Giáo Dục Có Mấy Chức Năng Xã Hội / Top 5 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 2/2023 # Top View | Phauthuatthankinh.edu.vn

Khoa Học Giáo Dục Và Chức Năng Xã Hội Của Khoa Học Giáo Dục

KHOA HỌC GIÁO DỤC VÀ CHỨC NĂNG XÃ HỘI CỦA KHOA HỌC GIÁO DỤC

Viện sư phạm kỹ thuật, Trường Đại học Bách khoa Hà Nội

GS thỉnh giảng Đại học Hiroshima-Nhật Bản

Tóm tắt: Bài viết phân tích quá trình chuyển đổi của các hoạt động giáo dục từ tự phát, kinh nghiệm… lên dựa trên nhận thức và quy luật khoa học. Bàn luận các đặc trưng của khoa học giáo dục và chức năng xã hội của khoa học giáo dục nói chung và khoa học giáo dục nghề nghiệp nói riêng Hoạt động giáo dục, khoa học giáo dục , quy luật khoa học, đặc trưng và chức năng xã hội của khoa học giáo dục.. Abstract: This article is analyzing a process of changing of educational operations from based on practical experiment to based on the scientific theory. Discussing specific characteristics and social functions of the educational science in generally and the professional education science in specialty : Educational operations, educational science , scientific theory specific characteristics and social functions of the educational science Đặt vấn đề

Email: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.; DD; 0913 584 171

Giáo dục là một loại hình, lĩnh vực hoạt động xã hội rộng lớn được hình thành do nhu cầu phát triển, tiếp nối các thế hệ của đời sống xã hội thông qua quá trình truyền thụ tri thức và kinh nghiệm xã hội của các thế hệ trước cho các thế hệ sau. Việc chuyển các hoạt động giáo dục dựa trên cơ sở kinh nghiệm thực tiễn sang dựa trên các tri thức và quy luật khoa học về con người, xã hội và quá trình giáo dục (khoa học giáo dục) là một bước tiến căn bản của hoạt động giáo dục trong đời sống xã hội loài người văn minh. Đồng thời, quá trình đó cũng khẳng định vai trò, vị trí và chức năng xã hội quan trọng của khoa học giáo dục trong quá trình soi sáng và thúc đẩy sự phát triển giáo dục ở các quốc gia

Đặc trưng của giáo dục và khoa học giáo dục

Theo Từ điển Giáo dục học (NXB Từ điển bách khoa – 2001 ) thuật ngữ giáo dục được định nghĩa là ” Hoạt động hướng tới con người thông qua một hệ thống các biện pháp tác động nhằm truyền thụ những tri thức và kinh nghiệm, rèn luyện kỹ năng và lối sống, bồi dưỡng tư tưởng và đạo đức cần thiết cho đối tượng, giúp hình thành và phát triển năng lực, phẩm chất, nhân cách phù hợp với mục đích, mục tiêu chuẩn bị cho đối tượng tham gia lao động sản xuất và đời sống xã hội. Đây là một hoạt động đặc trưng và tất yếu của xã hội loài người, là điều kiện không thể thiếu được để duy trì và phát triển con người và xã hội. Giáo dục là một bộ phận của quá trình tái sản xuất mở rộng sức lao động xã hội, mà con người được giáo dục là nhân tố quan trọng nhất, vừa là động cơ, vừa là mục đích của phát triển xã hội “[ 1 ]

Khoa học giáo dục là một lĩnh vực khoa học chuyên ngành nghiên cứu các sự vật, hiện tượng, các vấn đề, các quá trình giáo dục nhằm tìm hiểu các đặc tính, các mối quan hệ, phát hiện và vận dụng các qui luật của các quá trình, hoạt động giáo dục. Cũng như bất cứ một lĩnh vực nghiên cứu khoa học khác, các nghiên cứu về khoa học giáo dục đều trước hết phải dựa trên cơ sở thực tiễn giáo dục và những quan điểm lý luận cơ bản, nền tảng phản ánh những quan điểm giáo dục tiến bộ của dân tộc và thời đại, những quy luật chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy. Đặc biệt trong lĩnh vực giáo dục, các hệ tư tưởng, triết lý xã hội và giáo dục, các học thuyết, cơ sở lý luận về con người và xã hội, về hoạt động và nhân cách, về tư duy và nhận thức khoa học, về phép biện chứng duy vật, các quan điểm và các qui luật phát triển khoa học- công nghệ… là những cơ sở phương pháp luận quan trọng để xây dựng, ứng dụng và nghiên cứu các vấn đề trong lĩnh vực khoa học giáo dục. Nói một cách khác, phương pháp luận là hệ thống lý luận về phương pháp phản ảnh hệ thống các quan điểm, tiền đề xuất phát và các quy luật chung nhất của quá trình phát triển của xã hội, tự nhiên và tư duy làm cơ sở cho các nghiên cứu và ứng dụng trong khoa học nói chung và trong lĩnh vực khoa học giáo dục nói riêng

Cơ sở phương pháp luận trong lĩnh vực khoa học giáo dục là các quan điểm tư tưởng, lý luận triết học Mác-Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các trào lưu triết học, quan điểm tiến bộ khác của nhân loại phản ảnh những tri thức , những quy luật khách quan và chung nhất trong quá trình phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy. Ở đây, cần đặc biệt nhất mạnh đến vai trò của các cơ sở phương pháp luận về phép biện chứng duy vật được P. Ăng ghen kế thừa và phát triển trong các công trình nghiên cứu của mình. Các cơ sở nhận thức luận khoa học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử không chỉ có tác dụng định hướng khi tiếp cận các vấn đề nghiên cứu trong lĩnh vực khoa học giáo dục mà còn tạo ra cơ sở lý luận vững chắc cho quá trình hình thành và phát triển các phương pháp nghiên cứu và ứng dụng cụ thể trong lĩnh vực này. Các quan điểm vận động trong các quá trình phát triển của các sự vật và hiện tượng; các quy luật phổ biến và đặc thù; các cặp phạm trù về các mối quan hệ: bản chất-hiện tượng; chung-riêng; chất-lượng; nhân-quả, hình thức- nội dung .v.v… là những cơ sở cơ bản trong tư duy khoa học khi nghiên cứu các quá trình và hiện tượng giáo dục trong khoa học giáo dục.

Chức năng xã hội của khoa học giáo dục

Trong lịch sử tư tưởng giáo dục, từ các nhà tư tưởng thời cổ đại ở phương Đông (Khổng tử) và phương Tây (Platôn; Arixtốt…)….đến các nhà triết học-xã hội, tâm lý-giáo dục Phương Tây ở thời kỳ khai sáng và phục hưng (J.J Rosseau; Emeli Durkheim…và ở thời kỳ công nghiệp và hậu công nghiệp (Jean Piaget; John Dewey;..)..đặc biệt là các nhà tư tưởng, nhà giáo dục Mác-xit, minh triết giáo dục Hồ Chí Minh … đều nhấn mạnh chức năng xã hội của giáo dục và khoa học giáo dục trong phát triển con người và tiến bộ xã hội. Sự ra đời của của ngành khoa học nói chung và của khoa học giáo dục nói riêng nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển giáo dục trong đời sống xã hội phản ánh chức năng xã hội của khoa học nói chung và khoa học giáo dục nói riêng.

Nghiên cứu khoa học giáo dục là các hoạt động có chủ đích, có hệ thống nhằm đạt đến sự hiểu biết khách quan (được kiểm chứng) về các sự vật, hiện tượng, phát hiện các quy luật hoặc sáng tạo các phương pháp, phương tiện kỹ thuật mới trong lĩnh vực giáo dục để ứng dụng có hiệu quả trong thực tiễn hoạt động giáo dục (quản lý, giảng dạy, nghiên cứu ..)

Kết luận

Trong qúa trình giải quyết các vấn đề do lý luận và thực tiễn giáo dục đặt ra, nhà nghiên cứu khoa học giáo dục phải dựa trên những cơ sở khoa học (các quan niệm, hệ thống khái niệm khoa học, quy luật, các mối quan hệ, tác động khách quan giữa các sự vật và hiện tượng trong tự nhiên, xã hội và tư duy nói chung và trong giáo dục nói riêng..) cùng với việc tổng kết kinh nghiệm thực tiễn giáo dục, dự báo phát triển để tìm ra các giải pháp, cách thức giải quyết vấn đề giáo dục đặt ra phù hợp với các quy luật phát triển khách quan, khoa học và nhu cầu thực tiễn. Quá trình nêu trên chính là quá trình nghiên cứu, xây dựng luận cứ khoa học để giải quyết một vấn đề do thực tiễn giáo dục đặt ra. Luận cứ khoa học giáo dục là những căn cứ lý luận khoa học giáo dục và thực tiễn giáo dục đã được nghiên cứu, phân tích, luận giải và kiểm chứng có hệ thống tạo cơ sở cho việc giải quyết các vấn đề do thực tiễn giáo dục đặt ra (quan điểm, giải pháp, cách thức, phương pháp..v.v). Làm tốt và có hiệu quả các nội dung trên là sự thể hiện cụ thể vai trò xã hội của khoa học giáo dục trong việc nâng cao nhận thức của xã hội về giáo dục. soi sáng con đường và thúc đẩy sự phát triển của sự nghiệp giáo dục vì sự tiến bộ của con người và xã hội

Tài liệu tham khảo chính

Tri thức là sức mạnh (F.Bacon). Trong bối cảnh phát triển nhanh chóng và như vũ bão của các cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, của nền kinh tế tri thức và cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, khoa học nói chung và khoa học giáo dục nói riêng đã và đang thực sự trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp. Phát triển khoa học giáo dục hiện đại phục vụ sự nghiệp phát triển giáo dục&đào tạo nước nhà đã và đang là yêu cầu cấp bách để phát huy chức năng xã hội của khoa học giáo dục. Đổi mới, canh tân giáo dục &đào tạo dựa trên cơ sở khoa học nói chung và khoa học giáo dục nói riêng là sự bảo đảm vững chắc cho sự phát triển bền vững của sự nghiệp giáo dục&đào tạo nước nhà trong thời kỳ CNH&HĐH và hội nhập quốc tế

[1] Bộ Giáo dục và Đào tạo (2011), Kỷ yếu Hội thảo quốc gia về khoa học giáo dục Việt Nam. Hải Phòng

[2] Vũ Cao Đàm (2009), Phương pháp luận nghiên cứu khoa học. NXB Khoa học và kỹ thuật. Hà Nội

[3] Trần Khánh Đức. Giáo dục và phát triển nguồn nhân lực trong thế kỷ XXI. NXB Giáo dục Việt Nam. Hà Nội 2014

[4] Phạm Minh Hạc (2010), Một số vấn đề giáo dục Việt Nam đầu thế kỷ XXI. NXB Giáo dục Việt Nam. Hà Nội

[5] Bùi Hiền (2001), Từ điển Giáo dục học. NXB Từ điển Bách khoa. Hà Nội

Chức Năng Giáo Dục, Xã Hội Hóa Đối Với Trẻ Em Của Gia Đình

Theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, gia đình có 4 chức năng, trong đó có chức năng “giáo dục, xã hội hóa đối với trẻ em”. Chức năng đó được thể hiện:

Có thể hiểu xã hội hoá đối với trẻ em là một quá trình bao gồm việc đứa trẻ học tập (được chỉ dẫn) về những cách thức, qui định của gia đình và xã hội để nó có thể tham gia vào các hoạt động đời sống của gia đình và xã hội. Đứa trẻ không thể trưởng thành và phát triển nếu chúng bị tách khỏi gia đình và bị biệt lập với xã hội. Với cách tiếp cận như vậy, thì xã hội hóa đối với trẻ em chính là việc dạy dỗ và trao truyền kỹ năng sống của các thành viên gia đình, họ tộc để đứa trẻ trưởng thành, thích ứng được yêu cầu của đời sống.

Mỗi gia đình là một nhóm xã hội khác nhau, do vậy quá trình xã hội hoá đối với trẻ em cũng bị chi phối bởi những đặc điểm khác nhau trong nếp sống. Nội dung và các hình thức của lối sống trong mỗi gia đình không phải là bất biến, ngược lại chúng cũng bị tác động và biến đổi theo từng thời đại. Sự biến đổi đó chủ yếu do tác động của các nhân tố kinh tế và văn hoá, trong đó văn hoá là một nhân tố cực kỳ quan trọng làm thay đổi kết quả quá trình xã hội hoá trẻ em trong những gia đình khác nhau.

Do vậy chức năng “giáo dục, xã hội hóa đối với trẻ em” là một trong những chức năng quan trọng của gia đình, giúp trẻ em có điều kiện và cơ hội phát triển toàn diên./.

Làm Sao Thúc Đẩy Xã Hội Hóa Giáo Dục?

GD&TĐ – Xã hội hoá giáo dục (XHHGD) là con đường quan trọng để thực hiện dân chủ hoá giáo dục, làm cho hệ thống giáo dục từ một thiết chế hành chính thành một thiết chế giáo dục của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”, đồng thời xây dựng mối quan hệ chặt chẽ giữa nhà trường, gia đình và xã hội.

Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta luôn luôn quan tâm thúc đẩy hoạt động xã hội hóa nói chung và XHHGD nói riêng. Hành lang pháp lý về XHHGD cũng từng bước được hoàn thiện, nhằm tạo thuận lợi, ưu đãi, khuyến khích đầu tư phát triển giáo dục.

Thực tế triển khai chính sách XHH đã mang lại những kết quả đáng khích lệ. Theo đó, thu hút được một nguồn lực đáng kể của xã hội đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá góp phần nâng cao chất lượng và phát triển GD-ĐT.

Với những chủ trương đúng đắn về huy động nguồn lực, tạo điều kiện cho tư nhân đầu tư vào giáo dục đã góp phần đưa giáo dục mầm non, phổ thông, giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học ngoài công lập trong những năm qua đạt được những kết quả nhất định.

Tỷ lệ huy động trẻ, học sinh trong độ tuổi ra lớp được nâng lên, phổ cập giáo dục, đào tạo nguồn nhân lực, phát triển loại hình trường, lớp, chương trình chất lượng cao đáp ứng nhu cầu học tập của người dân, giảm gánh nặng cho ngân sách…

Các bộ, ngành, cơ sở giáo dục chưa có ý thức về việc vận động, huy động nguồn lực để phát triển giáo dục. Cách làm và thực hiện chính sách chưa làm cho nhà đầu tư tin tưởng vào việc sử dụng hiệu quả nguồn lực huy động từ công tác XHH.

Người dân chưa hiểu rõ quy trình, trình tự thủ tục huy động XHH, các cơ quan quản lý Nhà nước chưa triển khai, hướng dẫn và giám sát việc thực thi các chính sách. Còn thiếu các chính sách ưu đãi chuyên biệt dành cho các nhà đầu tư vào lĩnh vực GD-ĐT…

Để các chính sách đi vào cuộc sống trong điều kiện khả năng đáp ứng của ngân sách Nhà nước cho giáo dục còn nhiều khó khăn, quá trình đổi mới đất nước đã và đang đặt ra nhiều thách thức cho việc đổi mới GD-ĐT, điều đó đòi hỏi cần phải có kinh phí bổ sung để đổi mới chương trình, phương pháp giảng dạy, trang bị thêm phương tiện, thiết bị, công nghệ dạy học mới.

Vì vậy, để thúc đẩy hoạt động XHHGD, huy động tối đa nguồn lực của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước, đầu tư phát triển GD-ĐT, chúng ta cần thực hiện có hiệu quả hệ thống những chủ trương, đường lối đã được Đảng và Nhà nước triển khai trong thời gian qua.

Đồng thời, điều chỉnh những chính sách phù hợp, hoàn thiện các văn bản, chính sách, tạo hành lang pháp lý đầy đủ, thuận lợi để khuyến khích các nhà đầu tư trong và ngoài nước đầu tư phát triển giáo dục và đào tạo.

Trách nhiệm của các cơ quan quản lý từ Trung ương đến địa phương cần phổ biến và tuyên truyền giải thích rộng rãi, vận động cho nhân dân, toàn xã hội hiểu đúng về các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về XHHGD.

Các đơn vị giáo dục phải hiểu đúng quy định, quy trình và bản chất XHHGD để tránh hiểu nhầm và phát sinh những hiện tượng tiêu cực. Có như vậy mới nhận được sự đồng thuận của toàn xã hội, từ đó thu được kết quả tốt cho ngành Giáo dục và khi đó chính sách XHHGD mới thực sự đi vào cuộc sống.

Skkn Công Tác Xã Hội Hoá Giáo Dục Trong Trường Thcs

Nguyễn Quang Loan – Trường THCS Đáp Cầu 2010

Hai năm học 2008 –

PHẦN I: MỞ ĐẦU Giáo dục luôn là trung tâm của đời sống xã hội, nó quyết định tương lai của mỗi người, của cả xã hội. Việc cải cách giáo dục và xã hội hoá giáo dục là một trong những giải pháp quan trọng nhất để thúc đẩy xã hội phát triển. Đẩy mạnh công tác xã hội hoá giáo dục là nội dung quan trọng đảm bảo cho sự thành công của công tác giáo dục, nhiều người, nhiều nhà trường đã nghiên cứu và những giải pháp cho chương trình xã hội hoá giáo dục, đã có những thành công nhất định. Trong thời đại hiện nay với sự phát triển của nền kinh tế thị trường và sự hội nhập quốc tế của kinh tế Việt Nam quan điểm về xã hội hoá giáo dục cần được nhận thức lại và giải quyết trên cơ sở hợp lý, phù hợp hơn. I- Lí do chọn đề tài. 1) Cơ sở lí luận: Xã hội hóa giáo dục chính là việc tăng cường tính Xã hội của Giáo dục, gắn nhà trường với cộng đồng xã hội để phát huy tối đa vai trò và tạo điều kiện thuận lợi cho Giáo dục khẳng định vai trò thúc đẩy phát triển cộng đồng xã hội, khơi gợi mọi tiềm năng, huy động mọi tiềm lực trong Xã hội tham gia xây dựng và phát triển Giáo dục. Trong văn kiện Hội nghị lần thứ hai Ban chấp hành TW khóa VIII đã chỉ rõ ” Mọi người chăm lo cho giáo dục, các cấp uỷ và tổ chức Đảng, các cấp chính quyền, các đoàn thể nhân dân, các tổ chức kinh tế – xã hội, các gia đình và các cá nhân đều có trách nhiệm tích cực góp phần phát triển sự nghiệp giáo dục – đào tạo, đóng góp trí tuệ, nhân lực, vật lực, tài lực cho giáo dục – đào tạo. Kết hợp giáo dục nhà trường, giáo dục Công tác xã hội hoá giáo dục trong trường THCS

1

Nguyễn Quang Loan – Trường THCS Đáp Cầu 2010

Hai năm học 2008 –

gia đình và giáo dục xã hội, tạo nên môi trường giáo dục lành mạnh ở mọi nơi, trong cộng đồng, từng tập thể”. Thành uỷ, uỷ ban nhân dân thành phố Bắc Ninh cũng đã có nghị quyết, văn bản chỉ đạo đúng đắn về công tác giáo dục, trong đó có vấn đề đẩy mạnh công tác xã hội hoá giáo dục, xoá phòng học cấp 4, tăng cường công tác giáo dục đạo đức trong cộng đồng. Mặt khác kết luận Hội nghị TW 6 Khoá IX càng khẳng định – Đẩy nhanh sự nghiệp GD-ĐT để nhanh chóng đưa đất nước ta đi lên Công nghiệp hoá – Hiện đại hoá và Hội nhập. Nội dung chủ yếu của Xã hội hoá giáo dục gồm: – Xây dựng phong trào học tập trong toàn xã hội, làm cho nền giáo dục trở thành một nền giáo dục cho mọi người. Tác động mạnh mẽ việc nhận thức của nhân dân về công tác giáo dục. – Xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, vận động toàn dân chăm sóc thế hệ trẻ, phối hợp chặt chẽ giáo dục gia đình – nhà trường – xã hội. Tăng cường trách nhiệm của cấp uỷ Đảng, chính quyền các cấp, các tổ chức đoàn thể, tổ chức kinh tế – xã hội, cá nhân đối với giáo dục. – Đa dạng hoá các loại hình giáo dục. – Tăng cường đầu tư từ nguồn ngân sách, khai thác triệt để và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực trong xã hội để phát huy giáo dục. Để đáp ứng yêu cầu đổi mới Giáo dục phổ thông cần phải có cơ sở vật chất , thiết bị, phương tiện đảm bảo việc dạy và học trong nhà trường.

Công tác xã hội hoá giáo dục trong trường THCS

2

Nguyễn Quang Loan – Trường THCS Đáp Cầu 2010

Hai năm học 2008 –

3

Nguyễn Quang Loan – Trường THCS Đáp Cầu 2010

Hai năm học 2008 –

như tăng cường cơ sở vật chất , đảm bảo môi trường giáo dục lành mạnh, thân thiện là hết sức cần thiết và quan trọng. Một mặt trường THCS Đáp Cầu lo củng cố xây dựng đội ngũ giáo viên, phát huy nội lực mặt khác trường chủ trương gắn nhà trường với cộng đồng – Tăng cường công tác xã hội hoá giáo dục (XHHGD) tạo ra một địa bàn mọi người dân tham gia công tác giáo dục nhất là giáo dục đạo đức cho học sinh, tạo cho nhà trường môi trường giáo dục lành mạnh, an toàn. Đồng thời giúp trường có thêm cơ sở vật chất phục vụ việc dạy và học, nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đưa trường THCS Đáp Cầu từng bước vươn lên đáp ứng với tình hình giáo dục trong giai đoạn hiện nay. II- Mục đích nghiên cứu. Tìm ra các giải pháp để tăng cường công tác xã hội hoá giáo dục nhằm xây dựng địa bàn khu dân cư của trường có môi trường giáo dục tốt, đồng thời tăng cường cơ sở vật chất trong trường đáp ứng yêu cầu đổi mới. III- Đối tượng, phạm vi nghiên cứu. Với đề tài này, tập trung nghiên cứu công tác xã hội hoá giáo dục trên địa bàn phường Đáp Cầu và trường THCS Đáp Cầu – Thành phố Bắc Ninh. Trên hai lĩnh vực: – Giáo dục đạo đức học sinh góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện trong trường THCS Đáp Cầu. – Tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị, tạo môi trường giáo dục lành mạnh, thân thiện, an toàn trong trường THCS Đáp Cầu. IV- Nhiệm vụ của đề tài:

Công tác xã hội hoá giáo dục trong trường THCS

4

Nguyễn Quang Loan – Trường THCS Đáp Cầu 2010

Hai năm học 2008 –

1. Xem xét thực trạng công việc giáo dục đạo đức ở khu dân cư, của chính quyền địa phương, của hộ gia đình. Đưa ra những biện pháp làm cho cộng đồng xã hội, nhận rõ lợi ích và trách nhiệm của mình đối với giáo dục đạo đức học sinh. Từ đó có giải pháp phối hợp chặt chẽ giáo dục “Nhà trường, gia đình , xã hội” trong việc giáo dục đạo đức. 2. Thiết lập và xây dựng được quy trình để từng bước xây dựng cơ sở vật chất để có đủ khả năng đáp ứng đòi hỏi của yêu cầu đổi mới giáo dục và sự phát triển kinh tế xã hội của địa phương. Xác định được đối tượng nào trong cộng đồng có khả năng tham gia vào xây dựng và phát triển giáo dục. Qua việc nghiên cứu, tìm hiểu, xây dựng phong trào xã hội hoá giáo dục trong nhà trường THCS Đáp Cầu đưa ra phương pháp phù hợp với đặc điểm của địa bàn giáo dục. Từ đó phát huy sức mạnh của mỗi con người và hạn chế những yếu kém trong công tác xã hội hoá giáo dục. Mất đoàn kết trong từng nhóm nhằm xây dựng một cộng đồng dân cư phường có trách nhiệm và vì mục đích giáo dục chung . – Thời gian thực hiện: Từ tháng 9/2008 đến tháng 3/2010 – Địa điểm: Trường THCS Đáp Cầu – thành phố Bắc Ninh V- Đóng góp của đề tài Nghiên cứu đề tài nhằm tìm ra những giải pháp thích hợp để đẩy mạnh công tác xã hội hoá giáo dục, một cách năng động sáng tạo đáp ứng yêu cầu của thời đại trong hoàn thành mục tiêu giáo dục.

Công tác xã hội hoá giáo dục trong trường THCS

5

Nguyễn Quang Loan – Trường THCS Đáp Cầu 2010

Hai năm học 2008 –

PHẦN II : NỘI DUNG ĐỀ TÀI CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN CHUNG: CƠ SỞ KHOA HỌC, CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI HOÁ GIÁO DỤC TRONG NHÀ TRƯỜNG THCS I-Một số quan niệm về xã hội hoá giáo dục trong trường THCS: Ngành giáo dục luôn khuyến khích, huy động và tạo điều kiện để toàn xã hội tham gia phát triển giáo dục. Tạo cơ hội cho mọi người, ở mọi lứa tuổi, mọi trình độ được học thường xuyên, học suốt đời, tiến tới một xã hội học tập. Giáo dục luôn là vấn đề trung tâm của đời sống xã hội vì nó quyết định tương lai của mỗi người và của cả xã hội. Thực trạng nhức nhối của nền giáo dục Việt Nam hiện nay – nguyên nhân làm trì trệ sự phát triển của Việt Nam – đặt ra vấn đề phải cải cách giáo dục và xã hội hoá giáo dục là một những giải pháp được đặt ra sôi nổi nhất. Phải khẳng định, xã hội hoá giáo dục là tinh thần, là nội dung quan trọng nhất của cải cách giáo dục, đảm bảo sự thành công của cải cách giáo dục. Nhiều người có tâm huyết quan tâm nghiên cứu và đưa ra những giải pháp cho chương trình xã hội hoá giáo dục nhưng thực tế chưa ghi nhận được thành công nào. Xã hội hoá giáo dục cần được nhận thức lại và giải quyết trên cơ sở hợp lý hơn. Xã hội hoá giáo dục có ý nghĩa là nhà nước phải tạo ra không gian xã hội, luật pháp và chính trị cho việc hình thành một khu vực giáo dục mà ở đấy ai cũng có quyền đóng góp vì sự nghiệp giáo dục, thực hiện sự cạnh tranh về chất lượng giáo dục, tức là giáo dục phải thuộc về xã hội. Xã hội hoá giáo dục, do đó, cần phải chỉ ra vai trò của xã hội trong sự nghiệp xã hội hoá giáo dục. Nói cách khác, xã hội Công tác xã hội hoá giáo dục trong trường THCS

6

Nguyễn Quang Loan – Trường THCS Đáp Cầu 2010

Hai năm học 2008 –

Công tác xã hội hoá giáo dục trong trường THCS

7

Nguyễn Quang Loan – Trường THCS Đáp Cầu 2010

Hai năm học 2008 –

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG NHỮNG VẤN ĐỀ XÃ HỘI HOÁ GIÁO DỤC TRONG TRƯỜNG THCS ĐÁP CẦU NHỮNG NĂM QUA

I/ Khái quát tình hình chung: Trường THCS Đáp Cầu là một trường của phường nghèo trong các phường của Thành phố Bắc Ninh. Trong năm qua công tác xã hội hóa giáo dục đã được quan tâm nhưng hiệu quả chưa cao chỉ dừng lại ở việc tạo điều kiện cho học sinh đến trường một cách thuận lợi. Đặc biệt đối với học sinh nghèo xã hội hoá giáo dục giúp đỡ các em còn gặp nhiều khó khăn. Việc nhận thức của nhân dân về việc giáo dục đạo đức và việc học tập của con em trong những năm qua còn hạn chế, nhận thức của các bậc phụ huynh và của một số ít cán bộ có điều kiện thường tìm cách chuyển trường cho con, em mình đi học trường khác. Là phường nghèo nguồn kinh phí đầu tư cho giáo dục thấp, bên cạnh đó việc đóng góp của nhân dân gặp khó khăn, số học sinh nghèo, có hoàn cảnh khó khăn chiếm tỷ lệ cao: năm học 2008 – 2009 tỷ lệ 12,5%; năm 2009 – 2010 tỷ lệ 10,5% học sinh khó khăn. Bên cạnh những khó khăn trên có những thuận lợi nhất định Đảng Uỷ, UBND phường quan tâm đến phong trào giáo dục địa phương, các cấp các ngành đã có nhận thức đúng về công tác giáo dục. Công tác xã hội hoá giáo dục trong trường THCS

8

Nguyễn Quang Loan – Trường THCS Đáp Cầu 2010

Hai năm học 2008 –

Chính vì thế công tác xã hội hóa giáo dục cần được quan tâm để đảm bảo cho học sinh được đến trường dù ở hoàn cảnh nào, không để học sinh vì kinh tế mà phải bỏ học đồng thời tạo nguồn quỹ khuyến học khuyến tài, động viên học sinh vươn lên trong học tập và rèn luyện đạo đức cũng như đầu tư thêm cơ sở vật chất cho nhà trường đảm bảo môi trường giáo dục theo mục tiêu cải cách giáo dục đề ra trong giai đoạn hiện nay. II/ Thực trạng công tác xã hội hoá giáo dục trường THCS Đáp Cầu qua 2 năm học 2008 – 2010. Từ năm 2004 sau khi trường THCS Đáp Cầu được công nhận trường chuẩn quốc gia, dưới sự lãnh đạo của UBND phường, và UBND thị xã Bắc Ninh thực hiện dự án du lịch sông Cầu, cải tạo môi trường và sự chuyển đổi của kinh tế thị trường đã ảnh hưởng đến đời sống, nguồn thu nhập công ăn việc làm của người dân phường Đáp Cầu. Sự phân hóa chênh lệch về kinh tế rõ rệt, một số hộ giàu lên, một số hộ thu nhập kém trở thành hộ nghèo, đa số các hộ trong phường có thu nhập thấp đã ảnh hưởng không nhỏ đến công tác xã hội hoá giáo dục trên địa bàn. Thể hiện ở những mặt sau : – Một số gia đình mải lo về kinh tế không quan tâm đến việc giáo dục con em, dẫn đến tình trạng học sinh lười học, ý thức đạo đức xuống cấp. – Việc đóng góp cho con em đến trường theo quy định của nhà nước gặp nhiều khó khăn.

Công tác xã hội hoá giáo dục trong trường THCS

9

Nguyễn Quang Loan – Trường THCS Đáp Cầu 2010

Hai năm học 2008 –

– Công tác xã hội hoá về việc giáo dục đạo đức học sinh trong cộng đồng dân cư cũng như xã hội hoá về cơ sở vật chất trang thiết bị cho nhà trường gặp những khó khăn. Chính vì vậy, cần phải làm tốt công tác xã hội hoá giáo dục mà chủ yếu trên hai mặt : Một là : Xã hội hoá về công tác giáo dục đạo đức làm cho nhân dân nhận thức được việc học tập và rèn luyện đạo đức của học sinh trong thời đại hiện nay là rất cần thiết là sự đầu tư chính đáng, là con đường xoá đói giảm nghèo, phòng chống tệ nạn xã hội hiệu quả nhất. Hai là : Thay đổi phương thức, hình thức hoạt động vận động nhân dân tạo nguồn tài chính cho việc xã hội hoá cơ sở vật chất nhà trường. Từ đó bổ sung trang thiết bị cho việc dạy và học của giáo viên và học sinh. Đồng thời xây dựng cảnh quan nhà trường khang trang sạch đẹp tạo ra môi trường học tập an toàn, thân thiện. Đứng trước nhiệm vụ của năm học, mục tiêu đào tạo của ngành giáo dục và yêu cầu ngày càng cao việc nâng cao chất lượng toàn diện cho học sinh. Ban giám hiệu nhà trường xác định nhiệm vụ vận động nhân dân và các doanh nghiệp cũng như toàn nhân dân tham gia công tác xã hội hoá giáo dục là hết sức quan trọng và cần thiết, không thể thiếu được trong nhà trường THCS. Trong hai năm học 2008 – 2010 chi bộ Đảng, ban giám hiệu trường THCS Đáp Cầu đã xác định lấy công tác xã hội hoá giáo dục là công tác quan trọng để nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện trong nhà trường. Với các nội dung cụ thể sau: Công tác xã hội hoá giáo dục trong trường THCS

10

Nguyễn Quang Loan – Trường THCS Đáp Cầu 2010

Hai năm học 2008 –

Công tác xã hội hoá giáo dục trong trường THCS

11

Nguyễn Quang Loan – Trường THCS Đáp Cầu 2010

Hai năm học 2008 –

III. Phân tích nguyên nhân, kết quả đạt được, những tồn tại thiếu sót và những bất cập trong công tác xã hội hoá giáo dục. * Kết quả: Trong hai năm học: 2008 – 2009; 2009 – 2010 với sự quan tâm của chi bộ Đảng, của Ban giám hiệu nhà trường phong trào xã hội hoá giáo dục đã đạt được một số kết quả đáp ứng được cho sự phát triển giáo dục địa phương thể hiện qua một số kết quả đạt được sau: 1. Nhận thức của giáo viên: Qua phong trào xã hội giáo dục các đồng chí cán bộ, giáo viên trong nhà trường đã nhận thức được việc cần phải tăng cường công tác liên hệ chặt chẽ với địa phương gia đình để giáo dục đạo đức học sinh. Từ đó, đã thực hiện tốt các hoạt động xã hội chính trị của địa phương và có những phương pháp tiếp cận giáo dục đạo đức học sinh cá biệt theo phương pháp mới đó là tìm hiểu hoàn cảnh học sinh, từ đó có những biện pháp giáo dục phù hợp trên cơ sở lấy tình thương trách nhiệm với học sinh với cộng đồng. 2. Về nhận thức của nhân dân: Đẩy mạnh công tác xã hội hoá giáo dục cải tiến phương pháp, hình thức hoạt động về việc giáo dục trong cộng đồng dân cư, đã thu hút được đông đảo quần chúng nhân dân tham gia giáo dục đạo đức học sinh, các bậc phụ huynh kết hợp chặt chẽ với nhà trường hơn, thái độ của phụ huynh đến trường có nhận thức đúng đắn, về việc học tập rèn luyện đạo đức của con em mình. Hiện tượng bất hợp tác của phụ huynh để giáo dục học sinh không còn. Công tác xã hội hoá giáo dục trong trường THCS

12

Nguyễn Quang Loan – Trường THCS Đáp Cầu 2010

Hai năm học 2008 –

Trong hai năm học 2008 – 2009, 2009 – 2010 nhờ làm tốt công tác xã hội hoá giáo dục đạo đức học sinh đã chuyển biến rõ rệt không có học sinh vi phạm pháp luật, không có học sinh bỏ học vì lý do kinh tế, khó khăn. Chất lượng đạo đức được nâng lên số học sinh có đạo đức khá, tốt tăng hơn so với năm trước. Các em học sinh ngoan hơn, chăm học hơn, chất lượng giáo dục toàn diện được nâng lên từng bước. 3. Về cơ sở vật chất: Qua việc hoạt động về xã hội hoá giáo dục của nhà trường đã tạo ra được nguồn kinh phí, đầu tư thêm trang thiết bị cho nhà trường, tạo ra một môi trường giáo dục an toàn, thân thiện. Các nhà doanh nghiệp, các nhà hảo tâm đã có tấm lòng giúp đỡ nhà trường làm cho nhà trường ngày càng khang trang hơn. Qua hai năm học 2008 – 2009, 2009 – 2010 công tác xã hội hoá giáo dục đã giúp nhà trường có hệ thống tường rào, cửa xếp bảo vệ chắc chắn tạo ra cho nhà trường có môi trường an toàn. Hội cha mẹ học sinh đã tiến hành khuyên góp các nhà hảo tâm cải tạo khu vệ sinh sạch sẽ đảm bảo đủ tiêu chuẩn học đường, cải tạo xây dựng vườn trường tạo ra cảnh quan sư phạm và chỗ vui chơi giải trí cho học sinh. Nhờ có công tác xã hội hoá giáo dục mà học sinh có bàn ghế học tập khang trang đúng quy cách và bổ sung các trang thiết bị dạy học cho nhà trường. Tổng kinh phí trong hai năm do công tác xã hội hoá giáo dục đạt được: 97.000.000đ 4. Về khuyến học, khuyến tài:

Công tác xã hội hoá giáo dục trong trường THCS

13

Nguyễn Quang Loan – Trường THCS Đáp Cầu 2010

Hai năm học 2008 –

Xã hội hoá giáo dục đã giúp nhà trường tạo ra nguồn kinh phí khen thưởng hàng năm thúc đẩy học sinh phấn đấu và động viên được các thầy cô giáo, các học sinh trong trường phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ của mình và vươn lên trong học tập. Từ công tác xã hội hoá giáo dục mà hội cha mẹ học sinh đã gây được quỹ khuyến học, khuyến tài và thưởng cho học sinh hàng năm trị giá trên 15 triệu đồng/1năm thúc đẩy được phong trào học tập của các em và động viên được các học sinh có hoàn cảnh khó khăn vươn lên trong học tập và rèn luyện đạo đức. Vị thế nhà giáo được nâng cao trong cộng đồng dân cư phường. 5. Quản lý học sinh: Việc quản lý học sinh ngoài giờ đến trường đã được các cấp chính quyền khu phố quan tâm tác động mạnh mẽ đến gia đình học sinh. Từ đó, đã ngăn chặn được các tệ nạn xã hội đã xâm nhập vào học sinh, vào học đường, các hiện tượng bạo lực không xảy ra. Qua công tác xã hội hoá giáo dục việc quản lý học sinh, giáo dục học sinh tại địa phương đã đạt được những kết quả đáng kể không có học sinh nào vi phạm pháp luật, và tệ nạn xã hội. * Nguyên nhân: Có kết quả trên là nhờ có sự nhận thức đúng đắn của cấp uỷ, ban giám hiệu nhà trường, của chi bộ, của công đoàn và của hội đồng nhà trường. Đó là kết quả của sự quan tâm chỉ đạo của Phòng giáo dục, của UBND phường và nhân dân địa phương với sự nghiệp giáo dục. Công tác xã hội hoá giáo dục trong trường THCS

14

Nguyễn Quang Loan – Trường THCS Đáp Cầu 2010

Hai năm học 2008 –

Công tác xã hội hoá giáo dục trong trường THCS

15

Nguyễn Quang Loan – Trường THCS Đáp Cầu 2010

Hai năm học 2008 –

Còn một số phụ huynh nhận thức còn thấp về việc giáo dục con em mình phần nào đã gây khó khăn cho công tác xã hội hoá giáo dục.

CHƯƠNG III: NHỮNG BIỆN PHÁP, GIẢI PHÁP ĐẶT RA TRONG VIỆC XÂY DỰNG PHONG TRÀO XÃ HỘI HOÁ GIÁO DỤC TẠI TRƯỜNG THCS ĐÁP CẦU

I/ Phương hướng thực hiện công tác xây dựng phong trào xã hội hoá giáo dục: Qua sự đánh giá, nghiên cứu về địa bàn dân cư, tình hình kinh tế địa phương phường Đáp Cầu và tập thể sư phạm trường THCS Đáp Cầu, bản thân nhận thấy cần phải có định hướng lâu dài trong việc xây dựng kế hoạch cho công tác xã hội hoá giáo dục. Một là, thay đổi nhận thức trong giáo viên về việc xã hội hoá giáo dục tuyên truyền sâu rộng cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” và cuộc vận động “Hai không” với bốn nội dung chống tiêu cực trong thi cử, bệnh thành tích trong giáo dục, học sinh ngồi nhầm chỗ, đạo đức nhà giáo. Trong Công tác xã hội hoá giáo dục trong trường THCS

16

Nguyễn Quang Loan – Trường THCS Đáp Cầu 2010

Hai năm học 2008 –

đó cần chú trọng và là trọng tâm trong việc xây dựng tập thể sư phạm đó là đạo đức nhà giáo. Nhà giáo ngoài đạo đức, lối sống lành mạnh còn phải có tâm nghề nghiệp, phải có tình thương đối với học sinh, phải có ý thức phấn đấu vươn lên làm chủ kiến thức, không ngừng tu dưỡng rèn luyện tay nghề và thực sự là tấm gương để học sinh noi theo. Từ đó, nâng cao vị thế của người giáo viên trong nhân dân, tạo niềm tin tưởng với phụ huynh học sinh. Hai là, phải xây dựng một tập thể có lòng nhân ái, vị tha, biết đặt lợi ích của người học trong các giờ giảng dạy cũng như hoạt động giáo dục. Từ đó, kết hợp chặt chẽ với các phụ huynh học sinh cùng nhau tìm biện pháp, kết hợp giáo dục. Ba là, công tác tham mưu với Đảng Uỷ, UBND phường, với các cấp chính quyền khu dân cư là việc làm rất cần thiết, được mở thành hội nghị bàn bạc thống nhất cùng với nhà trường chịu trách nhiệm với việc giáo dục đạo đức học sinh. Bốn là, thông qua công tác xã hội hoá giáo dục cần chú trọng xây dựng nhà trường trở thành trung tâm văn hóa, môi trường giáo dục lành mạnh, tăng cường sự lãnh đạo của đảng, thực hiện sự liên kết giữa các lực lượng giáo dục trong toàn phường như công đoàn, đoàn thanh niên, hội cha mẹ học sinh, hội đồng giáo dục… Để tạo ảnh hưởng tích cực đối với giáo dục và đào tạo, xây dựng môi trường nhà trường từ cơ sở hạ tầng, cảnh quan, nề nếp, kỉ cương dạy – học đến các mối quan hệ bên trong nhà trường và quan hệ bên ngoài nhà trường với xã hội, tổ chức tốt các hoạt động ngoại khóa, các hoạt động xã hội, tổ chức các diễn đàn giáo dục, thu thập ý kiến đóng góp của nhân dân về công tác giáo dục từ đó có các biện pháp khắc phục những hạn chế trong giáo dục, truyền thụ kiến thức cho học sinh.

Công tác xã hội hoá giáo dục trong trường THCS

17

Nguyễn Quang Loan – Trường THCS Đáp Cầu 2010

Hai năm học 2008 –

18

Nguyễn Quang Loan – Trường THCS Đáp Cầu 2010

Hai năm học 2008 –

Qua việc nghiên cứu và thực hiện đề tài “Xây dựng xã hội hóa giáo dục trong trường THCS Đáp Cầu” trong hai năm 2008 – 2009, 2009 – 2010 đã giúp bản thân tôi thu hoạch được một số kết quả sau: – Thấm nhuần lời dạy của Bác “muốn làm được việc phải dựa vào dân, phải biết đặt lợi ích của dân lên trên lợi ích cá nhân”, “Dễ ngàn lần không dân cũng chịu, Khó vạn lần dân liệu cũng xong” vì vậy, muốn làm tốt công tác giáo dục tại địa phương phường Đáp Cầu phải dựa vào dân. Do đó, đẩy mạnh phong trào xã hội hoá giáo dục, phải phù hợp với xu thế phát triển của địa phương, phải được sự ủng hộ của quần chúng nhân dân về các chủ trương phương pháp thực hiện. – Dự đoán được các khó khăn xảy ra khi thực hiện cuộc vận động xã hội hoá giáo dục trên địa bàn nhiều dân cư cần phải dựa vào những nhân tố tích cực có nhận thức đúng về sự nghiệp giáo dục địa phương, để làm nòng cốt thúc đẩy phong trào và tuyên truyền trong nhân dân. – Qua việc thực hiện xã hội hóa giáo dục địa phương cho thấy việc kết hợp giữa “nhà trường – xã hội – gia đình” là một chủ trương đúng đắn đã được thực hiện từ lâu song cần phải thay đổi phương pháp, hình thức hoạt động cho phù hợp với tình hình kinh tế, chính trị và sự phát triển của xã hội hiện nay. Kết hợp giữa đổi mới phương pháp giảng dạy, đạo đức nhà giáo với việc xã hội hoá giáo dục nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện mới đạt hiệu quả. 2. Những kiến nghị thông qua việc thực hiện đề tài: – Người lãnh đạo nhà trường phải chủ động tham mưu với Đảng Uỷ, UBND Phường và các cấp chính quyền địa phương. Công tác xã hội hoá giáo dục trong trường THCS

19

Nguyễn Quang Loan – Trường THCS Đáp Cầu 2010

Hai năm học 2008 –

– Giáo viên chủ nhiệm cần có thời gian để xuống thăm gia đình học sinh và phải thực hiện các hoạt động chính trị xã hội ở địa phương. – Mở lớp tuyên truyền về giáo dục giới tính nhằm giúp phụ huynh có phương pháp giáo dục con em mình một cách khoa học. – Cần có những cam kết trách nhiệm về quản lý học sinh với các tổ trưởng, trưởng khu dân phố mà Đảng Uỷ, UBND phường phải đứng ra tổ chức thực hiện. Ngày nay, đất nước ta trong thời kì đổi mới nền kinh tế ngày càng phát triển mạnh mẽ, cuộc sống của nhân dân ngày càng được nâng cao, khoa học kĩ thuật ngày càng phát triển. Giáo dục là sự nghiệp của quần chúng, là động lực thúc đẩy có tác động mạnh mẽ đến sự phát triển của đất nước. Bác Hồ nói: “Nhiệm vụ của cô giáo, thầy giáo rất quan trọng và rất vẻ vang. Giáo dục là sự nghiệp của quần chúng. Cần phải phát huy đầy đủ dân chủ, xã hội chủ nghĩa, xây dựng quan hệ thật tốt, đoàn kết thật chặt chẽ giữa thầy và thầy, giữa thầy và trò, giữa học trò với nhau, giữa cán bộ các cấp, giữa nhà trường và nhân dân để hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ đó”. Bác còn nói: “Giáo dục nhằm đào tạo những người kế tục sự nghiệp cách mạng to lớn của Đảng của nhân dân”. Để hoàn thành được nhiệm vụ trong công tác đào tạo nhân tài, nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện thực hiện mục tiêu giáo dục của Bộ giáo dục đề ra. Các nhà trường cần làm tốt công tác xã hội hoá giáo dục, xây dựng tập thể nhà giáo văn hoá với việc kết hợp ba lực lượng giáo dục, để tiến hành các biện pháp giáo dục đạo đức học sinh theo phương pháp giáo dục mới, mà lợi ích người học được đặt lên trên hết. Vì vậy, việc nâng cao “kỷ cương, tình thương, trách nhiệm” của đội Công tác xã hội hoá giáo dục trong trường THCS

20