Giải Pháp Thu Hút Doanh Nghiệp Đầu Tư Vào Nông Nghiệp / 2023 / Top 13 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 12/2022 # Top View | Phauthuatthankinh.edu.vn

Bắc Kạn Thu Hút Doanh Nghiệp Đầu Tư Vào Nông Nghiệp / 2023

Tỉnh Bắc Kạn đang quyết tâm đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao năng lực cạnh tranh, kêu gọi đầu tư, nhất là các chính sách để phát triển nông lâm nghiệp. Một trong những giải pháp thu hút các doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn chính là tạo thêm các cơ chế ưu đãi, hỗ trợ cho doanh nghiệp.

Sản xuất tinh bột nghệ tại Công ty cổ phần Nông sản Bắc Kạn

Bắc Kạn định hướng phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa, nâng cao giá trị gia tăng, phát triển bền vững. Để hiện thực hóa điều này, không thể không có sự tham gia của doanh nghiệp trong phát triển chuỗi giá trị sản phẩm nông nghiệp. Nhiều sản phẩm đặc trưng của tỉnh như: củ dong riềng, quả mơ vàng, cam quýt Quang Thuận, chè Bằng Phúc, gạo Bao thai… có tiềm năng phát triển hàng hóa, tuy nhiên cần có chính sách hỗ trợ khuyến khích doanh nghiệp đầu tư để tăng giá trị, hiệu quả.

Từ thực tế cho thấy, một trong những điểm yếu trong sản xuất nông nghiệp ở tỉnh ta đó là mối liên kết “4 nhà” chưa chặt chẽ, thiếu gắn kết lợi ích và trách nhiệm của các bên với nhau; chưa xây dựng được chuỗi sản xuất theo nhóm sản phẩm. Vì thế, sản phẩm nông lâm nghiệp chưa được công nhận đảm bảo an toàn thực phẩm còn chiếm tỷ lệ cao; các sản phẩm nông lâm chủ yếu bán ở dạng tươi sống, chưa qua chế biến. Ngành nông lâm nghiệp chưa thu hút được sự đầu tư của các doanh nghiệp vào đầu tư, sản xuất, kinh doanh, chế biến, tiêu thụ sản phẩm.

Để thu hút, tạo điều kiện cho doanh nghiệp và các thành phần kinh tế tham gia đầu tư vào lĩnh vực nông lâm nghiệp được thuê đất, thực hiện các dự án phát triển sản xuất, tỉnh Bắc Kạn ban hành Quyết định số 1131/QĐ-UBND tỉnh ngày 04/8/2017 phê duyệt chính sách hỗ trợ các doanh nghiệp, hợp tác xã thuê đất thực hiện các dự án phát triển sản xuất nông lâm nghiệp, trồng cây dược liệu; Nghị quyết số 08/2019/NQ-HĐND ngày 17/7/2019 quy định một số chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn. Các chính sách ưu đãi khuyến khích đối với doanh nghiệp, nhất là Nghị quyết số 05/2019/NQ-HĐND về khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn, với những ưu đãi toàn diện từ tiếp cận, hỗ trợ tín dụng cho đến hỗ trợ đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng dự án trồng rau, củ quả, chè, chăn nuôi, giết mổ gia súc, gia cầm… Đến nay, toàn tỉnh đã có 13 dự án của 11 doanh nghiệp đề xuất, đăng ký hỗ trợ theo chính sách khuyến khích theo Nghị quyết 05 của HĐND tỉnh.

Trong năm 2019 tỉnh Bắc Kạn đã xác định và ban hành 6 nhóm sản phẩm chủ lực theo Nghị định số 57/2018/NĐ-CP ngày 17/4/2018 của Chính phủ về cơ chế, chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp nông thôn. Đây là cơ sở để xem xét, hỗ trợ các doanh nghiệp được hưởng các cơ chế, chính sách khuyến khích đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn tỉnh.

Phát triển kinh tế- xã hội của tỉnh Bắc Kạn phải dựa trên nền tảng lợi thế của tỉnh là sản xuất nông, lâm nghiệp. Ngành nông nghiệp tỉnh đang thực hiện cơ cấu lại ngành theo hướng nâng cao giá trị gia tăng dựa trên phát triển chuỗi giá trị của các ngành hàng có lợi thế, đặc biệt quan tâm phát triển các sản phẩm bản địa, sản phẩm chủ lực, OCOP. Trong đó xác định lấy liên kết sản xuất, phát triển công nghiệp chế biến để nâng cao chất lượng, nâng cao giá trị sản phẩm và dịch vụ tiêu thụ nông sản làm trung tâm của quá trình cơ cấu lại ngành nông nghiệp. Thúc đẩy sự tham gia, chia sẻ lợi ích công bằng, liên kết sản xuất giữa các hộ gia đình với các công ty (doanh nghiệp), các tổ chức của nông dân, các đơn vị nghiên cứu, chế biến kinh doanh và liên kết thị trường, tập trung phát triển kinh tế hợp tác và thu hút đầu tư của các thành phần kinh tế.

Tỉnh đã, đang xây dựng, hoàn thiện cơ chế thu hút doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, tăng cường liên kết doanh nghiệp và nông dân; chỉ đạo các sở, ban, ngành và địa phương hướng dẫn các doanh nghiệp đang hoạt động sản xuất tập trung tích tụ ruộng đất, sản xuất hàng hoá quy mô lớn; ứng dụng khoa học công nghệ để phát triển các sản phẩm nông nghiệp có lợi thế của tỉnh và theo nhu cầu thị trường.

Với phương châm “Doanh nghiệp là động lực quan trọng trong phát triển kinh tế – xã hội. Thành công của doanh nghiệp cũng chính là thành công của tỉnh”, Bắc Kạn tiếp tục tạo điều kiện thuận lợi nhất để các tổ chức, cá nhân tham gia tích tụ đất sản xuất nông nghiệp để phát triển sản xuất nông nghiệp trong lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản, tăng thu nhập, nâng cao đời sống nông dân./.

Giải Pháp Tăng Cường Thu Hút Vốn Đầu Tư Vào Nông Nghiệp Việt Nam / 2023

Để đẩy mạnh thu hút đầu tư vào nông nghiệp, thời gian tới cần triển khai một số giải pháp sau:

Nhà nước cần có chính sách cải cách về thủ tục trong thu hút vố đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp cụ thể:

Đối với đầu tư trong nước, cần có các chính sách khuyến khích hợp tác công tư hợp lý và hiệu quả. Cụ thể chính sách này cần dành cho các doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp những ưu đãi và trợ cấp về thuế (thu nhập, VAT, thuế xuất – nhập khẩu…) bên cạnh đó cần có những chính sách đồng bộ phát triển các dịch vụ hỗ trợ kinh doanh, hỗ trợ về hạ tầng thị trường, hỗ trợ xúc tiến thương mại và cơ chế tài chínhđặc thù. Cơ chế hỗ trợ theo hình thức vườn ươm doanh nghiệp cũng cần được ưu tiên thực hiện.

Đối với thu hút FDI, Chính phủ cần xây dựng mới chính sách thu hút đầu tư FDI đặc biệt trong các lĩnh vực nông nghiệp công nghệ cao, sản xuất đầu vào, dịch vụ hậu cần, chế biến nông sản, quản lý chất lượng, phát triển thị trường,.. gắn thu hút doanh nghiệp với nhu cầu thị trường, theo địa phương và lĩnh vực trọng điểm. Nghiên cứu ban hành các cơ chế chính sách giúp đơn giản hóa các thủ tục trong việc vay vốn ngân hàng, khuyến khích ngân hàng cung cấp tín dụng ưu đãi cho các doanh nghiệp kinh doanh có vùng nguyên liệu được tổ chức và có hợp đồng nông sản với nông dân.

Để hạn chế rủi ro trong đầu tư đồng thời tăng cường hoạt động nghiên cứu khoa học áp dụng công nghệ vào lĩnh vực nông nghiệp thì cần ưu tiên các doanh nghiệp đầu tư, nghiên cứu, chuyển giao, ứng dụng vào các nhóm lĩnh vực, ngành nghề: (i) Đầu tư, phát triển vùng sản xuất tập trung trong các lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản; (ii) Sản xuất, phát triển giống cây trồng, vật nuôi, giống cây lâm nghiệp, giống thủy sản. Sản xuất đầu vào như phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, thức ăn chăn nuôi và thủy sản, chế phẩm sinh học, thuốc thú y chăn nuôi và thủy sản; (iii) Ứng dụng công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới, công nghệ tự động hóa và các công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển trong sản xuất nông nghiệp; (iv) Đầu tư vào lĩnh vực chế biến, bảo quản nông, lâm, thủy sản, dược liệu, tinh chế muối; sản xuất máy, thiết bị, chất phụ gia, phụ trợ phục vụ cho sản xuất nông nghiệp…

nâng cao hiệu quả đào tạo nghề cho lực lượng lao động nông nghiệp. Đào tạo nghề phải xuất phát từ nhu cầu sử dụng lao động của các doanh nghiệp trên từng địa bàn cụ thể và nhu cầu thực tế của người dân. Do đó, từng địa phương cần có những nghiên cứu đánh giá để nắm bắt nhu cầu cụ thể của từng nghề, nhóm nghề, vị trí công việc… của doanh nghiệp nhằm đáp ứng nhân lực phù hợp.

Đồng thời, đẩy mạnh đào tạo nghề, nâng cao kiến thức cho người lao động nông thôn để có thể tiếp thu thành quả công nghệ hiện đại trong sản xuất nông nghiệp. Tạo thêm nhiều việc làm mới ở khu vực ngoại thành để thu hút lao động dư thừa trong sản xuất nông nghiệp công nghệ cao.

Mặt khác, đa dạng hóa hình thức đào tạo, đẩy mạnh xã hội hóa dạy nghề. Xây dựng và ban hành chính sách đào tạo, thu hút người lao động có trình độ cao đẳng, đại học về hợp tác xã nông nghiệp, nhất là con em tại chỗ của địa phương; đẩy mạnh thực hiện chính sách hỗ trợ học nghề cho lao động nông thôn thực hiện theo Quyết định số 1956/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020; hoàn thiện các chương trình đào tạo kỹ năng, tay nghề cho người lao động, nâng cao nhận thức về việc làm và khả năng tìm kiếm việc làm cho người lao động.

phát triển thị trường, dịch vụ hỗ trợ hoạt động nông nghiệp. Cụ thể:

– Hình thành sàn giao dịch công nghệ cao trong nông nghiệp và phát triển các loại hình dịch vụ môi giới, tư vấn, đánh giá, đầu tư, pháp lý, tài chính, bảo hiểm, sở hữu trí tuệ và các dịch vụ khác nhằm thúc đẩy hoạt động công nghệ cao, tiêu thụ, sử dụng sản phẩm công nghệ cao trong nông nghiệp.

– Xây dựng cơ sở dữ liệu đồng bộ về công nghệ cao trong nông nghiệp; tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức, cá nhân tiếp cận, sử dụng, trao đổi thông tin về công nghệ cao trong nông nghiệp; tổ chức, tham gia chợ, hội chợ, triển lãm công nghệ cao trong nông nghiệp quy mô quốc gia, quốc tế.

– Khuyến khích và hỗ trợ các doanh nghiệp nông nghiệp hàng đầu của Việt Nam đầu tư nghiên cứu nhu cầu và thị hiếu các thị trường nước ngoài để phát triển đa dạng sản phẩm với chất lượng tốt, hạn chế xuất khẩu thô và xây dựng mạng lưới phân phối trực tiếp đến tận tay người tiêu dùng ở các thị trường quốc tế. Hình thành chuỗi ngành hàng chiến lược bám sát thị trường, có liên kết quốc tế mạnh, có thương hiệu toàn cầu, có vị thế ở một số thị trường mục tiêu, có ảnh hưởng kinh tế và xã hội lớn…

Thêm Giải Pháp Thu Hút Đầu Tư Vào Du Lịch / 2023

Ông Lê Hữu Minh, Quyền Giám đốc Sở Du lịch cho rằng, đến cuối năm 2019, thu hút đầu tư trong lĩnh vực du lịch đã có chuyển biến tích cực hơn, nhưng vẫn còn chậm, các dự án (DA) đầu tư phần lớn vẫn còn trên giấy.

Không gian Lê Bá Đảng là điểm du lịch mới của Huế được đưa vào khai thác trong năm 2019 Chưa như kỳ vọng

Trong cuộc họp bàn các giải pháp phát triển du lịch Huế 2020 mới đây, Sở Du lịch thông tin, nhiều nhà đầu tư chiến lược, có thương hiệu về du lịch trong nước đã đầu tư và đang nghiên cứu đầu tư trên địa bàn tỉnh như Vingroup, Sungroup, FLC, BRG, ECOPARK… Một số DA lớn được đẩy nhanh tiến độ triển khai để sớm đưa vào sử dụng trong năm 2020 như Khu nghỉ dưỡng quốc tế Minh Viễn, Khu du lịch Địa Trung Hải. Bên cạnh đó, một số DA lớn khác cũng vừa và chuẩn bị đưa vào khai thác như Khu nghỉ dưỡng Về Nguồn, Khách sạn Thuận Hóa.

Dù thế, ông Lê Hữu Minh thẳng thắn nhìn nhận, các DA đầu tư du lịch phần lớn vẫn đang nằm trên giấy, trong khi nhu cầu dịch vụ vui chơi giải trí, khách sạn 4 – 5 sao đang rất bức thiết. Các DA lớn ở Hải Dương, Vinh Thanh, Lộc Bình… đã được cấp chứng nhận đầu tư được 1 – 3 năm, nhưng đến nay vẫn chưa khởi công xây dựng. Sự sốt ruột là khó tránh khỏi với ngành du lịch khi sự quan tâm của người dân, các đối tác chưa bao giờ giảm sút.

Chẳng hạn như ở Phú Lộc, là địa bàn có nhiều DA du lịch đầu tư. Tại kỳ họp HĐND cuối năm 2019 vừa qua, lãnh đạo huyện cũng đánh giá, việc thu hút đầu tư có bước tăng trưởng nhưng vẫn chưa thực sự có hiệu quả, nhiều DA lớn, trọng điểm triển khai chưa đúng tiến độ, như: Khu du lịch suối Voi, Khu du lịch nghỉ dưỡng, phát triển thể chất kết hợp vui chơi thể thao Lộc Bình… đã làm ảnh hưởng lớn đến tổng vốn đầu tư toàn xã hội và thu ngân sách trên địa bàn.

Hai nguyên nhân chủ yếu vẫn được chỉ ra là khâu giải phóng mặt bằng và nhà đầu tư chưa thật sự muốn “rót” vốn để đẩy nhanh DA. Đại diện một DA du lịch cao cấp ở Thuận An cho biết, chủ đầu tư rất muốn giải phóng mặt bằng đến đâu thi công đến đó và chuyển kinh phí trước để Nhà nước đẩy nhanh tiến độ, nhưng vướng các quy định nên phải chờ.

Theo ông Vũ Hoài Phương, Hiệu trưởng Trường cao đẳng Du lịch Huế, trên thực tế, các nhà đầu tư luôn có sự tính toán để ưu tiên đầu tư, như biển Lăng Cô và Đà Nẵng, chỉ cách nhau vài chục km nhưng vì sao có sự khác biệt. Chỉ tính về thời tiết, biển Đà Nẵng ít nhất hoạt động dài hơn 1 tháng so với Lăng Cô. Với du lịch biển, chừng đó thời gian đã giúp tăng đến 20% doanh thu. Hay với những điểm đến như Khánh Hòa, Phú Quốc, số ngày nắng trong năm là 290 ngày, chắc chắn sẽ được nhiều nhà đầu tư đến hơn so với điểm đến có khoảng 260 ngày nắng như Thừa Thiên Huế.

Một khó khăn khác là những tài nguyên có thể thu hút các nhà đầu tư ở Thừa Thiên Huế đa số có tính nhạy cảm. Như Bạch Mã, phá Tam Giang, để đầu tư phải có đánh giá tác động môi trường, có phương án khả dĩ để vừa xây dựng, vừa bảo vệ cảnh quan; vừa phát triển nhưng phải bảo vệ các sinh vật đặc hữu.

Thêm giải pháp

Sự hỗ trợ về môi trường đầu tư, các thủ tục hành chính, thời gian qua được các nhà đầu tư đánh giá rất cao đối với Thừa Thiên Huế. Theo một số chuyên gia du lịch, việc tạo ra môi trường thông thoáng rất cần thiết, nhưng đó mới chỉ một phần, còn khá nhiều công việc cần được thực hiện tốt hơn nếu muốn thu hút thêm các nhà đầu tư và nhà đầu tư sớm triển khai DA.

Hạ tầng cho DA cần được đảm bảo, hệ thống cấp nước, thoát nước, xử lý nước thải, nhất là hạ tầng giao thông kết nối các khu vực có DA đầu tư.

Theo ông Vũ Hoài Phương, riêng với phá Tam Giang, sẽ rất khó để thu hút đầu tư, dù đó có thể là một doanh nghiệp cực lớn. Bởi vì sao? Để được triển khai DA doanh nghiệp phải đi nhiều nơi, thậm chí ra các Bộ, ngành Trung ương để xin các thủ tục về môi trường, hoặc quy định khác. Từ thực tế đó, nếu Thừa thiên Huế muốn thu hút bắt buộc phải đảm bảo tất cả các quy định, giải quyết được các yêu cầu đó trước, khi doanh nghiệp đến chỉ có đầu tư.

Minh chứng cho điều này là Khu du lịch nước nóng Mỹ An, do là khoáng sản, nên bắt buộc chủ đầu tư phải xin các thủ tục từ Bộ Tài nguyên và Môi trường. Dù đã có sự phối hợp chặt chẽ, song cũng kéo dài thêm nhiều thời gian, DA mới chính thức khởi công.

“Như ở Bạch Mã, là tài nguyên nhạy cảm, nhiều năm qua vẫn chưa có sự chuyển động về đầu tư. Theo tôi, Huế cần tiến hành làm các nghiên cứu về sức chịu tải xây dựng, chịu tải xã hội, chịu tải về sinh học, môi trường… Tiến hành xin các giấy phép trước và có một bộ tiêu chí, quy định về môi trường. Sau đó nhà đầu tư vào, đáp ứng các tiêu chuẩn sẽ được đầu tư”, ông Vũ Hoài Phương góp ý.

Bài, ảnh: Đức Quang

Giải Pháp Thu Hút Đầu Tư Trực Tiếp Nước Ngoài Vào Các Khu Công Nghiệp Của Tỉnh Hưng Yên / 2023

Thực trạng hoạt động khu vực FDI tại các khu công nghiệp tỉnh Hưng Yên

Thống kê của Ban Quản lý các khu công nghiệp (KCN) tỉnh Hưng Yên cho biết, toàn tỉnh Hưng Yên hiện có 11 KCN với tổng diện tích 2315,8 ha đã được Thủ tướng Chính phủ chấp thuận đưa vào quy hoạch phát triển các KCN đến năm 2020.

Đến hết năm 2016, tổng số dự án còn hiệu lực trong các KCN trên địa bàn tỉnh là 172 dự án có vốn đầu tư nước ngoài (FDI), trong đó, tổng số dự án FDI đang hoạt động là 145 dự án. Số lượng dự án FDI trong các KCN chỉ chiếm khoảng 43% tổng số dự án FDI đầu tư vào địa bàn Tỉnh, nhưng tổng vốn FDI trong các KCN lại chiếm hơn 75% tổng vốn FDI toàn Tỉnh.

Các dự án đi vào hoạt động tạo giá trị doanh thu đạt 2.050 triệu USD, giá trị nhập khẩu khoảng 1.200 triệu USD, giá trị xuất khẩu khoảng 1.500 triệu USD, thu ngân sách nội địa khoảng 800 tỷ đồng; Tổng số lao động đang sử dụng đến nay khoảng 37.228 lao động.

Về cơ cấu đầu tư theo đối tác, các dự án FDI chủ yếu đến từ Nhật Bản, tương ứng với 96 dự án với tổng số vốn là 1.985 triệu USD/dự án, tính trung bình 20.466 triệu USD/dự án.

Trong đó, KCN Thăng Long II thu hút các dự án đầu tư từ Nhật Bản với tổng số 72/77 dự án, các quốc gia còn lại là Singapore, Thụy Sĩ, Đức, Thái Lan và Trung Quốc, mỗi quốc gia có 01 dự án. KCN Phố Nối A, trong tổng số 73 dự án FDI có 26 dự án từ Hàn Quốc với số vốn 379,851 triệu USD, Nhật Bản 26 dự án với số vốn 325,683 triệu USD…

Thống kê của Ban Quản lý các KCN tỉnh Hưng Yên cũng cho thấy, từ năm 2010 đến năm 2015, giá trị xuất khẩu của các DN FDI trong các KCN chiếm tỷ trọng trung bình so với toàn Tỉnh mới chỉ đạt 49% và có tốc độ tăng tương đối đều hàng năm.

Giá trị xuất khẩu của các DN FDI trong các KCN luôn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng giá trị xuất khẩu của các DN FDI toàn Tỉnh, với mức trung bình 86,8%, điều này cho thấy, các DN FDI trong các KCN hoạt động xuất khẩu hiệu quả hơn so với các DN FDI trong toàn Tỉnh.

Giá trị sản xuất công nghiệp của các DN FDI trong các KCN chiếm tỷ trọng 73,7% so với toàn KCN và chiếm 80,5% so với các DN FDI trong toàn Tỉnh cho thấy, các DN FDI trong các KCN giữ vai trò quan trọng trong tăng trưởng giá trị sản xuất công nghiệp đối với các DN FDI trong toàn Tỉnh nói chung và với các KCN của Tỉnh nói riêng…

Một số khuyến nghị

Có thể nói, nỗ lực thu hút FDI vào các KCN của Hưng Yên trong những năm qua đạt được kết quả khá khả quan. Tuy nhiên, để các DN FDI thực sự tạo ra tác động lan tỏa lớn đối với nền kinh tế của Tỉnh nói chung và các KCN trên địa bàn Hưng Yên nói riêng, cần chú trọng một số giải pháp sau:

Một là, tiếp tục cải cách hành chính hơn nữa nhằm xử lý kịp thời vướng mắc trong vấn đề cấp phép điều chỉnh giấy chứng nhận đầu tư. Tập trung triển khai ứng dụng có hiệu quả phần mềm cung cấp dịch vụ công, trong đó cung cấp dịch vụ công trực tuyến mức độ 3 đối với các thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết, tạo điều kiện cho các nhà đầu tư, DN rút ngắn thời gian và thuận lợi trong quá trình thực hiện các thủ tục hành chính.

Tiếp tục nâng cao trình độ của đội ngũ cán bộ công chức nhằm đảm bảo thực hiện theo quy định tại Luật Đầu tư và quy định mới về phân cấp quản lý đầu tư FDI…

Hai là, chú trọng nâng cao chất lượng trong việc thu hút đầu tư, ưu tiên các dự án có vốn đầu tư lớn, có trình độ công nghệ tiên tiến, tiết kiệm năng lượng, thân thiện với môi trường, có khả năng đóng góp nhiều cho ngân sách địa phương.

Kinh nghiệm của nhiều địa phương thời gian qua cho thấy, với làn sóng FDI hiện nay thì không thể chấp nhận thu hút vốn FDI bằng mọi giá mà cần phải tập trung vào chất lượng FDI theo hướng chọn lọc hơn với trọng tâm là các dự án sử dụng công nghệ cao, công nghệ sạch và có khả năng tạo ra các sản phẩm có sức cạnh tranh, dự án có khả năng tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu. Nói cách khác, việc thu hút vốn FDI vào các KCN tại Hưng Yên cần tính đến các lợi ích của cả ba khía cạnh: Kinh tế, xã hội và môi trường.

Bên cạnh đó, cần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật bảo vệ môi trường của các DN FDI, tránh tình trạng chỉ lo tập trung chạy theo số lượng mà chọn các DN, công nghệ gây ảnh hưởng đến môi trường sinh thái, sức khỏe cộng đồng, từ đó ảnh hưởng chung đến môi trường đầu tư kinh doanh bền vững.

Ba là, nâng cao hiệu quả xúc tiến đầu tư nói chung, xúc tiến thu hút FDI vào các KCN của Tỉnh nói riêng. Theo đó, hệ thống dữ liệu, thông tin, tài liệu xúc tiến đầu tư cần được chuẩn hóa từ cơ sở dữ liệu về cơ sở hạ tầng, hệ thống quy hoạch, chính sách, thủ tục cho đến quy trình đầu tư.

Cần phối hợp chặt chẽ với Trung tâm Xúc tiến đầu tư phía Bắc thuộc Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), các cơ quan đại diện ngoại giao Việt Nam ở nước ngoài, một số tổ chức xúc tiến thương mại – đầu tư của nước ngoài tại Việt Nam, như: JETRO và JICA (Nhật Bản), KOTRA (Hàn Quốc) để tổ chức các hoạt động quảng bá, xúc tiến đầu tư trên địa bàn tỉnh và các thị trường nước ngoài trọng điểm.

Các ngành chức năng cần xây dựng và cung cấp các gói thông tin cần thiết cho nhà đầu tư nước ngoài về các vấn đề: Thực trạng nguồn nhân lực, phương thức đào tạo và tuyển dụng nhân lực, thực trạng về cơ sở hạ tầng hệ thống đường giao thông, quy hoạch các khu công nghiệp, điện, cấp thoát nước, hệ thống thông tin liên lạc, viễn thông, quyền sở hữu trí tuệ, các yêu cầu bắt buộc khi tham gia các dự án đầu tư… để các nhà đầu tư nước ngoài nắm rõ các thế mạnh và “đề bài” mà địa phương đặt ra.

Bốn là, tăng cường hiệu lực và hiệu quả cơ chế phối hợp giữa các sở, ban, ngành trong công tác quản lý, giám sát, thanh tra, kiểm tra các dự án FDI tại các KCN.

Cụ thể, Ban Quản lý các KCN Hưng Yên cần tiếp tục tổ chức kiểm tra, giám sát việc thực hiện quy định về bảo vệ môi trường trong quá trình hoạt động đối với các dự án đã triển khai; Giám sát việc xây dựng theo quy hoạch, giấy phép xây dựng và công tác bảo vệ môi trường đối với các dự án đang trong quá trình thi công xây dựng.

Bên cạnh đó, phối với hợp với cơ quan thuế các cấp trên địa bàn Tỉnh nhằm duy trì và thực hiện tốt công tác giám sát, đánh giá hiệu quả hoạt động, giảm thiểu tình trạng chuyển giá, trốn thuế đối với các DN FDI tại các KCN…

1. Ban Quản lý các khu công nghiệp tỉnh Hưng Yên (2011), Báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ và phương hướng giai đoạn 2011-2016, Hưng Yên; 2. Cục Thống kê tỉnh Hưng Yên (2011-2016), Niên giám thống kê tỉnh Hưng Yên năm 2011, 2012, 2013, 2014, 2015, 2016, NXB Thống kê, Hà Nội; 3. Ủy ban nhân dân tỉnh Hưng Yên (2011 -2016), Báo cáo tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội năm 2011, 2012, 2013, 2014, 2015, 2016, Hưng Yên; 4. Đỗ Đức Bình (2013), “Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam: Những bất cập về chính sách và giải pháp thúc đẩy”, Tạp chí Kinh tế và Phát triển, số 194, tr. 3-9; 5. Phạm Mạnh Cường (2015), Phát triển bền vững các Khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên, Luận án Tiến sĩ Kinh tế, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh; 6. Một số website: chúng tôi tapchitaichinh.vn…