Giải Pháp Già Hóa Dân Số Ở Việt Nam / TOP #10 ❤️ Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 10/2022 ❣️ Top View | Phauthuatthankinh.edu.vn

Già Hóa Dân Số Ở Việt Nam: Một Góc Nhìn Khác

Chính Sách An Sinh Xã Hội Đối Với Già Hóa Dân Số Ở Việt Nam

Chăm Sóc Người Cao Tuổi

Dân Số Nhật Bản Đang Già Hóa, Người Nhật Đang Có Giải Pháp Tăng Dân Số

Kinh Tế Nhật Bản Trước Vấn Đề Dân Số Già

Vật Lộn Với Dân Số Già, Nhật Cảnh Báo Các Nước Trước Khi Quá Muộn

Già hóa dân số trên thế giới, trong một quốc gia hay vùng lãnh thổ không chỉ là vấn đề y tế hay an sinh xã hội, mà trước hết đó còn là vấn đề kinh tế nếu tốc độ già hóa quá nhanh. Điều này đôi khi được gọi là “già hóa siêu tốc” và kết quả là tỷ số phụ thuộc già tăng nhanh đáng kể. Vậy làm thế nào để giải quyết “vấn đề dân số già” trong dài hạn mà không phải nâng mức sinh, cũng không khuyến khích nhập cư.

Chấp nhận xu hướng dân số già hóa

Tại hầu hết quốc gia trên thế giới, người dân sống lâu hơn và khỏe mạnh hơn so với một thế kỷ trước. Tuổi thọ tăng lên cùng với quá trình giảm sinh dẫn tới già hóa dân số, có nghĩa là số lượng người lớn tuổi ngày càng tăng ở các quốc gia (đặc biệt là ở các nước phát triển) so với số lượng dân số trẻ hơn trong độ tuổi làm việc – những người được coi là sẽ “hỗ trợ” người lớn tuổi khi về già.

Theo Luật người cao tuổi Việt Nam, người cao tuổi (NCT) là công dân Việt Nam từ 60 tuổi trở lên. Nhóm dân số 60+ tăng hơn 50%, từ 6,1 triệu người năm 1990 lên 9,4 triệu vào năm 2014 và chiếm tỷ trọng ngày càng tăng trong tổng dân số, tương ứng từ 8% lên 10,4% (TCTK, 2014). Việt Nam đã chính thức bước vào giai đoạn “già hóa dân số” từ năm 2011.

Tuy nhiên, khi xem xét vấn đề già hóa dân số có hai vấn đề ít được quan tâm. Thứ nhất, những người trẻ tuổi rồi cũng sẽ già và cần được hỗ trợ. Thứ hai, việc tăng mức sinh để trì hoãn già hóa sẽ dẫn đến tăng dân số. Vì vậy, không có sự lựa chọn nào khác là phải chấp nhận và “chào đón” dân số già.

Thay đổi cách nhìn nhận về ngưỡng tuổi già

Hiện nay, trên toàn thế giới con người có cuộc sống khỏe mạnh hơn và sống lâu hơn. Việt Nam cũng không nằm ngoài xu hướng phát triển chung đó. Trong vòng 30 năm kể từ 1979, tuổi thọ tăng từ 66,1 tuổi lên 73,2 tuổi năm 2009. Kết quả là cùng với giảm mức sinh, số lượng và tỷ lệ NCT tăng nhanh.

Khi phân tích về già hóa, có thể chia dân số già thành 2 nhóm, 60-69 tuổi và 70+. Số liệu cho thấy, tỷ lệ dân số nhóm 60-69 tuổi không biến động nhiều nhưng tỷ lệ người 70+ tăng gấp 2 lần, từ 2,8% năm 1979 lên 4,5% năm 2009. Như vậy, càng ngày càng có nhiều người “sống thọ” hơn.

Thế nào là người cao tuổi? Điều này hoàn toàn phụ thuộc quan niệm của mỗi cá nhân. Tuy nhiên, xem xét sự biến đổi tuổi thọ có thể thấy tuổi thọ tăng lên nhanh chóng trong thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI và sẽ tiếp tục tăng, vì vậy cần xác định lại “ngưỡng tuổi già”.

Xác định lại tỷ số phụ thuộc trên thực tế Về góc độ dân số, hàm ý về tỷ số phụ thuộc là số dân ngoài độ tuổi làm việc (cả phụ thuộc trẻ và già) chia cho dân số trong độ tuổi lao động (LĐ) – nhóm mà về mặt lý thuyết được gọi là nhóm hỗ trợ. Tỷ số hỗ trợ tuổi già là dân số trong độ tuổi làm việc chia cho dân số trên độ tuổi làm việc.

Người phụ thuộc rơi vào nhiều loại, bao gồm những người cần nuôi dưỡng, chăm sóc và cả những người bệnh, tàn tật, thất nghiệp…vv. Có nhiều quy ước về người phụ thuộc nhưng hai nhóm đơn giản thường được các nhà nhân khẩu học sử dụng: Người phụ thuộc trẻ là những người trong độ tuổi 0-14 và người phụ thuộc già là những người 65 tuổi trở lên (TCTK, 2011). Những người ở độ tuổi 15-64 được coi là người hỗ trợ tiềm năng.

Bảng 1. Tỷ số phụ thuộc ở Việt Nam, 1989-2013

Nguồn: TCTK, Điều tra biến động DS-KHHGĐ 2013.

*Tính toán từ Tổng điều tra dân số 1979.

Tỷ số phụ thuộc chung của nước ta có xu hướng giảm nhanh, từ 86,6% năm 1979 xuống 46,0% năm 2013. Do giảm mức sinh dẫn đến giảm tỷ số phụ thuộc trẻ. Bên cạnh đó, tuổi thọ tăng nên tỷ số phụ thuộc già tăng. Tuy nhiên, kết quả trên mới chỉ thể hiện tỷ số phụ thuộc theo quyước. Để xem xét mức phụ thuộc thực tế cần so sánh số người thực sự tham gia lực lượng lao động (LLLĐ) với nhóm dân số tuổi 15-64.

Quy mô dân số 15-64 tuổi và lực lượng lao động (LLLĐ) tăng trong suốt những năm qua, mặc dù sự khác biệt về số lượng giữa 2 nhóm này giảm dần nhưng vẫn rất lớn. Năm 2009, LLLĐ ít hơn quy mô dân số 15-64 gần 10 triệu người thì tới năm 2013, con số này vẫn còn tới 8,4 triệu. Nếu tính riêng tỷ số phụ thuộc của nhóm không tham gia hoạt động kinh tế (HĐKT) so với LLLĐ thì con số này cao hơn gần 1,5 lần so với tỷ số phụ thuộc tính toán theo quy ước được công bố (tương ứng 67,8 so với 46,0 năm 2013). Như vậy, tỷ số phụ thuộc thực tế cao hơn rất nhiều so với tính toán theo quy ước.

Giảm tỷ số phụ thuộc

Để đối phó với già hóa dân số, có thể tăng mức sinh, tuy nhiên cũng phải chờ ít nhất sau 15 năm số người ra nhập LLLĐ mới tăng lên, điều này có thể làm giảm phụ thuộc già trong tương lai nhưng ngay lập tức lại làm tăng phụ thuộc trẻ và kéo theo hậu quả là quy mô dân số gia tăng.

Khuyến khích những người trong độ tuổi LĐ nhập cư sẽ làm giảm phụ thuộc nhưng chính người nhập cư cũng già đi, trừ khi là họ bị buộc phải rời khỏi đất nước trước khi đến tuổi nghỉ hưu. Đây là chính sách nhập khẩu LĐ mà một số quốc gia có dân số già chiếm tỷ lệ cao như châu Âu hay Nhật Bản, Hàn Quốc đang áp dụng. Việt Nam hiện đang là quốc gia xuất khẩu LĐ.

Nếu người LĐ là người di cư nội địa, khi họ đến tuổi nghỉ hưu trở về quê sẽ làm tăng tỷ số phụ thuộc già cục bộ tại nơi xuất cư, suy rộng trên bình diện quốc gia thì vấn đề dân số già vẫn không được giải quyết.

Vậy làm thế nào để giảm tỷ số phụ thuộc, đặc biệt là tỷ số phụ thuộc già ở Việt Nam? Thúc đẩy nhập cư hoặc tăng mức sinh cao hơn để duy trì một tỷ số phụ thuộc ổn định là không bền vững và phản tác dụng vì các yếu tố này đều làm tăng dân số và cuối cùng cũng vẫn sẽ làm tăng số lượng người phụ thuộc trong tương lai.

Theo thời gian, dường như không phụ thuộc vào quy định về tuổi nghỉ hưu vẫn có một số lượng lớn người trên 60 tuổi (theo quy ước được gọi là già), đặc biệt là nhóm “già cận trên” (60-64) tham gia HĐKT và chiếm tỷ lệ ngày càng tăng trong LLLĐ.

Trong những năm gần đây số người ở nhóm tuổi 60-64 tham gia HĐKT ở Việt Nam có xu hướng tăng nhanh. Năm 2009 mới chỉ có 1,33 triệu người ở nhóm tuổi 60-64 tham gia LLLĐ, đến năm 2013 con số này đã tăng lên 2,14 triệu, chiếm tỷ lệ tương ứng 2,7% và 4% trong LLLĐ. Có thể thấy, nhóm 60-64 tham gia HĐKT không ngừng tăng cả về số tuyệt đối lẫn tương đối và không có lý do gì để quá trình này không nên tiếp tục, cùng với việc kéo dài thời gian làm việc sẽ góp phần giải quyết “vấn đề” già hóa dân số.

Một trong những tác động tiêu cực làm gia tăng tỷ số phụ thuộc thực tế là thất nghiệp và thiếu việc làm. Trong giai đoạn 2009-2013, số người thiếu việc làm giảm nhanh nhưng số người thất nghiệp chỉ giảm nhẹ. Hiện nay Việt Nam vẫn có khoảng trên 1 triệu người thất nghiệp và 1,3 triệu người thiếu việc làm (Bảng 2).

Bảng 2. Số người thất nghiệp và thiếu việc làm, Việt Nam, 2009-2013 Đơn vị tính: Triệu người

Nguồn: TCTK, Điều tra lao động-việc làm 2009-2013.

Như vậy, cùng với việc khuyến khích NCT tham gia HĐKT, đặc biệt là những người có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao, góp phần duy trì số lượng lao động trong nền kinh tế thì tạo việc làm nhằm xóa bỏ tình trạng thiếu việc làm và giảm thiểu thất nghiệp cũng là những giải pháp góp phần giảm tỷ số phụ thuộc chung bao gồm cả phụ thuộc già.

Điều chỉnh lương hưu và mức đóng bảo hiểm xã hội một cách thận trọng

Cùng với tuổi thọ cao hơn, tỷ lệ người phụ thuộc già sẽ tăng lên, nhưng có một cuộc sống khỏe mạnh hơn là thành tựu chứ không phải làgánh nặng. Phần lớn những quan ngại gần đây về “vấn đề từ dân số già” thường chỉ tập trung vào một phần của bức tranh, chẳng hạn như chi phí lương hưu. Vấn đề là liệu những năm sống tăng thêm cần được hỗ trợ về tài chính của người già có được đảm bảo không?

Thách thức đối với bảo hiểm xã hội (BHXH) là tình hình tài chính sẽ không bền vững nếu an sinh xã hội, chăm sóc và chi tiêu y tế khác, cùng với các khoản thanh toán của Chính phủ không được kiểm soát. Việc tăng tuổi thọ hiện tại và trong vài thập kỷ tới không phải là khó để dự đoán, nhưng nhiều chuyên gia tính toán bảo hiểm và trợ cấp hưu trí luôn thất bại trong việc xác định mức trích nộp lương hưu cần phải có cho các quỹ hưu trí.

Đứng trước nguy cơ vỡ Quỹ Bảo hiểm xã hội (BHXH) do già hóa dân số (Ngọc Dung, Vĩnh Tùng, 2014), đã có rất nhiều đề xuất như giảm mức chi trả lương hưu và tăng tuổi nghỉ hưu. Mới đây nhất, Quốc hội đã ban hành Luật BHXH ngày 20/11/2014, với một số giải pháp cơ bản là giảm mức chi trả lương hưu và quy định mức trần đóng bảo hiểm. Đây là điểm ưu việt của Luật BHXH mới khi “Quy định mức trần để tránh chênh lệch quá xa giữa những người nghỉ hưu”, theo như nhận định của ông Đỗ Văn Sinh, Phó giám đốc BHXH Việt Nam (Thùy Dung, 2014).

Có thể thấy, chính sách BHXH của Việt Nam đã hình thành mặc dù chưa đủ nhanh và lại không phải xuất phát từ dư lợi nguồn LĐ mà do áp lực của việc vỡ quỹ bảo hiểm, vì vậy trong quá trình thực thi nhằm giải quyết vấn đề già hóa dân số, nếu thấy cần vẫn phải điều chỉnh lại chính sách.

– Già hóa dân số sẽ tạo thêm áp lực lên công tác chăm sóc sức khỏe NCT (gánh nặng bệnh tật), hệ thống an sinh xã hội và phát triển kinh tế. Thách thức do dân số già không thể được giải quyết bằng cách tăng dân số vĩnh viễn, vì dân số cứ tiếp tục tăng là không thể trong một thế giới hữu hạn.

– Có thể trì hoãn già hóa và ổn định dân số bằng cách khuyến khích tỷ lệ sinh cao hơn hoặc tăng nhập cư, tuy nhiên, trì hoãn một dân số đang già hóa là cả một “vấn đề” và có khả năng sẽ làm cho nó tồi tệ hơn bởi việc bổ sung những người trẻ tuổi sau này khi họ về già cũng sẽ làm tăng số người phụ thuộc. Người trẻ hôm nay sẽ trở thành người già trong tương lai và do đó LLLĐ của ngày hôm nay sẽ là người phụ thuộc của ngày mai.

– Quan niệm về sự phụ thuộc già về kinh tế tập trung quá hẹp vào tỷ lệ NCT trong dân số, trong khi phụ thuộc của các nhóm không HĐKT khác đã bị bỏ qua.

– Tăng tỷ số “hỗ trợ” của LLLĐ cho người phụ thuộc có thể được cải thiện đáng kể bằng cách giải quyết vấn đề thất nghiệp và thiếu việc làm, khuyến khích NCT có khả năng LĐ tiếp tục tham gia HĐKT và tăng tuổi hưu trí phù hợp trong bối cảnh tuổi thọ tăng. Điều này cũng sẽ làm giảm bớt thâm hụt lương hưu.

– Đối với một số người LĐ, đặc biệt là những người có mức lương thấp và sức khỏe bị hao mòn bởi những năm tháng LĐ nặng nhọc dẫn tới tăng chi phí khám chữa bệnh sau khi nghỉ hưu thì lương hưu sau này sẽ có vẻ đi ngược lại lời hứa. Giải pháp về vấn đề già hoá dân số cần phải linh hoạt và nhân đạo.

– Ngọc Dung, Vĩnh Tùng (2014). Tăng tuổi nghỉ hưu để né vỡ quỹ BHXH. – Thùy Dung (2014). Giảm lương hưu để cân đối quỹ BHXH.

– ADB (2012). Pension systems in East and Southeast Asia: Promoting fairness and sustainability.

http://nld.com.vn/cong-doan/tang-tuoi-nghi-huu-de-ne-vo-quy-bhxh-20140513220742666.htm. Truy cập ngày 5/9/2015.

– Quốc hội (2014). Luật Bảo hiểm xã hội

http://www.thesaigontimes.vn/121957/Giam-luong-huu-de-can-doi-quy-BHXH-(!).html. Truy cập ngày 5/9/2015. – UN (2013). World population ageing 2103, page 11.

– UNFPA (2011). Già hóa dân số và người cao tuổi ở Việt Nam: Thực trạng, dự báo và một số khuyến nghị chính sách. Trang 17.

Từ Xu Hướng Già Hóa Dân Số Nhanh Ở Việt Nam Cơ Hội Và Thách Thức

Ứng Phó Với Thực Trạng Già Hóa Dân Số: Việt Nam Đang “già” Rất Nhanh

Mẫu Hợp Đồng Xây Dựng Tiếng Anh

Tạo Môi Trường Tiếng Anh

Kính Xây Dựng Tiếng Anh Là Gì

Già Hóa Dân Số Ở Nhật Bản

Giải Quyết Vấn Nạn Dân Số Già

Già Hóa Dân Số Tại Nhật

Biến Đổi Khí Hậu Là Gì Biện Pháp Khắc Phục Biến Đổi Khí Hậu Tại Việt Nam

Biến Đổi Khí Hậu Và Biện Pháp Khắc Phục Biến Đổi Khí Hậu Ở Nước Ta Hiện Nay

Giải Pháp Kinh Doanh Hiệu Quả Thời Khủng Hoảng (Phần 1)

Tổng quan dân số Nhật

Nhật Bản là nước có tuổi thọ trung bình cao nhất thế giới

Nhật Bản là một trong những quốc gia có tuổi thọ dân số trung bình cao nhất trên thế giới. Tại Nhật có hơn 58.000 người trên 100 tuổi làm cho đất nước này đứng đầu trên thế giới về số người sống thọ trên 80 tuổi. Sự trường thọ của những người Nhật Bản là do chế độ ăn uống lành mạnh, chuyên tâm tập luyện thể dục thể thao, cùng điều kiện sống trong lành, sạch sẽ.

https://www.dkn.tv/suc-khoe/diem-danh-15-quoc-gia-co-tuoi-tho-cao-nhat-the-gioi-noi-dung-dau-dang-o-nhiem-khong-khi-nghiem-trong.html

Phân bố độ tuổi của Nhật hiện nay

Số liệu dân số của Nhật Bản theo độ tuổi (ước lượng):

16.585.533 thanh thiếu niên < 15 tuổi (8.515.836 nam / 8.070.960 nữ)

80.886.544 người từ 15 – 64 tuổi (40.787.040 nam / 40.099.504 nữ)

https://danso.org/nhat-ban/

Đặc điểm dân số Nhật Bản

Độ tuổi lao động giảm dần

Một trong những đặc điểm dân số của người dân Nhật đó là những người trong độ tuổi lao động giảm dần. Nguyên nhân dẫn đến tình trạng này đó là do vấn đề già hóa dân số ở Nhật Bản. Vấn đề độ tuổi lao động giảm dần dẫn đến hệ lụy đó là tạo thành gánh nặng cho nền kinh tế khiến cho nước Nhật phải đau đầu giải quyết vấn đề này. Nguyên nhân già hóa dân số ở Nhật Bản là do số người cao tuổi đang ngày càng tăng.

Tỷ lệ dân số phụ thuộc theo độ tuổi cao

Tổng tỷ lệ của dân số phụ thuộc tại Nhật Bản vào năm 2022 đó là 68,3%.

Tỷ lệ trẻ em phụ thuộc:

Tỷ lệ trẻ em phụ thuộc là tỷ lệ của những người dưới độ tuổi lao động <15 tuổi so với lực lượng lao động ở một quốc gia nào đó.

Tỷ lệ trẻ em phụ thuộc tại Nhật Bản hiện nay là 21,5%.

Tỷ lệ người cao tuổi phụ thuộc

Tỷ lệ người cao tuổi phụ thuộc tại Nhật Bản là 46,8%.

https://danso.org/nhat-ban/

Tình trạng người cao tuổi chưa được nghỉ hưu

Với vấn đề dân số già hóa ở Nhật dẫn đến nhiều hậu quả già hóa dân số ở Nhật đòi hỏi chính phủ nhật cần có các hành động triệt để, lâu dài. Mới đây thì chính phủ Nhật đã đề xuất dự thảo với mục tiêu đưa Nhật Bản nơi những người lao động từ 65 tuổi sẽ được khuyến khích nhằm giữ gìn sức khỏe, tiếp tục làm việc để giảm áp lực về lương hưu. Cùng theo dự thảo mới này thì cho phép người dân được trì hoãn thời điểm nghỉ hưu tới 70 tuổi và chính phủ cũng khuyến khích họ tiếp tục làm việc khi đã nghỉ hưu khi sức khỏe cho phép. Hiện nay độ tuổi nghỉ hưu chính thức ở Nhật là 65 tuổi nhưng thực tế các doanh nghiệp tư nhân cũng như doanh nghiệp Nhà nước bắt đầu để lao động cao tuổi có quyền được chọn thời điểm nghỉ hưu từ 60 – 70 tuổi.

Giải pháp

Định hướng phát triển với quy mô dân số tầm trung

Giải pháp già hóa dân số ở Nhật Bản đang được đất nước Nhật thực hiện đó là định hướng phát triển với dân số tầm trung. Định hướng này góp phần làm giảm dân số già ở Nhật.

Tăng tỷ lệ sinh

Một giải pháp nữa để khắc phục vấn đề già hóa dân số đó là tăng tỷ lệ sinh.Việc tăng tỷ lệ sinh ở Nhật cũng khiến cho dân số cân bằng hơn. Và hiện tại Nhật Bản đang tích cực thực hiện giải pháp này.

Phụ nữ và người già tham gia nhiều hơn vào thị trường lao động

Vấn đề già hóa dân số ở Nhật đang tạo gánh nặng cho nền kinh tế vì vậy giải pháp được đưa ra đó là những phụ nữ và người già phải tham gia nhiều hơn vào thị trường lao động để giảm bớt gánh nặng này.

Nâng cao năng suất lao động

Hiện một giải pháp nữa đang được Nhật Bản tích cực thực hiện góp phần giải quyết vấn đề già hóa dân số đó là nâng cao năng suất lao động. Việc nâng cao năng suất lao động sẽ giúp tạo ra nhiều của cải hơn bù đắp cho sự thiếu hụt nguồn lao động.

Thu hút lao động nước ngoài

Một giải pháp nữa cho nền kinh tế khi thiếu hụt nguồn nhân lực đó là thu hút lao động từ nước ngoài. Hiện nay thì Nhật Bản đang ngày càng có nhiều chính sách để giúp thu hút những người lao động từ nước ngoài.

Giải Pháp Nào Để Ngăn Chặn Phá Rừng?

Hoạt Động Đại Biểu Quốc Hội

Giải Pháp Khắc Phục Tình Trạng Đốt Rừng Làm Nương Rẫy

Trẻ Không Chịu Bú Bình Và Lời Khuyên Để Con Phát Triển Khỏe Mạnh

Giải Pháp Thông Minh Cho Bé Không Chịu Bú Bình

Từ Xu Hướng Già Hóa Dân Số Nhanh Ở Việt Nam Cơ Hội Và Thách Thức

Già Hóa Dân Số Ở Việt Nam: Một Góc Nhìn Khác

Chính Sách An Sinh Xã Hội Đối Với Già Hóa Dân Số Ở Việt Nam

Chăm Sóc Người Cao Tuổi

Dân Số Nhật Bản Đang Già Hóa, Người Nhật Đang Có Giải Pháp Tăng Dân Số

Kinh Tế Nhật Bản Trước Vấn Đề Dân Số Già

Theo kết quả Tổng điều tra Dân số và Nhà ở (TĐTDS) 2022, tuổi thọ trung bình của người Việt Nam là 73,6 tuổi; trong đó, tuổi thọ của nam giới là 71 tuổi, của nữ giới là 76,3 tuổi. Từ năm 1989 đến nay, tuổi thọ trung bình của Việt Nam liên tục tăng, từ 65,2 tuổi năm 1989 lên 73,6 tuổi năm 2022. Chênh lệch về tuổi thọ trung bình giữa nam và nữ qua hai cuộc Tổng điều tra gần nhất hầu như không thay đổi, duy trì ở mức khoảng 5,4 năm.

Năm 1960, tuổi thọ bình quân của dân số thế giới là 48,0 tuổi, của dân số Việt Nam là 40,0 tuổi, thấp hơn tuổi thọ bình quân của thế giới 8 tuổi, nếu tính theo mức tăng tuổi thọ bình quân cao nhất là 0,1 tuổi/năm thì cần khoảng 80 năm để tuổi thọ bình quân của Việt Nam tăng lên bằng mức chung của thế giới. Năm 2022, tuổi thọ bình quân của dân số thế giới là 72,0 tuổi, của dân số Việt Nam đã là 73,6 tuổi, cao hơn tuổi thọ bình quân của thế giới 1,6 tuổi. Nếu cũng tính theo mức tăng tuổi thọ bình quân cao nhất là 0,1 tuổi/năm thì dân số Việt Nam đã già hóa dân số hơn dân số thế giới khoảng 16 năm. Như vậy tổng thời gian dân số Việt Nam già hóa nhanh so với mức chung của thế giới là khoảng 96 năm.

Tổng số hộ dân cư trên cả nước là 26.870.079 hộ, tăng 4,4 triệu hộ so với cùng thời điểm tổng điều tra dân số năm 2009. Bình quân mỗi hộ có 3,6 người/hộ, thấp hơn 0,2 người/hộ so với năm 2009. Trong giai đoạn 2009 – 2022, tỷ lệ tăng bình quân số hộ dân cư là 1,8%/năm, thấp hơn 1,2 điểm phần trăm so với giai đoạn 1999 – 2009 và là giai đoạn có tỷ lệ tăng số hộ dân cư thấp nhất trong vòng 40 năm qua. Quy mô hộ ít người sẽ là một trong những thách thức lớn cho mô hình chăm sóc người cao tuổi dựa vào gia đình và cộng đồng.

Cơ cấu dân số theo nhóm tuổi và giới tính phản ánh bức tranh tổng quát về sự biến đổi dân số và được mô tả bằng tháp dân số. Tháp dân số không chỉ cung cấp các thông tin khái quát về cơ cấu tuổi và giới tính của dân số vào thời điểm xác định mà còn sử dụng để đánh giá sự chuyển dịch cấu trúc dân số qua các năm; bề rộng của nhóm tuổi trẻ nhất (đáy tháp) phản ánh sự tăng hay giảm của mức sinh so với những năm trước, trong khi bề rộng của nhóm tuổi cao nhất (đỉnh tháp) phản ánh sự thay đổi hay xu hướng già hóa dân số. Tháp dân số so sánh giữa 2009 và 2022 cho thấy, những thanh trên đỉnh của tháp dân số 2022, từ nhóm 70-74 tuổi trở lên cho thấy rõ xu thế tăng lên, điều này khẳng định xu thế dân số già hóa nhanh ở Việt Nam.

Cần xây dựng đồng bộ Đề án Chăm sóc sức khỏe người cao tuổi trong tổng thể của Chiến lược dân số Việt Nam đến 2030: Già hóa dân số phản ánh quá trình chuyển đổi cơ cấu dân số theo hướng tăng tỷ trọng dân số già, được thể hiện qua chỉ số già hóa. Tại Việt Nam, do sự biến đổi về cơ cấu tuổi của dân số theo xu hướng tỷ trọng của trẻ em dưới 15 tuổi giảm và tỷ trọng của dân số từ 60 tuổi trở lên tăng đã làm cho chỉ số già hóa có xu hướng tăng lên nhanh chóng trong hai thập kỷ qua: Chỉ số già hóa năm 2022 là 48,8%, tăng 13,3 điểm phần trăm so với năm 2009 và tăng hơn hai lần so với năm 1999. Chỉ số già hóa có xu hướng tiếp tục tăng lên trong những năm sắp tới. Đồng bằng sông Cửu Long và Đồng bằng sông Hồng là hai vùng có chỉ số già hóa cao nhất cả nước (tương ứng là 58,5% và là 57,4%). Tây Nguyên là nơi có chỉ số già hóa thấp nhất so với các vùng còn lại trên cả nước (28,1%).

Thực hiện Nghị quyết số 137/NQ-CP của Chính phủ về kế hoạch thực hiện Nghị quyết 21 NQ/TW của Hội nghị lần thứ 6 khóa XII về Công tác dân số trong tình hình mới, Đề án Chăm sóc sức khỏe người cao tuổi đến 2030 cần được xây dựng đồng bộ, trong tổng thể của Chiến lược dân số Việt Nam đến 2030 và Chiến lược gia đình Việt Nam đến 2030.

Theo kết quả Tổng điều tra Dân số và Nhà ở 2022, tổng số dân của Việt Nam là 96.208.984 người, trong đó, dân số nam là 47.881.061 người, chiếm 49,8% và dân số nữ là 48.327.923 người, chiếm 50,2%.

Theo kết quả điều tra biến động dân số 2022 của Tổng cục Thống kê (công bố chính thức tháng 6/2019) tỷ lệ NCT 60+ là 12,7%, như vậy ước tính số NCT của Việt Nam năm 2022 đã lên đến 12,22 triệu người. Tỷ lệ NCT 65+ là 8,3%, ước tính số NCT từ 65 tuổi trở lên năm 2022 là 7,99 triệu người. Việt Nam là quốc gia đông dân thứ ba trong khu vực Đông Nam Á (sau Indonesia và Philippnes) và thứ 15 trên thế giới. Sau 10 năm (2009-2019), quy mô dân số Việt Nam tăng thêm 10,4 triệu người. Tỷ lệ tăng dân số bình quân năm giai đoạn 2009 – 2022 là 1,14%/năm, giảm nhẹ so với giai đoạn 1999 – 2009 (1,18%/năm).

TS Nguyễn Quốc Anh

Ứng Phó Với Thực Trạng Già Hóa Dân Số: Việt Nam Đang “già” Rất Nhanh

Mẫu Hợp Đồng Xây Dựng Tiếng Anh

Tạo Môi Trường Tiếng Anh

Kính Xây Dựng Tiếng Anh Là Gì

Hướng Dẫn Mẫu Trình Bày Đề Tài Sáng Kiến Kinh Nghiệm Đối Với Cc, Vc (Pht, Gv, Nv) “hoàn Thành Xuất Sắc Nhiệm Vụ” Năm Học 2022

Áp Lực Và Giải Pháp Cho Dân Số Già Hóa

Thế Giới Kiểm Soát Dân Số Bằng Cách Nào?

Luận Văn Luận Văn Biện Pháp Gia Tăng Vốn Tự Có Của Các Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần Tại Việt Nam

Các Giải Pháp Cho Doanh Nghiệp Để Phát Triển Thị Trường

7 Biện Pháp Quản Lý, Điều Hành, Bình Ổn Giá Trong Năm 2022

Một Số Giải Pháp Marketing Nhằm Nâng Cao Hiệu Quả Hoạt Động Bán Hàng Công Ty Cổ Phần Siêu Thanh Hà Nội

(SK&MT) – Châu Á là khu vực có dân số đang già đi nhanh hơn bất kỳ nơi nào trên thế giới. Dân số già sẽ khiến khu vực này phải tiêu tốn 20.000 tỷ USD cho chăm sóc y tế đến năm 2030.Đây là đánh giá được đưa ra trong báo cáo mới được công bố của Trung tâm nghiên cứu rủi ro châu Á – Thái Bình Dương có trụ sở tại Singapore.

Theo báo cáo, đến năm 2030, sẽ có 511 triệu người cao tuổi ở khu vực châu Á trên tổng số 3,8 tỷ dân. Nhật Bản sẽ là quốc gia siêu già với tỷ lệ người già chiếm 28% dân số, trong khi 1/5 dân số ở Hong Kong, Hàn Quốc và Đài Loan sẽ ở tuổi 65.Báo cáo thu thập dữ liệu tại 14 quốc gia và vùng lãnh thổ trong đó có Việt Nam, cho biết, các hệ thống y tế, doanh nghiệp và các gia đình ở khu vực châu Á Thái Bình Dương sẽ đứng trước áp lực lớn khi người trong độ tuổi lao động giảm trong khi người cao tuổi tăng.

Sự bùng nổ dân số ở nhiều nước châu Á – Thái Bình Dương trong mấy thập kỷ qua đã tạo nên nguồn lao động lớn, từ đó dần thúc đẩy năng suất và nâng cao thu nhập. Nhưng xu hướng đó giờ đang đảo chiều khi những người sinh ra trong giai đoạn bùng nổ dân số đó ngày càng trở nên già đi, đặt gánh nặng chăm sóc cho thế hệ sau.

Theo thống kê, hiện nay trên thế giới có gần 7 tỷ người và 1/9 trong số này là người từ 60 tuổi trở lên. Theo dự báo, đến năm 2050 dân số thế giới đạt 9,2 tỷ người và tỷ lệ người từ 60 tuổi trở lên sẽ là 1/5, nghĩa là cứ 5 người thì có một người cao tuổi.

Năm 1950, toàn thế giới có 205 triệu người từ 60 tuổi trở lên. Dự tính con số này sẽ đạt 1 tỷ người trong vòng gần 10 năm nữa và đến năm 2050 sẽ tăng gấp đôi là 2 tỷ người. Có sự khác biệt lớn giữa các vùng. Ví dụ, năm 2012, Châu Phi có 6 % dân số tuổi từ 60 trở lên, trong khi con số này ở Châu Mỹ La Tinh và vùng biển Caribe là 10%, ở Châu Á là 11%, 5 Số người từ 60 tuổi trở lên: Toàn thế giới, các nước phát triển, các nước đang phát triển, 1950-2050 Châu Đại dương là 15%, Nam Mỹ là 19% và Châu Âu là 22%. Đến năm 2050, dự báo tỷ trọng người cao tuổi từ 60 tuổi trở lên ở Châu Phi sẽ tăng lên chiếm 10% tổng dân số, so với 24% ở Châu Á, 24% ở Châu Đại dương, 25% ở Châu Mỹ Latinh và vùng biển Caribe, 27% ở Nam Mỹ và 34% ở Châu Âu.

Theo Liên hợp quốc, già hóa dân số đang diễn ra ở tất cả các châu lục và các quốc gia trên toàn thế giới với tốc độ khác nhau. Già hóa dân số đang tăng nhanh ở các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam. Chẳng hạn, tỷ lệ người già trong tổng số dân của Hàn Quốc tăng từ 7% lên 14% chỉ mất có 18 năm, ở Nhật Bản mất 24 năm, thì ở Thụy Điển mất 85 năm, ở Mỹ mất 73 năm… Tương tự như vậy, để tỷ lệ người già tăng từ 14%- 20% Hàn Quốc chỉ mất có 8 năm, Nhật Bản là 12 năm, thì ở Thụy Điển – 39 năm và Mỹ- 21 năm.

Già hóa dân số cũng tạo ra thách thức về mặt kinh tế, xã hội và văn hóa ở các cấp độ cá nhân, gia đình, cộng đồng và xã hội trên toàn thế giới. Thách thức lớn nhất là thay đổi cơ cấu lao động, tỷ lệ người ở độ tuổi cao (từ 45-60 tuổi) sẽ tăng lên và tỷ lệ gia nhập thị trường lao động sẽ có xu hướng giảm đi và như vậy, để đáp ứng nhu cầu nhân lực cho nền kinh tế, các nước phải sử dụng lao động già hơn (đồng nghĩa với việc tăng tuổi nghỉ hưu để có thêm nhân lực cho nền kinh tế). Về mặt kinh tế, già hóa dân số và dân số già có ảnh hưởng kép đến nền kinh tế. Một mặt, năng suất lao động của nhóm tuổi cao sẽ kém hơn so với các nhóm tuổi trẻ khác trong lực lượng lao động, dẫn đến thu nhập của nền kinh tế nói chung và của từng gia đình nói riêng bị ảnh hưởng. Điều này dẫn đến hệ lụy là những người trẻ tuổi phải làm việc nhiều hơn để bù đắp thiếu hụt thu nhập của gia đình. Mặt khác, chi phí chăm sóc y tế và các phúc lợi khác cho người cao tuổi tăng lên, ảnh hưởng đến đầu tư cho phát triển. Về mặt xã hội, trong một xã hội dân số già, các vấn đề xã hội sẽ phát sinh như quan hệ giữa các thế hệ, sự chăm sóc cho người già của từng gia đình và xã hội… sẽ là những vấn đề các quốc gia phải quan tâm.

Tại cuộc họp tổ chức ngày 26/ 5/ 2022, Tổ chức tế Thế giới (WHO) đã thông qua Chiến lược toàn cầu và Kế hoạch Hành động về người cao tuổi trong đó đề ra những hành động cần thiết nhằm bảo đảm cho tất cả người cao tuổi ở mọi nơi có thể sống lâu và mạnh khỏe. Kế hoạch Hành động đặt ra 2 mục tiêu chính, đó là tập trung hỗ trợ để tất cả người già có thể tự làm được những việc quan trọng với họ, và thu thập các bằng chứng, tìm kiếm hợp tác để chuẩn bị cho “Thập kỷ của Già hóa khỏe mạnh” sẽ bắt đầu từ năm 2022.

Việc thông qua Chiến lược toàn cầu và Kế hoạch hành động đánh dấu một mốc thực sự quan trọng để bảo đảm cho tất cả mọi người già ở bất cứ đâu có thể sống lâu và khỏe mạnh./.

Linh Đức

Tốc Độ Gia Tăng Dân Số Của Việt Nam Đã Được Khống Chế

Lúa Gạo Chuyển Gen ‘giải Pháp Cho Sự Gia Tăng Dân Số’

Giải Pháp Khi Đối Thủ Cạnh Tranh Giảm Giá

Chiến Lược Định Giá Sản Phẩm Trong Kinh Doanh Bán Lẻ(P2)

Giải Pháp Phát Triển Sản Phẩm Du Lịch Nhằm Tăng Sức Hấp Dẫn Và Sức Cạnh Tranh Cho Du Lịch Hà Nội

🌟 Home
🌟 Top