ đó, tiến tới xóa bỏ tập quán chăn nuôi nhỏ lẻ sang sản xuất tập trung theo hướng an toàn sinh học để quản lý tốt hơn về chất lượng sản phẩm và dịch bệnh trên đàn gia súc, gia cầm; nhất là, kiểm soát và giảm tối đa việc sử dụng hóa chất, các thành phần vô cơ, các chất tăng trọng góp phần giảm thiểu ÔNMT trong chăn nuôi.

Lê Ngọc