Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Ở Tiểu Học / TOP #10 ❤️ Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 9/2022 ❣️ Top View | Phauthuatthankinh.edu.vn

Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Ở Tiểu Học

Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Của Giáo Viên

Đổi Mới, Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học

Các Biện Pháp Nhằm Đổi Mới Pp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học

Hội Nghị Chuyên Đề “đề Xuất Giải Pháp Nâng Cao Chất Lƣợng Môn Sinh Học Cấp Thpt_10393812092019

Tìm Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giảng Dạy Sinh Học Ở Việt Nam

PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ Trong thời kì xã hội hóa và hội nhập quốc tế hiện nay, nguồn lực con người Việt Nam trở nên có ý nghĩa quan trọng, quyết định sự thành công của công cuộc phát triển đất nước. Giáo dục ngày càng có vai trò và nhiệm vụ quan trọng trong việc xây dựng thế hệ người Việt Nam mới, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội. Đảng và nhà nước ta luôn quan tâm và chú trọng đến giáo dục. Trong hệ thống giáo dục quốc dân, bậc tiểu học là bậc nền tảng, nó có ý nghĩa vô cùng quan trọng là bước đầu hình thành nhân cách con người cũng là bậc học nền tảng nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kĩ năng cơ bản để học sinh tiếp tục học bậc trung học cơ sở. Để đạt được mục tiêu trên đòi hỏi người dạy học phải có kiến thức sâu và sự hiểu biết nhất định về nội dung, chương trình sách giáo khoa, có khả năng hiểu được về tâm sinh lí của trẻ, về nhu cầu và khả năng của trẻ. Đồng thời người dạy có khả năng sử dụng một cách linh hoạt các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học phù hợp với đối tượng học sinh. Là một cán bộ quản lý, tôi nhận thấy bản thân giữ vị trí đặc biệt quan trọng trong nhà trường – nhiệm vụ phụ trách công tác chuyên môn của nhà trường. Làm thế nào để đẩy mạnh sự phát triển giáo dục nói chung và làm thế nào để nâng cao chất lượng dạy học trong nhà trường nói riêng, đặc biệt là chất lượng học sinh đại trà. Năm học ………….. nhiệm vụ chung của ngành là: Tiếp tục chỉ đạo việc quản lí, tổ chức dạy học theo chuẩn kiến thức, kĩ năng và định hướng phát triển năng lực học sinh; điều chỉnh nội dung dạy học phù hợp đặc điểm tâm sinh lí học sinh tiểu học;… Đổi mới kiểm tra, đánh giá kết quả học tập và rèn luyện của học sinh: Căn cứ chuẩn kiến thức, kỹ năng của chương trình lồng ghép giáo dục đạo đức, kĩ năng sống cho học sinh. Coi trọng sự tiến bộ của học sinh trong học tập và rèn luyện, động viên khuyến khích không gây áp lực cho học sinh khi đánh giá. Tạo điều kiện và cơ hội cho tất cả học sinh hoàn thành chương trình kiến thức, kĩ năng môn học và có mảng kiến thức dành cho đối tượng học sinh năng khiếu. Ngoài ra, trong quá trình thực hiện đổi mới phương pháp dạy học tiểu học căn cứ vào những nhận thức mới của học sinh về đạo đức, học tập và rèn luyện ở các em; căn cứ vào năng lực tổ chức, thiết kế và những hoạt động trong quá trình dạy học ở giáo viên vẫn còn không ít giáo viên bị ảnh hưởng nặng nề bởi phương pháp dạy học truyền thống mà họ không hiểu rằng việc đổi mới phương pháp dạy học tức là dùng phương pháp dạy học mới một cách hợp lí để tạo cho người học lòng say mê học tập, ham hiểu biết, óc tò mò để có khả năng và phương pháp học tập, tạo ra sự phát triển mới, nâng cao hiệu quả giáo dục phù hợp với bối cảnh của xã hội mà vẫn giữ được sự ổn định trong hoạt động dạy học. Đổi mới không có nghĩa là phủ nhận hoàn toàn cái hiện hành mà phải thừa kế sự phát huy những thành tựu đã đạt được đồng thời tạo ra được sự phối hợp chặt chẽ giữa phương pháp dạy học truyền thống và phương pháp hiện đại. Xuất phát từ cơ sở lí luận và thực tiễn của đơn vị. Tôi mạnh dạn chọn và viết sáng kiến kinh nghiệm: “Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy và học ở trường Tiểu học ……………” nhằm góp phần đẩy mạnh sự phát triển giáo dục, nâng cao chất lượng dạy – học và đẩy mạnh công tác mũi nhọn của nhà trường.

Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học Ở Trường Tiểu Học

Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học Ở Trường Tiểu Học

Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Tiếng Anh 6

Skkn Thực Trạng Và Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Tiếng Anh Tiểu Học Huyện Bình Giang

Sáng Kiến Kinh Nghiệm: Nâng Cao Chất Lượng Môn Tiếng Anh Cho Học Sinh Tiểu Học Thông Qua Việc Dạy Từ Vựng

Skkn Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Tiếng Anh Ở Trường Tiểu Học

Sáng Kiến Kinh Nghiệm: Nâng Cao Chất Lượng Môn Tiếng Anh Cho Học Sinh Tiểu Học Thông Qua Việc Dạy Từ Vựng

Skkn Thực Trạng Và Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Tiếng Anh Tiểu Học Huyện Bình Giang

Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Tiếng Anh 6

Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học Ở Trường Tiểu Học

Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học Ở Trường Tiểu Học

MỘT SỐ BIỆN PHÁP CHỈ ĐẠO

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC TIẾNG ANH

TRONG NHÀ TRƯỜNG TIỂU HỌC

1. PHẦN MỞ ĐẦU:

1.1. Lý do:

Lịch sử và phát triển của nhân loại đã chứng minh rằng mục tiêu của giáo dục

đào tạo bao giờ cũng gắn liển với mục tiêu phát triển của xã hội. Mỗi thời kỳ lịch sử

đều có một mục tiêu giáo dục khác nhau, phù hợp với sự phát triển của xã hội giai đoạn

đó.

Trong giai đoạn hiện nay, sự giao lưu và hợp tác giữa các Quốc gia trong quá

trình phát triển khoa học kỹ thuật, áp dụng công nghệ hiện đại đã làm cho các quốc gia

xích lại gần nhau, xu thế toàn cầu hóa diễn ra mạnh mẽ. Đảng ta chủ trương đổi mới

căn bản, toàn diện về giáo dục và đào tạo, nhằm thực hiện mục tiêu công nghiệp hóa,

hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế.

Mục tiêu chiến lược của ngoại ngữ gắn chặt với những mục tiêu lớn của giáo dục

và đào tạo, được xác định trên 3 bình diện: nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi

dưỡng nhân tài. Ngoại ngữ nói chung và tiếng Anh nói riêng có vai trò và vị trí quan

trọng trong sự nghiệp giáo dục đào tạo và trong sự phát triển của đất nước. Trong đề án

dạy và học ngoại ngữ đến năm 2022, mục tiêu đặt ra: “Đến năm 2022 là đa số thanh

niên tốt nghiệp Trung cấp, Cao đẳng, Đại học đều sử dụng ngoại ngữ một cách độc

lập, tự tin khi giao tiếp, học tập và làm việc trong môi trường hội nhập, đa ngôn ngữ,

đa văn hoá; biến ngoại ngữ thành thế mạnh khi tham gia thị trường lao động trong và

ngoài nước”.

Ngày nay, chúng ta đã thấy rõ rằng ngoại ngữ là yếu tố đặc biệt góp phần phát

triển khả năng của mọi dân tộc. Cùng với sự phát triển vũ bão của cuộc “Cách mạng

khoa học-công nghệ”, chiến lược phát triển ngoại ngữ đã trở thành bộ phận tất yếu của

chiến lược con người cho tương lai ở mọi quốc gia. Ngoại ngữ tạo điều kiện để cho các

dân tộc trên thế giới ngày càng hiểu và xích lại gần nhau hơn.

Chúng ta đang sống và làm việc trong một thế giới phong phú, đa dạng về ngôn

ngữ, điều này đòi hỏi mỗi người phải học hỏi và khám phá. Học ngôn ngữ là hình thành

một công cụ giao tiếp mới để trao đổi những tri thức khoa học, kiến thức tiên tiến, tìm

hiểu các nền nếp văn hóa, qua đó góp phần tạo dựng sự hiểu biết lẫn nhau, hình thành ý

-1-

thức công dân toàn cầu, góp phần vào việc phát triển phẩm chất và năng lực cá nhân.

Thông qua việc học ngôn ngữ và tìm hiểu về nền kinh tế khác nhau, chúng ta có thể

hiểu rõ hơn về ngôn ngữ và nền văn hóa của dân tộc mình.

Việt Nam đang đứng trước những khó khăn, thách thức lớn, phải tìm ra con đường

sáng tạo để có thể hội nhập vào khu vực và thế giới, nhằm thực hiện thành công sự

nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng. phát triển đất nước trong thời đại bùng

nổ công nghệ thông tin. Với bối cảnh đó, ngoại ngữ đã có một vai trò, vị trí mới về

chất:

– Thực sự trở thành công cụ giao tiếp cần thiết, phương tiện thông tin nhạy bén

và phong phú.

– Được nâng lên như vai trò của một năng lực phẩm chất cần thiết về nhân cách

của con người Việt Nam hiện đại.

Việc dạy học môn Tiếng Anh ở trường Tiểu học đang được quan tâm đúng mức,

song còn nhiều điều phải bàn về nhận thức, về CSVC, đội ngũ nhà giáo, phương pháp

dạy học bộ môn, …

Chính bởi lẽ đó, Tiếng Anh luôn được coi là một môn học quan trọng, là chìa

khóa giúp cho mỗi chúng ta mở rộng cánh cửa tương lai.

Xuất phát từ những vấn đề trên cùng với kinh nghiệm trong quản lý tôi xin mạnh

dạn lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Một số biện pháp chỉ đạo nhằm nâng cao chất lượng

dạy học môn Tiếng Anh trong trường Tiểu học ” dưới góc độ là một người quản lý

trong trường học.

1.2. Điểm mới của đề tài:

Đây là một đề tài hoàn toàn mới chưa có tác giả nào nghiên cứu. Đề tài không

trùng với tên và biện pháp của đề tài nào trước đó, kể từ khi tôi nghiên cứu đề tài cho

đến thời điểm này.

Phạm vi áp dụng của đề tài: Áp dụng đối với công tác chỉ đạo dạy học môn Anh

văn trong nhà trường Tiểu học, nhằm nâng cao chất lượng dạy học môn Anh văn.

-2-

đầu tư vào các tiết dạy, quan tâm tìm tòi những phương pháp giảng dạy phù hợp với

từng đối tượng học sinh nên chất lượng, hiệu quả dạy học của bộ môn này chưa thật sự

như mong muốn. Qua thanh, kiểm tra, tìm hiểu cho thấy có rất nhiều tiết học học sinh

còn thụ động, giờ học ít sinh động mặc dù giáo viên có quan tâm đến việc tổ chức các

hoạt động học tập để phát huy sự hoạt động tích cực, sáng tạo của học sinh. Nhiều hoạt

động dạy học tích cực chỉ mới được sử dụng có tính hình thức, chưa được đầu tư,

chuẩn bị đúng mức và triển khai đúng qui trình nên chưa đạt hiệu quả cao. Các đối

tượng học sinh yếu kém chưa được quan tâm đúng mức để tạo điều kiện cho các em

vươn lên. Một bộ phận giáo viên phát âm Tiếng Anh còn chưa chuẩn xác, sai sót kiến

thức cơ bản. Đây là một vấn đề đòi hỏi sự tự bồi dưỡng không ngừng của bản thân mỗi

thầy cô giáo vì không thể có một khóa bồi dưỡng chuyên đề ngắn hạn nào có thể giúp

giáo viên giải quyết nhược điểm này.

Thực tế cho thấy rằng đội ngũ giáo viên tiếng Anh ở bậc Tiểu học hiện nay còn

hạn chế về năng lực chuyên môn, phương pháp dạy học, và mức độ gắn bó với nghề

nghiệp, có sự chênh lệch đáng kể về trình độ chuyên môn. Do được tuyển dụng từ

nhiều nguồn khác nhau để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng số trường và lớp có học

sinh chọn học môn Tiếng Anh cho nên “một bộ phận giáo viên còn yếu về trình độ

ngoại ngữ”, nhiều giáo viên còn hạn chế về phát âm, nhất là các âm cuối. Do đó giáo

viên khó có thể làm một hình mẫu chuẩn cho các em bắt chước. Năng lực Tiếng Anh

kém còn thể hiện ở chỗ đa số giáo viên không diễn đạt được một cách trôi chảy thứ

tiếng mình đang dạy. Hơn thế, họ thường có khuynh hướng dùng tiếng Việt trong giờ

dạy Tiếng Anh.

Ngoài ra, việc giáo viên luôn bám sát từng câu chữ trong sách giáo khoa chứ

không thoát ly khỏi sách để dẫn dắt học sinh đi theo mạch hứng thú nhằm tạo sự hấp

dẫn và kích thích tính tích cực, sáng tạo của học sinh cũng phản ánh sự hạn chế về năng

lực ngôn ngữ của họ. Sự yếu kém về năng lực chuyên môn còn thể hiện ở chỗ giáo viên

thiếu các biện pháp hỗ trợ cho học sinh nghe hiểu Tiếng Anh và không điều chỉnh được

ngôn ngữ cho phù hợp với trình độ của học sinh.

* Về phía học sinh và phụ huynh:

Bên cạnh những học sinh có hứng thú học ngoại ngữ vẫn còn không ít học sinh

cảm thấy không thích học hoặc cảm thấy khó khăn trong việc học bộ môn này. Tiếng

Anh là môn học bắt buộc cho học sinh các cấp và là môn thi bắt buộc cho học sinh các

cấp trên cấp Tiểu học. Mặc dù là môn học quan trọng, nhưng rất nhiều học sinh vẫn có

ý thức học đối phó hoặc chủ quan dẫn đến mất kiến thức cơ bản, học kém và do đó

-4-

không đạt kết quả cao trong học tập. Đa phần học sinh không tiếp cận với sách tham

khảo, các phần mềm học tiếng Anh hay Internet để học online, một số do không có điều

kiện, một số do gia đình hoặc bản thân các em không tìm tòi, đầu tư. Chương trình học

thì nặng và khô khan nên phần nào gây sự nhàm chán cho học sinh. Sự quan tâm của

gia đình còn rất hạn chế. Do đó, chất lượng học đại trà chưa cao.

Một bộ phận học sinh không nghiêm túc trong giờ học (nói chuyện, không chú ý

nghe thầy cô giảng bài); bị tác động bởi ngoài xã hội như: trò chơi điện tử, chát …Học

sinh chưa chăm học, chưa có ý thức tự giác trong học tập: như học bài và việc luyện

thực hành ở nhà, …

Một số phụ huynh và học sinh chưa thấy được tầm quan trọng của việc học bộ

môn tiếng Anh nên chưa có đầu tư đúng mức; ít quan tâm đến vấn đề học tập của con

em.

* Về chương trình:

Hiện nay dạy học môn Tiếng Anh chưa có chương trình thống nhất cho học sinh

trong vùng miền, trong cả nước đối với mỗi khối lớp ở cấp Tiểu học, VD: chương trình

dạy học sách Let’s go; Let’s learn, …; sự tồn tại nhiều chương trình dạy học dẫn đến

việc lựa chọn chương trình dạy học thiếu thống nhất, còn phụ thuộc vào tài liệu dạy học

cho học sinh và giáo viên trên thị trường.

2.1.2. Thực trạng chỉ đạo việc dạy học môn Tiếng Anh trong trường Tiểu

học tôi đang công tác:

a. Đặc điểm của nhà trường:

Trường Tiểu học tôi đang công tác thuộc vùng thuận lợi trên địa bàn huyện, được

UBND Tỉnh công nhận trường đạt chuẩn Quốc gia mức độ 1 năm 2006. Năm học 2012

– 2013 nhà trường có 366 học sinh chia làm 10 lớp học. Nhà trường đã tổ chức dạy học

Tiếng Anh cho học sinh khối 3,4,5 từ năm 2006, dạy cho cả học sinh khối 2 từ năm

học 2011 – 2012, năm học 2012 – 2013 tổ chức dạy tiếng Anh cho cả học sinh khối 1.

Có 2 giáo viên dạy cho học sinh 5 khối lớp.

* Trình độ: – Quản lý : Đại học: 1 đ/c – 50%

Cao đẳng: 1 đ/c – 50%

Chứng chỉ Anh văn: B

– Giáo viên dạy Tiếng Anh: Đại học: 2/2 đ/c – 100%. Trong đó có 1

giáo viên đại học chuyên ngành sư phạm Tiếng Anh với trình độ năng lực Tiếng Anh

cấp độ B2 theo khung tham chiếu chung Châu Âu về ngôn ngữ.

-5-

Năm học 2012 – 2013, trường Tiểu học tôi đang công tác là một trong 14 trường

Tiểu học đầu tiên thuộc huyện nhà, tỉnh Quảng Bình thực hiện triển khai chương trình

dạy học Tiếng Anh khối lớp 3 theo Đề án dạy học ngoại ngữ giai đoạn 2011- 2022.

Trên thực tế, việc dạy học môn Tiếng Anh không phải quá mới mẽ đối với các

trường Tiểu học hiện nay. Đối với khối lớp 3,4,5 học sinh đã được các nhà trường lựa

chọn là môn học tự chọn trong nhiều năm qua. Nhưng điểm mới trong năm học 2012 2013 này là 14 trường được chọn triển khai dạy học Tiếng Anh khối lớp 3 theo Đề án

dạy học ngoại ngữ giai đoạn 2011- 2022.

b. Thuận lợi:

Trường tiểu học tôi đang công tác có 366 (100%) học sinh từ khối lớp 1 đến khối

lớp 5 tham gia học Tiếng Anh. Học sinh rất hứng thú trong việc việc học Tiếng Anh,

phụ huynh rất quan tâm đến việc học tập môn ngoại ngữ này. Nhà trường quan tâm,

đầu tư các điều kiện đảm bảo dạy học chương trình Tiếng Anh trong nhà trường.

Giáo viên trực tiếp giảng dạy có trình độ Đại học Tiếng Anh, chuyên ngành sư

phạm, có đủ năng lực để dạy học chương trình này. Trong đó có 01 giáo viên có trình

độ B2 theo tiêu chẩn trình độ Châu Âu; 01 giáo viên đã là hướng dẫn viên du lịch, có

năng lực tốt trong dạy tiếng Anh cho học sinh đặc biệt kỹ năng nghe và cách phát âm.

c. Khó khăn:

– Học sinh khối lớp 3 chuyển đổi từ chương trình Léts go sang học sách thí điểm nên

gặp nhiều bỡ ngỡ: Nhiều từ mới học sinh đã được học ở lớp 2 sách Léts go nay được

học lại nên có tâm lý chủ quan, không chú ý học lại từ mới. Một số từ vựng các em

được học ở sách Léts go nay học lại ở sách mới, cũng là từ vựng đó nhưng cách đọc và

cách viết khác nên các em không nhớ mà chỉ đọc và viết theo cách trước. VD: từ “cục

tẩy” sách Léts go dùng từ “an eraser” sách thí điểm dùng từ “A Rubber”.

– Chương trình mới ở khối lớp 3 chú trọng đến kỹ năng nghe, song kỹ năng này

học sinh mới được tiếp xúc năm học đầu tiên nên còn yếu kỹ năng này.

– Băng đĩa phục vụ việc dạy học chương trình Tiếng Anh, tranh ảnh để dạy từ

mới theo các chủ điểm chưa nhiều.

– Trường chưa có phòng chức năng dạy học tiếng Anh riêng, các trang thiết bị

phục vụ dạy học chưa đủ cho dạy kỹ năng nghe, tổ chức trò chơi.

– Giáo viên dạy học Tiếng Anh là hợp đồng chưa ổn định, ảnh hưởng đến chất

lượng dạy học.

– Môi trường để luyện kỹ năng nghe, nói qua giao tiếp hằng ngày quá hạn chế

nên học sinh dễ quên kiến thức đã học.

-6-

– Việc phân bố nội dung kiến thức trong một số tiết học chưa hợp lý, vì có nhiều

tiết học nội dung kiến thức quá nhiều so với thời lượng được qui định và thời gian để

khắc sâu ngay kiến thức ngữ pháp vừa dạy không có.

– Thiết bị dạy học cần thiết như băng, đĩa máy casette hầu hết các trường đều có

trang bị. Tuy nhiên còn rất nhiều trường, máy casette hư hỏng hoặc chất lượng sử dụng

không tốt dẫn đến việc giáo viên phải đọc cho học sinh nghe hoặc chất lượng nghe

không tốt trong giờ luyện nghe Tiếng Anh. Sách tham khảo, các loại từ điển và các

sách công cụ khác trong thư viện chưa phong phú. Nhìn chung trang thiết bị dành cho

việc giảng dạy tiếng Anh so với nội dung chương trình và yêu cầu của môn học còn

nghèo và chưa được sử dụng tốt.

– Giáo viên dạy tiếng Anh (cũng như khó khăn chung) trong nhà trường không

được đào tạo để dạy cho học sinh bậc tiểu học. Những giáo viên này được hợp đồng từ

nhiều nguồn khác nhau, do vậy giáo viên dạy Tiếng Anh còn thiếu kinh nghiệm và hạn

chế về nghiệp vụ sư phạm khi dạy học sinh Tiểu học.

2.2. Một số biện pháp chỉ đao nâng cao chất lượng dạy học môn

Tiếng Anh trong nhà trường Tiểu học:

2.2.1. Nâng cao nhận thức về nhiệm vụ triển khai chương trình dạy học Tiếng

Anh cho cán bộ giáo viên, phụ huynh học sinh.

BGH nhà trường đã tổ chức triển khai những yêu cầu về việc thực hiện chương

trình dạy học Tiếng Anh đến toàn thể cán bộ, giáo viên, học sinh và phụ huynh học

sinh trong nhà trường, giúp giáo viên, học sinh và phụ huynh nhận thức rõ về tầm quan

trọng của việc triển khai dạy học chương trình này trước mắt và trong tương lai:

Học ngôn ngữ Tiếng Anh là hình thành một công cụ giao tiếp mới để trao đổi

những tri thức khoa học, để tìm hiểu, tiếp thu những tinh hoa văn hóa của nhân loại

nhằm thực hiện nhiệm vụ góp phần xây dựng đất nước giàu mạnh.

Tiếng Anh là một trong những ngôn ngữ quốc tế thông dụng nhất trên thế giới

hiện nay. Học Tiếng Anh ở Tiểu học giúp cho học sinh hình thành và phát triển năng

lực giao tiếp thông qua các kỹ năng nghe, nói, đọc, viết, đồng thời là một trong những

điểm khởi đầu quan trọng góp phần vào việc hình thành và phát triển các kỹ năng học

tập suốt đời, năng lực làm việc trong tương lai và khả năng tham gia các hoạt động văn

hóa xã hội. Học Tiếng Anh ở Tiểu học còn tạo nền tảng cho việc tiếp tục học Tiếng

Anh ở các cấp học tiếp theo cũng như trang bị các kỹ năng học ngoại ngữ cơ bản để

-7-

học các ngoại ngữ khác trong tương lai. Ngoài ra, học Tiếng Anh còn giúp cho học sinh

hình thành năng lực diễn đạt ý tưởng cá nhân một cách tự tin, độc lập và sáng tạo.

Hiện nay, chương trình dạy học đã được triển khai trong bậc Tiểu học. Đề án

“Dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục Quốc dân giai đoạn 2008 – 2022” có

nêu: Bắt đầu từ lớp 3 học môn ngoại ngữ bắt buộc. Năm học 2012 – 2013 Bộ giáo dục

đã triển khai dạy thí điểm chương trình Tiếng Anh theo đề án ngoại ngữ giai đoạn 2013

– 2022 ở số trường Tiểu học cho học sinh khối lớp 3. Môn Tiếng Anh không còn là

môn thi tự chọn mà môn thi bắt buộc đối với học sinh. Do vậy, dạy học Tiếng Anh ở

bậc Tiểu học được xem là nhiệm vụ trọng tâm trong việc thực hiện nhiệm vụ giáo dục.

Đầu tư cho việc dạy và học môn Tiếng Anh ở Tiểu học là nhiệm vụ cấp thiết, cần có sự

nhận thức đúng đắn của các nhà giáo dục và các bậc phụ huynh.

Nhà trường cần tổ chức học tập tuyên truyền các văn bản, Nghị quyết, … của

Đảng, Nhà nước về nhiệm vụ dạy học môn Tiếng Anh trong nhà trường. Phổ biến,

quán triệt đầy đủ các chủ trường, giải pháp giáo dục, những đổi mới về yêu cầu, nội

dung, chương trình của cấp trên về môn học đầy đủ, kịp thời đến CB-GV, phụ huynh

và học sinh. Cần phân tích rõ thực trạng: Ưu điểm, tồn tại cần khắc phục trong nhà

trường. Đồng thời, khẳng định vai trò của nhà trường trong sự phát triển của xã hội, địa

phương cho cán bộ, giáo viên và phụ huynh học sinh nhận thấy.

2.2.2. Kiện toàn hoạt động chuyên môn dưới sự chỉ đạo của Ban giám hiệu

nhà trường.

Phân công, sắp xếp hợp lý trình độ, năng lực giáo viên dạy chương trình Tiếng

Anh các khối lớp trong nhà trường: Mục tiêu, yêu cầu các khối lớp từ 1 đến 5 cơ bản có

điểm chung, nhưng đặc điểm chương trình và đặc điểm nhận thức, đặc điểm tâm sinh lý

học sinh ở các khối lớp lại khác nhau. Chương trình dạy học theo đề án ngoại ngữ giai

đoạn 2013 – 2022 của khối lớp 3 cần giáo viên có trình độ B2 theo tiêu chuẩn Châu Âu,

các khối lớp khác cần giáo viên có trình độ Đại học chuyên ngành sư phạm Anh văn, có

năng lực đủ để dạy học chương trình tiếng Anh để thực hiện nhiệm vụ đạt hiệu quả.

Trong phân công phần hành cần tuân thủ định mức lao động của nhà nước, đảm

nhiệm phần hành đủ số tiết dạy học không quá quy định 23 tiết/ tuần. Qui định rõ

quyền hạn, nghĩa vụ cho giáo viên trong hợp đồng lao động. Bên cạnh đó việc phân

công nhiệm vụ cũng cần sự đảm bảo tính thừa kế, tính hợp lý: Giáo viên dạy học khối

1, 2 và khối 3; khối 4 và khối 5.

Xây dựng nhóm bộ môn dạy Tiếng Anh trong nhà trường: Trong nhà trường

Tiểu học do đặc điểm của chương trình dạy học nên tổ chuyên môn được xây dựng

-8-

theo khối lớp chứ chưa có tổ chuyên môn theo môn học. Nhưng thường cán bộ quản lý,

tổ trưởng tổ chuyên môn không phải là chuyên môn sâu về Tiếng Anh do đó việc chỉ

đạo chuyên môn phần nào mang tính chỉ đạo định hướng. Do vậy cần cử giáo viên có

trình độ, năng lực tốt làm trưởng nhóm bộ môn để tham mưu đắc lực cho nhà trường

trong chỉ đạo chuyên môn về môn học này.

2.2.3. Xây dựng kế hoạch chỉ đạo dạy học chương trình hợp lý, hiệu quả:

Căn cứ thực tế nhà trường, kế hoạch hoạt động của nhà trường trong giai đoạn và

trong năm học để xây dựng chương trình triển khai thực hiện nhiệm vụ bằng những

việc làm sau:

Xây dựng kế hoạch chỉ đạo dạy học môn tự chọn là Tiếng Anh, trong đó dạy

Tiếng Anh lớp 3 theo đề án ngoại ngữ giai đoạn 2012 – 2022. Kế hoạch chỉ đạo phải

bám sát mục tiêu dạy học của chương trình dạy học Tiếng Anh từng khối lớp nói riêng

và mục tiêu dạy học Tiếng Anh nói chung của bậc Tiểu học.

Chỉ đạo tổ chuyên môn phối hợp nhóm chuyên môn xây dựng kế hoạch dạy học

theo chương trình dạy học của bộ đã ban hành, dưới sự chỉ đạo thống nhất của cấp

phòng giáo dục. Năm học 2012 – 2013 nhà trường thực hiện dạy chương trình theo sách

giáo khoa: lớp 1 dạy Let’s go Starter; lớp 2 dạy Let’s go 1A; lớp 3 dạy sách Tiếng Anh

lớp 3; lớp 4 dạy sách Let’s go 2; lớp 5 Let’s go 3 third edition và Let’s go 3 workbook.

Chỉ đạo giáo viên bộ môn xây dựng kế hoạch dạy học cụ thể cho từng khối lớp

đảm nhiệm theo kế hoạch dạy học chung của nhà trường.

Triển khai thực hiện nghiêm túc chương trình dạy học Tiếng Anh theo chương

trình dạy học của từng khối lớp đã xây dựng. Thực hiện đảm bảo thời lượng dạy học

trên lớp 4 tiết/ tuần; 35 – 40 phút/ tiết.

Xây dựng kế hoạch chỉ đạo dạy học chương trình Tiếng Anh cần song song với

việc xây dựng kế hoạch bồi dưỡng học sinh năng khiếu, dạy học câu lạc bộ Tiếng Anh

trong nhà trường để thực hiện tốt mục tiêu chung.

2.2.4. Chỉ đạo phương pháp dạy học môn tiếng Anh trong nhà trường Tiểu học:

Mục tiêu, nội dung, chương trình dạy học Tiếng Anh đã đặt ra những vấn đề

mới trong quá trình chỉ đạo phương pháp dạy học. Nội dung chương trình, trang thiết

bị dạy học, cơ sở vật chất, trình độ giáo viên, tài liệu tham khảo, phương pháp dạy học,

hình thức tổ chức dạy học… đều có mối quan hệ chặt chẽ và chúng quy định lẫn nhau.

Đó là những yếu tố không thể thiếu để thực hiện mục tiêu dạy học Tiếng anh trong nhà

trường.

-9-

Chỉ đạo phương pháp dạy học môn tiếng Anh cũng không có gì khác với chỉ đạo

các môn học khác. Đó cũng là quá trình điều khiển quá trình dạy học được vận hành

một cách có kế hoạch, có tổ chức, được kiểm tra giám sát thường xuyên theo định

hướng mục tiêu đã định. Nhưng ở môn học Tiếng Anh người quản lý trong quá trình

chỉ đạo cần phải nắm chắc mục tiêu cần đạt từng kỹ năng theo từng cấp độ của A1, trên

cơ sở đó định ra biện pháp chỉ đạo sát đúng hơn.

Đặc thù của phương pháp dạy học chủ đạo môn Tiếng Anh là đường hướng dạy

học ngôn ngữ giao tiếp, xem học sinh là chủ thể của quá trình dạy học và giáo viên là

người tổ chức, hướng dẫn, điều hành hoạt động học của học sinh. Hoạt động dạy học

được tổ chức thông qua môi trường giao tiếp đa dạng phong phú với các hoạt động

tương tác (trò chơi, kể chuyện, vẽ tranh,…). Việc dạy học giúp học sinh ghi nhớ từ,

cụm từ và cách đánh vần suy đoán nghĩa của từ hoặc cụm từ dựa vào ngữ cảnh giao

tiếp, sử dụng tài liệu đơn giản như từ điển, tranh,… một cách phù hợp. Trong dạy học

cần sử đồng bộ các tài liệu và các phương tiện kỹ thuật hỗ trợ khác nhau thông qua chủ

đề, chủ điểm.

Trên thực tế dạy Tiếng Anh cho bậc tiểu học còn nặng về phương pháp truyền

thống, chú trọng đến vai trò của người thầy hơn là coi người học như trung tâm quá

trình dạy học. Hầu hết các các hoạt động học tập thường diễn ra theo kiểu tương tác

giữa thầy và trò hơn là giữa trò với nhau dưới hình thức luyện tập thực hành theo cặp

hoặc nhóm nhỏ. Các loại bài tập mang tính giao tiếp ít được áp dụng với lý do lớp quá

đông giáo viên không thể quán xuyến được. Một phần là đa số giáo viên dạy Tiếng Anh

học sinh Tiểu học còn thiếu kinh nghiệm và nghiệp vụ sư phạm Tiểu học. Do không

hiểu được tâm sinh lý và các đặc thù về lứa tuổi của học sinh, giáo viên Tiếng Anh tiểu

học thường không thể phát huy một cách đầy đủ động cơ học tập và hứng thú của trẻ

em. Thường là giáo viên coi trọng việc luyện tập nhắc đi nhắc lại, cho học sinh đọc

đồng thanh; quá nhấn mạnh kỹ năng đọc viết ngày từ giai đoạn đầu, không gây hứng

thú học tập cho các em mà ngược lại. Chính vì vậy, người quản lý chuyên môn cần có

những biện pháp cụ thể trong chỉ đạo dạy học ở môn học này.

Hiện nay, phong trào thực hiện đổi mới PPDH không còn mới mẽ đối với giáo

viên nữa. Vấn đề trong đổi mới PPDH là người giáo viên dạy học môn Tiếng Anh phải

làm gì? Làm như thế nào trước đối tượng học sinh cụ thể của mình, trước những khó

khăn cần tháo gỡ để PPDH tích cực thực sự có hiệu quả, không mang tính hình thức.

Muốn có PPDH tốt cần xác định rõ mục tiêu của PPDH tích cực là phát huy tính tích

cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; bồi dưỡng tự học, tự rèn kỹ năng vận

– 10 –

dụng thực hành của học sinh; thực hiện tốt vai trò tổ chức, hướng dẫn học sinh thực

hiện tốt nhiệm vụ học tập của người giáo viên trong các giờ học trên lớp.

* Chỉ đạo dạy học môn tiếng Anh cần tập trung những vấn đề sau:

a. Chỉ đạo đổi mới soạn bài:

Chuẩn bị tốt bài soạn trước lúc lên lớp là vấn đề không kém phần quan trọng.

Qua bài soạn phần nào có thể đánh giá được năng lực của giáo viên. Giáo án tốt là giáo

án thể hiện được nội dung dạy học cho từng đối tượng học sinh của lớp học cụ thể, thể

hiện sự chủ động, linh hoạt trong tổ chức hướng dẫn học sinh trong tiết học và đảm bảo

yêu cầu khung giáo án quy định.

Bài soạn phải thể hiện rõ nội dung kiển thức của tưng phần trong bài học, hoạt

động cua thầy và trò, phân bố thời gian hợp lý cho từng nội dung bài học, có kiến thức

cho tùng đối tượng học sinh trong lớp học cụ thể.

b. Chỉ đạo đổi mới PPHD cần định hướng cho giáo viên những điểm cơ bản sau:

* Dạy học trên lớp:

– Tạo sự khởi đầu 1 tiết học vui vẻ, nghiêm túc bằng lời chào hỏi bằng tiếng Anh.

Trong các tiết học trên lớp giáo viên cần sử dụng lệnh bằng tiếng anh để giúp các em dễ

nhớ, nhớ lâu từ vựng, tạo môi trường và thói quen sử dụng tiếng anh trong giao tiếp.

– Trong khi tham gia học tập chúng ta nên động viên, khuyến khích các em tham gia

phát biểu sôi nổi, và nhất là những em học sinh trung bình, yếu có cố gắng. Điều này

giúp các em cảm thấy tự tin và mạnh dạn hơn.

– Nội dung kiến thức môn học này đòi hỏi trẻ phải vận dụng nhiều giác quan cũng như

sự trải nghiệm của các em. Do vậy giáo viên cần chú ý đến các hình thức dạy học trải

nghiệm, cách thức thực hành phong phú, đa dạng kích thích các giác quan cùng tham

gia vào quá trình tri giác.

– Đưa ra các dạng bài tập khác nhau để các em có cơ hội luyện tập và trao dồi kiến thức

đã học, trong đó mỗi giáo viên cố gắng chọn những câu từ mang tính thực tế, gần gũi

với cuộc sống hằng ngày để các em dễ hiểu lúc áp dụng cấu trúc câu. Những câu tiếp

theo sẽ dài hơn, phức tạp hơn một chút để kích thích các em suy nghĩ.

– Để có cơ hội cho học sinh luyện tập nhiều thì nên sử dụng sự hỗ trợ của phần mềm

“power point”. Các em đều có cơ hội như nhau và các bài tập được xây dựng theo hình

thức trắc nghiệm, có hiệu ứng âm thanh, hình ảnh khi các em trả lời đúng hoặc sai.

Hình thức này sẽ giúp các em có hứng thú tham gia.

– 11 –

đồng nghiệp ở trường bạn; học tập cách dạy học trên các kênh truyền hình,… Nâng cao

tinh thần tự bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ của mình bằng nhiều hình thức.

Giáo viên giảng dạy, mặc dù là trình độ Đại học chuyên ngành sư phạm Anh

văn, song vẫn chưa đảm bảo tiêu chuẩn trình độ, năng lực Tiếng Anh tương đương cấp

độ B2 trở lên của khung tham chiếu chung Châu Âu về ngôn ngữ. Do vậy nhà trường

cần tạo điều kiện về thời gian cho giáo viên tham gia học lớp nâng chuẩn, các lớp bồi

dưỡng ngắn hạn để nâng cao năng lực giảng dạy tạo dựng chất lượng đạt yêu cầu một

cách ổn định.

Xây dựng nền nếp dạy học có ý thức tự giác, tự quản, có tinh thần trách nhiệm

với công việc. Hình thành thói quen cho giáo viên (hợp đồng) có thói quen làm việc có

kỷ luật, có tổ chức, làm việc theo pháp luật và nội quy, tạo ra nề nếp kỷ cương. Chỉ đạo

giáo viên thực hiện nghiêm túc quy chế chuyên môn, thực hiện kế hoạch theo quy trình

đã xây dựng đảm bảo khoa học, hiệu quả.

*Về công tác tự bồi dưỡng:

Tăng cường công tác chỉ đạo giáo viên tự bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ

bằng nhiều hình thức. Xuất phát từ những hạn chế của giáo viên dạy học Tiếng Anh

trong nhà trường để có hướng chỉ đạo đúng nhằm nâng cao chất lượng học sinh. Cụ

thể: Giáo viên phải tự rèn cách phát âm chuẩn; tự nghiên cứu tài liệu tham khảo để có

thêm hiểu biết và kinh nghiệm trong phương pháp dạy học, trong cách tổ chức các hình

thức dạy học, về kiến thức tiếng Anh, …; hạn chế cao nhất việc sử dụng Tiếng Việt

trong dạy học trên lớp; dự giờ đồng nghiệp trong và ngoài nhà trường và tự rút kinh

nghiệm nghiêm túc; tìm hiểu thêm về tâm sinh lý và đặc điểm tư duy của học sinh Tiểu

học ở mỗi khối lớp đề có PPDH phù hợp; vận dụng linh hoạt các hình thức dạy học, các

phương pháp dạy học đặc trưng của môn học thông qua việc tự thực hành trên lớp.

Trình độ dạy học kỹ năng nghe của giáo viên rất quan trọng trong việc quyết

định đến chất lượng học sinh, do vậy giáo viên cần tự bồi dưỡng tốt kỹ năng này để

trang bị kiến thức cho mình trong thực hiện dạy học chương trình Tiếng Anh bậc Tiểu

học.

2.2.6. Mua sắm các thiết bị, xây dựng CSVC đảm bảo dạy học chương trình

theo yêu cầu:

Cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học là hai yếu tố quan trọng trong việc nâng cao

chất lượng dạy học. Hoạt động dạy học chỉ diễn ra khi có đủ cơ số học sinh và cơ sở

vật chất và trang thiết bị dạy học. Đặc thù của môn Tiếng Anh là dạy cho học sinh biết

cách nghe, nói, đọc, viết. Để dạy cho học sinh biết cách nghe, biết cách phát âm chuẩn

– 14 –

không thể chỉ dựa vào phấn trắng bảng đen và lời diễn thuyết của giáo viên. Theo

những mục tiêu, yêu cầu đặt ra của nội dung chương trình nhà trường cần phải xây

dựng cơ sở vật chất đầy đủ, mua sắm thiết bị dạy học hiện đại đảm bảo chất lượng phục

vụ việc dạy học môn học Tiếng Anh như:

– Xây dựng phòng học Tiếng Anh riêng đạt chuẩn quy định.

– Mua sắm máy cattsetes vừa dùng được cả băng, đĩa và USB, đĩa CD, máy đọc tiếng

Anh Easy – talk, tai phôn; Mua máy chiếu Projecter, ti vi màn hình lớn phục vụ dạy học

cho học sinh trên lớp.

– Mua tranh ảnh, phần mềm dạy học Tiếng Anh, đĩa có hình ảnh phục vụ dạy học từ

vựng, đĩa có hình ảnh và lời hội thoại bằng Tiếng Anh ngắn để hỗ trợ cho việc dạy học

phần nghe – nói, …

– Nối mạng Internet toàn bộ hệ thống máy tính trong phòng máy tính học tập của học

sinh, hỗ trợ cho các em việc khai thác các thông tin trên mạng.

– Chỉ đạo thư viện mua sắm đầy đủ các tài liệu tham khảo, SGK cho học sinh và giáo

viên dạy học chương trình Tiếng Anh các khối lớp đầy đủ.

– Phối hợp giáo viên chủ nhiệm, phụ huynh học sinh mua sắm đầy đủ SGK, vở bài tập,

vở ghi cho học sinh học tập.

Cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học hiện đại, đa dạng, phong phú sẽ thu hút

học sinh tham gia hoạt động học tập, gây hứng thú cho các em trong quá trình học.

2.2.7. Tổ chức câu lạc bộ năng khiếu Tiếng Anh trong nhà trường.

Nâng cao chất lượng dạy học môn Tiếng Anh không chỉ dừng lại ở dạy học trong

chương trình chính khóa 4 tiết/tuần. Nhà trường cần tổ chức câu lạc bộ dạy học Tiếng

Anh cho học sinh các khối lớp tự đăng ký tham gia. Việc thành lập câu lạc bộ được

công khai. Ban chỉ đạo xây dựng chương trình, kế hoạch và tổ chức hoạt động nghiêm

túc, hiệu quả. Tham gia câu lạc bộ là tự nguyện nhưng khi đã tham gia phải thực hiện

nghiêm túc mọi quy định, nội quy của câu lạc bộ đề ra.

Tổ chức câu lạc bộ năng khiếu Tiếng Anh phải có mục đích rõ ràng: thứ nhất là

nhằm nâng cao chất lượng học sinh môn Tiếng Anh góp phần đào tạo nhân lực; thứ hai

là bồi dưỡng học sinh năng khiếu tham gia các hội thi các cấp góp phần đào tạo nhân

tài cho đất nước. Do vậy, nội dung dạy câu lạc bộ phải là kiến thức nâng cao, kết hợp

dạy lý thuyết và thực hành trong từng nội dung, 100% thành viên trong câu lạc bộ phải

thực hành giải Tiếng Anh qua mạng Internets.

Dạy học câu lạc bộ phải được thực hiện theo kế hoạch chỉ đạo có quy trình cụ

thể. Việc theo dõi phải thường xuyên, kiểm tra đánh giá dưới nhiều hình thức khác

– 15 –

nhau như thường xuyên, định kỳ, … để nắm chất lượng, hiệu quả dạy học. Sau khi

kiểm tra cần đánh giá cụ thể về chất lượng, phân tích kỹ những điểm mạnh, điểm yếu

của từng kỹ năng, chỉ ra nguyên nhân tồn tại để có hướng khắc phục, điều chỉnh trong

chỉ đạo. Kết thúc năm học câu lạc bộ tổ chức hội thi để các thành viên tự đánh giá năng

lực học tập của mình, đồng thời Ban chỉ đạo tổ chức đánh giá rút kinh nghiệm hoạt

động của mình.

2.2.8. Kết hợp chặt chẽ giữa gia đình – nhà trường – xã hội tạo cho học sinh

có điều kiện và môi trường học Tiếng Anh tốt.

Việc dạy học Tiếng Anh đạt chất lượng theo yêu cầu của xã hiện nay là một vấn

đề còn có nhiều khó khăn do nhiều lý do, chính vì vậy rất cần đến sự phối hợp chặt chẽ

giữa nhà trường – gia đình – xã hội.

Nhà trường cần giáo dục cho học sinh mục đích, động cơ học Tiếng Anh một

cách đúng đắn, để các em có ý thức, thái độ đúng trong quá trình học tập. Mua sắm đầy

đủ trang thiết bị, cơ sở vật chất đầy đủ, hiện đại để đáp ứng nhu cầu học tập của học

sinh cũng như yêu cầu của đặc thù môn học. Trang bị cho các em cách tự học, tự tạo ra

môi trường học tập tự nhiên. Xây dựng môi trường học tập Tiếng Anh ngay trong lớp

học, trường học, ở nhà. Ví dụ: các em có thể học từ vựng bằng cách ghi từ ra các mẩu

giấy và dán ở những nơi mà các em hay nhìn thấy nhiều nhất. Khi đã học thuộc các từ

này rồi các em có thể thay bằng các từ mới khác. Động viên các em dùng những từ

chào hỏi, những câu hội thoại ngắn, đơn giản hằng ngày để ghi nhớ kiến thức đã học.

Thường xuyên trao đổi với phụ huynh những vấn đề khó khăn cần hợp tác của

gia đình trong dạy học môn học này để được chia sẽ, hiến kế của các bậc phụ huynh.

Phối hợp với phụ huynh mua sắm đầy đủ sách, vở, đồ dùng học tập, các tài liệu tham

khảo cần thiết của học sinh. Đối với những học sinh có năng khiếu cần động viên gia

đình mua sắm máy vi tính tạo điều kiện cho các em tự tham khảo kiến thức, luyện thực

hành qua mạng Internrts trong thời gian ở nhà để trau dồi thêm kiến thức. Trang bị các

phương tiện nghe, nhìn phục vụ việc tự học tiếng Anh cho các em.

Ban giám hiệu nhà trường cần tham mưu với các tổ chức xã hội, chính quyền địa

phương, … hỗ trợ kinh phí để tăng trưởng cơ sở vật chất, xây dựng các điều kiện cho

việc dạy học môn Tiếng Anh đạt hiệu quả cao.

Giáo viên thường xuyên trao đổi với phụ huynh kết quả học tập của học sinh để

phụ huynh nắm và cùng nhà trường phối hợp trong việc nâng cao chất lượng học tập

của các em.

2.3. Những kết quả bước đầu:

– 16 –

Qua 3 năm nghiên cứu, áp dụng các biện pháp chỉ đạo trên kết quả cho thấy

thông qua các chỉ số sau:

Năm học

Giáo viên

SL

T. độ

Chất lượng

HS đại trà

TB trở K-G

CLHS qua các hội thi

Cấp huyện

Cấp tỉnh

Cấp Quốc

gia

1 giải nhì

lên

2010 – 2011

2011 – 2012

2012 – 2013

2

Đại học

Đại học

Đại học

98,0

97,6

99,4

66,2

72,9

74,6

– Cá nhân: 2 giải ba

– Đồng đội: giải

khuyến khích

– Cá nhân: 1 giải nhì,

1 giải ba

– Đồng đội giải ba

– Cá nhân: 2 giải nhất

– Đ.đội: Xếp thứ nhất,

giải nhất.

2 giải ba

Số liệu chất lượng 3 năm cho thấy chất lượng đại trà ổn định; chất lượng học

sinh khá – giỏi, hội thi HSNK năm 2011 – 2012 có chuyển biến tích cực hơn. Tuy vậy

vẫn còn học sinh yếu lõi.

Năm học 2012 – 2013 về chất lượng đại trà cũng như chất lượng hội thi có

chuyển biến rõ rệt, thể hiện ở chất lượng học sinh đạt giải cấp huyện và cấp Tỉnh. Mặc

dù giải cấp Quốc gia vẫn còn khiêm tốn, nhưng các chỉ số trên đã cho thấy hiệu quả của

việc áp dụng một số biện pháp đã nghiên cứu trong đề tài.

3. PHẦN KẾT LUẬN:

3.1. Ý nghĩa của đề tài:

Từ nghiên cứu lý luận và thực tiễn áp dụng, đề xuất và thể nghiệm, đề tài có ý

nghĩa, tác dụng thiết thực trong việc chỉ đạo và nâng cao chất lượng dạy và học môn

Tiếng Anh trong trường Tiểu học.

Ý nghĩa của đề tài còn thể hiện ở các giải pháp và bài học sư phạm như sau:

1. Nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của môn Tiếng Anh trong trường Tiểu

học cho cán bộ giáo viên, học sinh và phụ huynh trước yêu cầu của xã hội hiện nay.

2. Kiện toàn hoạt động chuyên môn dưới sự chỉ đạo của ban giám hiệu nhà

trường bao gồm tổ chuyên môn và thành lập nhóm bộ môn. Coi trọng việc phân công

giảng dạy phù hợp năng lực, trình độ, hoàn cảnh của giáo viên.

3. Xây dựng kế hoạch chỉ đạo dạy học chương trình hợp lý, hiệu quả, bám sát

mục tiêu cần đạt của môn học trong từng khối lớp trong cấp học.

– 17 –

4. Chỉ đạo phương pháp dạy học môn tiếng Anh trong nhà trường Tiểu học cần

tập trung vào các vấn đề: đổi mới soạn bài; đổi mới PPHD theo định hướng đặc thù của

môn học nhằm thực hiện tốt mục tiêu cần đạt về 4 kỹ năng: nghe, nói, đọc, viết; đổi

mới phương pháp tự học của học sinh; đổi mới kiểm tra đánh giá.

5. Tăng cường công tác bồi dưỡng, tự bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ cho

giáo viên, CBQL trong nhà trường, đi sâu vào tìm hiểu mục tiêu, nội dung, chương

trình môn học, phương pháp và hình thức dạy học phù hợp đặc trưng bộ môn, phương

pháp hỗ trợ trong dạy học môn Tiếng Anh.

6. Xây dựng CSVC đảm bảo cho việc dạy học môn Tiếng Anh theo yêu cầu của

chương trình. Mua sắm các thiết bị dạy học hiện đại, tài liệu tham khảo, sách giáo khoa

cho học sinh và giáo viên đầy đủ.

7. Tổ chức dạy câu lạc bộ năng khiếu Tiếng Anh trong nhà trường cho học sinh

các khối lớp có nhu cầu. Chú trọng hiệu quả chất lượng dạy học của câu lạc bộ.

8. Kết hợp chặt chẽ giữa gia đình – nhà trường – xã hội tạo cho học sinh có điều

kiện và môi trường học Tiếng Anh tốt.

Nội dung các biện pháp của đề tài này được áp dụng trong việc chỉ đạo nâng cao

chất lượng dạy học môn Tiếng Anh trong phạm vi nhà trường Tiểu học

Tiếng Anh là một trong những ngôn ngữ quốc tế thông dụng nhất trên thế giới

hiện nay. Dạy học Tiếng Anh ở Tiểu học là nhiệm vụ thực hiện mục tiêu giáo dục toàn

diện. Là một trong những điểm khởi đầu quan trọng góp phần vào việc hình thành và

phát triển các kỹ năng học tập suốt đời, năng lực làm việc trong tương lai và khả năng

tham gia các hoạt động văn hóa xã hội. Học Tiếng Anh ở Tiểu học còn tạo nền tảng cho

việc tiếp tục học Tiếng Anh ở các cấp học tiếp theo cũng như trang bị các kỹ năng học

ngoại ngữ cơ bản để học các ngoại ngữ khác trong tương lai. Thực hiện nâng cao chất

lượng dạy học môn Anh văn là một nhiệm vụ quan trọng trong thực hiện chiến lược

giáo dục hiện nay.

3.2. Kiến nghị, đề xuất:

* Đối với cấp Nhà nước: Hiện nay việc dạy tiếng Anh ở bậc Tiểu học đã được

triển khai rộng khắp đã được ở nước ta. Mặc dù đã có những kết quả khả quan trong

việc phát triển tiếng Anh thành một môn học chính thức ở bậc tiểu học, song vẫn cho

thấy đội ngũ giáo viên tiếng Anh bậc tiểu học còn nhiều hạn chế về quy mô và chất

lượng; chất lượng dạy học môn tiếng Anh chưa có sự ổn định, vững chắc. Để giải quyết

vấn đề này, đề nghị Đảng, Nhà nước cần phải có chính sách, chiến lược, phương pháp

– 18 –

– 19 –

– 20 –

7 Biện Pháp Giúp Nâng Cao Chất Lượng Dạy

Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Môn Giáo Dục Thể Chất Cho Trẻ Mầm Non

Sáng Kiến Kinh Nghiệm Biện Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Dạy Học Môn Thể Dục Ở Lớp 5

Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giảng Dạy Môn Tin Học

Nâng Cao Chất Lượng Giờ Dạy Môn Tin Học Tiểu Học

Một Số Biện Pháp Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Toán (Phần Giải Toán) Ở Tiểu Học

Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Tiếng Việt Khối Lớp 1 Ở Trường Tiểu Học 1 Sông Đốc

Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Môn Âm Nhạc Cho Học Sinh Lớp 2

Một Số Biện Pháp Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Học Tập Môn Âm Nhạc Cho Hs Lớp 5

Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Địa Lý Của Trường Thpt Lê Quý Đôn

Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Giải Pháp Để Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Địa Lý Lớp 8 Ở Trường Thcs

Như chúng ta đã biết giáo dục tiểu học nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kĩ năng cơ bản để học sinh tiếp tục học lên.

Môn toán là một môn học chiếm một vị trí rất quan trọng và then chốt trong nội dung chương trình các môn học bậc tiểu học .Các kiến thức kĩ năng của môn toán ở tiểu học có nhiều ứng dụng trong đời sống, chúng rất cần cho người lao động, rất cần thiết để học các môn học khác ở tiểu học và các lớp trên. Môn toán giúp học sinh nhận biết các mối quan hệ về số lượng và hính dạng không gian của thế giới hiện thực .Nhờ đó mà học sinh có phương pháp nhận thức một số mặt của thế giới xung quanh và biết cách hoạt động có hiệu quả trong đời sống. Môn toán góp phần rất quan trọng trong việc rèn luyện phương pháp suy nghĩ, phương pháp suy luận, phương pháp giải quyết vấn đề .Nó góp phần phát triển trí thông minh, cách suy nghĩ độc lập, linh hoạt, sáng tạo, nó đóng góp vào việc hình thành các phẩm chất cần thiết và quan trọng của người lao động như: cần cù, cẩn thận , có ý chí vượt khó khăn, làm việc có kế hoạch, có nề nếp và tác phong khoa học.

Xuất phát từ vị trí quan trọng của môn toán, qua thực tế giảng dạy và nghiên cứu nhiều năm ở tiểu học, để góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn toán đặc biệt nội dung giải toán có văn bản thân tôi đã đúc rút và tổng kết đ­­ược một số bài học kinh nghiệm sau đây . Mời các bạn cùng tham khảo. Thứ nhất: Những kinh nghiệm trong quá trình thực hiện chư­ơng trình và SGK. Những tiết học toán trong SGK là những tiết học rất quan trọng, nhằm cung cấp cho các em học sinh những yêu cầu cơ bản nhất mà chương trình đặt ra.Bằng hình ảnh trực quan sinh động và phư­­ơng pháp sư phạm của giáo viên, các em dần dần nắm chắc kiến thức, rèn luyện các kĩ năng,…. Việc nắm chắc kiến thức phụ thuộc rất nhiều vào nhận thức ban đầu của học sinh. Giáo viên cần xuất phát từ những vấn đề rất cụ thể, chi tiết; học sinh phải nắm đ­­ược bản chất của vấn đề, các em phải có nền kiến thức đại trà vững chắc rồi mới đến ngọn là giải quyết các bài toán ở mức độ cao hơn. Để làm đ­ược điều đó giáo viên cần: – Tổ chức tốt các hoạt động học tập trong các tiết học để học sinh giải quyết tốt các bài tập trong sách giáo khoa. Học sinh phải hiểu sâu sắc vấn đề, nắm chắc kiến thức và vận dụng tốt vào thực hành.

– Thời lư­ợng dành cho thực hành, luyện tập trong mỗi tiết học chiếm từ 60%-70%, nên ta cần tận dụng đặc điểm này để tăng c­ường thực hành, giúp học sinh hình thành và phát triển các kĩ năng toán học, giải quyết về cơ bản các nhiệm vụ thực hành ngay trong các tiết toán tại lớp.

– Giáo viên cần giúp học sinh nắm chắc, thuộc lòng các quy tắc, các công thức tính mà SGK đã cung cấp. Có kĩ năng vận dụng công thức , quy tắc vào giải quyết các bài toán trong SGK phần thực hành.

– Giáo viên nên chuyển nội dung từng tiết dạy học toán thành các phiếu học tập hay phiếu thực hành (nếu có điều kiện) để phát huy tính chủ động và sáng tạo của HS, nêu cao hiệu quả và tăng năng suất học tập. Trong quá trình biên soạn các phiếu học tập, GVnên tích hợp nhiều nội dung giáo dục gắn với thực tế và gần gũi thu hút đ­ược hứng thú của HS, có thể sử dụng một số tranh ảnh, hình vẽ ngộ nghĩnh để minh hoạ cho các bài tập thêm sinh động, có thể thiết kế các bài tập dưới dạng bài tập trắc nghiệm, các trò chơi hay câu đố vui toán học mà không làm biến dạng nội dung cơ bản của môn toán, góp phần tăng thêm gia vị cho môn toán để các em tiếp thu bài tốt hơn.

– Khi HS đã hoàn thành tốt các bài tập trong SGK , GV cần dần từng b­ước hình thành ở các em cách suy luận sáng tạo, biết giải các bài toán đó theo các cách khác nhau. Thứ hai: Những kinh nghiệm trong việc sử dụng ph­ương pháp, hình thức tổ chức dạy học. Để chuyển tải đư­ợc những kiến thức khoa học tới cho học sinh, GV phải sử dụng các ph­ương pháp và hình thức tổ chức dạy học. Việc nắm bắt kiến thức của học sinh phụ thuộc rất nhiều vào cách thức và phư­ơng pháp giảng dạy của giáo viên.

Trong xu thế dạy học hiện nay, GV không còn là ngư­ời truyền thụ tri thức theo một chiều , học sinh thụ động tiếp thu và làm theo. Ng­ười GV cần căn cứ vào vốn sống, khả năng hiểu biết của HS để thiết kế các hoạt động nhằm giúp HS tự phát hiện và giải quyết vấn đề d­ưới sự trợ giúp của các bạn trong nhóm, trong lớp hay của GV. GV trở thành ng­ười thiết kế ngư­ời tổ chức h­ướng dẫn các hoạt động,.. còn HS là ngư­ời thi công, ng­ười trực tiếp hoạt động để tìm tòi kiến thức.

Trên cơ sở đó GV giúp các em biết tổng hợp để rút ra những nhận xét, những quy tắc hay những kết luận cần thiết. Khi giảng dạy các kiến thức mới, dạng toán mới GV cần chú ý các bư­ớc sau đây:

*Ph­ương pháp chung: Tự phát hiện – Tự giải quyết – Tự chiếm lĩnh

* Các b­ước cụ thể:

B­ước 1: Làm nảy sinh nhu cầu nhận thức của HS (Làm xuất hiện vấn đề và tạo cho học sinh có nhu cầu tìm hiểu vấn đề đó)

B­ước 2: Tổ chức các hoạt động học tập (theo cá nhân, theo nhóm hay cả lớp)

Bư­ớc 3: Hư­ớng dẫn học sinh trình bày ý kiến tr­ước nhóm, tr­ước lớp.

Bư­ớc 4: Hư­ớng dẫn học sinh nhận xét , đánh giá ,bổ sung.

B­ước 5: Giáo viên hệ thống, kết luận vấn đề, hư­ớng dẫn học sinh trình bày (GV chốt lại các vấn đề quan trọng)

B­ước 6: Tổ chức cho học sinh luyện tập, thực hành, rèn các kĩ năng.

* Lư­u ý: Để triển khai các b­ước trên một cách có hiệu quả cần có sự trợ giúp của các phư­ơng tiện và đồ dùng dạy học, do đó trong quá trình tổ chức các họat động học tập của HS giáo viên cần sử dụng các đồ dùng dạy học sao cho phù hợp và mang tính hiệu quả cao. PPDH ở tiểu học phải phát huy đ­ược tính tự giác, tích cực, chủ động và sáng tạo của HS, phù hợp với đặc tr­ưng môn học, đặc điểm đối t­ượng học sinh và điều kiện của lớp học . GV cần chủ động lựa chọn, vận dụng phối kết hợp các ph­ương pháp dạy học để phát huy hiệu quả cao nhất.

Thứ ba: Những bước tiếp theo sau khi học sinh đã biết cách giải một dạng toán. Mỗi bài Toán là sự kết hợp đa dạng của các khái niệm, các mối quan hệ toán học, đòi hỏi học sinh phải biết xác lập đ­ược các mối quan hệ giữa các dữ liệu của bài toán: Biết so sánh, phân tích, tổng hợp. Trên cơ sở đó, lựa chọn đ­ược cách giải quyết tốt nhất. Như­ chúng ta đã biết, đ­ường lối chung để hư­ớng dẫn học sinh giải một bài toán ở Tiểu học, thư­ờng gồm các bư­ớc như­: Nghiên cứu tìm hiểu bài toán, thiết lập quan hệ giữa các dữ liệu để tóm tắt bài toán, lập kế hoạch giải bài toán, trình bày bài giải và kiểm tra kết quả.Tuy nhiên, trong quá trình dạy học, nếu giáo viên chỉ dừng lại ở các b­ước trên thì coi nh­ư mới hoàn thành xong việc tổ chức hư­ớng dẫn cho học sinh giải một bài toán. Điều quan trọng là sau khi học sinh giải xong bài toán đó, giáo viên cần làm gì, cần khai thác những gì từ bài toán để một mặt củng cố được cách giải, một mặt phải phát huy hết khả năng tư­ duy, sự sáng tạo của học sinh khi học toán. Tôi xin đ­ưa ra một số kinh nghiệm sau đây:

– Nâng cao mức độ khó dễ của bài toán: Trên cơ sở học sinh đã nắm chắc, hay đã củng cố tốt đ­ược cách giải khái quát của bài toán, giáo viên cần nâng dần mức độ của bài toán đó nhằm kiểm tra khả năng vận dụng của các em vào các tình huống khác nhau nhằm rèn kỹ năng, kỹ xảo giải toán, gây hứng thú học tập và phát huy khả năng của từng em.

– Tìm nhiều cách giải khác nhau cho bài toán: Biện pháp này nhằm giúp học sinh có thể vận dụng các kiến thức đã học vào giải quyết bài toán theo các hư­ớng khác nhau.Trong chư­ơng trình tiểu học học sinh đã đ­ược trang bị một khối l­ượng khá lớn về các công cụ giải toán .

Trong mỗi bài toán có thể chứa đựng rất nhiều các cách giải khác nhau, nên thông qua mỗi bài toán đó GV có thể củng cố cho học sinh rất nhiều các ph­ương pháp giải toán đã học. Đối với HS tiểu học các em đã đ­ược làm quen với nhiều dạng toán cơ bản .

Từ việc vẽ sơ đồ cụ thể các em dễ dàng tìm ra đ­ược lời giải bài toán . Tuy nhiên không phải lúc nào cũng vẽ đ­ược sơ đồ của bài toán , do vậy việc biến đổi các bài toán để đưa về các dạng quen thuộc cũng là một ph­ương pháp rất đặc trư­ng trong dạy toán tiểu học.

– Tìm h­ướng giải quyết bài toán có nhiều khả năng xảy ra Biện pháp này bên cạnh giúp HS củng cố kĩ năng giải toán, phát triển tư­ duy, ở mức độ cao hơn còn đòi hỏi các em phải biết tìm tòi giải quyết tất cả các khả năng có thể xảy ra để tìm hết các đáp số của bài toán, biết loại trừ các khả năng không phù hợp.

– Giải quyết bài toán ng­ược với các bài toán đã giải: Khi giải xong một bài toán, nếu giáo viên đặt ra các bài toán ng­ược và yêu cầu học sinh tìm cách giải, sẽ có tác dụng rất tốt trong việc phát huy khả năng sáng tạo của các em trong việc vận dụng cách giải của bài toán vừa làm làm cơ sở để giải các bài toán ngư­ợc.

– Tổ chức cho học sinh lập đề toán theo sơ đồ tóm tắt cho sẵn rồi giải: Mục đích của hoạt động này là nhằm giúp học sinh căn cứ vào sơ đồ tóm tắt cho sẵn để nhận diện dạng toán cơ bản, để từ đó có thể tự lập một đề toán tư­ơng ứng với sơ đồ tóm tắt đó rồi tự trình bày bài giải. Với hoạt động này sẽ nhằm phát huy vốn sống, vốn hiểu biết và khả năng diễn đạt ngôn ngữ khi học toán của các em. Giúp các em biết lựa chọn và đ­ưa các vấn đề trong cuộc sống vào làm nền cho đề toán của mình.

– Tổ chức cho học sinh tìm dữ kiện còn thiếu hay các dữ kiện thừa trong các bài toán. Việc làm này không những củng cố , khắc sâu cách giải các dạng toán mà còn có tác dụng rất tốt trong việc phát triển t­ư duy cho học sinh. B­ước đầu hình thành ở các em cách t­ư duy của một nhà phát minh , nhà khoa học trong t­ương lai.

Thứ tư: Những kinh nghiệm trong việc mở rộng phát triển và nâng cao kiến thức . Việc mở rộng và nâng cao kiến thức phải trên cơ sở học sinh đã nắm chắc các kiến thức cơ bản.Biết sử dụng các kiến thức cơ bản một cách linh hoạt , sáng tạo.Biết kích thích, gợi mở để các em có nhu cầu vận dụng kiến thức đó.Có nh­ư vậy việc nâng cao kiến thức mới thực sự phát huy được hiệu quả cao.

– Khi phát triển , mở rộng và nâng cao kiến thức cho học sinh , giáo viên cần xuất phát từ các bài toán đơn giản , dễ hiểu.Qua mỗi bài, hay hệ thống bài ,giáo viên cần cho học sinh khái quát chung được cách giải. Giúp các em hiểu sâu , nhớ lâu và hình thành kĩ năng giải các bài toán đó.

– Cần khai thác triệt để các dạng toán quen thuộc ẩn chứa trong mỗi bài toán, giúp học sinh có kĩ năng biến đổi hay kĩ năng suy luận để đ­­ưa bài toán về dạng quen thuộc.Phát huy tối đa khả năng tìm tòi , sáng tạo của các em trư­­ớc mỗi bài toán. Hạn chế tối đa việc sử dụng phư­­ơng pháp đại số khô cứng.

– Khi học sinh đã nắm chắc cách giải thông thư­­ờng,giáo viên nên khuyến khích học sinh tìm nhiều cách giải khác, nhằm phát huy khả năng của các em,gây hứng thú học tập , học sinh học giỏi không mất thời gian chờ đợi những học sinh học kém hơn .

– GV cần thiết kế đư­ợc các bài tập phù hợp cho các đối t­ượng học sinh trong lớp, sao cho nội dung dạy học vừa sức , không bị quá tải song vẫn phát huy đ­ược khả năng sáng tạo và năng khiếu của học sinh.

Thứ năm: Những kinh nghiệm trong việc tổ chức kiểm tra đánh giá học sinh Đánh giá học sinh là một khâu rất quan trọng nhằm: Nắm đư­ợc năng lực tiếp thu bài của học sinh trong lớp để đặt ra yêu cầu học tập đối với từng học sinh : yêu cầu cao hơn đối với học sinh giỏi, yêu cầu ở mức độ cơ bản đối với học sinh trung bình và yếu. Thu thập thông tin phản hồi về cách dạy của GV để điều chỉnh sao cho phù hợp, bổ khuyết những điểm yếu của học sinh.Có nhiều phư­ơng pháp đánh giá kết quả học tập của học sinh , ph­ương pháp đánh giá nào cũng có ư­u điểm và như­ợc điểm, không có phương pháp nào là hoàn hảo mọi mặt, do đó không nên cực đoan đề cao hoặc bác bỏ một ph­ương pháp nào mà phải nghiên cứu chúng thấu đáo để sử dụng đúng lúc, đúng chỗ. Trong quá trình dạy học GV cần sử dụng nhiều phư­ơng pháp đánh giá một cách đa dạng như­:

– Sử dụng bài kiểm tra tự luận.Dạng bài kiểm tra này có rất nhiều ư­u điểm nên đ­ược sử dụng phổ biến. Để đ­ược điểm cao học sinh phải giải đư­ợc bài toán , đồng thời phải biết trình bày bài giải , nghĩa là các em phải thể hiện nhiều kĩ năng . Tuy nhiên dạng bài này cũng có những như­ợc điểm nhất định việc đánh giá phụ thuộc phần nào vào ý nghĩ chủ quan của GV, tốn nhiều thời gian cho việc chấm bài của GV, phạm vi kiến thức đ­ược kiểm tra không đ­ược nhiều.

– Sử dụng bài kiểm tra trắc nghiệm: Khác với các bài tập tự luận , khi trình bày bài giải đòi hỏi học sinh phải có sự lập luận chặt chẽ , câu trả lời và phép tính phải hợp lý, trình bày một cách lô gíc .Các bài tập trắc nghiệm chỉ đòi hỏi học sinh vận dụng các kiến thức đã học một cách sáng tạo và nhanh nhạy để tìm ra đáp số đúng ,đáp số sai hay bài giải đúng , bài giải sai .Giúp cho giáo viên trong một thời gian ngắn có thể kiểm tra đ­­ược nhiều kiến thức của học sinh. Chính vì vậy loại bài tập này rất thu hút sự nhiệt liệt h­­ưởng ứng của học sinh , nó là một hình thức thay đổi không khí giờ học toán và góp phần rất tốt trong việc tạo hứng thú học tập cho học sinh .

– GV cần sử dụng nhiều công cụ đánh giá khác nhau để có thể đánh giá đúng HS một cách khách quan:Kiểm tra vấn đáp, kiểm tra viết (Gồm kiểm tra ngắn, kiểm tra một tiết). Trong các bài kiểm tra viết cần kết hợp cả bài tập trắc nghiệm và bài tập tự luận, các bài tập cần sắp xếp theo thứ tự từ dễ đến khó và có đủ loại bài đại diện cho các kiến thức kĩ năng cơ bản nhất.

– GV cần vận dụng cách đánh giá theo nhiều chiều: GV đánh giá học sinh, học sinh đánh giá lẫn nhau và nêu cao ý thức tự đánh giá ở mỗi học sinh. Với những kinh nghiệm trên, sau nhiều năm vận dụng, tôi nhận thấy chất lượng dạy học môn toán (phần giải toán có văn) đã đạt được những thành tích đáng kể .

Học sinh nắm chắc kiến thức hơn, có hào hứng trong học tập, biết vận dụng các kiến thức một cách sáng tạo vào giải quyết các bài toán thực tế, tạo cho các em một sức bật mới trong nhận thức và hành động.

toantieuhoc.com sưu tầm

Thầy Cô Cần Làm Gì Để Thay Đổi Phương Pháp Dạy Học

Tham Luận Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Học Tập Của Học Sinh

Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Đại Trà Môn Hóa Học

Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Bồi Dưỡng Học Sinh Giỏi Môn Sinh Học Trường Trung Học Cơ Sở

Sáng Kiến Kinh Nghiệm Phương Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giảng Dạy Các Bài Thực Hành Trong Chương Trình Sinh Học 8

Một Số Biện Pháp Tạo Hứng Thú Học Tập Cho Học Sinh Để Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Ở Tiểu Học

Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Ôn Thi Thpt Quốc Gia Môn Sinh Học

Skkn Một Số Giải Pháp Trong Dạy Học Môn Sinh Giúp Phát Triển Năng Lực Cho Học Sinh

Sáng Kiến Kinh Nghiệm Phương Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giảng Dạy Các Bài Thực Hành Trong Chương Trình Sinh Học 8

Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Bồi Dưỡng Học Sinh Giỏi Môn Sinh Học Trường Trung Học Cơ Sở

Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Đại Trà Môn Hóa Học

Hứng thú là một thuộc tính tâm lí – nhân cách của con người. Hứng thú có vai trò rất quan trọng trong học tập và làm việc, không có việc gì người ta không làm được dưới ảnh hưởng của hứng thú. M.Gorki từng nói: Thiên tài nảy nở từ tình yêu đối với công việc. Cùng với tự giác, hứng thú làm nên tính tích cực nhận thức, giúp học sinh (HS) học tập đạt kết quả cao, có khả năng khơi dậy mạch nguồn của sự sáng tạo.Trong khi đó, việc khảo sát thực tế dạy học ở tiểu học bằng nhiều con đường (lấy phiếu hỏi từ các cấp quản lí giáo dục, từ các giáo viên (GV), các bậc phụ huynh và học sinh, quan sát và làm các đo nghiệm khách quan trên học sinh) đã cho thấy nhiều học sinh tiểu học không có hứng thú trong học tập. Điều này vừa được xem như là một biểu hiện vừa được xem như một nguyên nhân cơ bản của việc suy giảm chất lượng dạy học ở tiểu học.

Những biện pháp tạo hứng thú trong bài viết này xuất phát từ 3 luận điểm cơ bản: Một là: Hiệu quả thực sự của việc dạy học là học sinh biết tự học; tự hoàn thiện kiến thức và tự rèn luyện kỹ năng, hai là: Nhiệm vụ khó khăn và quan trọng nhất của GV là làm sao cho học sinh thích học, ba là: Dạy học ở tiểu học phải làm cho HS cảm thấy biết thêm kiến thức của mỗi bài học ở mỗi môn học là có thêm những điều bổ ích, lý thú từ một góc nhìn cuộc sống.

Với ba luận điểm này, chúng tôi quan niệm rằng thực chất của việc dạy học là truyền cảm hứng và đánh thức khả năng tự học của người học. Còn nếu quan niệm người dạy truyền thụ, người học tiếp nhận thì người dạy dù có hứng thú và nỗ lực đến mấy mà chưa truyền được cảm hứng cho HS, ch­ưa làm cho người học thấy cái hay, cái thú vị, giá trị chân thực mà tri thức đem lại thì giờ dạy vẫn không có hiệu quả. Người học chỉ tự giác, tích cực học tập khi họ thấy hứng thú. Hứng thú không có tính tự thân, không phải là thiên bẩm. Hứng thú không tự nhiên nảy sinh và khi đã nảy sinh nếu không duy trì, nuôi dưỡng cũng có thể bị mất đi. Hứng thú được hình thành, duy trì và phát triển nhờ môi trường giáo dục với vai trò dẫn dắt, hướng dẫn, tổ chức của GV. GV là người có vai trò quyết định trong việc phát hiện, hình thành, bồi dưỡng hứng thú học tập cho HS.

Quá trình dạy học gồm 5 thành tố cơ bản: Mục đích dạy học, nội dung dạy học, phương pháp và hình thức tổ chức dạy học, phương tiện và thiết bị dạy học, kiểm tra đánh giá kết quả học tập.

Với các thành tố đó, có nhiều nhóm biện pháp tạo hứng thú học tập cho học sinh và chúng thuộc những bình diện khác nhau của quá trình dạy học. Có biện pháp tác động vào việc trình bày mục tiêu bài học, có biện pháp tác động vào nội dung dạy học, có biện pháp tác động vào phương pháp, hình thức tổ chức dạy học, có biện pháp tác động vào phương tiện, thiết bị dạy học, có biện pháp tác động vào kiểm tra đánh giá (bao gồm cả nhận xét), tác động vào quan hệ tương tác thân thiện giữa thầy – trò, trò – trò…

Bài viết này chưa đặt ra vấn đề bàn lại mục tiêu và chương trình của từng môn học. Đó là một vấn đề lớn của một công trình nghiên cứu khác. Ở đây chúng tôi chỉ bàn đến những biện pháp tạo hứng thú học tập trên một chương trình dạy học đang được thực thi. Vì vậy, thành tố mục tiêu chỉ giới hạn ở việc làm cho học sinh nhận thức được mục tiêu, lợi ích của bài học. Do khuôn khổ của bài viết, trong phần trình bày nhóm biện pháp tác động vào nội dung dạy học, chỉ tập trung minh họa ở môn Tiếng Việt và nhóm biện pháp tác động vào phương pháp dạy học, chỉ tập trung minh họa ở môn Toán. Những luận điểm và ý tưởng tạo hứng thú học tập cho học sinh tiểu học đề cập ở đây không chỉ áp dụng trong hai môn học này.

1. Tạo hứng thú học tập bằng cách làm cho học sinh nhận thức được mục tiêu, lợi ích của bài học

Hứng thú là một thuộc tính tâm lí mang tính đặc thù cá nhân. Hứng thú có tính lựa chọn. Đối tượng của hứng thú chỉ là những cái cần thiết, có giá trị, có sức hấp dẫn với cá nhân. Vậy vấn đề gì thu hút sự quan tâm, chú ý tìm hiểu của các em? Trả lời được câu hỏi này nghĩa là người GV đã sống cùng với đời sống tinh thần của các em, biến đổi những nhiệm vụ học tập khô khan phù hợp với những mong muốn, nhu cầu, sở thích, nguyện vọng (tất nhiên là phải tích cực, chính đáng) của HS.

Với mỗi bài học cụ thể, giáo viên cần giúp cho học sinh nhận ra tính lợi ích của một nội dung nào đó. Chẳng hạn, sự cần thiết của dấu phẩy sẽ được làm rõ khi chỉ ra sự khác nhau về nghĩa của hai câu: Đêm hôm, qua cầu gãy và Đêm hôm qua, cầu gãy. Tính lợi ích của một nội dung dạy học cũng được thể hiện rõ khi chúng ta đặt ra sự đối lập giữa “có nó” và “không có nó”, ví dụ: Điều gì sẽ xảy ra khi chúng ta không có chữ viết? Chuyện gì sẽ xảy ra khi chúng ta không có những từ đồng nghĩa, không có câu ghép?…

2. Tạo hứng thú học tập bằng cách tác động vào nội dung dạy học

Nội dung dạy học được chia ra rất nhiều cấp độ. Ví dụ trong môn Tiếng Việt, trước hết đó là các phân môn, các mạch kiến thức – kĩ năng, cụ thể hóa đến nhóm, kiểu, dạng bài tập và cho đến tận từng bài tập cụ thể. Từ bình diện nội dung dạy học, trên một bài tập, ta có thể tác động vào phần lệnh hoặc phần ngữ liệu.

Không có con đường nào khác để làm nảy sinh và duy trì hứng thú của học sinh với tiếng Việt và văn học ngoài cách giúp các em thấy được sự thú vị, vẻ đẹp và khả năng kì diệu của chính đối tượng học tập – tiếng Việt, văn chương. Đây cũng chính là ngữ liệu của dạy tiếng.

Ngay cả những vấn đề lí thuyết ngữ pháp khô khan cũng đều có thể gây hứng thú cho HS nếu chúng ta biết lựa chọn ngữ liệu khai thác những đặc điểm thú vị của tiếng Việt, chẳng hạn đó là mối quan hệ giữa kiểu nghĩa và cấu tạo từ, giá trị gợi tả gợi cảm của lớp từ láy, quy luật chuyển nghĩa của từ nhiều nghĩa; khả năng tạo những “định danh nghệ thuật”, “đồng nghĩa kép” của hiện tượng đồng nghĩa, sự bất ngờ thú vị của hiện tượng đồng âm. Chẳng hạn, bài tập phân tích nghĩa của câu sẽ thú vị nếu GV sử dụng ngữ liệu đồng âm, đặc biệt là đồng âm cú pháp. Ví dụ: Nhiều bạn gái đang múa hát rất hay, Chúng tôi học qua loa.

Ngữ liệu tiếng Việt trở nên hấp dẫn khi thể hiện tính năng sản của ngôn ngữ. Ví dụ, tiếng học, từ tay… hoàn toàn trở thành ngữ liệu hấp dẫn trong các bài tập: Tìm các từ có chung tiếng “học”, Tìm thành ngữ, tục ngữ cùng chứa từ “tay”… Vì tiếng học có mặt trong rất nhiều từ ngữ: học bạ, học bổng, học cụ, học đòi, học đường, học gạo, học giả, học hành, học hỏi, học kì, học lỏm, học phí, học sinh, học tập… từ tay xuất hiện trong 21 thành ngữ, tục ngữ.

Ngữ liệu hấp dẫn phản ánh được nét độc đáo của tiếng Việt, một ngôn ngữ đơn lập mà phương thức ngữ pháp chủ yếu là trật tự từ. Với bài tập yêu cầu HS sắp xếp các từ cho trước để tạo câu, nên chọn những từ có khả năng sắp xếp thành nhiều câu khác nhau, ví dụ nếu chọn 5 từ: sao, nó, không, đến, bảo có khả năng tạo thành trên 30 câu khác nhau.

Những kiến thức ngữ pháp nên được xem xét dưới góc độ của người sử dụng ngôn ngữ sẽ gây được hứng thú. Ví dụ, dạy bài Danh từ riêng có thể bắt đầu bằng cách nhận xét về cách đặt tên của người Việt. Khi dạy Đại từ nhân xưng, có thể cho học sinh nhận xét về văn hóa của người Việt trong cách xưng hô. Học sinh chưa hiểu hết được sự tế nhị trong cách xưng hô của người Việt và không phải em nào cũng biết xưng hô với bạn bè, cha mẹ, người thân một cách có văn hóa nên phát hiện này đối với các em cũng là điều thú vị…

Không có cách gì tạo ra hứng thú với tiếng mẹ đẻ và văn chương ngoài con đường cho trẻ tiếp xúc trực tiếp, càng nhiều càng tốt với những tác phẩm văn chương, những mẫu hình sử dụng ngôn ngữ mẫu mực vì: Không làm thân với văn thơ thì không nghe thấy được tiếng lòng chân thật của nó (Lê Trí Viễn).

3. Tạo hứng thú học tập bằng cách phối hợp các phương pháp và các hình thức dạy học linh hoạt

Ngoài việc khai thác sự lí thú trong chính nội dung dạy học, hứng thú của HS còn được hình thành và phát triển nhờ các phương pháp, thủ pháp, hình thức tổ chức dạy học phù hợp với sở thích của các em. Đó chính là cách tổ chức dạy học dưới dạng các trò thi đố, các trò chơi, tổ chức hoạt động sắm vai, tổ chức hoạt động học theo nhóm, tổ chức dạy học dự án, tổ chức dạy học ngoài không gian lớp học…

3.1. Tổ chức trò chơi học tập

Trong thực tế dạy học, giờ học nào tổ chức trò chơi cũng đều gây được không khí học tập hào hứng, thoải mái, vui nhộn. Nghiên cứu cho thấy, trò chơi học tập có khả năng kích thích hứng thú và trí tưởng tượng của trẻ em, kích thích sự phát triển trí tuệ của các em.

Trò chơi học tập nhất thiết phải là một bộ phận của nội dung bài học, phải là một phần cấu tạo nên bài học. Trong trò chơi, khi mọi thứ đều thật, chẳng hạn trong môn Tiếng Việt, từ vẫn là từ, câu vẫn là câu, trò vẫn là trò, thầy vẫn là thầy… trò chơi sẽ bớt phần thú vị. Trò chơi cuốn hút trẻ em hơn nếu có được sự giả định từ tên gọi, từ người tham gia, từ tình huống đến kết quả chơi. Ví dụ nhóm trò chơi: Trong vườn cổ tích đã khai thác tính giả định của trò chơi từ nguồn văn bản truyện cổ. Khi đó, trò chơi vừa minh họa sinh động kiến thức, kỹ năng tiếng Việt, vừa tạo ra được một không khí cổ tích huyền diệu, gợi lại nội dung các văn bản truyện cổ mà HS đã học ở phân môn Tập đọc hay Kể chuyện. Ví dụ, từ truyện Tấm Cám, xây dựng trò chơi Chim sẻ giúp cô Tấm dành cho các bài tập nhận diện, phân loại… Từ truyện Sơn Tinh Thủy Tinh, có thể xây dựng trò chơi Dâng núi chống lụt cho những bài tập chính tả, làm giàu vốn từ…

Có thể kể vào trò chơi học tập hoạt động sắm vai. Đây là một trò chơi có rất nhiều lợi thế để dạy học Tiếng Việt. Sắm vai trong dạy học là nhận một vai giao tiếp nào đó nhằm thể hiện sinh động nội dung học tập. Hình thức học tập sắm vai nhiều khi rất vui nhờ những chi tiết hài hước, ngộ nghĩnh do những diễn viên bất đắc dĩ tạo nên. Hình thức sắm vai đặc biệt phát huy tác dụng trong các giờ tập làm văn rèn kĩ năng nói, nó giúp học sinh được thực hành giao tiếp, được quan sát trực tiếp hoạt động nói với sự kết hợp sinh động của phương tiện âm thanh và các yếu tố phi ngôn ngữ.

3.2. Tổ chức hoạt động học theo nhóm

Học theo nhóm là hình thức học tập có sự hợp tác của nhiều thành viên trong lớp nhằm giải quyết những nhiệm vụ học tập chung. Được tổ chức một cách khoa học, học theo nhóm sẽ phát huy tính tích cực, sáng tạo, năng lực, sở trường, tinh thần và kĩ năng hợp tác của mỗi thành viên trong nhóm. Trong giờ học Tiếng Việt, biện pháp này đã tạo nên một môi trường giao tiếp tự nhiên, thuận lợi, đó là hoạt động giao tiếp nhằm trao đổi, chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm của những người bạn.

3.3. Tổ chức dạy học ngoài trời

Dạy học ngoài trời giúp HS tìm hiểu rất nhiều kiến thức, kĩ năng từ cuộc sống. Dạy học ngoài trời là một hình thức tổ chức dạy học có nhiều lợi thế để phát triển năng lực giao tiếp cho HS, một năng lực cần thiết cho tất cả mọi môn học.

Dạy học ngoài trời tạo điều kiện để HS quan sát thiên nhiên, chơi các trò chơi… nhằm gây hứng thú, sự tích cực học tập cho các em. Tổ chức tiết học ngoài trời sẽ giúp HS tri giác trực tiếp đối tượng và ghi nhớ tốt, không phải tri giác gián tiếp qua các phương tiện dạy học. Các em có điều kiện gần gũi, hiểu biết về thiên nhiên, từ đó có ý thức bảo vệ thiên nhiên và môi trường sống xung quanh. Hoạt động ngoài lớp còn là cơ hội để các em bộc lộ cá tính, năng khiếu, sở trường, đồng thời có tác dụng hình thành thói quen hợp tác, tương trợ, học hỏi lẫn nhau. Ngoài ra, trong môn Tiếng Việt, nhiều nội dung nói viết của phân môn TLV gắn liền với môi trường địa phương, nơi HS đang sinh sống nên việc dạy học ngoài không gian lớp học lại càng quan trọng.

Theo hoạch định của các chiến lược về mục tiêu, chương trình và sách giáo khoa (SGK) cùng với đặc thù riêng của môn Toán, các nội dung dạy học có tính chất toán học thuần túy được lựa chọn để dạy cho HS tiểu học khá ổn định; đảm bảo tính thiết thực; khả dụng; vừa sức; hiện đại và tích hợp.

Thiết kế các trò chơi học tập để HS tiếp cận kiến thức toán một cách nhẹ nhàng, thú vị

Cách 1: Nghe giảng và xem minh họa

Cách 2: Vui chơi có thưởng

GV có một hình tròn (miếng bìa đỏ hình tròn), một hình chữ nhật (miếng bìa trắng hình chữ nhật). Đặt hình chữ nhật nằm trọn trong hình tròn. Ta nói: Diện tích hình chữ nhật bé hơn diện tích hình tròn (GV chỉ vào phần mặt miếng bìa màu trắng bé hơn phần mặt miếng bìa màu đỏ) (Sách Giáo viên Toán 3, trang 235).

– GV chia nhóm 4 HS; mỗi nhóm nhận một tờ giấy kẻ 64 ô vuông (8 x 8) và hai bút dạ khác màu (xanh- đỏ); Hai nhóm ngồi đối diện.

– Chơi oẳn – tù – tì; nhóm nào thắng thì được tô vào 4 ô (yêu cầu tô lần lượt từng hàng) sau hai phút dừng lại kiểm tra. Nhóm tô được phần giấy rộng hơn thì thắng cuộc. Các nhóm thắng cuộc thì dán kết quả tô lên bảng lớp.

– GV yêu cầu so sánh mức độ rộng – hẹp của phần giấy đã tô mà các nhóm được dán trên bảng (nêu cách nhận biết). Trao thưởng cho nhóm đã tô được phần giấy rộng nhất.

– GV chỉ vào phần giấy của nhóm đã tô rộng nhất và giới thiệu: ta nói nhóm này tô được phần giấy có diện tích lớn nhất.

Cách 1: HS phải nghiêm túc chăm chú quan sát hình vẽ và lắng nghe lời giải thích của GV để nhận biết một cách trực giác là: hình này nằm trọn trong hình kia thì diện tích hình này bé hơn diện tích hình kia. Từ đó có biểu tượng ban đầu về diện tích một hình.

Cách 2: HS nhận đồ dùng (bút màu và giấy kẻ ô); cùng nhau oẳn – tù – tì để chơi và tạo ra phần giấy được tô màu (theo các hàng, cột); so sánh lần 1, HS nhận ra trong 2 nhóm, nhóm nào tô rộng hơn thì được dán lên bảng. So sánh lần 2, HS nhận ra nhóm tô được phần giấy rộng nhất trong các nhóm đã dán lên bảng. Khi giải thích kết quả so sánh HS có thể quan sát, có thể đặt chồng lên nhau, có thể đếm số ô vuông đã tô màu. Như vậy HS nhận biết: diện tích hình này bé hơn diện tích hình kia (không chỉ bằng trực giác hình này nằm trọn trong hình kia). Các hoạt động được thiết kế đã giúp HS tự kiến tạo và tiếp cận biểu tượng ban đầu về diện tích một hình khá nhẹ nhàng, lý thú.

Cách 1: Hướng dẫn cách lập bảng và nêu lên quan hệ

Cách 2: Vui chơi có thưởng để tự hình thành bảng và nêu quan hệ

GV yêu cầu nêu các đơn vị đo độ dài đã học. HS có thể nêu không theo thứ tự nhất định, GV hướng dẫn HS điền dần vào bảng kẻ sẵn để cuối cùng có một bảng hoàn thiện như trong SGK. Chẳng hạn: Khi HS lần lượt nêu các đơn vị đo độ dài, GV có thể viết ra ở phần bảng khác (theo thứ tự HS nêu). Khi HS đã nêu đủ 7 đơn vị đo độ dài thì GV cho HS nêu đơn vị đo cơ bản là mét; GV ghi chữ “mét” vào cột giữa của bảng kẻ sẵn; ghi ký hiệu “m” ở dòng dưới cùng cột. Sau đó GV cho HS nhận xét có những đơn vị đo nhỏ hơn mét ta ghi ở các cột bên phải cột “mét”, GV ghi chữ “nhỏ hơn mét” vào bảng kẻ sẵn. Có các đơn vị đo lớn hơn mét ta ghi các đơn vị lớn hơn mét ở bên trái cột “mét”, GV ghi chữ “lớn hơn mét” vào bảng kẻ sẵn….

GV cho HS nhìn bảng và lần lượt nêu quan hệ giữa hai đơn vị đo liền nhau…

GV cho HS đọc nhiều lần để ghi nhớ bảng. (SGV Toán 3, trang 86)

Trò chơi 1: GV treo 2 bảng kẻ sẵn; chia lớp thành hai đội; mỗi đội nhận một bút dạ và yêu cầu mỗi đội ghi (tiếp sức) vào các chỗ chấm trong bảng: HS hai đội lần lượt thi đua điền tên các đơn vị đo lớn hơn mét (km; hm; dam); nhỏ hơn mét (dm; cm; mm); ghi các số vào chỗ chấm: 1km = chúng tôi 1hm = chúng tôi dam = …m; 1m = chúng tôi 1dm = chúng tôi ; 1cm =….mm và điền vào kết luận: “Mỗi đơn vị đo độ dài gấp ….. lần đơn vị đo bé hơn liền nó”. Đội nào xong trước và điền đúng thứ tự các đơn vị và các số vào chỗ chấm thì thắng cuộc. GV yêu cầu HS mỗi nhóm đọc lại tên các đơn vị đo trong bảng theo thứ tự và đọc lại kết luận về quan hệ giữa các đơn vị liền kề.

Trò chơi 2: GV nêu một số câu đố; mỗi đội có một chuông (hoặc 1 biểu tượng) để giành quyền trả lời. Chẳng hạn: “Đố bạn biết đơn vị đo độ dài nào mà cứ 10 đơn vị đó là 1 mét ?”, Hoặc đố bạn đơn vị đo độ dài nào mà 1 đơn vị đó bằng 100 mm; đội rung chuông trước được quyền trả lời. Nếu trả lời đúng được 10 điểm. Nếu trả lời sai 0 điểm và đội còn lại giành quyền trả lời. Cứ chơi như vậy sau 5 phút đội nào nhiều điểm hơn thì thắng cuộc;

Yêu cầu HS 2 đội nói cho nhau nghe về thứ tự của các đơn vị đo độ dài trong bảng và quan hệ của hai đơn vị đo liền kề.

Cách 1: Thể hiện rõ vai trò của GV qua các hoạt động (được gạch chân) trong quá trình hoàn thành mục tiêu: GV hướng dẫn; GV cho HS… GV ghi….

Cách 2: Thể hiện rõ vai trò của HS tự huy động kiến thức vốn có; tự thể hiện kỹ năng; tự phát hiện quan hệ qua các hoạt động (được gạch chân) trong quá trình hoàn thành mục tiêu: mỗi đội ghi (tiếp sức); thi đua điền số; điền vào kết luận; giành quyền trả lời…

Thiết kế các hoạt động thực hành đa dạng gắn với việc giải quyết nhu cầu thiết thực trong đời sống để HS nhận biết giá trị của tri thức toán học

Ví dụ 1: Bài Thực hành xem lịch (SGV Toán 2, trang 140)

Kiến thức và kỹ năng của bài học

Hoạt động thực hành gắn với nhu cầu thiết thực

– Rèn kỹ năng xem lịch tháng (nhận biết thứ, ngày, tháng trên lịch)

– Củng cố nhận biết về các đơn vị thời gian: ngày, tháng, tuần lễ, biểu tượng thời gian (phân biệt thời điểm với khoảng thời gian)

– Hỏi các thành viên trong gia đình (bố, mẹ, anh, chị hoặc em) để biết ngày sinh nhật của từng người.

– Xem lịch rồi khoanh lại (hoặc ghi ra vở) ngày sinh nhật của mỗi người trong gia đình em năm nay; nhớ ghi rõ ngày đó là thứ mấy trong tuần.

Chẳng hạn: Sinh nhật của bố em là: ngày….. tháng… và là thứ…… trong tuần

Khi yêu cầu HS điền các ngày còn trống của một tờ lịch tháng nào đó hoặc liệt kê các ngày thứ… trong tuần nào đó của một tháng, hoặc khoanh vào một ngày nào đó trên tờ lịch… đều là hoạt động thực hành đúng với mục tiêu bài học nhưng khô khan và thuần túy kiến thức. Khi thiết kế hoạt động thực hành gắn với các nhu cầu cuộc sống như trên, chúng ta đã gợi lên những cảm xúc cho người học khi thực hành từ những việc làm tương tự.

Ví dụ 2: Thực hành nhận dạng các hình. Sau khi HS lớp Hai học bài: Hình chữ nhật – hình tứ giác, thay cho việc yêu cầu HS quan sát và đếm hình trong 1 hình vẽ đã cho, có thể thiết kế hoạt động thực hành như sau:

b. Nói cho bạn nghe hình vừa xếp được tạo dáng của vật nào thường thấy hàng ngày.

Tóm lại, việc thiết kế các hoạt động học tập giúp HS hứng thú học toán là sự thể hiện tổng hợp các ý tưởng về phương pháp dạy học. Người thiết kế không chỉ xác định đúng đắn mục tiêu học tập mà còn phải chú ý các yếu tố về tâm lý học, về giáo dục học và hiểu rõ vốn kiến thức thực tiễn của HS để phối hợp tốt với các thủ thuật, kỹ thuật thể hiện nội dung toán học, tạo ra các kích thích hợp lí để HS tự học.

4. Tạo hứng thú học tập bằng việc xây dựng môi trường thân thiện giữa thầy và trò, trò và trò

Bên cạnh việc tác động vào nội dung và phương pháp, hình thức tổ chức dạy học, việc thiết lập được mối quan hệ hợp tác tích cực tốt đẹp giữa thầy và trò, giữa các trò cũng sẽ tạo hứng thú cho học sinh. Hình thức tổ chức dạy học hấp dẫn cùng với một bầu không khí thân ái hữu nghị trong giờ học sẽ tạo ra sự hứng thú cho cả thầy và trò. Bởi vì, học là hạnh phúc không chỉ vì những lợi ích mà nó mang lại, mà hạnh phúc còn nằm ngay trong chính sự học. Cần hiểu đi VP : HÀ NỘI

Một Số Biện Pháp Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Công Nghệ

Biện Pháp Khả Thi Nâng Cao Chất Lượng Môn Lịch Sử

Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Tự Học Môn Lịch Sử Lớp 6

Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học Ở Trường Tiểu Học Sang Kien Lanh Doc

Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Giúp Học Sinh Học Tốt Môn Thể Dục Lớp 4 Ở Trường Tiểu Học Thiện Mỹ A

🌟 Home
🌟 Top