Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Bộ Môn Âm Nhạc / Top 5 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 2/2023 # Top View | Phauthuatthankinh.edu.vn

Skkn Nâng Cao Chất Lượng Giảng Dạy Âm Nhạc Thcs

Mét sè gi¶i ph¸p nh”m n©ng cao chÊt lîng m”n ¢m nh¹c PHẦN MỞ ĐẦU I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Âm nhạc là một loại hình nghệ thuật sử dụng âm thanh để thể hiện tâm tư tình cảm của con người. Ngay từ xa xưa Âm nhạc đã gắn bó hoà quyện với đời sống con người từ lúc cất tiếng khóc chào đời tới khi lìa xa cuộc sống. Trong những năm qua, môn Âm nhạc đã tạo nên những bước thành công trong cải cách giáo dục và trong quá trình đổi mới giáo dục cho phù hợp với xu thế phát triển của xã hội. Âm nhạc được coi là môn học cần thiết để giáo dục con người phát triển toàn diện, hoàn thiện về nhân cách. Môn Âm nhạc trong thường THCS không nhằm đào tạo những người làm nghề âm nhạc, diễn viên, những nhạc sĩ, ca sĩ… Mà chính là thông qua môn học để tác động vào đời sống tinh thần của các em, góp phần cùng với các môn khác thực hiện mục tiêu của bậc Trung học cơ sở. Giáo dục thẩm mỹ trong nhà trường phổ thông là một trong bốn mặt giáo dục quan trọng nhất: ” Đức – Trí – Thể – Mỹ “. Cái đẹp trong nghệ thuật âm nhạc xuất phát từ tác phẩm, từ nghệ thuật trình diễn tạo nên những hình tượng âm nhạc có tác dụng truyền cảm mạnh mẽ làm rung động lòng người, hướng con người tới ” Chân – Thiện – Trí “. Cần phải giáo dục thị hiếu âm nhạc tốt cho học sinh để các em biết yêu thích âm nhạc lành mạnh, giàu tính nhân văn, đậm đà bản sắc dân tộc. Giáo dục thị hiếu âm nhạc tốt sẽ góp phần làm trong sáng tình cảm đạo đức, và làm phong phú đời sống tinh thần của các em trong hiện tại và tương lai. Ở nước ta ngày nay, giáo dục đã trở thành một hệ thống được tổ chức rộng khắp. Chúng ta đã đưa giáo dục nên hàng đầu, vì giáo dục đào tạo nguồn nhân lực cho xã hội. Mở đường cho sự phát triển của kinh tế, trường học công nghệ, văn hoá, chính trị của đất nước. Đại học Đảng lần thứ XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định : ” Phát triển giáo dục và trường học – công nghệ là quốc sách hàng đầu và xây dựng chiến lược con người trong sự nghiệp công nghiệp hoá – hiện đại hoá đất nước, xây dựng xã hội công bằng văn minh “. II. LỊCH SỬ ĐỀ TÀI :

H¹nh

Trang 1

Mét sè gi¶i ph¸p nh”m n©ng cao chÊt lîng m”n ¢m nh¹c

PHẦN NỘI DUNG I. VAI TRÒ VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA GIÁO DỤC ÂM NHẠC ĐỐI VỚI ĐỜI SỐNG CON NGƯỜI VÀ ĐỐI VỚI HỌC SINH THCS.

1.1. Vai trò của giáo dục Âm nhạc đối với đời sống con người. Âm nhạc là một môn nghệ thuật có sức mạnh vô cùng to lớn và phong phú trong việc thể hiện một cách tinh tế thế giới nội tâm của con người và đời sống xã hội. Nó phản ánh hiện thực khách quan bằng những hiện tượng có sự biểu cảm của âm thanh, âm nhạc vui hay buồn, hùng tráng hay sâu lắng … sẽ dấy lên những cảm xúc tương ứng ở con người. Âm nhạc có những nét đặc trưng riêng, không giống với các loại hình nghệ thuật khác. Hình tượng âm thanh của âm nhạc không mang ý nghĩa cụ thể rõ ràng như từ ngữ trong nghệ thuật văn chương, cũng không tái hiện tại thế giới khách quan bằng những bức tranh có đường nét bố cục chặt chẽ, có mảng màu phong phú trong hội hoạ. Âm nhạc có thế mạnh ở khả năng thể hiện rõ nội tâm của con người, những suy cảm hết sức tế nhị của nỗi đau, niềm vui, day dứt, suy tư, nghi ngờ, thất vọng, tin tưởng… đối với các sự vật hiện tượng và các mối quan hệ trong đời sống một cách đầy đủ và đa dạng, ý nghĩa tình cảm của Âm nhạc thực chất cũng chứa đựng cả ý nghĩa tư tưởng. Khi tác động trực tiếp vào lĩnh vực tình cảm của con người, âm nhạc có khả năng thống nhất con người cùng nỗi xúc động và trở thành phương tiện giao tiếp hết sức nhạy cảm giữa con người mà không cần tới ngôn ngữ. Nhờ ngôn ngữ biểu cảm đặc biệt của Âm nhạc mà những con người từ khắp các phương trời, không cùng ngôn ngữ có thể có những hiểu biết về nhau. Âm nhạc tác động tới con người ngay từ khi mới sinh ra trong tiếng hát ầu ơ của mẹ tới khi giã từ cuộc đời. Tuy không trực tiếp nuôi dưỡng con người như : cơm ăn, nước uống, khí trời, cũng không làm ra của cải vật chất, nhưng Âm nhạc có sức mạnh làm cho con người nhận thức cuộc sống, giáo dục tâm hồn tình cảm và đem lại cho con người những rung cảm về cái đẹp. Sau mỗi ngày lao động mệt mỏi căng thẳng, Âm nhạc có tác động giải trí lành mạnh làm cho con người vui tươi thoải mái, phục hồi sức khoẻ nhanh chóng… Chính vì vậy mà Phu Xích người lãnh tụ của nhân dân lao động đã nói : ” Cuộc sống thiếu âm nhạc thì khác nào trái đất thiếu ánh nắng mặt trời “.

Ngêi thùc hiÖn : §ç ThÞ

H¹nh

Trang 2

Mét sè gi¶i ph¸p nh”m n©ng cao chÊt lîng m”n ¢m nh¹c 1.2. Vai trò của Âm nhạc đối với học sinh THCS. Âm nhạc giáo dục thẩm mĩ cho các em, giúp các em cảm nhận được cái hay, cái đẹp của sự vật hiện tượng xung quanh. Giáo dục thẩm mĩ Âm nhạc với nhiều thể loại nội dung khác nhau. Âm nhạc gợi cho các em tình yêu quê hương đất nước, tình yêu thương gắn bó quan tâm tới người thân, thầy cô và bạn bè, lòng biết ơn cho những người cống hiến cho Tổ quốc, cho dân tộc đem lại cho các em cảm xúc trữ tình và niềm tự hào dân tộc. Các em được hiểu biết về các dân tộc khác nhau nhen nhóm trong lòng trẻ tình hữu nghị quốc tế cộng đồng qua những giai điệu của một số bài hát hoặc trích đoạn tác phẩm Âm nhạc nước ngoài. Khi hoạt động Âm nhạc các em cùng nhau chia sẻ hình tượng Âm nhạc tính đồng cảm, tinh thần kỷ luật, ý thức tập thể hình thành rõ rệt. Sự phấn khởi tươi vui khi biểu diễn bài hát, sự tự tin trong các hoạt động hoà nhập cộng đồng. Khi tập hát học sinh tiếp thu đường nét giai điệu, tiết tấu, lời ca giản dị dễ hiểu gần gũi với cuộc sống. Qua đó giúp học sinh phát triển ngôn ngữ, phát âm chính xác tiếng mẹ đẻ, nói biểu cảm và mở rộng vốn từ. Tóm lại : Giáo dục Âm nhạc tạo điều kiện phát triển chung cho nhân cách của học sinh, tạo điều kiện cho hoạt động tri thức cùng phát triển và hoàn thiện nhân cách và thể chất của học sinh. 1.3. Đặc điểm khả năng Âm nhạc của học sinh trường THCS. Âm nhạc trong xã hội chúng ta được nuôi dưỡng bằng cội nguồn vĩ đại của văn hoá Âm nhạc dân gian các dân tộc Việt Nam. Âm nhạc là một trong những phương tiện hiệu quả nhất để thực hiện nhiệm vụ giáo dục – thẩm mĩ cho học sinh, tạo cơ sở hình thành nhân cách con người mới Việt Nam. Tuy nhiên Âm nhạc trong nhà trường THCS với tư cách một môn học, có mức độ nhất định về mục đích và nội dung. Mục đích của việc dạy học Âm nhạc trong nhà trường THCS là nhằm giáo dục ” Văn hoá Âm nhạc ” cho các em, cung cấp những kiến thức cơ bản, các kỹ năng, tạo điều kiện cho khả năng cảm thụ, hiểu và thể hiện nghệ thuật Âm nhạc, khơi dậy trong các em khả năng sáng tạo tình cảm đạo đức và niềm tin, thị hiếu nghệ thuật trong hoạt động Âm nhạc. Giáo dục thẩm mĩ thông qua dạy học Âm nhạc nhằm phát triển thẩm mĩ toàn vẹn của nhân cách học sinh, làm giàu nhân cách bằng trình độ thẩm mỹ nghệ thuật nói chung trong đó có Âm nhạc. Với sự hỗ trợ của dạy học Âm nhạc giúp học sinh phát triển những đặc trưng tâm lý của nhân cách : Tai nghe Âm

Ngêi thùc hiÖn : §ç ThÞ

H¹nh

Trang 3

Ngêi thùc hiÖn : §ç ThÞ

H¹nh

Trang 4

Mét sè gi¶i ph¸p nh”m n©ng cao chÊt lîng m”n ¢m nh¹c II. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIẢNG DẠY ÂM NHẠC Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ.

Âm nhạc ngày nay đã đi vào nhà trường phổ thông với tư cách một môn học độc lập. Nó là một trong những phương tiện hiệu quả nhất để thực hiện nhiệm vụ giáo dục đạo đức thẩm mỹ cho học sinh. Tạo cơ sở hình thành nhân cách cho các em. Mục đích của việc dạy học Âm nhạc trong nhà trường phổ thông là nhằm giáo dục văn hoá âm nhạc cho các em. Vì vậy đổi mới phương pháp dạy học Âm nhạc trong nhà trường là một vấn đề quan trọng để truyền tải tốt những nội dung văn hoá âm nhạc đến với học sinh. Đó là : + Những kiến thức cơ bản, các kỹ năng kỹ sảo, tạo điều kiện cho khả năng cảm thụ, hiểu và thể hiện nghệ thuật Âm nhạc. + Khơi dậy các em khả năng sáng tạo trong hoạt động Âm nhạc. + Tình cảm đạo đức và niềm tin thị hiếu nghệ thuật và nhu cầu Âm nhạc của học sinh. Tinh thần cơ bản của đổi mới phương pháp dạy học là lấy học sinh làm nhân vật trung tâm, người thầy đóng vai trò chủ đạo hướng dẫn bằng những câu hỏi có tính dẫn dắt, gợi mở học sinh chủ động, tích cực tham gia xây dựng bài sao cho nhiều học sinh được làm việc tốt nhất trong tiết học. Trong thực tế giảng dạy ở trường tôi nhận thấy có một số vấn đề cần quan tâm để thực hiện tốt phương pháp đổi mới dạy học là : 1. Nội dung bài soạn, kỹ năng truyền thụ kiến thức. * Chuẩn bị giáo án cần làm rõ : – Mục đích chuẩn bị giáo cần làm được của bài. – Những công việc cần chuẩn bị của giáo viên, của học sinh trước bài giảng – Những hoạt động của giáo viên và học sinh trên lớp. – Hệ thống câu hỏi kiểm tra kiến thức. – Hệ thống câu hỏi gợi mở phát huy trí lực. – Sắp xếp đồ dùng dạy học hợp lý. – Hệ thống câu hỏi luyện tập và củng cố kiến thức. – Hướng dẫn học sinh học bài ở nhà, chuẩn bị bài sau. Đề thực hiện tốt phương pháp dạy học, giáo viên cần chú trọng hơn về : – Hệ thống câu hỏi dẫn dắt, kiểm tra kiến thức. – Câu hỏi gợi mở, phát huy trí lực.

Ngêi thùc hiÖn : §ç ThÞ

H¹nh

Trang 5

Mét sè gi¶i ph¸p nh”m n©ng cao chÊt lîng m”n ¢m nh¹c – Lấy kiến thức đã học, đã biết để dạy cái chưa biết. Không nên dùng phương pháp diễn giải mà chủ yếu dùng phương pháp quy nạp để dạy lý thuyết âm nhạc. Thực tế của việc đổi mới phương pháp dạy học Âm nhạc là gây sự hứng thú say mê học tập của học sinh. Muốn lôi cuốn nhiều em tham gia vào bài học thì hệ thống câu hỏi trong bài giảng phải được coi trọng, dẫn dắt gợi mở, có sự sáng tạo giúp các em hiểu bài, nhạy cảm với Âm nhạc hơn. VD : Khi giới thiệu bài ” Như có Bác Hồ trong ngày đại thắng” của Phạm Tuyên có thể có hệ thống câu hỏi như sau : + Bài hát này ra đời trong hoàn cảnh nào ? + Nó gắn bó với sự kiện lịch sử nào ? + Nội dung của bài hát nói lên điều gì ? + Em có nhận xét gì về tiết tấu của bài hát ? + Nhạc sĩ Phạm Tuyên viết những bài hát nào cho thiếu nhi mà em biết ? Hãy kể tên và hát một bài mà em thuộc. Khi các em trả lời tốt giáo viên cho điểm, khen ngợi … làm cho các em hào hứng hơn trong giờ học. Cần chú ý rèn luyện kỹ năng thực hành cho học sinh với phương châm từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp. Không đọc chép nhiều. Đa dạng hoá không gian, hình thức các hoạt động dạy học như : xem biểu diễn nghệ thuật, học hát tập thể ngoài trời, thi văn nghệ trong trường, dạy học sinh sử dụng nhạc cụ và giới thiệu tranh ảnh Âm nhạc. Khi dạy không nhất thiết theo trình tự đề mục ở SGK, cần nhấn mạnh nội dung trọng tâm. Người thầy cần hiểu rõ đối tượng học sinh : học sinh ở thành phố thường nhạy cảm âm nhạc nhiều hơn. Để tránh nhàm chán người thầy cần lựa chọn nội dung, khối lượng và phương pháp truyền thụ thích hợp. Trong bài giảng cần có những ví dụ minh hoạ thật chọn lọc, mới lạ gây hứng phấn học tập cho các em. * Các bước của quy trình dạy giờ học hát. – Giáo viên chép nhạc và lời bài hát (hoặc treo bảng phụ có ghi sẵn), học sinh ghi vào vở. – Giáo viên giới thiệu tác giả, tác phẩm, nội dung lời ca, đặc điểm âm nhạc, giá trị nghệ thuật của tác phẩm một cách ngắn gọn, dí dỏm và dùng tranh ảnh để minh hoạ.

Ngêi thùc hiÖn : §ç ThÞ

H¹nh

Trang 6

Mét sè gi¶i ph¸p nh”m n©ng cao chÊt lîng m”n ¢m nh¹c – Giáo viên đàn cho học sinh nghe hoặc mở băng 1 đến 2 lần toàn bộ bài để học sinh làm quen với tiết tấu, giai điệu cao độ, … của bài hát. – Giáo viên đàn hát mẫu. – Giáo viên phân đoạn, phân câu, đánh dấu lấy hơi, nhả lời rõ ràng. – Giáo viên lấy giọng theo tầm giọng của học sinh và cho học sinh luyện giọng, khởi động. Sau khi luyện giọng, khởi động đọc gam giáo viên bắt đầu dạy học sinh học hát. – Cho học sinh tập từng câu ngắn theo lối móc xích, hết câu này đến câu khác. Trong khi tập từng câu, giáo viên chú ý đến nhịp hoặc hát mẫu cho học sinh nghe giai điệu giáo viên chú ý vào chỗ khó trong bài để cho học sinh luyện tập nhiều. Chú ý sửa sai cho học sinh về cao độ, tiết tấu, về phát âm ngọng, luyến láy sai để đạt được yêu cầu chính xác về tiết tấu, giai điệu, lời ca. – Giáo viên tập cho học sinh nghe nhạc để bắt vào đúng nhịp, ngân nghỉ đúng chỗ. Giáo viên cho ghép từng câu thành từng đoạn, rồi cả bài yêu cầu vừa ghép, vừa gõ nhịp. Tiếp đó nâng yêu cầu phải thể hiện đúng sắc thái, tình cảm của bài hát. Tập cho học sinh các động tác minh hoạ và tập biểu diễn bài hát trước lớp. Sau khi học sinh đã chép thành bài, giáo viên tổ chức hát theo nhóm, tổ hoặc cá nhân. Xây dựng các bè hát đuổi, tạo nên một không khí thi đua sôi nổi trong giờ dạy học nói chung, giáo viên phải hát nói riêng và dạy học nói chung, giáo viên phải luôn động viên khích lệ học sinh bằng những lời khen, bằng điểm số. Tóm lại : Khi dạy phân môn này các giáo viên như trên, song có nên có chút thay đổi về giờ dạy học hiệu quả hơn và tích cực hơn. Thay vì giáo viên phân tích các ký hiệu Âm nhạc có trong bài, phân tích nhịp phách, … nên gợi ý để học sinh tự suy nghĩ và phát biểu. Thay việc giáo viên hát mẫu trước, hoặc cho nghe đài trước thì nên để học sinh tự phá bài. Việc hát mẫu của giáo viên hoặc cho nghe đài cuối giờ khi học sinh đã phá được bài. Lúc này nghe mẫu để sửa giọng hát, thể hiện sắc thái bài một cách trau chuốt và chính xác hơn.

Ngêi thùc hiÖn : §ç ThÞ

H¹nh

Trang 7

Mét sè gi¶i ph¸p nh”m n©ng cao chÊt lîng m”n ¢m nh¹c THIẾT KẾ BÀI DẠY CỤ THỂ TRONG CHƯƠNG TRÌNH ÂM NHẠC LỚP 9 BÀI 2 – TIẾT 4 HỌC HÁT : BÀI NỤ CƯỜI I. MỤC TIÊU.

+ Về kiến thức : Học sinh biết một bài hát của thiếu nhi nước Nga. + Về kỹ năng : Thể hiện được giai điệu rộn ràng trong sáng, tươi vui của bài hát ” Nụ Cười “. + Thái độ : Giáo dục tình cảm lạc quan, sự tin yêu cuộc sống và tình thân ái hữu nghị giữa thiếu nhi hai nước Việt – Nga. II. CHUẨN BỊ.

* Giáo viên : – Bản đồ thế giới, vị trí nước Nga trên bản đồ. – Một vài hình ảnh nước Nga (thủ đô Mát-xcơ-va, cung điện Krem-li, Quảng trường đỏ…) – Hát và đàn bài hát thành thạo. – Băng nhạc bài hát ” Nụ Cười “. * Học sinh : – Nghiên cứu nội dung bài hát trước. III. TIẾN TRÌNH DẠY HỌC. Nội dung

Hoạt động của giáo viên

1. Ổn định lớp. Nội dung 1 : Bài 2. Kiểm tra bài cũ (5 phút) ” Nụ Cười ” H : Hãy cho biết 1 vài bài hát phổ thơ Nhạc : Nga viết cho người lớn mà em biết ? Lời: Phạm Tuyên 3. Bài mới. * Hoạt động 1 : Giáo viên hướng dẫn Giới thiệu bài (10 Giáo viên thuyết trình : Chỉ bản đồ nước phút) Nga là một đất nước rộng lớn, có vị trí quan trọng trên thế giới. Thủ đô là Mátxcơ-va. Nước Nga là quê hương của cuộc cách mạng tháng mười vĩ đại với vị

Ngêi thùc hiÖn : §ç ThÞ

H¹nh

Hoạt động của học sinh

– Học sinh lên bảng trình bày.

– Học sinh khởi động giọng bằng một bài hát

Trang 8

Mét sè gi¶i ph¸p nh”m n©ng cao chÊt lîng m”n ¢m nh¹c lãnh tụ thiên tài Lê-Nin. Đây cũng là đất nước có một nền văn hoá cao với những tên tuổi lẫy lừng thế giới : Về văn học có Pus-Kin, Sê-Khốp, Lép Tôn – Xtôi, Goóc-Ki ; Về mĩ thuật có Lê-vi-tan ; Về âm nhạc có Trai-cốpxki, Prô-cô-phi-ep và nhiều danh nhân văn hoá nổi tiếng Việt Nam và Nga đã có quan hệ hữu nghị từ nhiều năm nay và ngày càng phát triển tốt đẹp. – Bài hát được viết ở nhịp 2/2 – Giáo viên giải thích rõ nhịp 2/2 H : Bài hát chia làm mấy đoạn ? – Giáo viên chia câu : Đ1 gồm 4 câu hát viết ở giọng đô trưởng. Đ2 gồm 4 câu hát chuyển sang giọng đô thứ. Đ1 giai điệu như một sự khẳng định, tin tưởng vào cuộc sống tốt đẹp, tính chất âm nhạc rộn ràng, lạc quan. Đ2 âm nhạc đi vào chiều sâu tình cảm, êm nhẹ hơn nhưng rõ ràng, dứt khoát song không kém phần tha thiết, như muốn nói lên lòng tin yêu cuộc sống, luôn hướng tới tương lai tươi đẹp, hạnh phúc. * Hoạt động 2: – Giáo viên đàn câu 1 (2 lần) Học hát từng câu (17 phút) – Giáo viên hát mẫu câu 1 – Giáo viên nhận xét, sửa sai – GV chú ý phần ngân nghỉ của kết từng câu hát. – Hướng dẫn học hát tương tự như câu 1 sau đó hát lối các câu theo lối móc xích.

Ngêi thùc hiÖn : §ç ThÞ

H¹nh

– Học sinh nhắc lại nhịp 2/2 – Chia làm 2 đoạn Đ1 : Từ đầu đến “cùng cất tiếng cười” Đ2 : Từ “để làn mây” đến “xoá nhoà”.

– Học sinh nghe và nhẩm theo. – HS cả lớp hát câu 1

Trang 9

Mét sè gi¶i ph¸p nh”m n©ng cao chÊt lîng m”n ¢m nh¹c * Hoạt động 3: – GV bắt nhịp. Ôn luyện bài hát (10 phút) – GV nhận xét, sửa sai. – GV chỉ định.

– Cá nhân hát. – Học sinh nhận xét. – HS thực hiện

– Giáo viên đàn giai điệu bài hát – HS hát hoàn chỉnh bài hát (lời 1) – HS sửa sai – HS tổ nhóm hát bài hát (lời 1) – HS nhận xét, sửa sai 4. Củng cố – dặn dò (3 phút) GV cho học sinh cả lớp hát hoàn chỉnh bài hát kết hợp vỗ tay theo phách. – H : Em rút ra điều gì cho mình qua bài hát này ? – Bài tập về nhà : + Chép bài hát vào vở. + Làm bài tập số 1 và 2 trong SGK

Ngêi thùc hiÖn : §ç ThÞ

H¹nh

– HS nhẩm lời 2 – HS hát lời 2 – Hát hoàn chỉnh bài hát.

– Sống vui tươi chan hoà với mọi người, đoàn kết hữu nghị với các nước.

Trang 10

Mét sè gi¶i ph¸p nh”m n©ng cao chÊt lîng m”n ¢m nh¹c

KẾT LUẬN Trong quá trình dạy học thì nội dung dạy học đã được quy định trong chương trình sách giáo khoa, còn phương pháp dạy học lại phụ thuộc nhiều vào khả năng, điều kiện cụ thể. Hoạt động sáng tạo của người giáo viên chủ yếu tìm tòi những phương pháp dạy học thích cho mỗi nội dung, phù hợp với từng lứa tuổi học sinh. Theo quan điểm trên, chúng tôi đã đưa ra một số giải pháp thích hợp để có thể giải quyết được những vấn đề bất cập mà đề tài đề cập đến. Những giải pháp và một số ý kiến trên còn mang tính cá nhân, giải pháp được tôi thực hiện tại trường đã đạt kết quả tốt, nhưng cũng có ý kiến chỉ là ý tưởng, mong muốn sự đề xuất đó sẽ góp phần đạt được mục tiêu của đề tài đề ra. Cổ Am, ngày 17 tháng 11 năm 2008

Người thực hiện

§ç ThÞ H¹nh

Ngêi thùc hiÖn : §ç ThÞ

H¹nh

Trang 11

Mét sè gi¶i ph¸p nh”m n©ng cao chÊt lîng m”n ¢m nh¹c

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

BẢN CAM KẾT I – TÁC GIẢ :

Họ và tên

:

§ç ThÞ H¹nh

Ngày 10 tháng 11 năm 1979. Đơn vị công tác : Trường THCS Cổ Am. Điện thoại

: 0904.811017.

II – SẢN PHẨM :

Tên sản phẩm : ” Mét sè gi¶i ph¸p nh”m n©ng cao chÊt lîng m”n ¢m nh¹c ” III – CAM KẾT :

Tôi xin cam kết sáng kiến kinh nghiệm này là sản phẩm của cá nhân tôi. Nếu có xảy ra tranh chấp về quyền sở hữu đối với một phần hay toàn bộ sản phẩm sáng kiến kinh nghiệm, tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm trước lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Sở GD & ĐT về tính trung thực của bản cam kết này. Ngày 17 tháng 11 năm 2008

Người cam kết

§ç ThÞ H¹nh

Ngêi thùc hiÖn : §ç ThÞ

H¹nh

Trang 12

Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Môn Âm Nhạc Cho Học Sinh Lớp 2

2.Học sinh: SGK, vở ghi, dụng cụ gõ đệm III.Hoạt động dạy học 1. ổn định tổ chức : Kiểm tra sĩ số, nhắc nhở tư thế ngồi của HS 2. Kiểm tra bài cũ : Cho lớp ôn lại 1,2 bài hát lớp 1. 3. Bài mới : Nội dung HĐ của GV HĐ của HS Hoạt động 1 : A. Giới thiệu bài B. Hát mẫu C. Đọc lời ca D. Khởi động giọng: E. Dạy hát theo lối móc xích – Giới thiệu bài hát, tác giả, nội dung bài hát – Hát mẫu hoặc bật băng đĩa bài hát cho HS nghe – Hướng dẫn HS đọc lời ca: + Đọc mẫu lời ca kết hợp với tiết tấu. + Cho HS đọc lời ca kết hợp tiết tấu. – Đàn chuỗi âm giọng C dur cho HS la bằng âm “la” – Dạy hát từng câu, mỗi câu cho HS hát 2,3 lần + Nhắc HS ngắt nghỉ lấy hơi đúng chỗ. + Sau khi tập xong bài hát cho HS hát lại nhiều lần để thuộc lời và giai điệu. + Nhận xét, sửa sai – Ngồi ngay ngắn, chú ý nghe – Nghe hát mẫu – Tập đọc lời ca theo hướng dẫn của GV + Lắng nghe + Đọc lời ca kết hợp tiết tấu. – Thực hiện khởi động giọng theo đàn – Cả lớp thực hiện học hát + Chú ý tư thế ngồi ngay ngắn. – Thực hiện theo hướng dẫn của GV + Hát đồng thanh + Hát theo dãy + Cá nhân + Lắng nghe, sửa sai Hoạt động 2: – Hướng dẫn HS hát kết hợp gõ đệm theo phách. – Hướng dẫn HS hát kết hợp vận động – HS Hát kết hợp vỗ tay hoặc sử dụng nhạc cụ gõ đệm: Song loan, thanh phách, trống. – Từng tốp đứng hát theo hướng dẫn của GV. 4. Củng cố, dặn dò: a.Củng cố: Nhận xét chung, nhắc nhở những em chưa tập trung giờ sau cố gắng, khen ngợi những em học tốt b. Dặn dò : Nhắc nhở HS ghi nhớ giai điệu, lời ca và cách gõ đệm bài hát. Tập lại những động tác phụ hoạ – Các bài hát đó được phân chia chủ yếu ở các thể loại: + Bài hát hành khúc. + Bài hát trữ tình. + Bài hát nhanh vui. Để thể hiện bài hát có chất lượng, có tình cảm phù hợp với nội dung tư tưởng, phong cách nghệ thuật của tác phẩm, người giáo viên cần phân biệt đặc điểm của từng thể loại có phương pháp riêng phù hợp với từng thể loại đó. * Thể hiện bài hát hành khúc: – Đây là loại bài hát có đặc điểm chung và ô nhịp vừa phải, hợp với bước đi khoẻ khoắn, rắn rỏi. – ở lớp 2, các em được làm quen với thể loại này qua 1 bài hát : Chiến sĩ tí hon – Nhạc Đinh Nhu, lời: Việt Anh. – Được sắp xếp theo phân phối chương trình – tiết 13, trang 14 trong sách Âm nhạc 2. – Giáo viên cần dạy học sinh thể hiện đúng tính chất bài hát này nhưng cũng không quá dập khuôn, cứng nhắc. – Khi dạy bài hát này , giáo viên hướng dẫn học sinh hát thể hiện tình cảm rắn rỏi đặc biệt tiết tấu, nhịp, và tư thế đứng vững chắc, có thể vừa hát vừa đánh nhịp nhẹ nhàng. – Các động tác phụ hoạ cho bài hát cũng phải đơn giản phù hợp với lứa tuổi cũng như tính chất hành khúc. Động tác phải phù hợp với thể lực của học sinh tránh các động tác quá mạnh mẽ, nặng nề, và khó thực hiện. *Thể hiện bài hát trữ tình. – Bài hát trữ tình điển hình ở giai điệu mượt mà, du dương, êm ái, sâu lắng. – Khi dạy những bài hát mang tính chất trữ tình giáo viên nhắc các em thể hiện đúng tính chất của bài hát. *Thể hiện bài hát vui, linh hoạt; – Các bài hát vui, linh hoạt, giai điệu thường có tính chất vui vẻ, rộn ràng, hài hước , dí dỏm, châm biếm, có khi mô tả tiếng người và tiếng chim hót. Những bài hát vui thường có tốc độ nhanh, thể hiện sự náo nhiệt, sôi nổi bằng âm thanh trong sáng, gọn gàng, trôi chảy. Chương trình lớp 2 có 11 bài hát ở dạng này, đó là những bài hát sau: Thật là hay -nhạc và lời : Hoàng Lân. Xoè hoa – Dân ca Thái ; lời mới: Phan Duy. Múa vui- Nhạc và lời : Lưu Hữu Phước. Chúc mừng sinh nhật- Nhạc Anh; lời mới: Đào Ngọc Dung. Cộc cách tùng cheng- Nhạc và lời: Phan Trần Bảng. Trên con đường đến trường- Nhạc và lời: Ngô Mạnh Thu. Hoa lá mùa xuân- Nhạcvà lời : Hoàng Hà. Chú chim nhỏ dễ thương- Nhạc Pháp; lời: Hoàng Anh. Chim chích bông- Nhạc: Văn Dung; lời: Thơ Nguyễn Viết Bình. Chú ếch con- Nhạc và lời: Phan Nhân. Bắc kim thang- Dân ca Nam Bộ. – Khi dạy những bài hát ở thể loại này giáo viên nhắc học sinh thể hiện vui tươi, nhanh , náo nhiệt , sôi nổi , trong sáng. Tiểu kết : Nhận thức được biện pháp này là hết sức quan trọng trong cả một quá trình giảng dạy, và trong suốt cả sự nghiệp giáo dục của mình. Vì vậy tôi đã thực hiện và chọn sử dụng biện pháp này. Biện pháp 2 : Phương pháp luyện thanh Để giọng hát hay, truyền cảm cần phải thường xuyên luyện giọng . Trước tiên cần làm quen với luyện thanh . Luyện thanh là hát giai điệu với một hoặc một số mẫu âm nhất định hoặc hát một bài hát đã học . Luyện thanh giúp cho giọng hát được đều, trôi chảy, rõ ràng, âm sắc âm lượng thống nhất ở tất cả các âm khu của giọng . * Một số mẫu luyện thanh thường dùng: Các mẫu âm trong quãng 3. – Bài tập số 1: – Bài tập số 2: – Bài tập số 3: Các mẫu âm trong quãng 5. – Bài tập số 1: – Bài tập số 2: Tiểu kết : Khởi động giọng là một phương pháp khởi động ban đầu để chuẩn bị cho giờ học hát. Nó làm cho giọng của người hát mở ra và giọng hát được sáng, trong trẻo, những câu hát khó và cao có thể người hát có thể thược hiện được . Những kiến thức chung về ca hát rất cần thiết cho mỗi giáo viên âm nhạc đang trực tiếp giảng dạy bộ môm Âm nhạc vì vậy tôi đã thực hiện và chọn biện pháp này. Biện pháp 3 : Phương pháp trực quan Đây là phương pháp tạo hiệu quả cao nhất cả về nội dung và hình thức . Nhà sư phạm người Nga A.H.Leonchiepo đã chỉ ra rằng: ” Bản chất tâm lí của trực quan trong giảng dạy là tạo chỗ dựa bên ngoài để hỗ trợ, tác động tiềm thức bên trong của các em dưới sự chỉ đạo của thầy trong quá trình thu nhập kiến thức” Điều này đủ để ta thấy tác dụng to lớn của phương pháp dạy trực quan. Các đồ dùng mà ta thường hay sử dụng để áp dụng trong phương pháp này là : Đàn phím điện tử, đài catsset hoặc đầu video.mục đích của việc sử dụng các giáo cụ trực quan là tạo nên các âm thanh, hình ảnh trực tiếp, tác động vào quá trình tiếp thu kiến thức của học sinh, giúp các em nhận thức về môn học nhẹ nhàng và đơn giản hơn nhưng cũng không kém phần logic và hiệu quả. Thông thường trong giờ học hát, chúng ta thường áp dụng phương pháp truyền thống là : Giáo viên hát mẫu sau đó dạy từng câu theo lối móc xích cho đến khi hết bài. Điều này đôi khi làm cho các em thấy nhàm chán. Vì vậy phải cho học sinh xem băng hình trong và ngoài giờ học vì biện pháp này nhằm mục đích gợi sự hào hứng cho học sinh, làm cho các em thích hát và thích hát được hay như các bạn, đồng thời còn làm cho các em diễn xuất tốt hơn. Sau khi các em học xong bài hát, giúp các em sáng tạo cho mình phong cách biểu diễn tốt, vận dụng các động tác phụ hoạ linh hoạt và tự tin trước đám đông hơn. Tiểu kết : Biện pháp này tạo cho học sinh sự hứng thú và kích thích tính sáng tạo cho các em vì vậy phương pháp trực quan không thể thiếu trong công tác giảng dạy bộ môn Âm nhạc nói chung và các bộ môn học khác nói riêng.Vì vậy tôi đã áp dụng và thực hiện biện pháp này trong quá trình giảng dạy của mình. Biện pháp 4 : Giảng dạy – hệ thống liên tục Đây là một trong 8 nguyên tắc dạy học của nhiều nhà giáo dục vĩ đại đóng góp như Kô- men-xki, Pia-giê và nhiều nhà giáo dục khác. Những kiến thức mà người giáo viên truyền đạt cho học sinh là một loạt những kiến thức khác nhau nhưng phải đảm bảo sự xâu chuỗi một cách hệ thống. Dạy học cái gì trước cái gì sau, cái dễ đến cái khó, cái đơn giản đến cái phức tạp, cái đã biết đến cái chưa biết. Như vậy, mới tránh lộn xộn, làm cho học sinh tiếp thu kiến thức dễ dàng hơn. Tiểu kết : Biện pháp này là sự logic giữa các câu hát với nhau thành một bài hát hoàn chỉnh. Vì vậy tôi đã chọn và sử dụng biện pháp này . Biện pháp 5 : Đảm bảo tính vừa sức , phù hợp với từng trình độ học sinh. Cơ sở của sự ” Vừa sức” phải căn cứ vào thực tế của nhà trường, ở đây tôi đề cập đến chính là Trường Tiểu học Thanh Văn . Nơi mà phần đa số học sinh là con em nông thôn và gia đình buôn bán. Chưa được quan tâm đầu tư của gia đình nhiều việc học hành và tham gia các chương trình sinh hoạt văn hoá, văn nghệ . Chính vì vậy cũng không thể đòi hỏi quá cao ở sự tiếp thu của các em, tuy nhiên cũng không nên hạ thấp yêu cầu của bài dạy. Vấn đề này hoàn toàn phụ thuộc vào người thầy giáo. Tiểu kết : Biện pháp này có quan hệ mật thiết với việc đảm bảo tính khoa học và đánh giá học sinh nhằm động viên, khích lệ mọi khả năng và trình độ học sinh trong lớp cùng tiếp thu bài giảng một cách hứng khởi. Vì vậy tôi đã sử dụng ,và chọn biện pháp này. Biện pháp 6 : Phát huy tích cực – độc đáo sáng tạo của học sinh. Muốn làm được điều này giáo viên phải quan tâm đến hứng thú của học sinh và tìm cách gây hứng thú cho các em trong các giờ học. Quan hệ của thầy và trò phải thực sự cởi mở. Nói cách khác là phải hấp dẫn, thu hút được học sinh vào bài giảng . Đó là nghệ thuật sư phạm vô cùng tế nhị trong đó có cả việc động viên, khen chê kịp thời. Trong những năm gần đây, tư tưởng ” Dạy học tích cực ” hay còn gọi là ” Tích cực hoạt động dạy học ” là một chủ trương quan trọng của ngành giáo dục nước ta, trong đó người thầy giữ vai trò chủ đạo và học sinh chủ động trong việc tiếp thu kiến thức, giáo viên là người tổ chức, hướng dẫn, điều khiển việc tiếp nhận , chiếm lĩnh bài học của học sinh . Như vậy ” Sự khéo léo ứng xử về sư phạm chính là biện pháp hữu hiệu đầu tiên để đưa các em đến với Âm nhạc”. Đúng như K.D.Vsinxki nói ” Sự khéo léo đối xử sư phạm , nếu không có nó thì giáo dục có nghiên cứu lý luận giáo dục đến mức nào cũng không bao giờ trở thành nhà thực hành giáo dục tốt, về bản chất thì không phải cái gì khác là sự khéo léo đối xử về tâm lý ” Tiểu kết : Tôi tin tưởng biện pháp trên sẽ góp phần phát huy cao độ khả năng sáng tạo và hoạt động tích cực của học sinh. V.Kết qủa so sánh đối chứng. 1- Số liệu điều tra trước khi thực hiện đề tài : Tên lớp Số lượng học sinh Học hát Kể chuyện âm nhạc SLHS % SLHS % SLHS % 2A 23 100 14 62 5 20 2B 25 100 17 67 10 40 2C 15 100 11 71 3 20 Số liệu điều tra sau khi thực hiện đề tài : Tên lớp Số lượng học sinh Học hát Kể chuyện âm nhạc SLHS % SLHS % SLHS % 2A 23 100 16 70 6 25 2B 25 100 20 80 11 42 2C 15 100 13 85 4 24 Sau khi thực hiện và sử dụng các biện pháp trong ” Một số giải pháp nâng cao chất lượng dạy học phân môn hát cho học sinh lớp 2 ” tôi thấy đây là một thuận lợi đáng kể đối với việc giảng dạy phân môn này. Từ những số liệu khảo sát điều tra trước và sau thực hiện đề tài cho chúng ta thấy : Việc mức độ học sinh yêu thích phân môn học hát đã cao hơn so với trước khi thực hiện đề tài. Đây có thể coi là một thuận lợi đáng kể đối với việc giảng dạy môn học này, từ những biện pháp thực hiện cũng có những sai xót trong công tác giảng dạy theo phương pháp truyền thống dẫn đến kết quả thu được sẽ không cao. Giáo viên Âm nhạc cần nắm được đặc điểm này, để biết cách lựa chọn phương pháp dạy phù hợp với từng nhóm học sinh để được kết quả như mong muốn. Những hệ quả của việc sử dụng đề tài này mang lại giúp các em có hứng thú khi học hát không nhàm chán khi học hát, từ đó làm cho các em tự tin hơn khi trình bày một ca khúc hay một tác phẩm Âm nhạc nào đó. Đặc biệt hơn giúp các em tự tin trong giao tiếp, trong sinh hoạt hàng ngày. Chính vì vậy để nâng cao chất lượng đào tạo của phân môn này, tôi mạnh dạn đưa ra một số giải pháp dạy học phân môn học hát cho học sinh lớp 2 cho bản thân mình đang trực tiếp giảng dạy môn Âm nhạc. 2- Bài học kinh nghiệm Sau khi thực hiện đề tài tôi đã nghiên cứu và đưa ra 6 biện pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy học phân môn học hát. Những biện pháp nghiên cứu của tôi có thể chưa áp dụng rộng rãi trong công tác giảng dạy bộ môn Âm nhạc nói chung và phân môn học hát nói riêng. Tuy nhiên trong quá trình thực hiện và viết sáng kiến kinh nghiệm của tôi không tránh khỏi nhầm lẫn.Vậy rất mong được sự quan tâm giúp đỡ của hội đồng khoa học các cấp đóng góp ý kiến cho tôi để xây dựng bản sáng kiến kinh nghiệm của tôi thêm hoàn chỉnh hơn . Qua một số năm công tác với việc thực hiện đổi mới phương pháp dạy học trong việc giảng dạy tôi nhận thấy muốn nâng cao chất lượng môn học Âm nhạc nói chung và phân môn học hát nói riêng, đặc biệt hơn muốn có học sinh hát hay, giỏi Âm nhạc thì người giáo viên cần thường xuyên trau dồi kiến thức và luôn đổi mới các hình thức dạy trong một tiết học để tạo niềm tin hứng thú khả năng mạnh dạn tự tin, khuyến khích những em có năng khiếu, động viên và quan tâm những em có năng khiếu hạn chế, học sinh phải được luyện tập và thực hành nhiều đồng thời kết hợp với việc phát huy khả năng và sở trường cuả học sinh thì sẽ nâng cao được các yêu cầu đặt ra của các phân môn Âm nhạc. Vi – ý kiến đề xuất 1.Đối với phòng giáo dục: – Các cấp lãnh đạo thường xuyên tổ chức các phong trào văn nghệ. – Phòng giáo dục cần mở nhiều các chuyên đề âm nhạc cho học sinh và giáo viên để tôi và đồng nghiệp tiếp tục được học hỏi nâng cao trình độ chuyên môn. Đồng thời có những buổi cập nhật công nghệ thông tin ứng dụng vào giảng dạy nói chung và ứng dụng vào giảng dạy bộ môn âm nhạc nói riêng. – Phòng giáo dục cũng cần mở thêm nhiều chuyên đề hướng dẫn giáo viên tiếp cận sử dụng các nhạc cụ trong nhà trường và nâng cao khả năng sử dụng các phụ kiện âm thanh phục vụ cho âm nhạc cũng như các hoạt động tập thể trong nhà trường. – Đẩy mạnh hoạt động đội trong các nhà trường. – Cấp thêm kinh phí và các trang thiết bị âm thanh, các nhạc cụ âm nhạc tạo điều kiện cho giáo viên nâng cao khả năng sử dụng, sử lí âm thanh cho các hoạt động của nhà trường. 2. Đối với nhà trường: – Ban giám hiệu nhà trường thường xuyên tổ chức những buổi ngoại khoá âm nhạc cũng như tạo điều kiện về cơ sở vật chất, trang thiết bị, đồ dùng phục vụ cho việc giảng dạy để có những giờ học đạt được chất lượng chuyên môn tốt nhất. Trong năm học tới 2010-2011 tôi mong được đi dự giờ nhiều hơn các tiết dạy của những giáo viên giỏi cấp huyện, thành phố để từ đó học tập, trau dồi những kĩ năng, kĩ xảo vận dụng cho bản thân mình . 3. Tác dụng của đề tài: Qua quá trình thực hiện đề tài tôi thấy có tác dụng rất lớn, thúc đẩy phong trào giáo dục, phong trào của Đội, phong trào của địa phương. Đối với học sinh các em có thêm những sân chơi bổ ích, phát triển cả trí tuệ và trí lực. VIi – Kết luận Như chúng ta thấy Âm nhạc là một môn không thể thiếu trong hệ thống giáo dục bậc tiểu học là một môn học mang tính đặc thù riêng. Đối với lứa tuổi của các em ca hát là một hoạt động hấp dẫn , những bài hát đa dạng, phong phú mang ý nghĩa giáo dục nó sẽ bổ xung vốn sống cho các em và là phương tiện để các em tự giáo dục mình. Vì vậy để đáp ứng được yêu cầu ngày một nâng cao hơn của nghành giáo dục tôi nhận thấy mỗi người giáo viên phải tự mình trau dồi học hỏi thêm nhiều kiến thức, kinh nghiệm để không làm cho học sinh sự nhàm chán khi học bộ môn của mình. Học hỏi kinh nghiệm của các đồng nghiệp bạn để đưa phong trào bề nổi của nhà trường ngày càng phát triển đi lên. Nhận thức được tầm quan trọng của Âm nhạc, Đảng và nhà nước ta đã thể hiện quan điểm đó qua các kỳ Đại hội VII , VIII , IX : ” Văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội ” mà nhìn ở góc độ nào Âm nhạc cũng là văn hoá. Bộ giáo dục và đào tạo đã đưa Âm nhạc vào chương trình học tập của học sinh Tiểu học là hoàn toàn phù hợp với đường lối chiến lược phát triển con người của Đảng và nhà nước ta. Trong bộ môn Âm nhạc thì phân môn học hát là một phân môn quan trọng, bởi ca hát vốn đã là một nhu cầu của con người , ca hát phù hợp với lứa tuổi thiếu niên,noa còn đem đến cho các em những cảm xúcchân thực và ảnh hưởng trực tiếp đến tư tưởng, tình cảm của các em. Qua những năm khó khăn, hiện nay cơ sở vật chất và trình độ giáo viên của nhà trường đã ngày càng được nâng cao, đưa chất lượng giảng dạy của nhà trường nâng lên rõ rệt. Tuy nhiên , nhận xét một cách tổng thể, với mức độ yêu cầu của môn học thì kết quả này mới chỉ là thành công ban đầu. Qua khảo sát thực tế , do giáo viên trẻ mới ra trường chưa có kinh nghiệm giảng dạy bộ môn Âm nhạc dẫn tới chất lượng giờ học hát vẫn còn nhiều bất cập , các giờ học chưa thật sự hiệu quả, phải đảm đương lượng công việc khá nhiều nên giáo viên không còn nhiều thời gian để tìm tòi , nghiên cứu , sáng tạo những biện pháp, phương pháp nâng cao chất lượng giảng dạy. Xuất phát từ những thực tiễn đó, bản sáng kiến của tôi không chỉ phát hiện những khó khăn trở ngại của giáo viên và học sinh lớp 2 Trường tiểu học Thanh Văn. Trong việc giảng dạy và học tập phân môn học hát mà còn đề xuất một số giải pháp để khắc phục những khó khăn trên nhằm nâng cao hiệu quả dạy và học phân môn học hát , góp phần nhỏ vào việc hình thành và phát triển nhân cách học sinh, thay đổi nhận thức của học sinh, giáo viên và phụ huynh học sinh về bộ môn Âm nhạc nói chung và phân môn học hát nói riêng. Vì điều kiện thời gian có hạn và giới hạn phạm vi của đề tài cùng với năng lực hạn chế của bản thân, những vấn đề đã nói ở trên chắc chắn không thể giải quyết một cách đầy đủ và thoả đáng, đồng thời khó có thể tránh khỏi những thiếu sót. Bởi vậy, tôi mong được sự đóng góp ý kiến của hội đồng khoa học nhà trường , hội đồng khoa học của phòng giáo dục, các bạn bè đồng nghiệp , nhất là những giáo viên đang trực tiếp giảng dạy bộ môn Âm nhạc ở các trường trong huyện , để tôi có thể hoàn thiện hơn bản sáng kiến này. Tôi xin chân thành cảm ơn! Thanh Văn, ngày 10 tháng 04 năm 2011 Người viết Phạm ánh Ngọc ViIi. ý kiến nhận xét đánh giá và xếp loại của hội đồng khoa học cơ sở: ………………………………………………………………………………………………………………….. ………………………………………………………………………………………………………………….. ………………………………………………………………………………………………………………….. ………………………………………………………………………………………………………………….. ………………………………………………………………………………………………………………….. ………………………………………………………………………………………………………………….. ……………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………Chủ tịch hội đồng (Ký tên, đóng dấu)

Một Số Biện Pháp Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Học Tập Môn Âm Nhạc Cho Hs Lớp 5

Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng học tập môn Âm nhạc cho hs lớp 5

1

Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng học tập môn Âm nhạc cho hs lớp 5

Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng học tập môn Âm nhạc cho hs lớp 5

3

Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng học tập môn Âm nhạc cho hs lớp 5

– Với cách thức thực hiện của đề tài này: Giúp học sinh tham gia tích cực trong quá trình học tập, hứng thú khi tìm tòi và sáng tạo vấn đề; hào hứng khi trình bày sáng tạo của mình. – Đề tài này là động lực giúp học sinh tham gia tích cực vào các hoạt động văn hoá văn nghệ do trường lớp, Đoàn, Đội và các đơn vị văn hoá trong địa bàn tổ chức, tham gia có kết quả ngày một tốt hơn, góp phần phát triển khả năng ca hát của chính mình. Giúp các em hoà mình vào tập thể, rèn luyện sức khoẻ, rèn luyện toàn diện nhân cách đồng thời đảm bảo nguyên tắc “Lấy thực hành làm sợi chỉ đỏ xuyên suốt quá trình học tập của học sinh”.

B. PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN I. MỤC TIÊU CHUNG: Trước sự phát triển và đổi mới của xã hội, của ngành, môn Âm nhạc được đặt một vị trí quan trọng trong nhà trường phổ thông. Luôn được các cấp, các ngành quan tâm tạo điều kiện cho giáo viên dạy Âm nhạc kể cả về vật chất lẫn tinh thần. Trang thiết bị dạy học ngày càng được đầu tư đầy đủ hơn, đặc biệt là có cái nhìn đúng đắn hơn đối với môn Âm nhạc. – Tăng cường và phát huy năng lực cảm thụ Âm nhạc cho học sinh nói chung, tạo cho các em có năng khiếu có cơ hội khẳng định mình trước tập thể bạn học trong trường và ngoài xã hội. Từ đó góp phần phát triển về đức – trí thể – mĩ cho học sinh. – Tạo điều kiện cho học sinh phát triển tư duy và năng lực cảm thụ bằng nhiều hình thức như: Biểu diễn văn nghệ chào mừng các ngày lễ lớn, tổ chức Hội thi giọng hát hay (cấp tiểu học). Qua đó Âm nhạc có tác dụng mạnh mẽ đến từng học sinh, bổ sung vốn hiểu biết nhằm hướng tới “chân – thiện – mĩ” và làm cho đời sống tinh thần của các em tươi đẹp hơn. – Học Âm nhạc cần có kĩ năng khi hát, khi đọc các bài tập đọc nhạc và hiểu biết thêm về một số bài dân ca chọn lọc, truyện kể hay, góp phần vào trí tưởng tượng phong phú và làm cho con người các em thoải mái hơn trong mọi giờ học. II. ĐẶC THÙ CHƯƠNG TRÌNH MÔN ÂM NHẠC LỚP 5: (1 tiết/tuần x 35 tuần = 35 tiết) GVTH: Nguyễn Thị phương Thảo Trang

4

Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng học tập môn Âm nhạc cho hs lớp 5

Việc học Âm nhạc ở các lớp dưới (lớp 1, 2, 3) chủ yếu là học hát và một số động tác vận động phụ họa. Nhờ đó học sinh được rèn về cảm tính, trí nhớ và rèn về tính chính xác cao độ – tiết tấu trong học hát. Từ đó các em có được kĩ năng để hỗ trợ cho những lớp cuối cấp và bước vào cấp 2. Bước vào lớp 4 Âm nhạc tách riêng thành một môn độc lập, có thể nói đến lớp 5 là “giai đoạn 2” học sinh được học Âm nhạc không gắn liền với môn nghệ thuật. Cụ thể về chương trình lớp 5 gồm: Học hát, khả năng phát triển Âm nhạc, Tập đọc nhạc. * Về học hát: – Củng cố, ôn tập một số bài hát đã học ở lớp 4. – Đựơc học 12 bài hát, trong đó có 02 bài dân ca (1 bài dân ca Khơ me Nam Bộ, 1 bài dân ca dân tộc H’rê Tây Nguyên) và một bài hát nhạc nước ngoài (Trung Quốc). Hiểu được nội dung của mỗi bài hát khi đã được học giai điệu. – Hát đúng những ký hiệu trong bài như: dấu luyến hoa mĩ, luyến 2 – 3 âm, biết lấy hơi và giữ hơi khi hát. – Biết thể hiện sắc thái tình cảm của tác phẩm khi trình bày bài hát trước tập thể. Đặc biệt là tạo được sự tự tin khi hát trước đông người từ đó các em mạnh dạn và tự hào hơn. * Về khả năng phát triển Âm nhạc: – Nhận biết một số loại nhạc cụ Việt Nam và một số nhạc cụ nước ngoài. Hiểu biết các ký hiệu như: Dấu nhắc lại, khung thay đổi. – Đọc và tìm hiểu hai truyện kể Âm nhạc: trong đó có một truyện kể về nhạc sĩ thiên tài người Đức đó là nhạc sĩ Bét tô ven; các em được nghe các bài hát dân ca chọn lọc, được làm quen với cách đánh nhịp 2/4. – Hình nốt trắng, nốt đen, nốt móc đơn, dấu lặng đen, dấu lặng đơn. – Biết viết một số nốt nhạc trên khuông. * Về tập đọc nhạc: – Học 8 bài tập đọc nhạc, làm quen với thang 5 âm: Đô Rê Mi Son La.

Cảm nhận được cao độ của các nốt nhạc và nhận biết được vị trí của các nốt nhạc trên khuông nhạc.

GVTH: Nguyễn Thị phương Thảo Trang

5

Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng học tập môn Âm nhạc cho hs lớp 5

– Được hát lời ca của 8 bài tập đọc nhạc khi đã đọc chuẩn về cao độ và tiết tấu.

CHƯƠNG II: CƠ SỞ THỰC TIỄN I. THỰC TRẠNG NHÀ TRƯỜNG VÀ ĐỊA PHƯƠNG. Trường TH Nguyễn Thị Minh Khai có 04 điểm trường, điểm trường chính đóng tại nông trường Cưkpô – Huyện Krông Buk – Đăk Lăk. Trường có tổng số 25 lớp với tổng số học sinh là 630 em. Về đội ngũ cán bộ giáo viên gồm: 39 người. + CB_ GV đạt trình độ chuẩn: 100% + CB_GV đạt trình độ trên chuẩn: 64,1% – Những năm trước đây, do nền kinh tế của địa phương còn nhiều khó khăn dân chủ yếu là làm nông, công nhân cạo mủ cao su, trình độ nhận thức còn nhiều hạn chế sự quan tâm của chính quyền địa phương chưa đúng mực và khó khăn hơn là sự quan tâm của phụ huynh học sinh đối với bộ môn Âm nhạc chưa có. – Cơ sở vật chất chưa có, việc đầu tư trang thiết bị cho môn học còn hạn chế. Do đó việc truyền đạt và giúp các em tiếp thu kiến thức Âm nhạc là hết sức khó khăn, thậm chí những kiến thức đó đến với các em hết sức trừu tượng. Việc truyền thụ các bài hát chỉ qua phương pháp truyền khẩu thuần tuý, ít phát triển khả năng tư duy của các em. Do đó không tạo được sự thu hút, ít gây hứng thú học tập cho các em. II. NGUYÊN NHÂN: * Chủ quan: – Mức độ nhận thức của học sinh vẫn còn rất hạn chế (nhất là ở các điểm trường phân hiệu) đa số chưa hiểu tầm quan trọng của bộ môn. Mặt khác phụ huynh chưa có ý thức quan tâm việc học của con em mình. * Khách quan: – Trường có nhiều cụm lẻ lại cách xa trung tâm nên học sinh ít được giao lưu học hỏi. – Những năm học trước đây việc giảng dạy bộ môn Âm nhạc được giao cho giáo viên đứng lớp giảng dạy, không có giáo viên chuyên biệt. Bên cạnh đó là sự thiếu hụt các phương tiện dạy học, đặc biệt là nhạc cụ, cùng với những phương pháp giảng dạy cũ kỹ, giáo viên lại chưa gần gũi với học sinh. GVTH: Nguyễn Thị phương Thảo Trang

6

Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng học tập môn Âm nhạc cho hs lớp 5

Việc dạy hát và dạy đọc nhạc theo phương pháp truyền miệng khô cứng. Do đó kết quả đạt được là chưa cao, ít gây hứng thú cho các em trong việc học tập và tiếp thu kiến thức của bộ môn. III. ĐIỀU TRA KHẢO SÁT KHỐI LỚP 5: * Điều tra động cơ học tập: Dựa vào cơ sở lý luận đã có cùng với thời gian giảng dạy tạỉ trường Tiểu học Nguyễn Thị Minh Khai, tôi đã tìm hiểu khả năng học tập bộ môn Âm nhạc của học sinh khối lớp 5 tại trường chính có 4 lớp với tổng số: 110 học sinh. Bằng việc quan sát thực tế các giờ học tôi nhận thấy việc tiếp thu các kiến thức Âm nhạc và sự yêu thích học tập bộ môn chỉ rơi vào một số em gọi là có năng khiếu. Còn lại các em khác chỉ học theo bản năng phải học nên ít có sự sáng tạo trong vận dụng kiến thức. Trên cơ sở đặt câu hỏi qua phiếu điều tra trắc nghiệm: Em có thích học bộ môn Âm nhạc không? Vì sao thích? Vì sao không? Kết quả thu đươc như sau: STT

NGUYÊN NHÂN

KẾT QUẢ Tổng số học sinh: 110 em

Do môn Âm nhạc hấp dẫn, dễ học Do môn Âm nhạc khó nhớ, hay quên Do thầy cô dạy hay, dễ hiểu

55/110 HS = 50% 25/110 HS = 22,7% 30/110 HS = 27,3%

* Khảo sát trình độ học sinh: a) Nội dung: Khảo sát chất lượng học tập đầu năm 2009 – 2010 của học sinh qua việc trình bày một bài hát hoặc đọc một bài tập đọc nhạc mà em đã học ở lớp 4. b) Kết quả: Học sinh hát và đọc 1 bài tập đọc nhạc (TĐN) Tổng Hát đúng, đọc đúng Biết hát và đọc số học bài TĐN và trình TĐN nhưng sinh bày diễn cảm. chưa chính xác SL TL SL TL GVTH: Nguyễn Thị phương Thảo Trang

Ghi chú

7

Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng học tập môn Âm nhạc cho hs lớp 5

110

25

22,7%

50

45,5%

35

31,8%

Qua khảo sát chất lượng học tập môn Âm nhạc của học sinh khối lớp 5, với số liệu khảo sát cho thấy chất lượng học tập của các em còn rất yếu. Đây là một khó khăn lớn cho giáo viên trực tiếp giảng dạy bộ môn. Song bằng lòng yêu nghề, nhiệt tình và hiểu biết của mình đúc rút trong nhiều năm giảng dạy tôi tìm tòi và chọn ra biện pháp tối ưu nhằm đem đến cho học sinh một cái nhìn đúng đắn về tầm quan trọng của môn Âm nhạc trong nhà trường và trong

cuộc sống. Từ đó các em mạnh dạn hơn, hiểu biết hơn, nhận thức đúng hơn nhằm nâng cao chất lượng học tập đối với môn Âm nhạc.

CHƯƠNG III: NỘI DUNG ĐỀ TÀI MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HỌC TẬP MÔN ÂM NHẠC CHO HỌC SINH LỚP 5 Trước những khó khăn trên, là giáo viên công tác tại một trường cách xa trung tâm phải nói rằng gặp nhiều khó khăn. Tuy nhiên, bằng lòng yêu nghề mến trẻ tôi đã tìm tòi, nghiên cứu và tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến học sinh học yếu môn Âm nhạc trong nhà trường. Từ đó tôi mạnh dạn đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng học tập môn Âm nhạc cho học sinh khối lớp 5. Cụ thể các giải pháp được thực hiện như sau: I. GIẢI PHÁP THỨ NHẤT: Gây tình thương, tạo sự tự tin, tránh mặc sự cảm. Về phía học sinh tôi luôn yêu quý các em như con của mình, tận tình, ân cần, luôn theo dõi và gần gũi đối với các em chưa biết hát, chưa biết đọc tập đọc nhạc hoặc đọc sai quá nhiều. Tôi thường xuyên nhắc nhở giảng giải cho các em hiểu và nắm bắt nội dung trong giờ học Âm nhạc. Điều quan trọng nhất là tránh trường hợp tạo ra khoảng cách giữa giáo viên và học sinh. Sau khi đã hướng dẫn xong tôi hát và đọc cho các em thực 8 GVTH: Nguyễn Thị phương Thảo Trang

Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng học tập môn Âm nhạc cho hs lớp 5

hiện lại, kết quả có tiến bộ và tốt hơn trước rất nhiều. Ở đây điều quan trọng là tôi luôn tạo niềm tin cho các em, tránh sự bi quan, mặc cảm. Luôn tạo cho lớp học một không khí thoải mái, vui tươi; xây dựng tinh thần đoàn kết giúp đỡ nhau để các bạn yếu tiến bộ dần trong học tập và theo kịp với các bạn học khá trong lớp. Ví dụ: Qua những tiết có nội dung kể chuyện, ngoài việc kể cho học sinh nghe tôi còn lồng ghép thêm một vài động tác phụ họa, hài hước theo cốt truyện để tạo sự vui tươi hứng khởi và sự tập trung chú ý của học sinh. Qua đó

các em cảm nhận nhận được nội dung câu chuyện kể và thích thú hơn khi được học Âm nhạc. II. GIẢI PHÁP THỨ HAI: Tìm hiểu đối tượng học sinh Trong chương trình dạy học Âm nhạc nhằm đảm bảo kết quả việc tiếp thu và vận dụng lý thuyết vào hoạt động thực tiễn. Khi dạy hát, tập đọc nhạc, giáo viên là người cung cấp kiến thức mới cần tiến hành theo một số thao tác tư duy để kích thích hứng thú tìm hiểu, thể hiện, giúp học sinh nắm chắc cảm âm và tìm ra cách trình bày đúng đắn nhất. Tránh áp đặt máy móc những quy tắc mà học sinh chưa được gợi mở suy nghĩ để thực hiện một cách tự giác. Vì đối tượng ở đây là học sinh vùng II lại cách xa trung tâm gia đình còn khó khăn, nên rất khó khăn đối với các em trong tất cả các môn học nói chung, môn Âm nhạc nói riêng. Từ đó tôi luôn dẫn dắt từng bước để các em hiểu được yêu cầu của bài hát, bài tập đọc nhạc đồng thời không nên áp đặt làm cho các em sẽ chán nản và dẫn đến sẽ nghỉ học khi có tiết Âm nhạc. Ví dụ: Những tiết ôn hát (tiết 8, 17, 28, 33, 34 SGK Âm nhạc 5) kiểu bài rèn luyện kỹ năng, năng khiếu trình bày trên cơ sở thực hiện việc chuyển đổi hiện tượng âm thanh và phối hợp vận động phụ họa (tiếp nhận qua thị giác và thính giác). Nên giáo viên cần thể hiện mẫu, học sinh nghe – nhìn và thực hiện theo đầy đủ với tốc độ đã được định hình từ tiết học trước. Còn trong quá trình hoạt động vận động phụ họa thì phải phối hợp nhịp nhàng, chính xác nên yêu cầu giáo viên cần thực hiện mẫu từ chậm đến nhanh để phù hợp với mức độ tiếp thu của từng đối tượng học sinh. III. GIẢI PHÁP THỨ BA: Phân loại đối tượng học sinh Đây là một giải pháp quan trọng, người giáo viên cần xây dựng đôi bạn cùng tiến giúp đỡ nhau trong học tập. Tôi cho những em học khá hơn (hát và đọc hay hơn, trình bày đúng hơn) giúp đỡ các bạn còn yếu trong học tập. GVTH: Nguyễn Thị phương Thảo Trang

9

Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng học tập môn Âm nhạc cho hs lớp 5

Trường hợp có những em học quá yếu thì tôi trực tiếp hướng dẫn chi tiết, cụ thể hơn, sau đó phân chia nhóm từng loại đối tượng theo mức độ tiếp thu bài. Ví dụ: Những tiết học hát (gồm 12 tiết), sau khi truyền thụ cho học sinh hát hết bài hát tôi chia lớp thành nhiều nhóm, chọn những học sinh khá cùng phụ trách nhóm giúp đỡ các bạn học sinh học yếu khắc phục những chỗ chưa thực hiện đúng. Sau đó kết hợp cho nhận xét chéo nhóm và giáo viên tuyên dương những nhóm thực hiện đúng nhất. Với cách làm này luôn thu hút được sự tập trung cao độ của học sinh trong giờ học, từ đó các em dần hình thành được kĩ năng hát – đọc nhạc và cảm nhận âm thanh trong Âm nhạc.

Ví dụ: Đối với những tiết có nội dung Tập đọc nhạc. Trước tiên tôi sắp xếp học sinh (học sinh khá ngồi giữa những học sinh trung bình và yếu) để các em có sự hỗ trợ cảm âm từ “giọng đọc” của những bạn học khá. Khi các em đã được học về cao độ và tiết tấu tôi cho đọc thầm 1 lần sau đó đọc theo nhóm và kết hợp nhận xét chéo nhóm – Giáo viên nhận xét tuyên dương đồng thời động viên những nhóm đọc chưa đúng. Trong quá trình đọc nhạc tôi luôn là sự hỗ trợ cho các em những chỗ khó, luôn thể hiện sự quan tâm, ân cần và gẫn gũi để các em hứng thú hơn trong học tập và không bị phân tán tư tưởng. IV. GIẢI PHÁP THỨ TƯ: Quan hệ với gia đình học sinh và xã hội Đứng trước tình hình học sinh lơ là và học yếu môn Âm nhạc, đó cũng là một nỗi lo âu cho người giáo viên đang trực tiếp giảng dạy trong nhà trường. Tôi đã tìm hiểu và đưa ra rất nhiều phương pháp để giúp cho các em học tốt hơn, tiến bộ hơn. – Luôn tạo mối quan hệ thân thiết, sự gần gũi giữa thầy và trò với mục đích nhằm nâng cao chất lượng học tập cho các em, giúp các em có được nền tảng cho những lớp sau. – Tôi gặp một số phụ huynh và trao đổi về tình hình học tập của các em cho phụ huynh biết, (ví dụ như: các buổi họp phụ huynh) tâm sự cùng phụ huynh để phụ huynh hiểu được tầm quan trọng của bộ môn và có biện pháp nhắc nhở giáo dục con em cố gắng trong học tập. Đồng thời tôi hướng dẫn cho các em tạo một góc học tập ở nhà. Từ đó không những nâng cao chất lượng môn Âm nhạc mà các môn học khác cũng tiến bộ hơn nhiều. Ngoài ra, tôi còn liên hệ với chính quyền địa phương, Hội trưởng hội PHHS của các lớp nhắc nhở tạo điều kiện cho con em các gia đình khó khăn được đến trường học tập nhằm tránh sự kì thị đối với các em học sinh có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn. GVTH: Nguyễn Thị phương Thảo Trang

10

Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng học tập môn Âm nhạc cho hs lớp 5

CHƯƠNG IV: KẾT QUẢ VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM I. KẾT QUẢ. 1. Đối với giáo viên: – Trong tiết dạy việc truyền thụ kiến thức cho học sinh trở nên nhẹ nhàng, không nặng nề như trước vì giáo viên chỉ đóng vai trò người hướng dẫn, dìu dắt và học sinh làm trung tâm. – Xây dựng được lớp học năng động, có tính tập thể cao, cùng đoàn kết học tập, tiết học đạt kết quả. Qua đó giáo viên hiểu rõ được năng khiếu và tâm lý của từng em, có biện pháp uốn nắn kịp thời.

– Được các em tin tưởng, trao đổi, giải quyết một số khó khăn khi học hát cũng như học tập đọc nhạc. – Thật sự Âm nhạc được nhìn nhận không phải là môn học phụ mà nó là một môn giúp học sinh tiến tới cái “chân – thiện – mỹ” phát triển toàn diện về thể và chất của các em. – Đặc biệt hơn là nâng cao được ý thức học tập và chất lượng học tập môn Âm nhạc cho học sinh trong toàn khối 5. Từ đó giáo viên có được sự hứng khởi hơn khi bước chân lên bục giảng. 2. Đối với học sinh: Sau khi thực hiện đề tài kết quả đạt được đối với học sinh là: – Qua mỗi tiết lên lớp học sinh rất vui, hứng thú hơn vì thầy cô giáo giảng dạy nhiệt tình, quan tâm đến học sinh, hiểu được tâm tư nguyện vọng của học sinh. Chất lượng học tập môn Âm nhạc tiến bộ hơn rất nhiều so với đầu năm học. – Các em được học, được chơi, được vận động và được hiểu biết nhiều hơn so với một số môn khác. Nắm chắc nội dung và cách trình bày mỗi bài hát, mỗi bài tập đọc nhạc. Hiểu biết thêm một số nhạc cụ nước ngoài và được nghe thầy cô giáo kể chuyện, hiểu được các câu chuyện kể.  Cụ thể kết quả đến cuối học kì I đạt được như sau: Tổng Xếp loại học lực học kì I – Môn âm nhạc khối lớp 5 Học sinh Học sinh Học sinh số học hoàn thành tốt hoàn thành chưa hoàn thành sinh + (Loại A ). (Loại A). (Loại B). GVTH: Nguyễn Thị phương Thảo Trang

Ghi chú

11

Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng học tập môn Âm nhạc cho hs lớp 5

36 HS

TL

SL

32,8%

74 HS

II. BÀI HỌC KINH NGHIỆM. – Chuẩn bị chu đáo đồ dùng dạy học (có đồ dùng tự làm), câu hỏi tình huống, trò chơi Âm nhạc, băng đĩa, tranh ảnh, nhạc cụ và các tài liệu liên quan. Sử dụng đúng và đủ đồ dùng dạy học cho tiết lên lớp.

– Trước khi lên lớp, giáo viên cần nghiên cứu kĩ bài, lựa chọn phương pháp nào có thể truyền đạt kiến thức cho học sinh hay nhất, hiệu quả nhất, sinh động nhất để sử dụng trong tiết dạy. – Cần tiến hành luân phiên nhiều phương pháp, linh động trong việc sử dụng phương pháp. Bám sát đối tượng học sinh, tổ chức lớp học không thụ động mà cần mang tính khoa học cao. Luôn tạo một không khí thoải mái cho học sinh trong mọi giờ học. – Không kỳ thị với những học sinh yếu và học sinh có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn hay dị tật mà cần động viên và gẫn gũi hơn giúp các em tự tin để học tập tiến bộ. – Chú ý những học sinh yếu kém, khuyết tật để có hướng bồi dưỡng và biện pháp khắc phục kịp thời. – Phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu của từng em, tạo mọi điều kiện để học sinh được thể hiện năng khiếu của mình trước tập thể.

C. PHẦN KẾT THÚC I. KẾT LUẬN: Chất lượng học tập bộ môn là điều mà tất cả giáo viên cần quan tâm. Nó góp phần cho sự phát triển toàn diện đối với học sinh trong trường phổ thông. Hơn nữa, Âm nhạc là một nhu cầu không thể thiếu trong đời sống tinh thần của mỗi con người. Nên việc dạy Âm nhạc cho học sinh là tạo môi trường cho các em được hát, được hoạt động, được nhận thức, được cảm thụ Âm nhạc và một số kiến thức phổ thông về Âm nhạc. Tất cả những yếu tố đó sẽ mang lại cho các em một kiến thức Âm nhạc tối thiểu nhất. Việc tạo không khí vui tươi, thoải mái trong giờ học nhằm nâng cao chất lượng học tập cho học sinh là 12 GVTH: Nguyễn Thị phương Thảo Trang

Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng học tập môn Âm nhạc cho hs lớp 5

Tiết 13 ÔN TẬP BÀI HÁT: ƯỚC MƠ TẬP ĐỌC NHẠC : TĐN SỐ 4 I. MỤC TIÊU: – HS thuộc lời ca, hát đúng giai điệu, tiết tấu và thể hiện tình cảm thiết tha, trìu mến của bài hát. Trình bày bài một cách sinh động trước lớp. – Đọc đúng cao độ, trường độ các nốt trong bài TĐN số 4, biết ghép lời ca với nhạc, và gõ theo tiết tấu. GVTH: Nguyễn Thị phương Thảo Trang

13

Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng học tập môn Âm nhạc cho hs lớp 5

II. CHUẨN BỊ: – Giáo viên: + Một số động tác phụ hoạ bài hát. + Đàn điện tử. Bảng phụ bài tập đọc nhạc số 4: Nhớ ơn Bác. – Học sinh : + Nhạc cụ gõ. + Vở ghi bài. III. CÁC HOẠT ĐỘNG DẠY – HỌC: Hoạt đông của giáo viên 1. Kiểm tra bài cũ: (4 phút). – Bài: Ước mơ. – GV đàn cao độ, HS khởi động giọng. – GV dạo đàn, HS hát lại bài hát (1 lần) – Gọi 2 HS hát. – GV nhận xét, đánh giá. 2. Bài mới: – Giới thiệu bài (1 phút) – GV giới thiệu bài học gồm 2 nội dung: – GV ghi đầu bài lên bảng. + Hoạt động 1: Ôn tập bài hát: Ước mơ (15 phút) . + Câu hỏi: Em hãy cho biết nhạc và lời bài hát Ước mơ, lời ca của bài hát nói lên điều gì? – GV dạo đàn, HS hát lại bài (1 lần) – GV đàn, hát và sửa lỗi cho HS. – Dạo đàn, HS hát (cả lớp, từng dãy, cá nhân ) – GV nêu y/c, dạo đàn, hát gõ đệm theo nhịp, phách.(1 lần) – GV dạo đàn, HS hát vận động theo nhịp đàn (1 lần). GVTH: Nguyễn Thị phương Thảo Trang

Hoạt động của học sinh – Học sinh thực hiện. Mi – Ma – Mô

– Học sinh lắng nghe. + Ôn tập bài hát: Ước mơ + Tập đọc nhạc số 4: Nhớ ơn Bác.

– Học sinh trả lời. Nhạc: Trung Quốc Lời việt: An Hoà. – Học sinh thực hiện.

Gió vờn cánh hoa bay dưới trời… X

x

x

x

14

Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng học tập môn Âm nhạc cho hs lớp 5

– GV gợi ý, để HS tự nghĩ động tác phụ hoạ. – Gọi từng em lên đơn ca biểu diễn bài hát trước lớp. – Gọi từng nhóm lên trình bày bài trước lớp (HS, GV nhận xét). – Nhận xét- Tuyên dương. + Hoạt động 2: Tập đọc nhạc số 4: Nhớ ơn Bác. (13 phút) – GV treo bảng phụ và tranh bài TĐN số 4. – Nêu y/c, HS nhận xét bài TĐN. – GV đàn thang âm, HS đọc theo(2 lần) – Luyện cao độ:

– Học sinh tập động tác phụ hoạ – Học sinh thực hiện. – Các nhóm thi đua biểu diễn bài hát.

+ Nhịp 2/4. – Học sinh thực hiện. + Gồm các nốt : Đô, Rê, Mi, Son, La, – GV nêu y/c hướng dẫn HS thực hiện (Đố) tiết tấu. – Luyện tiết tấu: + Về tiết tấu : Móc đơn, nốt đen, nốt trắng – HS thực hiện (2 lần) – GV đàn bài TĐN. – Học sinh lắng nghe. – GV tập bài TĐN, HS đọc theo đàn từng câu (2 lần). – Học sinh thực hiện. – Bắt nhịp, gõ phách cho HS đọc (1 lần) – GV sửa lỗi. TĐN SỐ 4: Nhớ ơn Bác – GV đàn bài TĐN, HS đọc cùng đàn Nhạc và lời: Phan Huỳnh Điểu – Gọi từng nhóm đọc. Vừa phải – GV nêu y/c, HS tự ghép lời ca. – GV bắt nhịp, HS hát lời ca kết hợp gõ đêm nhạc cụ. – Gọi HS đọc bài theo nhóm, cá nhân ( GV nhận xét, động viên HS) GVTH: Nguyễn Thị phương Thảo Trang

15

Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng học tập môn Âm nhạc cho hs lớp 5

3. Củng cố dặn dò: (2 phút) – GV nhắc lại nội dung bài học. – Nhận xét giờ học – Nhắc HS về hoc bài.

– Học sinh thực hiện theo : Lớp, dãy, cá nhân. – Học sinh lắng nghe. – Về nhà học bài.

Giáo viên thực hiện

Nguyễn Thị Phương Thảo

ĐÁNH GIÁ CỦA HĐKH CẤP TRƯỜNG

ĐÁNH GIÁ CỦA HĐKH PHÒNG GD&ĐT GVTH: Nguyễn Thị phương Thảo Trang

16

Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng học tập môn Âm nhạc cho hs lớp 5

GVTH: Nguyễn Thị phương Thảo Trang

17

Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng học tập môn Âm nhạc cho hs lớp 5

A – Phần mở đầu I. Lý do chọn đề tài II. Mục đích nghiên cứu III. Đối tượng nghiên cứu IV. Phương pháp nghiên cứu V. Ý nghĩa thực tiễn B – Phần nội dung Chương I: Cơ sở lí luận

I. Mục tiêu chung II. Đặc thù chương trình môn Âm nhạc lớp 5

Chương II: Cơ sở thực tiễn

5

I. Thực trạng nhà trường và địa phương II. Nguyên nhân III. Điều tra khảo sát học sinh khối lớp 5

Chương III: Nội dung đề tài: “Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng học tập môn Âm nhạc cho học sinh lớp 5.

8

I. Giải pháp thứ nhất II. Giải pháp thứ hai III. Giải pháp thứ ba IV. Giải pháp thứ tư

Chương IV: Kết quả và bài học kinh nghiệm

10

I. Kết quả II. Bài học kinh nghiệm

GVTH: Nguyễn Thị phương Thảo Trang

18

Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng học tập môn Âm nhạc cho hs lớp 5

C – Phần kết thúc I. Kết luận II. Kiến nghị và đề xuất

GVTH: Nguyễn Thị phương Thảo Trang

19

Các Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Bộ Môn Toán

CÁC BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HỌC SINH YẾU, KÉM MÔN TOÁNI. Bối cảnh chất lượng bộ môn toán đầu năm học 2008-2009 của nhà trường và những nguyên nhân. Qua khảo sát chất lượng đầu năm học ở bộ môn toán các khối lớp từ 6 đến 9 có kết quả cụ thể như sau:

Với con số đã nêu kết hợp với thực tế nắm bắt phần nào phản ánh chất lượng bộ môn toán vẫn còn thấp, chưa đáp ứng được yêu cầu của nhà trường và phụ huynh. Sở dĩ chất lượng đầu vào có tỉ lệ thấp như vậy là do nhiều nguyên nhân. Có thể nêu ra đây một số nguyên nhân để cùng tham khảo. 1. Đặc điểm rõ nét nhất của ngôi trường THCS Chu Văn An là ngôi trường đặt ở vị trí không trung tâm, đường sá đi lại không thuận lợi, cơ sở vật chất còn thiếu thốn lại ở cạnh 2 ngôi trường lớp có điều kiện thuận lợi hơn về nhiều mặt. Bên cạnh đó dự án trường sắp chuyển đi nơi khác phần nào gây tâm lý hoang mang nên sức thu hút học sinh ngày càng giảm sút. Đặc biệt số học sinh giỏi ở trường Lê Văn Tám chuyển đi nơi khác ngày càng nhiều gây ảnh hưởng không ít đến chất lượng mũi ngọn cũng như tạo hạt nhân cho phong trào thi đua học tốt của nhà trường. 2. Trên địa bàn Phường An Sơn có một số khu dân cư do đặc điểm nghề nghiệp nên việc quan tâm đến việc học tập của con em cũng chưa cao, môi trường sinh hoạt cũng phần nào ảnh hưởng đến việc học tập của các em. Trường thu hút con em thuộc địa bàn (khu Bến Sạn, làng giết mổ An Thổ, nay lại thêm các tụ điểm vui chơi Karaoke, bi da, café, các quán nhậu mọc lên rất nhiều trên địa bàn phường). 3. Chất lượng đầu vào lớp 6 còn thấp. Trình trạng ngồi nhầm lớp vẫn còn làm ảnh hưởng đến việc tiếp thu kiến thức của các em. 4. Một số học sinh có hoàn cảnh đặc biệt về hạnh phúc gia đình, về hoàn cảnh kinh tế. Một số phụ huynh chưa thực sự quan tâm đến việc học tập của con em mình. 5. Một bộ phận học sinh chưa xác định được động cơ, thái độ học tập, chưa thực sự có tinh thần vượt khó, vươn lên mà còn chây lười, thụ động trong học tập. 6. Do đặc điểm của môn toán là bộ môn suy luận loogic, nó đòi hỏi học sinh không những phải nắm vững kiếm thức về định nghĩa, định lý, hệ quả, tính chất, quy tắc,… một cách cơ bản có hệ thống mà còn phải biết suy luận, phân tích, tổng hợp, lập luận. Nói chung, là bộ môn hơi khó học nên tỉ lệ học sinh yếu kém tương đối cao so với các môn khác. 7. Một số em vì nhiều lí do khác nhau đã hỏng kiến thức cũ, nay lại phải tiếp thu kiến thức mới nên rất vất vả, đâm ra chán nãn, chây lười, quậy phá dẫn đến chất lượng yếu kém.8. Về phần giáo viên: Một bộ phận giáo viên vẫn chưa theo kịp với yêu cầu đổi mới phương pháp giáo dục nên việc dạy học ở một số tiết chưa thực sự có chất lượng.II. Những giải pháp mà nhóm đã thực hiện nhằm từng bước nâng cao chất lượng học sinh yếu kém môn toán. Qua thực tế tình hình chất lượng, nhóm đã suy nghĩ, đánh giá và bàn bạc biện pháp để từng bước nâng cao chất lượng yếu kém bộ môn toán, cụ thể như sau: 1. Ngay từ đầu năm học các giáo viên bộ môn điều tra, nắm chắc đối tượng học sinh yếu kém môn toán của lớp mình đang giảng dạy là bao nhiêu? Phối hợp với giáo viên chủ nhiệm để phân loại đặc điểm từng đối tượng: Yếu do hoàn cảnh gia đình? Yếu do hỏng kiến thức cũ? Yếu do lười học? Yếu do trí tuệ hạn chế? Yếu vì ảnh hưởng môi trường bạn bè? Để có thái độ và biện pháp thích hợp. 2. Trên cơ sở điểu tra phân loại ban đầu mà giáo viên có cách nhìn nhận và thái độ ứng xử cho phù hợp: Nhẹ nhàng, bảo ban, động viên, khích lệ đối với các em có hoàn cảnh đặc biệt hoặc mất căn bản, đồng thời nghiêm nghị, cứng rắn đối với các em chây lười, quậy phá với mục đích chung là để các em phấn khởi, tin tưởng và nổ lực trong học tập. 3. Trong giảng dạy nói chung và trong từng bài học cụ thể, phải có sự chú ý giúp đỡ đối tượng yếu, kém thông qua câu hỏi gợi mở, bài tập (công việc này phải thực hiện ngay trong thiết kế bài giảng, và ngay cả kiểm tra bài cũ cũng có những câu hỏi dành cho học sinh yếu kém để động viên, diều dắt các em. 4. Thường xuyên động viên, hướng dẫn các em cần phải nắm vững lý thuyết, vì kiến thức toán học là môn suy luận loogic nếu không nắm vững hệ thống lý thuyết thì không thể hiểu được khi nghe giảng chứ chưa nói gì việc giải bài toán. Để làm được việc này thì giáo viên cần giúp đỡ học sinh cách học dễ ghi nhớ, dễ thuộc, lâu quên. Có thể là như: Công thức thì luôn ghi nhiều nơi ở nhà để lúc nào cũng đập vào mắt buộc phải nhớ hoặc ghi vào sổ tay bỏ túi thỉnh thoảng mở ra xem dù bất cứ ở đâu. Học định lý thì phải vẽ hình, từ hình vẽ tưởng tượng đó để suy luận xây dựng thành lời, thỉnh thoảng giáo viên còn cung cấp thơ vui để các em dễ nhớ, dễ vận dụng. 5. Giáo viên cần cung cấp cho học sinh quy trình các bước giải một bài toán. B1: Tìm hiểu về bài toán: Đọc thật kỹ đề toán. Cú ý các chi tiết nổi bậc, khắc sâu từng ý cơ bản là lưu ý mối quan hệ của chúng. B2: Tìm lời giải: Xét xem bài toán thuộc dạng nào? Phương pháp chứng minh ra sao? B3: Thực hiện lời giảng: Trình bày bài viết lập luận của mình B4: Kiểm tra lại bài giải và thử tìm xem phương pháp khác để giải bài toán trên hoặc phát triển một bài toán mới từ bài toán đã cho. Đặc biệt khi giảng dạy hình học ta cần hướng dẫn các em phương pháp chứng minh bằng con đường phân tích đi lên một cách có hệ thống. Trước tiên bằng câu hỏi tổng quát dành cho học sinh giỏi, sau đó triển khai phương pháp bằng một loạt câu hỏi dẫn dắt để học sinh yếu kém tham gia xây dựng theo cơ sở phân tích. Tiếp theo yêu cầu đối tượng khá giỏi trình bày bài toán giải bằng lời và cuối cùng cho đối tượng cho đối tượng yếu kém trình bày lại bài viết để lớp nhận xét, bổ sung. Thực hiện theo quy trình này tuy mất thời gian nhưng thà rằng làm ít mà chắc, phục vụ nhiều cho đối tượng yếu, kém còn hơn là dạy nhiều nhưng chỉ phục vụ cho học sinh khá, giỏi. Do vậy, bài tập cần nghiên cứu phân dạng để rồi mỗi dạng chỉ giải một bài mẫu, các bài còn lại học sinh về nhà làm tương tự theo cách đã giải. 6. Giáo viên cần chú ý và coi trọng bước hướng dẫn về nhà. Để giúp cho học sinh yếu, kém có thể tiếp thu bài mới thì giáo viên cần nghiên cứu kỹ nội dung bài mới và đề ra các yêu cầu cần thiết để học sinh chuẩn bị. Ví dụ: Khi chuẩn bị bài dạy “Góc có đỉnh bên trong và ngoài đường tròn” thì yêu cầu học sinh về học lại tính chất góc ngoài của một tam giác ở hình học 7, tính chất góc nội tiếp ở hình học 9. Có như thế thì việc hiểu được chứng minh định lý của bài trên đối với học sinh yếu, kém là dễ dàng. Nếu không có hướng dẫn trước thì các em không biết chuẩn bị điều gì và dẫn đến việc tiếp thu bài mới rất khó khăn. 7. Giáo viên bộ môn kết hợp với giáo viên chủ nhiệm để phân đôi bạn học tập hoặc nhóm bạn học tập (cơ cấu có đối tượng khá, giỏi và yếu, kém với nhau) trong đó chú ý giao nhiệm vụ cho các học sinh khá, giỏi giúp đỡ học sinh yếu kém và cần thiết đề ra các biện pháp cụ thể để thúc đẩy việc hoạt động của các nhóm có hiệu quả. Ví dụ: khi được kiểm tra đối tượng yếu, kém của nhóm mà không thuộc bài hoặc chưa làm bài thì cả nhóm cùng liên đới chịu trách nhiệm). Có như thế các em mới nhắc nhở, giúp đỡ nhau tích cực. 8. Giáo viên cần tận dụng các tiết phụ đạo hoặc bám sát để củng cố, hệ thống, ôn tập lại các kiến thức đã học. Cung cấp cho các em phương pháp chứng minh. Việc này rất cần thiết đối với học sinh yếu, kém. Và đây cũng là dịp để giáo viên tháo gỡ những băn khoăn, thắc mắc của học sinh, muốn vậy đòi hỏi giáo viên phải phân giải, thân thiện để các em mạnh dạn tỏ bày những trăn trở trong việc học toán (giáo viên nên động viên khuyến khích các đối tượng yếu, kém hỏi.Việc tháo gỡ được nhiều thắc mắc này cho các em xem như một thành công lớn của một tiết dạy bằng các hình thức phong phú để tạo không khí vui vẻ, thỏa mái, thích thú trong học tập (Chú ý các tiết sinh hoạt này nhằm đế các đối tượng yếu, kém là chính để đảm bảo mục đích từng bước nâng cao chất lượng học toán của học sinh yếu kém). 9. Giáo viên thỉnh thoảng liên hệ với phụ huynh qua điện thoại (Ghi chép ở giáo viên chủ nhiệm) những trường hợp cần thiết nhằm mục đích phối hợp để giáo dục tốt. (nếu đối tượng có nhiều tiến bộ đáng khen thì báo phụ huynh biết để mừng và tiếp tục động viên – nếu đối tượng chậm tiến bộ, ì ạch, chây lười thì cũng báo để phụ huynh biết và cùng phối kết hợp nhắc nhở, động viên, giáo dục thích đáng hơn).III. Kết luận: Với những công việc là cụ thể bằng những biện pháp tích hợp nêu trên, chúng tôi nhận thấy chất lượng học tập của học sinh yếu kém môn toán từng bước có chuyển biến, tiến bộ. Một số em đã từng lo sợ môn học này, nay lại có khuynh hướng thích học. Từng bước gây được không khí ham học, tỷ lệ yếu, kém giảm dần. Chất lượng thống kê cuối năm 2008-2009 cho thấy điều đó.

IV. Những bài học kinh nghiệm: Qua kinh nghiệm nhiều năm giảng dạy, bằng các việc làm cụ thể, bằng biện pháp thích hợp, chúng tôi rút ra được một số kinh nghiệm để nâng cao chất lượng học sinh yếu kém môn toán như sau: 1. Phải yêu nghề, mến trẻ, luôn tận tâm với công việc, hết lòng hết sức với học sinh thân yêu. 2. Luôn khơi dậy và phát triển năng lực tự học, nhằm hình thành tư duy tích cực, độc lập sáng tạo, nâng cao năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề ở học sinh. 3. Kết hợp chặt chẻ giữa ôn bài cũ, giảng bài mới, rèn luyện kỹ năng tư duy, phương pháp học tập, từng bước nâng cao năng lực lập luận, phân tích, tổng hợp cho học sinh. 4. Tăng cường học tập cá thể với học tập nhóm, phải có mối quan hệ hợp tác giữa cá nhân trên con đường tìm tòi, phát hiện kiến thức mới. 5. Phát huy vai trò chủ động của học sinh, phát triển kỹ năng tự đánh giá để tự điều chỉnh, nhận xét, góp ý cách phát biểu, cách làm bài của bạn, trách vấp phải sai lầm, tìm nguyên nhân sai lầm và nêu cách sửa chữa. 6. Giáo viên cần phải chuẩn bị bài kỹ, phân loại các bài tập, phân loại phương pháp giải, phân loại theo mức độ phát triển tư duy. 7. Giáo viên dạy toán cần quán triệt tinh thần “Tư duy quan trọng hơn kiến thức; nắm vững phương pháp hơn thuộc lý thuyết, dạy cách suy nghĩ, cách tư duy, cách phân tích, cách tổng hợp và thường xuyên cung cấp cho các em phương pháp học toán”