Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Môn Toán Violet / Top 2 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 2/2023 # Top View | Phauthuatthankinh.edu.vn

Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Môn Toán Ở Trường …

I. LÝ DO CHỌN CHUYÊN ĐỀ

-Tình trạng học sinh học yếu môn Toán ở cấp THCS đang là một thực tế đáng lo ngại và là nỗi băn khoăn,trăn trở của nhiều giáo viên dạy toán.

-Tuy cùng hưởng thụ một nội dung chương trình giáo dục giống nhau, nhưng mỗi học sinh đều có sự phát triển về thể chất và trí tuệ khác nhau,có điều kiện hoàn cảnh và sự quan tâm chăm sóc ở gia đình khác nhau, có động cơ và thái độ học tập khác nhau,môi trường giáo dục khác nhau thì năng lực học tập,khả năng tiếp thu kiến thức của mỗi học sinh cũng phải khác .

-Có nhiều nguyên nhân làm học sinh học yếu môn toán,song nguyên nhân chính là học sinh chưa có phương pháp học tập đúng đắn,có nhiều lỗ hổng về kiến thức,kĩ năng.Chính vì vậy, tình trạng học sinh học yếu môn toán ngày càng tăng và nguy hiểm hơn là sự kéo dài từ năm này sang năm khác làm cho các em ngày càng hổng kiến thức nhiều hơn.

-Tôi rất hiểu và thông cảm trước những khó khăn của các em nên Tôi thiết nghĩ cần phải nghiên cứu,tìm ra giải pháp khắc phục tình trạng trên mới có thể nâng cao chất lượng giảng dạy bộ môn, tạo cho học sinh niềm say mê học tập nhất là môn Toán. Chính vì vậy nên Tôi chọn chuyên đề: “Giải pháp nâng cao chất lượng môn Toán”

II. THỰC TRẠNG:

 * CHUNG

– Học sinh phần đông sợ bộ môn toán vì phải đối mặt với những công thức, những định lí khô khan.

-Học sinh ngại khó, thiếu kiên nhẫn trong quá trình học toán dẫn đến việc thường xuyên không học bài và làm bài tập ở nhà.

-Đa số học sinh chưa biết cách học môn toán như thế nào cho hiệu quả.

-Gia đình học sinh chưa quan tâm đúng mức đến con em mình.

-Đôi khi giáo viên cũng thiếu kiên nhẫn đối với học sinh học yếu.

Đối với bộ môn toán:

– Từ 5,0 điểm trở lên: 61 / 154 .Tỉ lệ: 39,61 % (giảm 24,2% so với năm học trước). Cụ thể:

      9/1 : 37 / 39 (94,87%). Trong đó có 8 học sinh 10 điểm

      9/2: 8 / 27 (29,63%)

      9/3 : 5 / 31 (16,13%)

      9/4: 6/ 28 (21,43%)

      9/5: 5 / 29  (17,24%)

– Điểm bình quân môn toán là 4,78. Xếp hạng 10/12

– Điểm yếu, kém: 93/ 154. Tỉ lệ: 60,39 %. Trong đó yếu: 41 hs. Kém: 52 hs. Không có hs điểm 0

 Cụ thể:  9/1 Yếu: 1; kém: 1

               9/2: yếu: 12; kém: 7

               9/3: yếu: 12; kém : 14

               9/4: yếu: 8; kém: 14

               9/5: yếu: 8; kém: 16

III. NGUYÊN NHÂN

-  Nhận thức của phụ huynh về việc học của con em mình chưa cao, nuông chìu con, sợ con mình học mệt nên chưa động viên con mình trong vấn đề học tập

– Học sinh học yếu mất căn bản sinh ra chán nãn, thiếu kiên nhẫn nên buông xuôi không hợp tác tới đâu thì tới

– Một số học sinh do khả năng có hạn, học trước quên sau dẫn đến kiến thức bị hạn hẹp không đạt chuẩn quy định

– Học sinh có quá nhiều quyền nên dẫn đến ỉ lại, chưa thật sự coi trọng việc học

– Giáo viên cũng chưa mạnh dạn dùng hết những phương pháp để uốn nắn những học sinh cá biệt

IV. GiẢI PHÁP

  1. GIẢI PHÁP TÂM LÝ - Để học sinh yêu thích môn học của mình,tôi đã tạo sự gần gũi với các em từ những tiết học đầu tiên,chú ý đến những học sinh có hoàn cảnh khó khăn,động viên các em bằng cách kể những gương học tập vượt khó mà các em có thể học tập.Luôn tạo cho các em niềm tin. -Có thể khiển trách khi các em chưa ngoan nhưng không quên dành lời khen khi các em có tiến bộ chút ít.– Việc đánh giá nhận xét học sinh phải công bằng,khách quan và công tâm,công khai kết quả sau các giờ kiểm tra,cần phải có nhận xét bài làm của học sinh.- Để bài giảng hay, tiết học của mình thêm sinh động tôi luôn tìm ra cách giảng gần gũi nhất, dễ hiểu nhất để học sinh có thể tiếp thu dễ dàng.

Ví dụ: Khi học bài “Tỉ số lượng giác” để học sinh dễ thuộc công thức:

 Tôi dạy học sinh bài thơ: “Sin đi học  (nghĩa là đối chia huyền)

                                         Cosin không hư  (nghĩa là kề chia huyền)

                                         Tang đoàn kết  (nghĩa là đối chia kề)

                                         Cotang kết đoàn”  (nghĩa là kề chia đối)

Học sinh vừa thuộc công thức toán mà còn học được bài học đạo đức khi đến lớp

V. ĐỀ XUẤT:

*Đối với giáo viên:

-Tìm ra giải pháp hữu hiệu cho riêng mình để hạn chế học sinh yếu kém môn toán

-Kiên trì, nhẫn nại và hy sinh thời gian cho những học sinh yếu

-Có cái nhìn lạc quan hơn khi dạy những học sinh yếu kém

-Hình thành nề nếp và kỷ cương trong các tiết dạy từ đầu năm học để quản lý học sinh tốt hơn.

*Đối với phụ huynh:

-Quan tâm con em mình nhiều hơn nữa trong việc học tập

-Kết hợp tốt với nhà trường trong việc giáo dục các em

*Đối với BGH:

-Tư vấn và giúp đỡ giáo viên trong việc dạy học sinh yếu

-Cảm thông, động viên, chia sẻ với những bức xúc của giáo viên khi dạy học sinh yếu.

Skkn Nâng Cao Chất Lượng Môn Toán Lớp 5

SKKN nâng cao chất lượng môn toán lớp 5

Năm học : 2006 – 2007

Phần mở đầu1. Lý do chọn đề tài:Năm học 2006-2007 là năm học đổi mới chương trình và thay SGK lớp 5; là năm học tiếp tục đổi mới phương pháp dạy học theo hướng lấy học sinh làm trung tâm.Giáo viên trường TH chúng tôi đã triển khai thực hiện những thay đổi theo phương pháp dạy học mới. Mục đích giáo dục tiểu học được hoàn thiện theo hướng toàn diện hơn. Với chương trình mới, chúng ta đã và đang từng bước thay đổi nội dung dạy học cho nên người giáo viên cần tập trung đổi mới phương pháp dạy học cho phù hợp. Hiện nay, chúng ta đang tập trung đổi mới phương pháp dạy học nhằm phát huy tính tích cực hoạt động của học sinh trong quá trình dạy học. Trong Luật giáo dục cũng đã khẳng định: “Phương pháp dạy học phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động của học sinh”. Vậy để tích cực hoá hoạt động học tập của học sinh về môn Toán cần có phương pháp dạy học phù hợp: phù hợp với nội dung kiến thức, phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi cửa học sinh, phù hợp với điều kiện dạy học cụ thể của nhà trường… Thực tế bản thân tôi, giáo viên trường tôi đã vận dụng thành thạo các phương pháp dạy học truyền thống vào dạy toán như: giảng giải, vấn đáp, trực quan… Ngoài những phương pháp này, hình thức thầy tổ chức trò hoạt động đòi hỏi người giáo viên phải biết vận dụng nhiều phương pháp và các kĩ thuật khác nữa. Chẳng hạn: phải biết theo dõi từng học sinh trong quá trình giải bài tập để kịp thời giúp đỡ học sinh yếu, giao việc cho học sinh giỏi, phải biết cách nhanh chóng chia lớp thành nhóm để tổ chức giải câu đố toán học, phải biết cách làm mẫu khi hướng dẫn học sinh sử dụng đồ dùng dạy học… Giáo viên trường tôi tuy đã biết về các kĩ thuật dạy học nói trên nhưng chưa thành thục khi sử dụng chúng, giáo viên ngại sử dụng hoặc chỉ lạm dụng một vài kĩ thuật nào đó mà thôi. Đây chính là điểm yếu của tôi, của giáo viên trường tôi và cũng chính là lí do tôi chọn đề tài này để nghiên cứu áp dụng giảng dạy tại lớp 5B (lớp tôi chủ nhiệm) trong năm học 2006-2007 này nhằm nâng cao chất lượng của lớp.2. Mục đích nghiên cứu:Tìm hiểu nội dung dạy học toán và nghiên cứu một số biện pháp cải tiến phương pháp, hình thức dạy học toán để áp dụng nâng cao chất lượng môn toán cho học sinh lớp 5.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:Phương pháp dạy học Toán của giáo viên ở trường TH Học sinh 5B (lớp tôi chủ nhiệm). 4. Nhiệm vụ nghiên cứu:Tìm hiểu thực trạng dạy học toán ở trường TH , rút kinh nghiệm, có một số biện pháp cải tiến phương pháp dạy học toán nhằm n

Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Môn Toán Lớp 1

Thứ ba – 27/05/2014 14:39

PHÒNG GD&ĐT TP LÀO CAI

TRƯỜNG TIỂU HỌC NGUYỄN BÁ NGỌC

MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG MÔN TOÁN LỚP 1

Người thực hiện: Phạm Thị Hằng Chức vụ: Tổ trưởng tổ chuyên môn khối 1 Đơn vị: Trường TH Nguyễn Bá Ngọc

Duyên Hải, ngày 02 tháng 12 năm 2013

1

1

4

2.2 Thực trạng chất lượng đầu vào lớp 1 trường TH Nguyễn Bá Ngọc- thành phố Lào Cai.

5

2.3 Một số biện pháp nâng cao chất lượng môn Toán lớp 1

2.3.1 Phối kết hợp với gia đình học sinh

2.3.2 Tích cực, kiên trì thực hiện đổi mới phương pháp dạy học

2.3.3 Sử dụng đồ dùng hiệu quả, đặc biệt là đồ dùng trực quan

2.3.4 Tổ chức tốt các hoạt động ngoại khóa tạo môi trường học tập thân thiện, hiệu quả.

6

2.4 Hiệu quả của Sáng kiến kinh nghiệm.

– Trong giảng dạy có nhiều học sinh nhận thức chậm. Giáo viên phải kiên trì, không nên khắt khe mà nên tạo điều kiện cho các em được tham gia vào các hoạt động học tập, được chia sẻ để tự tin hơn …– Giáo viên tích cực đổi mới phương pháp dạy học và đánh giá học sinh thường xuyên trao đổi với giáo viên trong tổ, tổ chức các chuyên đề, sinh hoạt chuyên môn mới, chia sẻ, giải quyết kịp thời các khó khăn.– Tăng cường khảo sát chất lượng học sinh ngay tại các giờ học, buổi học, tuần học…– Chấm bài thường xuyên, động viên học sinh bằng nhiều hình thức như tuyên dương …– Giáo viên áp dụng phương pháp thường xuyên, phương pháp chứng minh tạo thói quen cho học sinh.

Ví dụ : Soạn một tiết toán cụ thể theo phương pháp mới

Phép cộng trong phạm vi 7

– Lập và ghi nhớ bảng cộng trong phạm vi 7– Vận dụng các phép tính cộng trong phạm vi 7 làm các bài tập.– HS khuyết tật nắm đựơc các phép cộng trong phạm vi 7* Giáo dục học sinh say mê, yêu thích học toán.II : Đồ dùng dạy học – Bộ đồ dùng dạy toán.III: Các hoạt động dạy học chủ yếu Hoạt động 1: Thành lập và ghi nhớ bảng cộng trong phạm vi 7

a: Hướng dẫn học sinh phép cộng 6+1=7, 1+6=7 HD h/s q/s hình vẽ và nêu thành bài toán

: Gv hướng dẫn HS làm việc cá nhân, dùng que tính lập các phép tính cộng HS ghi bảng con các phép tính đã lập 6+1=7 4+3=7 1+6=7 3+4=7 5+2=7 2+5=7 HS làm việc theo nhóm đôi. – HS đọc và đối chiếu kết quả : HS trao đổi và ghi nhớ phép cộng trong phạm vi 7 theo nhóm 4.

: HS báo cáo kết quả trước lớp dưới sự điều hành của ban học tập. – Trưởng ban tổ chức cho các bạn ghi nhớ các phép cộng.

Hoạt động 2: Thực hành Bài 1: Tính – HS đọc yêu cầu, làm bài vào SGK – Trưởng ban học tập nhận xét – chốt lại kiến thức: Bài toán ôn lại phép cộng trong phạm vi 7

Bài 2: Tính – GV gọi h/s nêu yêu cầu bài tập

– Gv nhận xét chốt lại nội dung bài – Khi thay đổi vị trí các số trong phép tính nhưng kết quả không thay đổi

Bài 3: Tính – GV hướng dẫn h/s cách làm bài tập – Chủ tịch hội đồng tự quản điều hành lớp nêu cách làm. – Gv nhận xét

Bài 4: Viết phép tính thích hợp – Chủ tịch hội đồng tự quản điều hành các bạn tìm hiểu đề bài bài toán. B1: Quan sát tranh B2: Đặt đề toán. a/ Có 6 con bướm. Thêm 1 con bướm. Hỏi tất cả có bao nhiêu con bướm? b/ Có 4 con chim, 3 con chim bay tới. Hỏi có tất cả bao nhiêu con chim? B3: Viết phép tính

* Củng cố dặn dò – CTHĐTQ điều hành lớp ôn lại các phép tính cộng trong phạm vi 7 – GV nhận xét xếp giờ

– H/s quan sát hình và nêu thành bài toán – HS 6 cộng 1 bằng 7 – HS đọc phép tính 6+1=7 ( CN-N-L)

– HS làm việc cá nhân theo lệnh của GV. – HS lập các phép cộng ra bảng con, dựa trên trực quan (que tính)

– HS trao đổi nhóm đôi. – Nhóm trưởng điều hành các cá nhân đọc phép cộng trong phạm vi 7. – Đại diện các nhóm báo cáo kết quả – HS thi đua nhau ghi nhớ phép cộng trong phạm vi 7. – HS khắc sâu: 6+1=7; 1+6=7…

– HS nêu y/c bài tập – làm bài tập vào SGK – HS đổi vở, kiểm tra chéo.

6 2 3 4 1 5 + + + + + + 1 5 4 3 6 2 7 7 7 7 7 7

– HS nêu yêu cầu bài tập – 3 h/s lên bảng làm bài tập – cả lớp làm bảng con. 7+0=7 6+1=7 3+4=7 2+5=7 0+7=7 1+6=7 4+3=7 5+2=7 – HS mời các bạn nhận xét và chữa bài. – HS nêu yêu cầu bài tập – cách thực hiện phép tính 5+1+1=7 4+2+1=7 2+3+2=7 3+2+2=7 3+3+1=7 4+0+2=6 – HS làm bài tập và chữa bài

– HS q/s tranh vẽ, đặt thành bài toán

– HS làm vở ô ly – 2 bạn làm bảng phụ.

– Viết phép tính thích hợp vào ô trống a/ 6+1=7 b/ 4+3=7

Ví dụ cụ thể về sự kiên trì, chủ động đổi mới phương pháp.

Chủ tịch hội đồng tự quản điều hành lớp báo cáo kết quảKhi dạy về phép công trong phạm vi 9.Bước 1: Các em quan sát giáo viên làm mẫu: 9 que tính thêm 1 que tính bằng 10 que tính. 9 + 1 = 10. Bước 2: Học sinh làm việc cá nhân, các em dùng que tính để lập các phép tính cộng tiếp theo vào bảng con hoặc bảng phụ. 1 + 9 = 10; 8 + 2 = 10; 7 + 3 = 10 Bước 3: Học sinh trao đổi nhóm 2. Đối chiếu các phép cộng đã lập. Bước 4: Học sinh đọc các phép cộng trong nhóm 6. Bước 5: Báo cáo trước lớp, dưới sự điều hành của Chủ tịch hội đồng tự quản.Hoạt động nhóm còn phát huy tính tự quản của cán bộ lớp, nhóm trưởng, nhằm kiểm tra việc học tập của các bạn trong nhóm mình một cách tốt nhất, có tác dụng sửa chữa uốn nắn kịp thời những thiếu hụt, sai sót về kiến thức cho học sinh học yếu. Giúp các em mạnh dạn hơn trong giao tiếp với các bạn và thầy, cô giáo. Có thể nói phương pháp này hình thành tinh thần tự giác trách nhiệm đối với tập thể cho từng thành viên của nhóm như vậy để tránh tình trạng lười biếng, sao nhãng nhiệm vụ được giao, tránh sự ghen tị. Nhưng chỉ có tổ chức hoạt động theo nhóm và quan sát trực quan còn là chưa đủ nếu trong giờ toán không có luyện tập thực hành trong giờ toán thời gian học sinh luyện tập chiếm tới 2/3 tiết học, càng được luyện tập nhiều thì học sinh càng khắc sâu được kiến thức. Có khi có những nội dung lí thuyết phải qua làm bài tập thì học sinh mới hiểu được Ví dụ : Sử dụng phương pháp luyện tập thực hành trong bài phép cộng trong phạm vi 9. Một tiết dạy có 35 phút, giáo viên dành khoảng 10-12 phút để xây dựng công thức cộng trong phạm vi 9 (hay bảng cộng trong phạm vi 9) Sau khi xây dựng xong công thức8+1=9 3+6=91+8=9 6+3=9

Giáo viên cho học sinh thực hành luyện tập 15 – 20 phút bằng cách đọc cá nhân, tập thể, đọc thuộc bằng mọi hình thức… Sau khi luyện tập xong giáo viên lại cho học sinh học thuộc lại bảng cộng trong phạm vi 9 bằng cách đọc nối tiếp giữa hai tổ, hoặc em A nêu phép tính em B trả lời và ngược lại. : Trong tiết học giáo viên thực hiện linh hoạt các phương pháp như: + Phương pháp trực quan + Phương pháp hỏi đáp + Phương pháp giảng giải ( giải nghĩa từ ) + Phương pháp luyện tập thực hành + Phương pháp kỉ luật tích cực. + Phương pháp trò chơi Trong phương pháp dạy học toán lớp 1, giáo viên phải sử dụng linh hoạt đúng lúc, đúng chỗ các phương pháp, các hình thức tổ chức dạy học khác nhau. Việc sử dụng các phương pháp, các hình thức dạy học cần theo hướng tích cực hóa hoạt động của học sinh, tăng cường tập luyện thực hành để phát triển các kĩ năng tính toán, nhằm nhanh chóng đạt được yêu cầu cộng trừ trong phạm vi 10 và cộng trừ không nhớ trong phạm vi 100. Bám sát 5 yêu cầu của giáo viên:1. Giáo viên giao nhiệm vụ phải rõ ràng, ngắn ngọn2. Làm mẫu phải rõ ràng, chính xác, dứt khoát.3. Chú ý đến tính đồng loạt, tính cá thể của học sinh4. Nói ít5. Không chê, khuyến khích học sinh tích cực làm việc Việc tổ chức lớp học, tổ chức luyện tập thực hành luyện tập cũng có thể linh hoạt dưới nhiều hình thức: Cá nhân – nhóm – lớp… Vì hình thức dạy học này có sự kết hợp tính tập thể và tính cá nhân mà trong đó học sinh trong nhóm được sự chỉ đạo của nhóm trưởng, trao đổi những hiểu biết về kiến thức với nhau, giúp học sinh hợp tác với nhau, cùng tìm tòi phát hiện, trình bầy chiếm lĩnh chi thức. Các thành viên trong nhóm không chỉ quan tâm đến việc học tập của mình mà còn quan tâm đến việc học tập của các bạn khác trong nhóm ( Nhóm 2, nhóm 4, nhóm 6…).3.3. Sử dụng hợp lý, có hiệu quả đồ dùng dạy học, đặc biệt là đồ dùng trực quan.Giáo viên thường sử dụng các dụng cụ học tập trực quan, nhiều màu sắc hấp dẫn, sinh động để thu hút sự chú ý của học sinh bởi thời gian chú ý có chủ định chỉ kéo dài 15- 20 phút. Như vậy, cách sử dụng trực quan như trên rất có lợi cho việc HS tập trung chú ý kéo dài và cao độ. – Học sinh được học tập qua ứng dụng công nghệ thông tin bằng hình ảnh được trình chiếu một cách sinh động tạo sự hứng thú cho các em tập trung hơn. Tuy nhiên giáo viên không nên lạm dụng.

Giáo viên cần phải thu hút trẻ bằng các hoạt động mới, mang màu sắc, tích chất đặc biệt, khác lạ so với bình thường, khi đó sẽ kích thích trẻ cảm nhận, tri giác tích cực và chính xác và đặc biệt phải hình thành ở các em tâm lý hứng thú và vui vẻ khi ghi nhớ kiến thức.

Đặc biệt là đồ dùng trực quan đã đem lại hứng thú cho học sinh. Đòi hỏi các em phải tư duy, sử lý nhanh các tình huống, tự tìm tòi khám phá kiến thức qua trực quan. Kết quả học sinh ghi nhớ được kiến thức sâu, các em chóng thuộc bài. Lớp học thoải mái, vui vẻ, giờ học đạt hiệu quả cao. Học sinh ham thích học toán.3.4 Tổ chức các hoạt động ngoại khóa tạo môi trường học tập tốt hơn.– Tổ chức nhiều trò chơi học tập như: rung chuông vàng, hái hoa học tập, trò chơi Bin-gô… nhằm bổ sung kiến thức, tạo sự tự tin, nhanh nhẹn, kỹ năng điều hành hoạt động nhóm …3.5 Nói tóm lại, sáu tuổi vào lớp 1 là bước ngoặt lớn của trẻ thơ. Môi trường học tập thay đổi một cách cơ bản: trẻ phải tập trung chú ý trong thời gian liên tục từ 30 – 35 phút. Nhu cầu nhận thức chuyển từ hiếu kỳ, tò mò sang tính ham hiểu biết, hứng thú khám phá. Trẻ bắt đầu kiềm chế dần tính hiếu động, bột phát để chuyển thành tính kỷ luật, nền nếp, chấp hành nội quy học tập. Tinh nhạy và sức bền vững, tinh khéo léo của các thao tác của đôi bàn tay để tập viết được phát triển nhanh. Tất cả những điều đó đều là thử thách đối với trẻ, muốn trẻ vượt qua được tốt những thử thách đó thì phải cần có sự quan tâm giúp đỡ của gia đình, nhà trường và xã hội đặc biệt là giáo viên dựa trên sự hiểu biết về tri thức khoa học.

Phạm Thị Hằng

Sáng Kiến Kinh Nghiệm Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Bộ Môn Toán

trong quá trình dạy học .Do đặc điểm của môn Toán là một môn học rất gần gũi với thực tế đời sống nên người giáo viên phải linh hoạt , sáng tạo trong từng tiết dạy của mình để làm nổi rõ sự kết hợp , gắn bó của Toán học với cuộc sống hàng ngày . Ngôn ngữ phải dễ hiểu để học sinh dễ nhìn nhận , chiếm lĩnh tri thức mới . Với phương pháp dạy học mới hiện nay, chúng ta cần thiết kế một hệ thống câu hỏi logic , gợi mở từ câu đầu tiên đến câu cuối cùng để học sinh tự tìm kiếm ra kiến thức mới . Từ đó kiến thức mới sẽ được học sinh khắc sâu , nhớ lâu và sẽ gây hứng thú trong học tập . *Dạy môn toán cần dạy cho học sinh nắm chắc các khái niệm , các qui ước, các ký hiệu , các tính chất Nó là mấu chốt để học sinh khỏi mơ hồ , lẫn lộn giữa cái này với cái khác , có suy nghĩ lệch lạc, quan niệm tách rời xa với thực tế đời sống.Chẳng hạn , dạy về chu vi một hình , học sinh phải biết chu vi một hình là gì ? Tại sao hình vuông lại lấy (cạnh x 4) còn chu vi hình chữ nhật lại tính (dài + rộng )x2 Các vấn đề đó rất gần gũi với đời sống , nếu chúng ta không để ý tới thì đôi khi học sinh chỉ thực hành một cách máy móc , rập khuôn các công thức do vậy mau quên , kiến thức Toán học không được sâu sắc. *Khi dạy Toán cần có đồ dùng dạy học trực quan , nếu có điều kiện cần phát huy mặt này . Chẳng hạn khi dạy bài " Đo đoạn thẳng trên tia " từng học sinh phải có thước đo để học sinh nắm chắc cách đo , kích thước của mỗi đơn vị độ dài ; giáo viên cũng cần chuẩn bị các dụng cụ đo : thước thẳng, thước dây Khi dạy tiết thực hành ngoài trời đo chiều cao của vật , giáo viên phải chuẩn bị giác kế để học sinh biết giác kế là gì ? Cách xác định góc bằng giác kế ra sao , dùng thước dây xác định khoảng cách giữa hai điểm trên mặt đất như thế nào ? Để tạo tình huống gây trí tò mò cho học sinh khi dạy chứng minh định lí " Tổng các góc trong một tam giác bằng 1800" , giáo viên phải chuẩn bị thước đo góc và bảng phụ có vẽ sẵn các tam giác có nhiều hình dạng khác nhau .Vào đầu tiết học giáo viên cho lần lượt một số học sinh lên đo các góc của tam giác . Gợi ý cho các em phát hiện một điều thú vị là " Tổng các góc trong một tam giác bằng 1800 " . Lúc này đặt vấn đề cần thiết chứng minh điều thú vị đó . Vì vậy đầu tư vào việc chuẩn bị đồ dùng trực quan cho một tiết dạy là hết sức cần thiết để học sinh hiểu được kiến thức một cách sâu sắc , sát với thực tế , hiểu được các kiến thức đó có được do đâu ? Dựa trên cơ sở nào ? Còn rất nhiều các vấn đề khác nếu được đầu tư chu đáo sẽ tạo nên một tiết học hấp dẫn , dễ học và gây hứng thú cho học sinh trong học tập. Một vấn đề cần thiết nữa đặt ra là khi dạy một tiết học người giáo viên phải nắm bắt kịp thời số học sinh hiểu bài và chưa kịp hiểu bài . Từ đó có biện pháp giúp đỡ số học sinh chưa kịp hiểu bài . Sau mỗi tiết học đều phải có phần củng cố và luyện tập ; bằng những câu hỏi trọng tâm , cơ bản tiết học người giáo viên phải quan sát từng đối tượng học sinh ; chú ý đến học sinh yếu , cá biệt để nắm bắt tình hình tiếp nhận kiến thức trong nội dung bài học ; bài luyện tập tại lớp cần được nâng dần từ dễ đến khó , từ những bài toán rất đơn giản đến phức tạp . Ngoài ra người giáo viên phải tính đến việc kiểm tra một lúc được nhiều học sinh ; nhất là yêu cầu tối thiểu những nội dung cần đạt được . Chẳng hạn khi dạy bài " Giải phương trình bậc nhất một ẩn" giáo viên phải đưa ra một số bài tập nâng cao dần như sau: v.v. Các bài tập a,b,c,d dành cho học sinh yếu và kiểm tra một lúc đồng thời 4 học sinh lên bảng . Là các bài tập yêu cầu tối thiểu sau một tiết dạy học sinh phải tự làm được. Khi giảng bài "Định lí Talet trong tam giác" , kiến thức học sinh cần nắm được trong tiết học này là nội dung định lí Talet , định lí đảo của định lí Talet và hệ quả . Nội dung định lí Talet được phát biểu như sau: "Nếu một đường thẳng cắt hai cạnh của một tam giác và song song với cạnh còn lại thì nó định ra trên hai cạnh đó những đoạn thẳng tỉ lệ" . Để giúp học sinh nắm được định lí , cách vận dụng định lí để giải bài tập , yêu cầu tối thiểu để học sinh đạt được , giáo viên ra một bài tập : Cho tam giác ABC,một đường thẳng song song với BC và cắt hai cạnh AB & AC lần lượt tại B' & C'. Biết AB'=5cm , BB'=4cm , CC'=6cm . Tính AC'? Với bài tập này học sinh vận dụng trực tiếp định lí Talet để giải Theo định lí Talet ta có : hay = Qua bài tập này giáo viên rút ra nhận xét cho học sinh thấy : Trong 4 đoạn thẳng AB',BB', AC',CC' nếu biết được số đo 3 đoạn thẳng ta sẽ tính được số đo đoạn thẳng còn lại . Sau khi học sinh nắm được bài tập này , giáo viên cho một bài tập nâng cao hơn như sau: Cho hình thang ABCD có AB//CD ; AB=BC=3cm ; AD=2cm ; CD=5cm. Các cạnh bên AD & BC cắt nhau tại E . Tính AE , BE ? Để giúp đỡ nhau trong học tập , học sinh khá giúp học sinh yếu , giáo viên có thể tạo ra các cặp học tập khá yếu . Trong những lúc rãnh rỗi , trong những giờ giải lao , kể cả ở nhà chỗ nào chưa hiểu bạn yếu có thể hỏi bạn khá . Khi đã tổ chức làm thì phải có những hình thức tuyên dương điển hình , khuyến khích thi đua với nhau , có kiểm tra việc tiến bộ của học sinh yếu với mục đích các em đều học được môn Toán và có phong trào học tập sôi nổi.Trong sách bồi dưỡng môn Toán cấp tiểu học cho giáo viên có viết : "Số học là hạt nhân của chương trình toán" . Vì vậy người giáo viên cần dạy học sinh nắm vững chắc về cấu trúc của số học và các phép tính trên tập N,tập Z , tập Q. Do đó chương trình Toán lớp 6 là nền tảng để có cơ sở học các nội dung khác .Trong chương trình có những chỗ căn bản , trọng tâm nên giáo viên phải thường xuyên ôn luyện và ra bài tập thật nhiều để học sinh thực hành để kiến thức mới được khắc sâu và lâu quên. Giáo viên cũng cần hướng dẫn học sinh cách ôn tập chương , cách liệt kê các công thức toán để tóm tắt và chốt lại những điểm trọng tâm vận dụng vào giải bài tập . Tóm lại trong quá trình dạy học sự nhiệt tình , chịu khó ,tinh thần trách nhiệm của người giáo viên là đều không thể thiếu được để dạy nâng cao chất lượng học tập cho học sinh . Nhưng đó cũng chỉ là một mặt , là điều kiện cần nhưng chưa đủ để học sinh đạt chất lượng cao . Phải có sự kết hợp ,vận dụng sáng tạo trong phương pháp dạy học nhất là phương pháp dạy học mới hiện nay . Người giáo viên cần chú ý trong từng trường hợp ,từng đối tượng học sinh để học sinh tự lực của mình để có điều kiện phát triển khả năng tư duy , chiếm lĩnh kiến thức ,rèn luyện kỹ năng kỹ xảo trong việc giải toán . 2.3.2.Phương pháp ra bài tập về nhà : Môn Toán là môn học rất cần đến việc thực hành, luôn luôn phải có sự kết hợp với nhau giữa lý thuyết và thực hành . Qua thực hành mới củng cố được lý thuyết , khắc sâu kiến thức , rèn luyện kỹ năng tính toán và phát triển tư duy . Ở phạm vi SGK sau mỗi bài học đều có một lượng bài tập để học sinh thực hành , luyện tập nhưng đôi khi còn ít ,hệ thống bài tập chưa đủ cho học sinh yếu tập làm quen từ những bài tập rất dễ để từng bước nâng dần giải những bài tập khó hơn .Do đó trong từng tiết dạy người giáo viên có thể ra thêm bài tập tùy tình hình lớp học để học sinh có điều kiện tiếp xúc với khâu thực hành và nội dung bài tập phong phú hơn. Những số tiết cơ bản trong chương trình rất cần thiết .Vì vậy vấn đề luyện tập thật nhiều để học sinh nhớ lâu , củng cố lý thuyết được bền vững là rất cần thiết . Nếu khâu thực hành làm ít thì rõ ràng kiến thức chóng quên hơn , lí thuyết không được khắc sâu đậm nét . Chẳng hạn khi dạy quy tắc cộng, trừ , nhân, chia phân số ở học sinh lớp 6, cần có lượng bài tập thật nhiều để qua bài tập học sinh mới được khắc sâu quy tắc . Khi dạy học sinh mới giải toán hình , nếu học sinh ít giải bài tập , ngại thực hành thì chắc chắn các em không nhạy bén ,vận dụng lý thuyết ít được linh hoạt vào giải bài tập .Điều này ảnh hưởng rất nhiều đến đợt kiểm tra , đợt thi , làm giảm sút chất lượng trầm trọng .Nói chung do đặc điểm của môn Toán là môn học không thể nói suông , nói và làm phải luôn đi song song với nhau.Vì vậy , cần thực hành để rèn luyện kỹ năng , khắc sâu kiến thức và phát triển tư duy. 2.3.3.Phương pháp kiểm tra bài tập về nhà : *Kiểm tra bài cũ, kiểm tra bài tập về nhà là việc rất cần thiết .Nếu chúng ta kiểm tra thường xuyên thì việc học bài cũ và làm bài tập ở nhà của các học sinh sẽ chu đáo hơn . Ngược lại , nếu bị xem nhẹ thì việc chuẩn bị bài tập ,học bài cũ sẽ hạn chế và chất lượng học tập giảm rõ rệt. *Ở lứa tuổi của các em nhất là đầu cấp học đôi khi nhận thức còn kém , học là để đối phó thầy cô giáo, học là để giáo viên kiểm tra bài mình đã làm ,đã thuộc. Chưa có sự hiểu biết phải tự giác học để hiểu , để bản thân mình được tiến bộ . Do vậy kiểm tra bài cũ thường xuyên là biện pháp để học sinh tự giác học bài và làm bài ở nhà trước khi đến lớp . Từ đó tạo nên không khí lớp học nghiêm túc , trật tự , mọi học sinh đều ở tư thế chuẩn bị giáo viên sẽ kiểm tra mình . *Thời gian kiểm tra bài cũ ở đầu các tiết học rất có giới hạn , không thể kiểm tra hết được.Vì vậy muốn nắm được việc làm bài tập ở nhà của học sinh một cách toàn diện người giáo viên phải nghĩ ra kế hoạch phân công các tổ trưởng chịu trách nhiệm kiểm tra từng thành viên trong tổ ở đầu buổi học .Đầu tiết học các tổ trưởng báo cáo tình hình chuẩn bị bài tập ở nhà của từng tổ viên . Học sinh nào chưa làm bài tập ở nhà sẽ có biện pháp xử phạt thích đáng . Trong trường hợp học sinh không làm bài tập ở nhà mà lên lớp mượn vở bạn chép cũng được báo lại và sẽ xử phạt nặng hơn. Giải pháp nữa là giáo viên cùng với các em bầu cán sự bộ môn Đại số và hình học để chính những em này sẽ là hạt nhân : Thứ nhất có thể giải bài tập khó cho các bạn (nêu em giải được ) ,chỉ đạo trong công tác kiểm tra việc làm bài của các bạn Thứ hai làm một cầu nối để thông tin lại về chất lượng giờ dạy của giáo viên (các em có hiểu bài không ,phương pháp truyền đạt của thầy ...) *Sau khi các tổ trưởng báo cáo lại xong giáo viên mới kiểm tra bài cũ . Nếu kiểm tra có gì không khớp với báo cáo của tổ trưởng thì sẽ có biện pháp xử phạt tổ trưởng vì chưa thực hiện đúng với sự phân công . Có như vậy trong từng tiết học mới sớm phát hiện được những học sinh lười học bài , lười làm bài tập giúp giáo viên sớm có biện pháp xử lý và tìm ra nguyên nhân cụ thể để sớm khắc phục. *Công tác đánh giá định kỳ (bài kiểm tra )nên ra 2 hoặc 3 đề trong một giờ kiểm tra giúp các em tính tự lực cánh sinh trong làm bài ,sau khi chấm trả bài giáo viên nên lập bảng tổng hợp điểm : Giỏi Khá Tbình Yếu Kém để theo dõi chất lượng qua các bài kiểm tra để từ đó có biện pháp nâng cao chất lượng Với kế hoạch kiểm tra bài tập ở nhà và đánh giá như trên , người giáo viên đã kiểm tra được toàn diện học sinh . Phải làm thường xuyên , liên tục mới thấy được kết quả nâng cao chất lượng rõ rệt tạo thành nếp thi đua học tập sôi nổi ở học sinh . Học sinh hứng thú học tập , giáo viên biết được các học sinh cá biệt của mình . Khi trở thành thói quen , giáo viên làm việc rất nhẹ nhàng nhưng đạt hiệu quả cao . Từ các báo cáo tổng quát đến cụ thể tình hình học tập của học sinh , giáo viên kịp thời nắm bắt được lỗ hổng của học sinh mà kịp thời sửa chữa. Tóm lại , những kế hoạch ở lớp , kế hoạch ra bài tập về nhà đến kế hoạch kiểm tra bài tập về nhà là những suy nghĩ tìm ra phương pháp làm việc của bản thân trong thời gian qua . Với những kế hoạch đó bản thân tôi đã làm nhiều năm và thấy chất lượng dạy học tăng rõ rệt. Nhưng dù sao thì tinh thần trách nhiệm , tính nhiệt tình trong công tác , hăng say trong nghề nghiệp là không thể thiếu được trong quá trình giảng dạy ,nó phải được xuất phát từ tâm của một nhà giáo . 2.3.4. Phương pháp phối hợp giữa giáo viên bộ môn với giáo viên chủ nhiệm , giáo viên bộ môn với gia đình ,xây dựng mối tương quan "Gia đình - nhà trường - xã hội " trong quá trình giáo dục học sinh Việc phối hợp giữa giáo viên bộ môn với giáo viên chủ nhiệm trong công tác dạy học cũng là điều cấn thiết . Giáo viên bộ môn phải trao đổi với giáo viên chủ nhiệm những học sinh cá biệt , học sinh lười để cùng hợp tác kiểm điểm , nhắc nhở , xử phạt ; dùng đủ hình thức từ mềm dẻo đến cứng rắn hơn sao cho các em sửa chữa tiến bộ dần đà theo cả lớp. Cũng thông qua giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn mới nắm được tình hình gia đình của những em cá biệt có hoàn cảnh khó khăn , gia đình buông lỏng hay ảnh hưởng của bạn bè xunh quanh .để có biện pháp phù hợp với từng hoàn cảnh khác nhau mang lại hiệu quả giáo dục cao hơn. Giáo viên chủ nhiệm cũng có trách nhiệm trao đổi với giáo viên bộ môn những học sinh cá biệt ở lớp mình , những học sinh có hoàn cảnh khó khăn để giáo viên bộ môn nắm bắt được tình hình trước, có cách xử lý khéo là liều thuốc chữa bệnh có hiệu quả nhất mang lại kết quả nhanh nhất. Còn vấn đề phối hợp giữa gia đình học sinh và nhà trường cũng không thiếu được; cụ thể là giữa giáo viên bộ môn , giáo viên chủ nhiệm và gia đình . Giáo viên có trách nhiệm báo về gia đình kịp thời những sai sót , lười biếng của học sinh cho gia đình biết (Thông qua trao đổi trực tiếp hay phiếu kiến nghị với gia đình hay lời phê ,nhận xét trực tiếp vào vở bài tập của các em ).Từ đó gia đình cho biết ý kiến , giáo viên mới tham khảo theo ý đó mà xử lý phù hợp . Những trường hợp vi phạm quá mức có thể báo cáo với liên đội ,ban giam hiệu nhà trường,hội phụ huynh đễ phối hợp giáo dục các em Tất cả những kế hoạch phối hợp nêu trên giúp chúng ta giáo dục các em một cách toàn diện . Phải có mối liên kết với nhau giữa tất cả các giáo viên bộ môn , giáo viên chủ nhiệm ,BGH và gia đình ,xã hội đó là phương pháp "thế cờ vây " vào một mục tiêu,giải thích cho các em hiểu rằng việc học tập trước tiên là học cho chính mình , cho gia đình ,cho xã hội.Buộc các em phải cố gắng vươn lên trong học tập bên cạnh đó có sự giúp đỡ của bạn bè, của thầy cô giáo, việc học trở thành rất cần thiết cho các em mang lại nhiều điều thú vị và bổ ích . Trong tình hình chất lượng học sinh hiện nay tất cả các môn nói chung và môn toán nói riêng , học sinh yếu kém càng ngày càng "nở ra", học sinh khá giỏi càng ngay bị "co lại". Là người giáo viên đứng trước tình hình đó phải trăn trở suy nghĩ tìm nguyên nhân chính , cơ bản dẫn đến kết quả nêu trên, để có biện pháp thích đáng, hữu hiệu , tìm ra giải pháp tối ưu nhất để nâng dần chất lượng , đảm bảo yêu cầu giáo dục theo kịp thời đại. 2.4.Kết quả đạt được: - Sau khi áp dụng phương pháp này lớp tôi dạy đạt hiệu quả cao. Năm học 2012-2013 qua khảo sat định kỳ cả 3 lần học sinh đạt từ loại kha trở lên là 90%. Học kỳ I của năm học 2013-2014, đạt 98% học sinh khá, giỏi.Đặc biệt ở kì thi khảo sát chất lượng mũi nhọn năm học 2013- 2014 lớp tôi dạy có 10 em đạt giải môn Toán . PHẦN 3 Kết luận Qua thực tế giảng dạy , với cách dạy trên , tôi nhận thấy học sinh có nhiều tiến bộ. Với cách dạy và học trên học sinh chăm chú say mê học toán, các em không ngại khi giải các bài toán đặc biệt các bài toán hình học. Học sinh tích cực, chủ động tìm tòi, sáng tạo xây dựng kiến thức của bài học. Nhờ vậy mà học sinh nắm bài nhanh, nhớ kiến thức lâu hơn, chắc hơn và tự tin làm cho không khí tiết học sôi nổi, không gò bó, học sinh được thực sự bộc lộ hết khả năng của mình. Từ đó học sinh có hứng thú học toán, tạo thành thói quen tự suy nghĩ, chủ động làm bài để tìm ra cách giải hay và nhanh nhất. Đề xuất một số giải pháp: 3.1. Đối với trường THCS Nghĩa Lâm có nhiều em học sinh dân tộc thiểu số ,mặt bằng kiến thức không đồng đều nên việc tiếp thu kiến thức toán học còn hạn chế vì vậy theo tôi nên tổ chức cho các em học lớp hai buổi để các em có thêm thời gian luyện tập bài tập... Giống như hình thức tổ chức phụ đạo như hiện nay nhưng phải có sự chỉ đạo xuyên suốt của các cấp ,giáo viên dạy phải có giáo án ,có một phương án cho phân phối chương trình bổ túc thêm từng phần cụ thể. 3.2. Nên tổ chức mô hình trường THCS bán trú,tức là đến trường các em vừa học vừa chơi từ đó giáo viên toán cần có kế hoạch cho các làm bài tập nhóm,nhóm học tập ... 3.3 Thành lập câu lạc bộ giáo viên dạy toán theo cụm ,câu lạc bộ em yêu toán học Hình thức tổ chức câu lạc bộ như sau: 3.3.1.Phải có tiêu chí của câu lạc bộ khi tham gia các em ,giáo viên có quyền và nghĩa vụ gì? 3.3.2.Thành lập ban chủ nhiệm câu lạc bộ (gồm giáo viên ,học sinh) Hàng năm nên tổ chức đại hội câu lạc bộ ,tổ chức buổi lễ khi kết nạp thành viên mới,trao thẻ câu lạc bộ cho các em . 3.3.3.Trong vấn đề này phải phát huy tối đa phía học sinh ,Đội ngũ giáo viên dạy toán phải là ban cố vấn và là chủ nhiệm câu lạc bộ phải là giáo viên toán có năng lực ,đạo đức tốt ,tâm huyết ,ví như có thể tư vấn cho các em ... Theo tôi thiết nghĩ việc nâng cao chất lượng dạy học không thể chỉ xét đến một mặt nào đó mà phải nhìn trên quan điểm toàn cục, đồng bộ trên mọi mặt . về phía giáo viên phải có sự nhiệt tình , phải có năng lực, phải có đầu tư cao cho từng tiết dạy . Về phía học sinh đã đi vào quỹ đạo nội quy , trật tự , kỉ cương của lớp học , của nhà trường hay chưa, về phía gia đình đã thực sự quan tâp đến con ,em mình chưa ?,xã hội (môi trường ) của các sống đã thực sự trong sạch chưa ? v.v...Nhưng một điều cần thiết trước tiên để dạy đạt chất lượng là phải xây dựng một tập thể lớp có tổ chức , có kỉ cương , tất cả các thành viên đều hoạt động theo quỹ đạo đó . Nếu một phần tử nào đó chưa hòa mình vào quỹ đạo,chưa theo kịp cũng buộc tự quay theo quỹ đạo để trở thành một lớp học có nề nếp , trật tự,chú ý nghe giảng . Giáo viên vào lớp tự nhiên sẽ thấy hứng thú , say mê trong công tác dạy học của mình hơn, yêu nghề hơn. Trong thời gian tới bản thân sẽ cố gắng thực hiện đầy đủ , nhiều hơn nữa những gì đã trăn trở trước tình hình chất lượng môn Toán hiện nay . Làm sao các em đều học được môn Toán , môn Toán trở thành một môn học rất gần gũi với các em,"thực sự là môn thể thao trí tuệ" . Các em không ngại giải bài tập , xem đó là khâu thực hành cần thiết để giúp các em phát triển tư duy , trí tuệ, tính chịu khó , cần cù , làm đến nơi đến chốn không bỏ dở giữa chừng,không ngại khó . Tính suy luận có logic , chính xác , chặt chẽ là cơ hội tốt nhất để rèn luyện bản thân , rèn luyện nhân cách của con người .để các em có một hành trang tri thức đầy đủ bước vào tương lai đầy niềm tin và hy vọng. 3.4. Soạn bài các tiết Toán thật cẩn thận chi tiết và có chất lượng. 3.5. Thường xuyên đọc các tài liệu, trao đổi kinh nghiệm giảng dạy, trau dồi kiến thức môn Toán với các đồng nghiệp. 3.6. Sử dụng tốt đồ dùng trực quan, tranh ảnh để tạo hứng thú học tập cho học sinh và nhớ nhanh nội dung bài học. 3.7. Cần quán triệt phương pháp lấy học sinh làm trung tâm, coi học sinh làm chủ thể của hoạt động nhận thức, biến các em thành người chủ động trong quá trình học tập, lĩnh hội tri thức. Các em phải hoàn toàn tự mình tham gia mọi hoạt động nhận thức . Sau khi thực hiện đề tài này, tôi nhận thấy học sinh không những học tốt môn Toán mà còn học tốt cả những phân môn khác trong chương trình phổ thông. Nghĩa Lâm, ngày 05 tháng 03 năm 2015 Người viết Hồ Văn Thái Tài liệu tham khảo 1. Sách giáo khoa-Sách bài tập môn toán các khối lớp. 2.Tài liệu về đổi mới phương pháp dạy-học toán trong trường phổ thông. 3. Tập huấn về đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục theo tinh thần Nghị Quyết 29 4. Các nguồn tài liệu trên mạng internet MỤC LỤC Phần 1; Mở đầu Trang 1. 1.2.Rèn luyện hạnh kiểm cho học sinh Trang 2,3 II/PHƯƠNG PHÁP DẠY NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG MÔN TOÁN CHO HỌC SINH 2.1.Phương pháp dạy học trên lớp Trang 3,4,5 2.2.Phương pháp ra bài tập về nhà Trang 3,4,5 2.3.Phương pháp kiểm tra bài tập về nhà và kiểm tra định kỳ Trang 6,7 2.4.Phương pháp phối hợp giữa giáo viên bộ môn với giáo viên chủ nhiệm Trang 7,8 2.5.Đề xuất một số giải pháp mới qui mô. Trang 8,9 Đăk Nông Giáo Dục