Giải Pháp Cho Nền Kinh Tế Việt Nam Hiện Nay / 2023 / Top 20 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 12/2022 # Top View | Phauthuatthankinh.edu.vn

Đề Tài Chiến Lược Xây Dựng Và Giải Pháp Chủ Yếu Cho Nền Kinh Tế Tri Thức Của Việt Nam Hiện Nay / 2023

MỤC LỤC A – Mở đầu 2 B – Nội dung 3 I – Những khái niệm và vấn đề cơ bản. 3 1. Nền kinh tế tri thức là gì? 3 2. Một số đặc trưng chủ yếu của nền kinh tế tri thức. 4 II – Chiến lược xây dựng nền kinh tế tri thức ở Việt Nam trong quá trình công nghiệp hóa hiện nay. 7 1.Những thời cơ và thách thức. 7 2.Những thành công và thất bại trong bước đầu xây dựng nền kinh tế tri thức ở nước ta. 9 III.Giải pháp chủ yếu cho nền kinh tế tri thức của Việt Nam hiện nay. 14 1.Phải có chủ trương, chính sách phát triển hợp lý. 14 2.Bồi dưỡng, đào tạo nhân tài, nâng cao dân trí trong chiến lược con người. 15 3.Phát triển khoa học kỹ thuật, đặc biệt là công nghệ thông tin. 16 4.Một nền văn hóa thích hợp với kinh tế tri thức. 17 C.Kết Luận 18 Tài Liệu Tham Khảo 19 A – Mở đầu Từ thập niên 80 thế kỷ XX đến nay , do tác động mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại , đặc biệt là công nghệ thong tin , công nghệ sinh học , công nghệ vật liệu … nền kinh tế thế giới đang biến đổi sâu sắc , nhanh chóng về cơ cấu , chức năng và phương thức hoạt động . Đây là một bước ngoặt lịch sử có ý nghĩa đặc biệt : lực lượng sản xuất xã hội đang chuyển từ kinh tế tài nguyên sang kinh tế tri thức , nền văn minh loài người chuyển từ văn minh công nghiệp sang văn minh trí tuệ. Đặc điểm trên đòi hỏi trong quá trình công nghiệp hóa , hiện đại hóa ở nước ta , nhất thiết phải tranh thủ ứng dụng ngày càng nhiều hơn , ở mức cao hơn và phổ biến hơn những thành tựu công nghệ hiện đại và tri thức mới ; công nghiệp hóa , hiện đại hóa phải gắn với kinh tế tri thức , phát triển mạnh các ngành và sản phẩm kinh tế có giá trị gia tăng cao dựa nhiều vào tri thức , kết hợp việc sử dụng nguồn vốn tri thức của con người Việt Nam với tri thức mới nhất của nhân loại để có thể nhanh chóng rút ngắn khoảng cách với các nước trong khu vực và trên thế giới. Hiện nay , kinh tế tri thức được sự quan tâm của mọi tầng lớp trong xã hội , chính phủ Việt Nam cũng rất chú trọng vào việc phát triển nền kinh tế tri thức.Vậy nền kinh tế tri thức là gì ? Chúng ta cần làm những gì để xây dựng và phát triển được nền kinh tế tri thức ? Đó là những câu hỏi mà em sẽ trả lời trong bài viết này. Em xin cảm ơn chúng tôi Đào Phương Liên đã giúp đỡ em trong quá trình giảng dạy để em có thể hoàn thành được đề tài này. B – Nội dung I – Những khái niệm và vấn đề cơ bản. 1. Nền kinh tế tri thức là gì? Trong thập kỷ cuối cùng của thế kỷ XX có một sản phẩm mới cực kỳ quan trọng , có thể nói là hết sức cơ bản , của thời đại thông tin là nền kinh tế tri thức.Nền kinh tế này đã tạo ra những biến đổi to lớn trong mọi mặt hoạt động của con người và xã hội : đó là cơ sở hạ tầng mới của xã hội mới – xã hội thông tin , khác hẳn nền kinh tế sức người và nền kinh tế tài nguyên của các xã hội trước ( xã hội nông nghiệp và xã hội công nghiệp).Nền kinh tế tri thức là nền kinh tế dựa trên công nghệ cao , đó là nét đặc trưng rất tiêu biểu của nền văn minh thông tin – sản phẩm của cách mạng thông tin , cách mạng tri thức.Nói đến tri thức – sáng tạo tri thức , phổ biến , truyền thụ tri thức , học tập và lĩnh hội tri thức , ứng dụng tri thức – không thể không nói đến khoa học , công nghệ và giáo dục – đào tạo. Tổ chức hợp tác và phát triển (OECD) của Liên hiệp quốc định nghĩa : ” Kinh tế tri thức là nền kinh tế trong đó sự sản sinh ra , phổ cập và sử dụng tri thức giữ vai trò quyết định nhất đối với sự phát triển kinh tế , tạo ra của cải , nâng cao chất lượng cuộc sống”. Nói đơn giản , đó là nền kinh tế dựa vào tri thức. ” Các ngành sản xuất dịch vụ mới do công nghệ cao tạo ra như các dịch vụ khoa học công nghệ , các dịch vụ tin học , các ngành công nghiệp công nghệ cao … được gọi là ngành kinh tế tri thức.Các ngành truyền thống như công nghiệp , nông nghiệp , nếu được cải tạo bằng công nghệ cao , mà giá trị do tri thức mới , công nghệ mới đem lại chiếm trên 2/3 tổng giá trị , thì những ngành ấy cũng là ngành kinh tế tri thức.Nền kinh tế gồm chủ yếu các ngành kinh tế tri thức được gọi là nền kinh tế tri thức” (Trích theo chúng tôi Đặng Hữu ( chủ biên ) ” Cách mạng khoa học công nghệ hiện đại và sự xuất hiện của nền kinh tế tri thức”). 2. Một số đặc trưng chủ yếu của nền kinh tế tri thức. Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại đang tạo nên bộ mặt mới của nền kinh tế , tạo tiền đề hình thành nền kinh tế tri thức và xã hội thông tin, với những nét đặc trưng nổi bật là: a. Vai trò quan trọng của công nghệ cao , đặc biệt là công nghệ thông tin được áp dụng mạnh mẽ trong đó vai trò quan trọng nhất hiện nay là Internet và thương mại điện tử. – Nền kinh tế công nghiệp : dựa chủ yếu vào máy móc , tài nguyên. – Nền kinh tế tri thức : các yếu tố thông tin và tri thứ có vai trò hang đầu.Các ngành công nghệ cao ( công nghệ thông tin , công nghệ sinh hoc , công nghệ tự động hóa , công nghệ vật liệu mới ….) phát triển nhanh chóng và có giá trị gia tăng nhanh. – Nhịp độ tăng GDP trong ngành công nghệ thông tin cao hơn 3- 4 lần nhịp độ tăng tổng GDP ; tốc độ tăng việc làm do công nghệ thông tin tạo ra nhanh hơn từ 14 -16 lần so với toàn bộ các ngành kinh tế còn lại. – Phát triển kinh tế có lien quan nhiều đến sở hữu trí tuệ , sáng tạo va sử dụng thông tin, đặc biệt trong các ngành sản xuất ra các sản phẩm có hàm lượng cao về trí tuệ trên cơ sở đầu tư mạnh mẽ vào vốn con người. b. Khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp. – Điều đầu tiên chúng ta cần khẳng định là lực lượng sản xuất có một bước ngoặt quan trọng trong nền kinh tế tri thức. – Trong nền kinh tế tri thức , lao động sáng tạo là chủ yếu.Các doanh nhân tri thức , các khu công nghệ cao trong đó doanh nhân và nhà khoa học có thể là 1.Thời gian từ kết quả nghiên cứu khoa học đến công nghệ và đua sản phẩm ra thị trường ngày càng rút ngắn: Thế kỷ 19 : 60 – 70 năm; thế kỷ 20 : 30 năm ; riêng thập niên 90 : 3 năm -Thị trường công nghệ mới , sản phẩm mới gia tăng nhanh chóng : Để đạt mức 500 triệu người sử dụng telephone phải mất 74 năm; radio 38 năm; tivi 13 năm ; nhưng Internet chỉ có 3 năm. – Phòng thí nghiệm ,cơ quan khoa học , ngoài nghiên cứu còn mang chức năng sản xuất , kinh doanh. Quá trình đổi mới công nghệ diễn ra còn nhanh hơn cả khả năng thích nghi của con người. -Phát minh khoa học ngày càng nhiều và mở ra khả năng khoa học có thể giải quyết được hầu hết những gì con người muốn làm để phục vụ cho cuộc sống của mình. – Lực lượng sản xuất tinh thần đang chiếm ưu thế và có ý nghĩa quan trọng hơn nhiều so với lực lượng sản xuất vật chất ; tri thức trở thành sản phẩm có giá trị kinh tế cao hơn nhiều so với các sản phẩm vật chất khác, vì nó tạo ra giá trị mới ngày càng chiếm tỷ trọng lớn hơn trong GDP. c.Thời gian để tiến hành công nghiệp hóa được rút ngắn. Nhờ cuộc cách mạng KH&CN mới , những nước nghèo có thể tìm được cơ hội để phát triển , nếu tạo ra được nguồn nhân lực chất lượng cao , tiếp cận được trình độ KH&CN hiện đại. Ở thế kỷ 18 , một nước muốn công nghiệp hóa phải mất khoảng 100 năm; cuối thế kỷ 19 , đầu thế kỷ 20 la khoảng 50 – 60 năm; trong những thập niên 70 -80 la khoang 20 – 30 năm; đến cuối thể kỷ 20 , quãng thời gian nay có thể còn ngắn hơn nữa. Nền kinh tế tri thức nằm trong bối cảnh toàn cầu hóa nên luôn có một sự cạnh tranh quyết liệt , những quá trình hợp tác sẽ có hiệu quả và bổ sung cho nhau , không tách rời nhau. d.Nguồn nhân lực trong xã hội nhanh chóng được trí thức hóa – Con người phải làm việc bằng năng lực trí tuệ là chính , càng không phải chỉ là năng lực thể chất. – Cơ cấu lao động xã hội thay đổi căn bản : nhân lực trong các ngành dịch vụ , đặc biệt là dịch vụ xử lý thông tin và dịch vụ tri thức , tăng nhanh. – Sự cách biệt giàu nghèo về thực chất là sự cách biệt về tri thức và năng lực tạo ra tri thức.Các nước đang phát triển chỉ bằng con đường phát triển KH&CN , giáo dục – đào tạo nhằm tăng nhanh vốn tri thức , mới có thể rút ngắn khoảng cách với các nước phát triển. e.Cơ cấu kinh tế , hình thức tổ chức xã hội thay đổi cơ bản. – Một số cơ cấu tổ chức cũ theo kiểu kim tự tháp biến thành cơ cấu mạng lưới. – Mọi hoạt động chỉ đạo , điều hành của hệ thống tài chính , của các cơ quan xí nghiệp đều thông qua mạng máy tính ( Chính phủ điện tử; thương mại điện tử).Xuất hiện công ty ảo , trường học ảo… – Trò chơi kinh tế ” tổng không” ( thắng – thua) được thay bằng mô hình ” hai bên cùng thắng” thể hiện trong cạnh tranh và hợp tác; chuyển giao công nghệ… – Năng lực kinh doanh và phát hiện , chiếm lĩnh thị trường trong nhiều trường hợp còn quan trọng hơn năng lực sản xuất. f.Sự thách thức về văn hóa Trong nền kinh tế tri thức – xã hội thông tin , văn hóa có điều kiện phát triển nhanh và văn hóa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội.Do thông tin , tri thức bùng nổ , trình độ nền văn hóa nâng cao, nội dung và hình thức các hoạt động văn hóa phong phú đa dạng , nhu cầu thưởng thức văn hóa của người dân nâng cao.Nhờ các phương tiện truyền thông tức thời , đặc biệt là Internet , giao lưu văn hóa hết sức thuận lợi , tạo điều kiện cho các nền văn hóa có thể tiếp thu tinh hoa của nhân loại để phát triển nền văn hóa của mình. g.Xã hội hóa thông tin thúc đẩy sự dân chủ – Thông tin đến với mọi người và họ đều dễ dàng truy cập đến các thông tin cần thiết .Do đó đặt ra vấn đề là phải dân chủ hóa các hoạt động và tổ chức điều hành trong xã hội. – Các tổ chức quản lý cũng thay đổi nhiều.Trong thời đại thông tin , mô hình chỉ huy tập chung , có đẳng cấp là không , mà phải theo mô hình phi đẳng cấp , phi tập trung , mô hình mạng , trong đó tận dụng các quan hệ ngang , thông tin được đến một cách thuận lợi , nhanh chóng đến tất cả mọi nơi , không đi qua các nút sử lý trung gian. II – Chiến lược xây dựng nền kinh tế tri thức ở Việt Nam trong quá trình công nghiệp hóa hiện nay. 1.Những thời cơ và thách thức. Đại hội Đảng lần thứ VIII đã đưa ra chiến lược : ” Đẩy mạnh công nghiệp hóa – hiện đại hóa theo định hướng xã hội chủ nghĩa , xây dựng nền tảng để đến khoảng năm 2020 nước ta về cơ bản trở thành nước công nghiệp”.Nhưng chúng ta không thể rập khuôn theo mô hình công nghiệp hóa mà các nước đi trước đã làm , chúng ta cần hiểu công nghiệp hóa là sự chuyển từ nền kinh tế lạc hậu , năng suất , chất lượng , hiệu quả thấp , dựa vào phương pháp sản xuất nông nghiệp , lao động thủ công là chính sang nền kinh tế có năng suất , chất lượng , hiệu quả cao , theo phương pháp công nghiệp , dựa vào tiến bộ khoa học và công nghệ mới nhất , vì vậy mà công nghiệp hóa phải đi đôi với hiện đại hóa.Như vậy kinh tế tri thức chính là vận hội ngàn vàng để chúng ta đẩy nhanh công nghiệp hóa , hiện đại hóa.Chúng ta phải thực hiện đồng thời 2 nhiệm vụ cực kỳ lớn lao : Chuyển biến từ kinh tế nông nghiệp sang kinh tế công nghiệp và từ kinh tế công nghiệp sang kinh tế tri thức. Việt Nam vừa mới trở thành thành viên của tổ chức thương mại thế giới (WTO) cũng đặt cho nước ta nhiều cơ hội và thách thức: – Chúng ta được tiếp xúc nhiều hơn với nền kinh tế thế giới , có cơ hội được học hỏi kinh nghiệm của các nền kinh tế mạnh trên thế giới. – Các doanh nghiệp Việt Nam sẽ phải cạnh tranh quyết liệt với các doanh nghiệp nước ngoài nếu muốn tồn tại.Đây cũng sẽ là động lực thúc đẩy các doanh nghiệp của ta đổi mới. – Tri thức Việt Nam qua thực tế sẽ học hỏi được nhiều kinh nghiệm mới.Đây là một điều quan trọng để rút ngắn khoảng cách của tri thức nước ta với tri thức các nước phát triển. – Người lao động Việt Nam muốn đáp ứng nhu cầu mới thì phải không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn và phải có vốn ngoại ngữ tốt để phục vụ cho công việc. – Nhiều nhân tài của đất nước ta cũng sẽ dễ mất đi hơn ( chảy máu chất xám) nếu như nước ta không có các chính sách đãi ngộ phù hợp. Chúng ta có thế mạnh về tiềm năng con người , chỉ số phát triển con người (HDI) năm 2005 xếp thứ 108/177 nước.Thực tế chứng minh người Việt Nam có khả năng nắm bắt và làm chủ nhanh các tri thức mới và công nghệ hiện đại.Nhiều ngành mới xây dựng nhờ sử dụng công nghệ mới đã theo kịp trình độ các nước trong khu vực ( bưu chính viễn thông , năng lượng , dầu khí , cầu đường …).Cho nên chúng phải thực hiện chính sách bằng và dựa vào con người , khoa học công nghệ như nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII đã chỉ ra: ” Chiến lược phát triển đất nước ta là chiến lược dựa vào tri thức và thông tin , chiến lược đi tắt , đón đầu với mũi nhọn là công nghệ thông tin”.Vì vậy Việt Nam cần tập trung phát triển công nghệ thông tin để thúc đẩy phát triển và hiện đại hóa các ngành , các lĩnh vực sản xuất dịch vụ , nâng cao hiệu quả tổ chức và quản lý , đồng thời để phát triển các ngành công nghiệp thông tin là những ngành có giá trị gia tăng cao nhất , những ngành trụ cột trong xã hội tương lai.Chúng ta cần tập trung phát triển và đào tạo thế hệ trẻ , đồng thời tìm cách lôi kéo lực lượng người Việt Nam có tri thức , trình độ cao trở về nước công tác. Nền kinh tế của nước ta phải phát triển theo mô hình hai tốc độ : một mặt phải lo phát triển nông nghiệp , nâng cao năng lực sản xuất những ngành công nghiệp cơ bản , lo giải quyết những nhu cầu cơ bản và bức xúc của người dân.Mặt khác đồng thời phải phát triển nhanh những ngành kinh tế dựa vào tri thức và công nghệ cao , nhất là công nghệ thông tin để hiện đại hóa và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế , tạo ngành nghề mới , việc làm mới , đạt tốc độ tăng trưởng cao. 2.Những thành công và thất bại trong bước đầu xây dựng nền kinh tế tri thức ở nước ta. a.Thành công. Ngày càng nhiều ngành nghề đòi hỏi kỹ thuật cao phát triển , cùng với đó là các tập đoàn lớn trong lĩnh vực này xuất hiện.Tiêu biểu nhất chúng ta phải kể đến tập đoàn FPT – tập đoàn công nghệ thông tin lớn nhất Việt Nam.Ngành công nghệ thông tin ngày càng đóng góp nhiều hơn vào ngân sách chung của cả nước. Công nghệ thông tin cũng đã được ứng dụng trong hầu hết các lĩnh vực sản xuất , dịch vụ.Chúng ta cũng đã có các dịch vụ bán hàng qua mạng , tìm kiếm việc trên mạng … Ngoài ra , Đảng Cộng sản Việt Nam cũng đã có trang web riêng có đầy đủ các tin tức về Đảng , các Nghị quyết , chính sách , các bộ luật hiện hành.Ngoài ra việc tham khảo, mọi người còn có thể đóng góp ý kiến của mình thông qua mạng. Người Việt Nam ngày càng có nhiều cơ hội học tập mọi lúc , mọi nơi . Số lượng sinh viên du học ngày càng tăng , đây là lực lượng rất quan trọng cho phát triển kinh tế đất nước sau này.Chúng ta cũng có nhiều nhân tài công nghệ thông tin đang theo học nước ngoài.Đáng kể chúng ta phải nhắc đến Vũ Duy Thức , người đạt giải nhì cuộc thi tin học Mỹ năm 2000 và giải nhất năm chúng tôi vậy đã có tới 7 trường đại học đồng ý cấp học bổng tiến sĩ cho anh sinh viên mới có 22 tuổi này : MIT , Stanford , Carnege Mellon , Berkeley , USC , Washington , Massachusetts Amherst.Ngoài ra , lực lượng học sinh của ta tham gia các cuộc thi học sinh giỏi quốc tế luôn đạt thành tích rất cao. Trình độ lao động của ta ngày càng tăng , nhiều vị trí người lao động của ta đã có thể đảm nhận thay cho việc thuê lao động nước ngoài trước đây.Nhiều Việt kiều đang có xu hướng về nước để phát triển sự nghiệp của mình .Họ là lực lượng rất hùng hậu , họ đã làm việc và tiếp cận với phương pháp quản lý hiện đại , phong cách chuyên nghiệp , có các mối quan hệ tốt. Việc nâng cao dân trí cho người dân nông thôn được thực hiện rất tốt: -Gần 100% tổng số xã đã có điện thoại và điểm bưu điện văn hóa xã.Người dân được sử dụng các dịch vụ bưu chính , viễn thông , được đọc các loại sách , báo , tạp chí về pháp luật, kinh tế , chính trị , văn hóa , khoa học kỹ thuật… -Nhiều người nông dân tiên tiến đã biết sử dụng khoa học công nghệ , internet để phục vụ cho quá trình sản xuất của mình nhằm tăng hiệu quả sản xuất. Viễn thông của ta cũng đạt được những thành tựu đáng kể: -Internet có mặt ở Việt Nam từ năm 1997 , đến nay đã đạt khoảng 2 triệu thuê bao ( đạt mật độ 1,6%).Internet chính là một công cụ quan trọng phục vụ cho quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa ở nước ta hiện nay. -Số lượng người sử dụng điện thoại di động ở Việt Nam ngày càng tăng , đi kèm với đó là các dịch vụ truyền hình di động và internet tốc độ cao cung cấp cho điện thoại di động. -Chúng ta đã lắp đặt được các tuyến cáp quang nội địa và quốc tế đạt tốc độ 240 Gb/s sử dụng công nghệ ghép song WMA , có thể tải được 240000 cuộc điện thoại cùng một lúc.Điều đó cũng đã tạo điều kiện cho nhiều loại hình dịch vụ thông tin như :fax , truyền số liệu , truyền hình di động , đặc biệt tạo môi trường lý tưởng cho internet tốc độ cao. -Đặc biệt chúng ta vừa phóng thành công vệ tinh đầu tiên VINASAT 1.Đây là 1 bước ngoặt cho sự phát triển của nền công nghệ thông tin va truyền thông của ta. -Ngoài ra về tài chính , chúng ta đã có thị trường chứng khoán tuy mới vài năm tuổi còn rất non trẻ xong nó bước đầu khẳng định hướng đi cũng như khả năng hội nhập của Việt Nam trên trường quốc tế. Trong xu thế toàn cầu hóa , nước ta ngày càng mở rộng quan hệ đối ngoại với nhiều quốc gia trên thế giới theo tiêu chí : “Việt Nam sẵn sàng là bạn với tất cả các quốc gia trên thế giới”.Việc gia nhập WTO và tổ chức thành công hội nghị APEC lần thứ 14 (năm 2006) càng chứng tỏ được vị thế của nước ta trên trường quốc tế. Tuy tiếp xúc với các nền văn hóa mới trên thế giới nhưng nền văn hóa Việt Nam vẫn luôn được các nước trên thế giới coi là một nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc. b.Thất bại. Việc tuyên truyền và giáo dục cho mọi người hiểu về kinh tế tri thức ở nước ta vẫn còn hạn chế.Rất nhiều người thậm chí còn chưa hề nghe thấy tên “kinh tế tri thức”. Tuy tăng trưởng kinh tế của nước ta luôn ở mức cao nhưng chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nước ta vẫn còn chậm.Tiến trình cổ phần hóa các doanh nghiệp ở nước ta vẫn còn chậm chạp và gặp nhiều khó khăn.Đây là nguyên nhân chính làm cho nền kinh tế nước ta vẫn còn thiên về đầu tư hữu hình theo kiểu toàn dân, trong khi đó đầu tư vô hình , vốn trí tuệ chưa được quan tâm xây dựng và phát huy đúng mức; một số cơ chế chính sách của ta vẫn còn mang đậm tàn dư của nền kinh tế hoạch hóa tập trung bao cấp. Khả năng giải quyết việc làm của nước ta chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế: mỗi năm nước ta có them khoảng 1,3 triệu lao động mới nhưng chỉ có 1,1 triệu trong số này có được việc làm.Vì vậy , tỉ lệ thất nghiệp ở nước ta đang có xu hướng tăng lên. Nguồn nhân lực – nhân tố quan trọng nhất cho nước ta tiến vào kinh tế tri thức tuy đã được cải thiện những vẫn còn nhiều điều đáng nói: -Hiện nay , Việt Nam có trên 43 triệu lao động nhưng 74,7% chưa được qua đào tạo , số còn lại thì không thật giỏi nghề.Tỉ lệ lao động có trình độ đại học, cao đẳng chỉ chiếm 5,5%. – Những công việc đòi hỏi trình độ cao cấp thì hầu hết chúng ta vẫn phải thuê lao động , chuyên gia nước ngoài. -Xuất khẩu lao động là giải pháp giải quyết việc làm rất có hiệu quả , nhưng nhiều người lao động ở nước ngoài tự ý phá hợp đồng , điều này tạo ra ấn tượng không tốt , làm mất danh tiếng của người lao động Việt Nam đối với bạn bè quốc tế. – Khả năng làm việc theo nhóm của lao động nước ta là rất kém , những việc đòi hỏi sự phối hợp của nhiều người thì hiệu quả thường không bằng được công việc cần 1 hoặc 2 người.Điều này được phản ánh qua câu nói: “1 người Việt Nam hơn 1 người Nhật nhưng 2 người Việt Nam thua 2 người Nhật”. -Nhiều người có được việc làm là nhờ quan hệ , tiền bạc mà không hề có trình độ , tài năng.Nếu những người này được nắm các vị trí quan trọng thì không biết sẽ gây ra những hậu quả gì? Việc đào tạo nguồn nhân lực của ta vẫn còn yếu kém: -Chỉ có 15-20% sinh viên ra trường có thể đáp ứng được yêu cầu của các nhà tuyển dụng.Nhận xét chung của các nhà tuyển dụng đối với sinh viên hiện nay là: ” Thiếu kiến thức, yếu kỹ năng, ứng xử vụng về , mơ hồ về nghề nghiệp, đặc biệt vốn ngoại ngữ thì rất ít người đáp ứng được nhu cầu”.Thậm chí nhiều sinh viên tuy đã học năm thứ 3 ở đại học nhưng khi được hỏi về nghề nghiệp tương lai của mình thì vẫn còn mơ hồ.Điều này chứng tỏ khoảng cách giữa giảng đường và thực tế vẫn còn rất xa xôi và rất khó để thu hẹp khoảng cách này. – Kém ngoại ngữ có lẽ là điều khó chấp nhận nhất đối với sinh viên Việ

Một Số Giải Pháp Phát Triển Kinh Tế Tập Thể Ở Việt Nam Hiện Nay / 2023

(QLNN) – Kinh tế tập thể có vai trò quan trọng trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Kinh tế tập thể tạo ra hàng hóa, việc làm, đóng góp cho sự phát triển GDP của đất nước, đồng thời, tạo ra sự liên kết, hợp tác, tương trợ lẫn nhau để cùng phát triển… Tuy nhiên, hiện nay, kinh tế tập thể phát triển còn chậm, chưa tương xứng với tiềm năng và vị thế trong nền kinh tế. Do đó, cần có giải pháp nhằm phát triển kinh tế tập thể vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh”.

Chủ trương của Đảng trong phát triển kinh tế tập thể

Một trong những nội dung về đổi mới kinh tế tập thể (KTTT) được xác định trong Văn kiện Đại hội XII khác với các văn kiện trước đây là: “Đẩy mạnh liên kết và hợp tác trên cơ sở lợi ích” 1. Thực tiễn đã chứng minh quan điểm của Đảng đưa ra là đúng đắn, sáng tạo.

Bởi vì, trong điều kiện nền kinh tế thị trường hiện nay, cạnh tranh ngày càng gay gắt, quyết liệt, các hộ kinh doanh cá thể nhỏ lẻ với quy mô nhỏ bé, thiếu vốn, khó áp dụng khoa học – công nghệ, thiếu thông tin về thị trường… muốn tồn tại và phát triển thì cần phải liên kết lại với nhau để cùng giúp đỡ nhau phát triển. Quá độ lên chủ nghĩa xã hội từ nền sản xuất hàng hóa nhỏ, lạc hậu, nông dân chiếm đại bộ phận dân cư, chúng ta không thể không phát triển KTTT, trong đó phát triển các hợp tác xã (HTX) làm nòng cốt.

Trong quá trình phát triển KTTT, Đảng ta chủ trương phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động của KTTT với nhiều hình thức hợp tác đa dạng, từ thấp đến cao trên cơ sở xuất phát từ quan hệ lợi ích của các xã viên khi tham gia vào KTTT. Nếu không dựa trên cơ sở lợi ích hoặc lợi ích của các thành viên không được bảo đảm thì không thể phát triển các HTX.

Thực tiễn của hơn 30 năm đổi mới, xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã chứng minh, để phát triển các hình thức hợp tác, liên kết giữa các thành phần kinh tế diễn ra một cách thuận lợi, có hiệu quả, chúng ta phải vận động và giúp đỡ các tiểu thương, tiểu chủ tự nguyện xây dựng các cơ sở kinh tế hợp tác đa dạng, từ thấp đến cao; thành lập, tổ chức các hội nghề nghiệp, nghiệp đoàn trong những ngành nghề thích hợp; đồng thời, phát triển nhiều hình thức hợp tác, liên kết giữa kinh tế nhà nước với các thành phần kinh tế khác trên nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng và bảo đảm lợi ích hợp pháp của mỗi chủ thể kinh tế.

Bên cạnh đó, để KTTT phát triển phải cần tới sự hỗ trợ về các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước. Tại Đại hội XII, Đảng ta đã khẳng định chủ trương “Nhà nước có cơ chế, chính sách hỗ trợ về tiếp cận nguồn vốn, đào tạo nguồn nhân lực, chuyển giao kỹ thuật, công nghệ hỗ trợ phát triển thị trường, tạo điều kiện phát triển kinh tế hợp tác phát triển trên cơ sở phát huy vai trò của kinh tế hộ” 2.

Sự hỗ trợ của Nhà nước không phải theo ý muốn chủ quan mà trên cơ sở phát huy vai trò của các hộ kinh doanh. Vai trò của các hộ đã được thực tiễn chứng minh bằng chính sách “Khoán 10″trước đây giúp cho sản xuất nông nghiệp ở nước ta phát triển khi quyền lợi của các hộ gia đình được bảo đảm.

Với “Khoán 10” đã cho phép kinh tế hộ gia đình được tự chủ trong sản xuất – kinh doanh, nhờ đó sản xuất nông nghiệp trong những năm qua đã có bước phát triển đáng kể. Quyền chủ động sản xuất – kinh doanh của người nông dân được giải phóng khỏi những ràng buộc sắc lệnh từ đó đã mang lại hiệu quả nhanh chóng trong khi mức đầu tư vốn còn quá thấp.

Nhận thức rõ hiệu quả của kinh tế hộ, tại Đại hội XII, khi đưa ra định hướng phát triển cho các ngành, lĩnh vực và vùng kinh tế, Đảng ta đã khẳng định chủ trương: “Tạo điều kiện cho kinh tế hộ phát triển có hiệu quả trên các lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ; góp phần hình thành chuỗi giá trị từ sản xuất đến chế biến tiêu thụ; bảo đảm hài hòa lợi ích của các chủ thể tham gia” 3.

Ở nông thôn, khuyến khích tối đa mọi người dân và doanh nghiệp đầu tư phát triển công nghiệp, dịch vụ trên địa bàn nông thôn; gắn kết sản xuất với chế biến và tiêu thụ sản phẩm thành một chuỗi khép kín từ sản xuất đến tiêu thụ, để nâng cao giá trị hàng nông sản Việt Nam.

Những thành công bước đầu của công cuộc đổi mới, của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước cho thấy, KTTT tất yếu phải đổi mới cho phù hợp với các quy luật của thị trường, như: quy luật giá trị, quy luật cạnh tranh, quy luật cung – cầu… thông qua việc phát huy quyền làm chủ của các xã viên và sự liên kết các hộ kinh doanh cá thể thành một chuỗi từ khâu sản xuất cho tới tiêu thụ.

Việc liên kết này đòi hỏi phát huy vai trò của các HTX trong quá trình liên kết, hợp tác để cùng phát triển. Phát triển KTTT sao cho KTTT cùng với kinh tế nhà nước dần trở thành nền tảng của nền kinh tế quốc dân, đây là điều có ý nghĩa chiến lược trong việc xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

Thực trạng phát triển kinh tế tập thể ở nước ta những năm qua

Thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, những năm qua, KTTT đã có sự phát triển mạnh mẽ. Kết quả đó được thể hiện rõ nét trên nhiều mặt, cụ thể:

Một là, số lượng các HTX mới thành lập tăng lên, kết quả hoạt động tốt hơn trước. Theo số liệu thống kê: “tính đến hết năm 2018, cả nước có 21.787 HTX (tăng 1.711 HTX, tương đương 5,9% so với năm 2017). Mặc dù còn nhiều khó khăn nhưng hoạt động của các HTX ngày càng ổn định và có xu hướng phát triển.

Doanh thu bình quân năm 2018 đạt trên 4 tỷ đồng/năm (tăng 4,9%), cao hơn yêu cầu tại Nghị định số 107/2017/NĐ-CP ngày 15/9/2017 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 193/2013/NĐ-CP ngày 21/11/2013 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật HTX. Trong đó, doanh thu của thành viên HTX chiếm tới 60%, lãi bình quân của một HTX là 277 triệu đồng (tăng 11,7%).

Thu nhập bình quân của một lao động thường xuyên trong HTX năm 2018 là 39,54 triệu đồng/người (tăng 9,5% so với năm 2017)” 4. Điều này chứng tỏ những quan điểm của Đảng về phát triển KTTT, trong đó nòng cốt là các HTX là đúng đắn và phù hợp với thực tiễn hiện nay.

Hai là, mô hình HTX hoạt động theo mô hình chuỗi giá trị từ sản xuất – tiêu thụ tăng lên và đã đem lại hiệu quả cao. Theo đánh giá của Liên minh HTX Việt Nam: “Các HTX thành lập mới và tái cơ cấu HTX đang hoạt động theo mô hình chuỗi giá trị tăng mạnh ở các địa phương. Đến tháng 6/2018 có khoảng 1.200 HTX (tăng 21% so cuối năm 2017). Tỷ lệ HTX hoạt động sản xuất, kinh doanh có hiệu quả có xu hướng tăng” 5.

Ba là, trong lĩnh vực nông nghiệp đã bước đầu hình thành mô hình nông sản an toàn gắn với chuỗi giá trị từ sản xuất tới tiêu dùng gắn với thương hiệu, truy xuất nguồn gốc xuất xứ.

Tại Hội nghị triển khai nhân rộng mô hình chợ nông thôn an toàn vệ sinh thực phẩm gắn với chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới đã khẳng định những thành công bước đầu của mô hình này, cụ thể: “Kết quả trong 8 năm, tổng số chợ đã được nâng cấp và đưa vào sử dụng là 499 chợ thực phẩm tại 12 tỉnh… Tỷ lệ chợ được hỗ trợ cải thiện các tiêu chuẩn môi trường đã đạt được từ 86,68% (năm 2012) lên 99,26% (năm 2016), 99,37% (năm 2017)” 6.

Như vậy, KTTT còn góp phần quan trọng trong việc hình thành chuỗi giá trị nông sản an toàn để đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng, cũng như góp phần vào bảo vệ sức khỏe cho nhân dân.

Bốn là, ngoài các HTX (nòng cốt của KTTT) thì các hình thức khác của KTTT như: liên hiệp HTX, các tổ hợp tác cũng có bước phát triển đáng kể. Theo số liệu thống kê, đến cuối năm 2018, các hình thức này đã tăng so năm 2017 là: “72 liên hiệp HTX (tăng 16,1%) và hơn 106.000 tổ hợp tác với tổng số thành viên là gần 1,5 triệu thành viên (tăng 2,4%)” 7.

Tuy nhiên, bên cạnh những mặt đã đạt được, KTTT còn có những hạn chế nhất định, cụ thể:

Thứ nhất, KTTT vẫn còn chiếm tỷ trọng nhỏ bé trong nền kinh tế, chỉ từ 3 – 6% GDP cả nước, nhỏ hơn nhiều so với số lượng kinh tế cá thể hiện nay (chiếm khoảng 30% GDP). Điều này chứng tỏ KTTT còn chưa thu hút được các hộ kinh doanh cá thể vào làm ăn tập thể 8.

Thứ hai, hầu hết các HTX ở nước ta có quy mô nhỏ bé chỉ từ vài tỷ đến vài chục tỷ đồng theo đánh giá của Liên minh các HTX Việt Nam: “Hầu hết quy mô của HTX nhỏ lẻ, manh mún; trình độ quản lý thấp; phương thức sản xuất lạc hậu… chỉ có một số HTX nổi trội với doanh thu cao” 9. Với quy mô còn nhỏ bé, KTTT khó cạnh tranh trên thương trường cũng như áp dụng khoa học – công nghệ tiên tiến vào sản xuất do chi phí cao.

Thứ ba, KTTT phát triển còn chậm so với yêu cầu đặt ra. Theo đánh giá của Chính phủ: “kinh tế hợp tác, HTX cũng còn nhiều hạn chế, phát triển còn chậm cả về số lượng và chất lượng (khoảng 20% HTX yếu kém)” 10.

Nguyên nhân của những hạn chế này được xác định là do nhận thức của các hộ xã viên khi tham gia vào HTX chưa cao, do họ bị ảnh hưởng bởi mô hình HTX kiểu cũ trước đổi mới đã làm mất niềm tin vào vai trò của HTX. Bên cạnh đó, các hộ xã viên còn gặp khó khăn về nguồn vốn, nhân lực, khoa học – công nghệ…

Một số giải pháp chủ yếu để phát triển kinh tế tập thể ở Việt Nam hiện nay

Một là, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, quảng bá về vị trí, vai trò của KTTT trong nền kinh tế quốc dân. Qua đó, giúp người dân nói chung và các hộ kinh doanh cá thể nói riêng hiểu rõ về vai trò của các HTX trong kinh tế là liên kết hỗ trợ các xã viên phát triển chứ không phải làm mất vai trò của các hộ xã viên. Về xã hội, đó còn là sự giúp đỡ nhau cùng phát triển, tăng cường tình đoàn kết, tương thân tương ái…

Hai là, cần cụ thể hóa các chủ trương của Đảng bằng các chính sách của Nhà nước sao cho các HTX dễ tiếp cận với các nguồn lực, như: vay vốn ngân hàng, có chính sách hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực cho các HTX…

Thống kê từ Liên minh HTX cho thấy: “mới chỉ khoảng 2% số HTX tiếp cận được vốn vay, còn phần lớn vẫn tự xoay sở. Thiếu vốn khiến nhiều HTX không thể mở rộng sản xuất – kinh doanh, thậm chí còn có khả năng rơi vào nguy cơ phá sản” 11. Do đó, Nhà nước cần có các chính sách cụ thể để tháo gỡ vướng mắc về việc vay vốn cho các HTX. Có như vậy, các HTX mới dễ tiếp cận vốn và có điều kiện phát triển.

Ba là, cần tổng kết, mở rộng các mô hình HTX làm ăn tốt có hiệu quả để tạo sức lan tỏa trong xã hội. Chẳng hạn như,các HTX liên kết theo chuỗi giá trị từ sản xuất đến tiêu dùng của TP. Hồ Chí Minh: “HTX tổ chức sản xuất với doanhnghiệp lớn là HTX Tân Thông Hội và HTX Phước An trở thành 2 trong tổng số hơn 100 HTX nông nghiệp tiêu biểu của 63 tỉnh, thành phố trên cả nước (do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn bình chọn).

Ngoài ra, còn có 8 HTX tổ chức tiêu thụ sản phẩm của thành viên tại hệ thống siêu thị, như HTX Bánh tráng Phú Hòa Đông, HTX Thỏ Việt, HTX Nhuận Đức, HTX Phú Lộc, HTX Phước Bình, HTX Phước An, HTX Ngã Ba Giồng, HTX Nấm Việt” 12.

Bốn là, phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị trong phát triển KTTT. Trong đó, cần tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy đảng, sự phối hợp chặt chẽ, có trách nhiệm của các bộ, ngành, các địa phương, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị – xã hội (nhất là Hội Nông dân Việt Nam).

Năm là, phát huy vai trò của Liên minh HTX Việt Nam. Đây là tổ chức đại diện cho quyền lợi và lợi ích hợp pháp của các HTX và các xã viên. Vì vậy, Liên minh HTX cần thực hiện tốt chức năng và nhiệm vụ của mình trong việc chủ động đề xuất, tham gia với Đảng, Nhà nước, các cấp ủy, chính quyền địa phương trong việc ban hành cơ chế, chính sách hỗ trợ, khuyến khích phát triển KTTT. Đồng thời, kiến nghị các cơ quan chức năng xem xét giải quyết những khó khăn, vướng mắc cho các HTX phát triển.

Thứ sáu, phát triển KTTT với nhiều hình thức đa dạng từ thấp đến cao: các tổ hợp tác, các HTX, liên minh các HTX… tăng cường liên kết, hợp tác giữa KTTT với các thành phần kinh tế khác như kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân và kinh tế có vốn đầu tư của nước ngoài./.

1, 2, 3. Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII. H. NXB Chính trị quốc gia, 2016, tr.107, 107, 293. 4, 7. Minh Hậu.Họp Ban Chỉ đạo đổi mới, phát triển kinh tế tập thể, hợp tác xã. https://baomoi.com, ngày 16/01/2019. 5. Liên minh hợp tác xã Việt Nam.Tình hình phát triển kinh tế hợp tác, hợp tác xã và hoạt động hệ thống Liên minh hợp tác xã Việt Nam 6 tháng đầu năm 2018. chúng tôi ngày 21/6/2018. 6. Trung tâm các chương trình kinh tế – xã hội.Hội nghị triển khai nhân rộng mô hình chợ nông thôn an toàn vệ sinh thực phẩm gắn với chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới. chúng tôi ngày 21/11/2018. 8. Thanh Giang.Gỡ vướng mắc để hợp tác xã phát triển. http://daidoanket.vn, ngày 24/11/2018. 9. Như Hương.Đẩy mạnh phát triển kinh tế hợp tác, hợp tác xã. http://kinhtedothi.vn, ngày 03/8/2018. 10. Nguyễn Hạnh.Mới chỉ khoảng 2% số hợp tác xã tiếp cận được vốn vay. https://congthuong.vn ngày 19/5/2018. 11,12. Công Phiên.Hợp tác xã nông nghiệp tại Thành phố Hồ Chí Minh có chuyển biến nhưng còn chậm. http://www.sggp.org.vn, ngày 29/10/2018.

TS. Nguyễn Văn SơnTrường Đại học Công nghiệp Hà Nội

Hội Nhập Kinh Tế Quốc Tế Của Việt Nam Trong Bối Cảnh Hiện Nay / 2023

Thực hiện chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, những năm qua, tiến trình hội nhập quốc tế của Việt Nam đã đạt một tầm cao mới. Nguồn: internet

Chủ động đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế toàn diện

Trong hơn 30 năm đổi mới, các chủ trương cơ bản về hội nhập kinh tế quốc tế (HNKTQT) được đề cập tại nhiều nghị quyết, chỉ thị quan trọng của Đảng và Nhà nước, cụ thể tại Nghị quyết số 22-NQ/TW ngày 10/4/2013 của Bộ Chính trị (khóa XI) về hội nhập quốc tế (trong đó xác định HNKTQT là trọng tâm, hội nhập trong các lĩnh vực khác phải tạo thuận lợi cho hội nhập kinh tế) và Nghị quyết số 06-NQ/TW ngày 5/11/2016 của Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XII) về thực hiện có hiệu quả tiến trình HNKTQT, giữ vững ổn định chính trị – xã hội trong bối cảnh Việt Nam tham gia các hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới.

Trên cơ sở đó, các bộ, ngành, địa phương đã xây dựng và ban hành các chương trình, hành động phù hợp với chức năng, nhiệm vụ và đặc thù của từng bộ, ngành, địa phương và được triển khai rộng rãi với nhiều hình thức phong phú; Tăng cường thực thi hiệu quả các FTA mà Việt Nam đã ký kết, góp phần đưa kinh tế Việt Nam phát triển nhanh và bền vững.

Theo Báo cáo của Ban Chỉ đạo liên ngành hội nhập quốc tế về kinh tế, công tác HNKTQT của Việt Nam đang phải đối diện với không ít khó khăn, thách thức. Chủ nghĩa bảo hộ ngày càng nổi lên rõ nét hơn. Mất cân đối thương mại toàn cầu vẫn chưa được cải thiện, làm gia tăng xung đột thương mại, cạnh tranh chiến lược và cọ sát kinh tế, đặc biệt giữa các nền kinh tế chủ chốt… Mặc dù, tình hình kinh tế thế giới, khu vực có những diễn biến phức tạp, khó lường, nhưng Việt Nam vẫn kiên trì chủ trương HNKTQT toàn diện với trọng tâm là HNKTQT, coi HNKTQT và tự do hóa thương mại là xu thế tất yếu khách quan. Một số thành tựu của tiến trình HNKTQT toàn diện của Việt Nam gồm:

Một là, HNKTQT đã góp phần gia tăng sức mạnh tổng hợp quốc gia. Nền kinh tế Việt Nam từng bước được cơ cấu lại gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế được tăng cường, nguồn nhân lực để cung ứng cho phát triển kinh tế – xã hội (KT-XH) ngày càng phát triển. Môi trường đầu tư kinh doanh được cải thiện, minh bạch, bình đẳng hơn, năng lực cạnh tranh của nền kinh tế được nâng lên.

Việt Nam được nhiều tổ chức quốc tế đánh giá là một trong những nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất trong khu vực cũng như trên thế giới và có triển vọng tốt nhờ kinh tế vĩ mô tiếp tục được duy trì ổn định, các cân đối lớn được bảo đảm, lạm phát được kiểm soát, tạo môi trường, động lực thúc đẩy kinh tế phát triển. Quy mô kinh tế Việt Nam năm 2019 dự báo đạt 5,5 triệu tỷ đồng, tương đương 240,5 tỷ USD, gấp trên 1,3 lần so với năm 2015, hiện đứng thứ 44 trên thế giới theo GDP danh nghĩa và thứ 34 theo sức mua tương đương.

Hai là, HNKTQT tác động mạnh đến tăng trưởng, góp phần thúc đẩy phát triển KT-XH. GDP bình quân đầu người tăng từ 2.109 USD (năm 2015) lên 2.587 USD (năm 2018), khoảng 7.650 USD theo sức mua tương đương. Đặc biệt, sau khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), Việt Nam đã duy trì tốc độ tăng trưởng cao, trong năm 2007, tăng trưởng GDP đạt 8,46% (mức cao nhất trong vòng 11 năm trước đó). Tuy nhiên, 4 năm sau đó, do ảnh hưởng từ những biến động của kinh tế thế giới, nên tăng trưởng GDP trong giai đoạn 2011 – 2013 giảm xuống còn 5,6%. Đáng chú ý những năm tiếp theo, kinh tế khởi sắc hơn. Cụ thể, năm 2014 đạt 5,98%, năm 2015 đạt 6,68%; 2016 đạt 6,1%, năm 2017 GDP đạt 6,81%, năm 2018 đạt 7%, quy mô nền kinh tế đạt khoảng 240 tỷ USD, bình quân đầu người đạt 2.540 USD, mức tăng trưởng cao nhất trong vòng 10 năm qua (2008-2018).

Ba là, HNKTQT thúc đẩy hoạt động thương mại quốc tế của Việt Nam phát triển mạnh giúp gia tăng kim ngạch xuất nhập khẩu (XNK), mở rộng thị trường đa dạng các loại hàng hóa tham gia XNK. Việt Nam đã trở thành một bộ phận của nền kinh tế toàn cầu với tổng kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu đạt gần 480 tỷ USD, gấp gần 2 lần GDP. Từ chỗ thường xuyên nhập siêu, Việt Nam đã chuyển sang cân bằng XNK, thậm chí là xuất siêu. Việt Nam hiện đã có quan hệ thương mại với trên 200 quốc gia và vùng lãnh thổ. Là thành viên của WTO, Việt Nam đã được 71 đối tác công nhận là nền kinh tế thị trường, nhiều sản phẩm dần có chỗ đứng và khả năng cạnh tranh trên nhiều thị trường có yêu cầu cao về chất lượng như Liên minh châu Âu, Nhật Bản, Mỹ…

Bốn là, HNKTQT sâu rộng hơn góp phần đưa Việt Nam trở thành một “mắt xích” quan trọng trong mạng lưới các liên kết kinh tế với các nền kinh tế hàng đầu thế giới (gồm 12 FTA đã ký và đang thực thi; 2 Hiệp định đã ký kết, 4 FTA đang đàm phán bảo đảm cho kết nối thương mại tư do, ưu đãi cao với 60 nền kinh tế, chiếm 90% kim ngạch thương mại của Việt Nam); đồng thời, tạo động lực mới và cả “sức ép” mới để thúc đẩy mạnh mẽ hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế. Môi trường pháp lý, chính sách kinh tế, cơ chế quản lý trong nước được cải cách theo hướng ngày càng phù hợp với các cam kết tiêu chuẩn cao trong các FTA và ngày càng minh bạch hơn, tạo lập môi trường đầu tư, kinh doanh trong nước ngày càng thông thoáng hơn, tiệm cận với các chuẩn mực quốc tế cao của khu vực và thế giới.

Năm là, thu hút đầu tư nước ngoài của Việt Nam đạt được nhiều kết quả ấn tượng. Hội nghị Liên Hợp quốc về thương mại và phát triển đánh giá, Việt Nam nằm trong 12 quốc gia thành công nhất về thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Hiện nay, có gần 26.000 doanh nghiệp (DN) FDI đang hoạt động ở Việt Nam, với số vốn cam kết đầu tư trên 330 tỷ USD đến từ gần 130 quốc gia và đối tác. Vốn FDI vào Việt Nam chiếm 25% tổng vốn đầu tư toàn xã hội. Các đối tác đã cam kết viện trợ hơn 3 tỷ USD cho Việt Nam trong giai đoạn 2018-2020. Việt Nam từng bước trở thành một trong những công xưởng của thế giới về cung ứng hàng điện tử, dệt may, da giầy, điện thoại di động…

Một số vấn đề đặt ra

Bên cạnh những kết quả đạt được, tiến trình HNKTQT của Việt Nam còn tồn tại một số hạn chế, khó khăn. Cụ thể như:

– Chính sách, pháp luật về HNKTQT còn thiếu và chưa đồng bộ. Việc tổ chức thực hiện các chủ trương, nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước về HNKTQT chưa nghiêm và quyết liệt. Trình độ năng lực điều hành, quản lý kinh tế của DN trong nước còn yếu kém. Hạn chế đó tác động tiêu cực tới việc làm tăng nguồn lực cho phát triển KT-XH đất nước.

– Chiến lược HNKTQT chưa toàn diện, dẫn đến chưa tận dụng được hết lợi ích của HNKTQT trong thực hiện các mục tiêu phát triển KT-XH đất nước. Trong một số trường hợp, HNKTQT còn bị động, chưa phù hợp với thực trạng phát triển đất nước, chưa phát huy được đầy đủ các hiệu quả và lợi ích của hội nhập mang lại.

– Trong nền kinh tế còn tồn tại một số hạn chế nội tại như: Cân đối vĩ mô và các cân đối lớn của nền kinh tế chưa vững chắc; Môi trường đầu tư kinh doanh và năng lực cạnh tranh chậm được cải thiện; Thủ tục hành chính còn nhiều vướng mắc; Tình hình sản xuất, kinh doanh còn nhiều khó khăn; Số lượng DN giải thể, ngừng hoạt động lớn; Năng lực tài chính, quản trị của phần lớn DN trong nước còn hạn chế…

– Một bộ phận đầu mối về HNKTQT tại một số bộ, ban, ngành và địa phương còn chưa chú trọng đến khâu phối hợp và tham vấn với các chương trình hành động về HNKTQT. Chính vì vậy, việc triển khai công tác HNKTQT chưa đạt được kết quả như mong muốn.

Giải pháp thúc đẩy hội nhập kinh tế quốc tế

Mặc dù, tiến trình HNKTQT đã đạt được những kết quả tích cực, song trong bối cảnh thế giới diễn biến khó lường như hiện nay, Việt Nam cần chủ động triển khai HNKTQT lên mức toàn diện, sâu rộng, đổi mới sáng tạo và hiệu quả hơn. Trước mắt, cần chú trọng vào một số nội dung trọng tâm sau:

Thứ nhất, hội nhập quốc tế là sự nghiệp của toàn dân và chỉ có thể thành công khi có sự tham gia hưởng ứng của các DN và người dân. Do vậy, cả hệ thống chính trị, các cấp, các ngành cần quyết liệt vào cuộc, để tiếp tục đẩy mạnh HNKTQT trên tinh thần Nghị quyết số 22-NQ/TW của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế; Chỉ thị số 25-CT/TW về đẩy mạnh và nâng tầm đối ngoại đa phương đến năm 2030 và các nghị quyết, chương trình hành động, kế hoạch công tác hội nhập của Chính phủ.

Thứ hai, cùng với đẩy mạnh các hoạt động thương mại, đầu tư, Việt Nam cần nâng cao năng lực phòng chống, giải quyết, xử lý các tranh chấp, khiếu nại, khiếu kiện về thương mại, đầu tư quốc tế, trong đó chú trọng đào tạo, bồi dưỡng, phát triển đội ngũ luật sư, cán bộ pháp lý để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người dân và DN.

Thứ ba, nhận diện các động thái, xu hướng phát triển lớn của thế giới, từ đó có điều chỉnh đúng đắn, kịp thời trong chiến lược phát triển, tận dụng triệt để những cơ hội mới mở ra. Tại phiên họp thứ nhất năm 2019 (tháng 6/2019), Ban Chỉ đạo liên ngành hội nhập quốc tế về kinh tế đã đề nghị: Các bộ, ngành, địa phương cần coi trọng, tăng cường nghiên cứu, đánh giá, dự báo các vấn đề mới của HNKTQT tác động tới Việt Nam…

Thứ tư, cần nắm bắt cơ hội và nhận diện rõ những thách thức của các FTA để có hội nhập phù hợp song không để bị lệ thuộc và bị cuốn theo các trào lưu ngắn hạn, các xu hướng loại trừ và hình thành những liên kết khép kín trong làn sóng FTA.

Thứ năm, thiết lập một nền kinh tế thị trường đầy đủ, minh bạch và hiện đại vừa là mục tiêu vừa là yêu cầu của hội nhập. Để có được điều này cần có những chính sách củng cố quyền sở hữu nhằm thúc đẩy đầu tư dài hạn; thực hiện hiệu quả cải cách hành chính công nhằm tăng tính minh bạch, giảm quan liêu và hạ chi phí giao dịch vốn có ảnh hưởng không nhỏ đến các DN nhỏ và vừa.

Thứ sáu, tạo điều kiện thuận lợi, phát huy hơn nữa vai trò của địa phương, của DN trong công tác HNKTQT. Dư địa phát triển lớn nhất nằm ngay trong sự nỗ lực không ngừng, sức sáng tạo của mỗi DN, mỗi người dân. Địa phương, DN là chủ thể trung tâm của hội nhập, phải được thụ hưởng thành quả của hội nhập. DN, người dân phải chủ động hơn, thực thi đầy đủ, nghiêm túc các cơ chế, chính sách, quy định pháp luật về hội nhập, không để tình trạng vi phạm quy định pháp luật tiếp diễn, ảnh hưởng đến uy tín và hình ảnh đất nước, con người Việt Nam.

1. Nghị quyết số 22-NQ/TW của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế; 2. Chỉ thị số 25-CT/TW về đẩy mạnh và nâng tầm đối ngoại đa phương đến năm 2030; 3. Quyết định số 596/QĐ-TTg ngày 23/4/2014 của Thủ tướng Chính phủ thành lập Ban Chỉ đạo quốc gia về hội nhập quốc tế; 4. Quyết định số 27/QĐ-BCĐHNQT ngày 26/4/2014 của Ban Chỉ đạo quốc gia về hội nhập quốc tế ban hành Quy chế hoạt động của Ban Chỉ đạo quốc gia về hội nhập quốc tế; 5. Quyết định số 04/QĐ-BCĐLNKT ngày 09/1/2015 của Ban Chỉ đạo liên ngành kinh tế ban hành Quy chế tổ chức, hoạt động của Ban Chỉ đạo liên ngành hội nhập quốc tế về kinh tế; 6. Vũ Văn Hiền (2018), Đổi mới tư duy về hội nhập kinh tế quốc tế, Hội đồng Lý luận Trung ương; 7. Thanh Giang (2019), Hội nghị tăng cường hội nhập quốc tế chủ động, sáng tạo, hiệu quả vì phát triển nhanh và bền vững, Báo Nhân dân diện tử; 8. Lê Hoài Trung (2019), Đối ngoại đa phương góp phần đẩy mạnh hội nhập quốc tế, tăng cường sức mạnh tổng hợp của đất nước; 9. Hoàng Xuân Hòa (2019), Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế sau 5 năm nhìn lại, Văn phòng Chính phủ.

Thu Hút Fdi “Sạch” Cho Phát Triển Bền Vững Nền Kinh Tế Việt Nam / 2023

· Lợi ích kinh tế: Nguồn vốn FDI một khi được tiến hành đầu tư thì phải đảm bảo lợi ích cho cả nước đầu tư và nước tiếp nhận đầu tư. Đối với nước đầu tư khi tiến hành đầu tư phải nhận được các lợi ích kinh tế như nguồn lao động và nguyên vật liệu rẻ hơn, tạo ra được lợi nhuận trong quá trình đầu tư. Đối với nước tiếp nhận đầu tư phải đảm bảo tăng trưởng kinh tế cao, ổn định và bền vững; phát triển sản xuất theo hướng thân thiện môi trường, công nghiệp hóa, phát triển nông nghiệp – nông thôn bền vững, phát triển công nghiệp sạch.

· Lợi ích xã hội: thực hiện đồng bộ các biện pháp nhằm các mục tiêu: tiến bộ và công bằng xã hội; xóa đói giảm nghèo; giải quyết việc làm, tăng thu nhập; nâng cao chất lượng giáo dục, nâng cao dân trí, trình độ nghề nghiệp, chăm sóc sức khỏe…

· Bảo vệ môi trường, xử lý, khắc phục ô nhiễm, phục hồi và cải thiện chất lượng môi trường, phòng chống cháy và chặt phá rừng; khai thác tài nguyên bừa bãi.

· Nguồn vốn đầu tư phải là đầu tư kinh doanh và không nhằm mục đích trục lợi nào khác. Một số tổ chức lợi dụng danh nghĩa đầu tư dưới dạng FDI nhưng thực chất là để rửa tiền, hoặc một số khác có đầu tư kinh doanh nhưng với mục đích khai thác những nguồn tài nguyên thiên nhiên.

· Đem lại lợi ích kinh tế và lợi ích xã hội cho cả bên đầu tư và bên nhận đầu tư.

· Có chính sách phát triển lâu dài và thân thiện với môi trường sinh thái. Vấn đề này là hết sức quan trọng để cấu thành nên một FDI thân thiết với môi trường. Các dự án FDI không chỉ có phương án đầu tư mà phải kèm theo phương án bảo vệ môi trường.

Để làm được vậy, chúng ta cần xem xét đến những nhân tố có tính chất quyết định chủ yếu đến tính bền vững của FDI như:

· Cơ chế chính sách thông thoáng, khuyến khích đầu tư để thu hút và giữ chân nhà đầu tư.

· Có chính sách bảo vệ môi trường sinh thái.

· Môi trường cạnh tranh, những cơ hội và sức ép từ thị trường thế giới và thị trường nội địa.

· Tầm nhìn mang tính dài hạn của nhà đầu tư

· Những sáng kiến và cam kết hợp tác Quốc tế

FDI sạch – Thách thức lớn cho các nước đang phát triển

Luồng vốn nước ngoài đổ vào có thể xuất hiện các nguy cơ tiềm ẩn xấu đối với nền kinh tế các nước, chẳng hạn như nguy cơ thâm hụt thương mại, và phải lệ thuộc phần lớn vào FDI để bổ sung cho thâm hụt thương mại. Đối với các nước chủ nhà có nền kinh tế còn kém phát triển, FDI thông thường gắn với các ngành khai thác tài nguyên, nông nghiệp, chế tạo, dịch vụ, các ngành công nghiệp được bảo hộ, các ngành công nghiệp gây ô nhiễm và lĩnh vực bất động sản. Đó là một cơ cấu đầu tư không hợp lý bởi những nguyên nhân sau:

· Thứ nhất, các ngành khai thác tài nguyên là các ngành không có sức lan tỏa, tạo điều kiện cho các ngành công nghiệp phụ trợ phát triển;

· Thứ hai, các ngành công nghiệp được bảo hộ thì sức cạnh tranh thấp;

· Thứ ba, vào các ngành công nghiệp gây ô nhiễm thì lợi nhuận nước ngoài hưởng còn hậu quả thì nước nhận FDI gánh chịu và

· Thứ tư, đầu tư vào lĩnh vực bất động sản sẽ làm thổi phồng quả bóng bất động sản. Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài góp phần kích thích khuynh hướng tiêu dùng tăng nhanh và rủi ro làm kiệt quệ nguồn vốn đầu tư nước ngoài và nhanh chóng mở rộng quy mô nợ của quốc gia sở tại.

Thách thức chủ yếu đối với các nước này là phải tìm được giải pháp thúc đẩy FDI mà đảm bảo được phát triển bền vững, không lặp lại những sai lầm của các quá trình tăng trưởng nhanh nhưng không bền vững, đã gây nên những xung đột lớn, phải trả giá về môi trường sinh thái và làm cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên.

FDI tại Việt Nam trong thời gian qua

ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI THEO NGÀNH 1988-2008 (chỉ tính các dự án còn hiệu lực) ĐVT: triệu USD Nguồn: Cục Đầu tư nước ngoài – Bộ Kế hoạch và Đầu tư

· Từ năm 2000 đến nay nước ta đã thu hút được 8028 dự án với số vốn đăng ký lên tới 116 tỷ USD và số vốn thực hiện lên tới 40 tỷ USD. Bên cạnh đó là quy mô mỗi dự án đăng ký không ngừng tăng lên, năm 2000 bình quân vốn đăng ký trên mỗi dự án chỉ đạt 7.26 triệu USD và giảm dần trong năm 2001, 2002, sau đó tăng dần cho đến năm 2008 đã là 51.47 triệu USD.

· Trong các năm qua nguồn vốn FDI chủ yếu tập trung vào các ngành công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp nhẹ và công nghiệp th ự c phẩm. Trong khi lĩnh vực nông lâm thủy sản thì nhận được ít nguồn vốn đầu tư nhất. Và trong thời gian gần đây thì vốn FDI vào lĩnh vực bất động sản tăng cao.

· Hiện nay, FDI chủ yếu tập trung vào vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và phía Bắc, các tỉnh vùng sâu, vùng xa tỉ trọng rất thấp. Các dự án FDI chưa khai thác tiềm năng, lợi thế của các vùng; chưa có dự án đầu tư vào khoa học – công nghệ cao. Một số dự án trồng rừng nguyên liệu, chế biến nông sản đạt hiệu quả thấp. Trong khi đó lại có khá nhiều dự án tác động nghiêm trọng đến cảnh quan, môi trường tự nhiên…

· Trong hơn 20 năm qua, nước ta đã có rất nhiều các tập đoàn, các công ty đa quốc gia tới và đầu tư tại Việt Nam. Trong đó, Châu Á chiếm 69% trong đó khối ASEAN chiếm 19%, châu Âu chiếm 26% trong đó EU chiếm 10%, các nước Châu Mỹ chiếm 5% riêng Mỹ chiếm 3,6%.

· Từ năm 2000 đến năm 2004 vốn FDI đăng ký gần như được giải ngân hết nhưng từ năm 2005 cho đến nay tốc độ giải ngân chậm lại so với vốn đăng ký, năm 2007 giải ngân được 8 tỷ USD chiếm 37.6% vốn đăng ký, năm 2008 chỉ giải ngân được hơn 11.5 tỷ USD chiếm 19% vốn đăng ký.

Tác động của FDI lên nền kinh tế Việt Nam

FDI là chỉ số thể hiện sự ổn định về nhiều mặt của một đất nước như chính trị, an ninh, kinh tế, xã hội…Nhưng không phải dự án nào cũng đem lại lợi ích thực sự. Có khi những nguồn lợi có được phải trả một giá cao hơn nhiều như việc xuất hiện những dự án khai thác khoáng sản ồ ạt, tàn phá môi trường, làm ảnh hưởng đến nhiều thị trường khác, nhất là dịch vụ du lịch…

– Đóng góp vào tăng trưởng GDP và đáp ứng nhu cầu vốn cho nền kinh tế. Vốn FDI là nguồn quan trọng để phát triển kinh tế, từ năm 2000 cho đến nay FDI đã cung cấp 2.5 tỷ USD cho nền kinh tế

– Tiếp thu, chuyển giao công nghệ.Thông qua các dự án đầu tư FDI, nhiều công nghệ mới, hiện đại đã được đưa vào sử dụng ở nước ta trong các ngành tìm kiếm thăm dò và khai thác dầu khí, bưu chính viễn thông, sản xuất vi mạch điện tử, sản xuất máy tính, hoá chất, sản xuất ô tô, thiết kế phần mềm… FDI còn kích thích các doanh nghiệp nội địa phải đầu tư đổi mới công nghệ để tạo được những sản phẩm có khả năng cạnh tranh với sản phẩm của các doanh nghiệp có vốn nước ngoài trên thị trường nội địa và xuất khẩu.

– Nâng cao năng lực sản xuất và kim ngạch xuất khẩu.Cùng với tốc độ tăng trưởng trong tổng kim ngạch xuất khấu Việt Nam (ước đạt trung bình 21% mỗi năm) thì các doanh nghiệp FDI đóng góp trung bình 51.25% trong tổng kim ngạch này. Xu hướng này tăng dần qua các năm, các doanh nghiệp FDI đóng góp ngày càng lớn hơn trong tổng kim ngạch xuất khẩu tại Việt Nam. Nếu các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chỉ chiếm 4,6 tỷ USD trong tổng kim ngạch xuất khẩu (11,54 tỷ USD) trong năm 1999, thì sau 4 năm (năm 2003) con số này đã tăng gấp đôi đạt 10,2 tỷ USD và 3 năm sau đó (năm 2006) đạt gần 23 tỷ USD (gấp đôi năm 2003), đạt mức 35 tỷ USD trong năm 2008.

– Tạo ra công ăn việc làm và cải thiện nguồn nhân lực, góp phần thúc đẩy sự phát triển của thị trường lao động.

– Tham gia mạng lưới sản xuất toàn cầu. Khi thu hút FDI từ các công ty này, các quốc gia không chỉ nhận được lợi ích từ các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài mà các doanh nghiệp trong nước có quan hệ làm ăn với các xí nghiệp đó cũng sẽ tham gia vào quy trình sản xuất toàn cầu này. Chính vì vậy, nước thu hút đầu tư sẽ có cơ hội tham gia mạng lưới toàn cầu, sẽ thuận lợi hơn cho đẩy mạnh xuất khẩu.

– Đóng góp vào nguồn thu ngân sách và các cân đối vĩ mô .Bên cạnh đó, FDI đã góp phần quan trọng vào việc tăng thặng dư của tài khoản vốn, góp phần cải thiện cán cân thanh toán nói chung. Trong giai đoạn 2000 – 2007, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đóng góp ước đạt 112 tỷ USD, chiếm 7.7% trong tổng thu ngân sách nhà nước và đang có xu hướng tăng có những năm tiếp theo.

– Sự xuất hiện của dòng vốn FDI tạo áp lực cạnh tranh lớn đối với doanh nghiệp trong nước. Sức ép cạnh tranh có tác động hai mặt, thứ nhất làm đối thủ cạnh tranh yếu hơn có nguy cơ bị thu hẹp thị phần, giảm sản xuất, thậm chí phải rút lui khỏi thị trường. Đây là mặt tiêu cực của cạnh tranh. Tuy nhiên, cạnh tranh lại kích thích các đối thủ tự đầu tư đổi mới để vươn lên đứng vững trên thị trường, từ đó năng suất sản xuất được cải thiện.

– Nguy cơ nhập khẩu công nghệ lạc hậu. Về kênh chuyển giao và phổ biến công nghệ giữa doanh nghiệp FDI và DN trong nước cũng không hoặc ít diễn ra. Ngoài các nguyên nhân khách quan như khuôn khổ luật pháp về sở hữu trí tuệ chưa đầy đủ, hiệu lực thấp, còn nguyên nhân chủ quan từ phía các doanh nghiệp trong nước.

– Mất cân đối giữa các ngành, lĩnh vực trong nền kinh tế.FDI thường tập trung vào những ngành có khả năng sinh lợi cao như khai thác tài nguyên khoáng sản, dầu khí, công nghiệp nặng,…. Trong khi những ngành như nông nghiệp lại thu hút được rất ít nguồn FDI. Điều này, dẫn tới sự mất cân đối giữa các ngành, các lĩnh vực trong nền kinh tế.

– Xuất hiện nguy cơ rửa tiền. Theo cảnh báo của WB thì Việt Nam sẽ bị các tổ chức rửa tiền quốc tế chọn làm mục tiêu vì hệ thống thanh tra, giám sát, hệ thống kế toán và tìm hiểu khách hàng ở nước ta còn kém phát triển, mức độ sử dụng tiền mặt và các luồng chuyển tiền không chính thức c ò n cao. Bên cạnh đó, Việt Nam đang trên con đường mở cửa kinh tế và được đánh giá là nền kinh tế có tính chất mở hàng đầu thế giới. Việc kiểm soát lỏng lẻo các dòng tiền vào ra đã tạo điều kiện thuận lợi để tội phạm thực hiện hoạt động rửa tiền.Nguồn vốn FDI có thể là một kênh thuận lợi cho việc tổ chức hoạt động rửa tiền. Các tổ chức phi pháp có thể tiến hành đầu tư vào nước ta với hình thức doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài nhưng thực chất không phải để hoạt động mà nhằm hợp pháp hóa các khoản tiền bất hợp pháp.

– Gây ô nhiễm môi trường.Có thể nói một trong những tác động tiêu cực nhất của FDI đối với nước nhận đầu tư là những ảnh hưởng về môi trường. Đặc biệt là tình hình xuất khẩu ô nhiễm từ các nước phát triển sang các nước đang phát triển thông qua FDI ngày càng gia tăng. Các nước đang phát triển có nguy cơ trở thành những nước có mức nhập khẩu ô nhiễm cao, nhiều nhất là Trung Quốc, Ấn Độ, ViệtNam… Hiện nay vấn đề xử lý nước thải tại Việt Nam chưa được chú trọng, hầu hết các xí nghiệp chưa có hệ thống xử lý chất thải. Các chương trình giám sát, xử phạt vẫn chưa được thực hiện một cách toàn diện trong khi ngày càng có nhiều dự án khai thác tài nguyên, vận chuyển dầu với hiểm họa tràn dầu có nguy cơ gia tăng trong các năm tới.

– FDI ảnh hưởng tới đa dạng sinh thái.Bên cạnh những đóng góp quan trọng cho ngành Du lịch Việt Nam thì sự đầu tư quá lớn và liên tục gia tăng trong những năm gần đây đã đặt môi trường tự nhiên Việt Nam trước những thách thức lớn. Nguy cơ ảnh hưởng xấu đến đa dạng sinh học, tài nguyên nước, thuỷ sản, khí hậu và gia tăng ô nhiễm các lưu vực sông.Các khu công nghiệp mở rộng làm diện tích rừng bị thu hẹp, cuộc sống, nơi cư trú của các động vật hoang dã, thực vật đã bị xáo trộn, phá hủy. Trong khi đó, vấn đề bảo vệ tốt môi trường vẫn đang là thách thức lớn đối với Việt Nam hiện nay.

Ví dụ về FDI “chưa sạch” tại Việt Nam

Điểm lại hoạt động của nguồn vốn FDI trong thời gian qua ta thấy một số điểm đen như sự việc Cty Vedan phá hoại môi trường Việt Nam suốt 14 năm được lấy làm ví dụ điển hình để phân tích về trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp. Việc xả thải không qua xử lý xuống sông Thị Vải, việc trốn nộp phí môi trường suốt nhiều năm của Vedan được cho là một cách tiết kiệm để tăng lợi nhuận của doanh nghiệp mà bỏ qua những quy chuẩn về môi trường.

Trước thực trạng ngày càng có thêm nhiều doanh nghiệp bị phát hiện đang ngấm ngầm phá hủy môi trường mà gần đây nhất, sau Vedan, là Cty Miwon. Thứ trưởng Bộ TN&MT Trần Hồng Hà cho biết:

“Không chỉ có Vedan, thống kê hiện nay trong số hơn 100 khu công nghiệp ở Việt Nam có đến 80% đang vi phạm các quy định về môi trường. Bộ TN&MT đã đang và sẽ tổ chức nhiều đoàn thanh tra đi khắp các địa phương, lập danh sách đen các cơ sở gây ô nhiễm nghiêm trọng, có khả năng bị đóng cửa, trong đó sẽ đặc biệt chú ý đến các điểm nóng về môi trường hiện nay như sông Thị Vải, Khánh Hòa lưu vực sông Nhuệ, sông Đáy….” .

Hiện nay mới chỉ có 250 doanh nghiệp tại Việt Nam thực hiện các biện pháp sản xuất sạch hơn và đều thông qua các dự án hỗ trợ. Số lượng các doanh nghiệp tham gia còn khiêm tốn như vậy bởi Việt Namhiện chưa có cơ sở pháp lý để bắt buộc hoặc khuyến khích các doanh nghiệp tham gia sản xuất sạch hơn. Còn nhiều trường hợp ngân hàng không cho doanh nghiệp vay tiền để áp dụng sản xuất sạch hơn vì quan niệm đó là nhiệm vụ môi trường và phải được chi từ ngân sách nhà nước… Bởi vậy, có tình trạng có doanh nghiệp bỏ ra hàng tỷ đồng để đầu tư sản xuất sạch hơn trong khi các doanh nghiệp khác tự do xả các chất ô nhiễm ra môi trường và chỉ bị phạt hành chính với số tiền quá nhỏ.

THU HÚT FDI SẠCH CHO PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG NỀN KINH TẾ VIỆT NAM

Hoàn thiện hệ thống pháp luật về bảo vệ môi trường. Cần phải có một hệ thống quản lý theo ngành dọc thống nhất để có thể quản lý chặt chẽ hơn công tác bảo vệ môi trường ở từng cơ sở, trong và ngoài khu công nghiệp. Ngoài việc cụ thể hóa những qui định pháp luật và xem xét tính hợp lý của một số chỉ tiêu về môi trường, cần nâng cao hiệu lực của Luật Bảo vệ môi trường. Các cơ quan quản lý cần cung cấp đầy đủ thông tin pháp luật cho các doanh nghiệp FDI, và tư vấn cho doanh nghiệp về thực thi pháp luật môi trường.

· Có cơ chế chính sách khuyến khích đầu tư FDI sạch. Dựa trên một số tiêu chí cơ bản để đánh giá một doanh nghiệp thực hiện giải pháp môi trường tốt nhất như:

– Vận hành với các chuẩn môi trường cao mang tính toàn cầu.

– Tích cực gắn kết với các đối tác địa phương.

– Chuyển giao kỹ năng và công nghệ thân môi trường tới đối tác tại nước chủ nhà.

– Đảm bảo để nước chủ nhà nhận được những lợi ích hợp lý trong FDI, đặc biệt trong các lĩnh vực tài nguyên thiên nhiên.

Các cơ quan quản lý FDI cũng như quản lý môi trường cần tham khảo danh sách hướng dẫn do Tổ chức Quỹ động vật hoang dã thế giới (WWF) xây dựng, nhằm xác định hành vi thực hiện giải pháp môi trường tốt nhất của doanh nghiệp FDI.

· Nâng cao vai trò quản lý của nhà nước và sự tham gia của xã hội. Trong lĩnh vực FDI bền vững môi trường, vai trò của Chính phủ thường thể hiện ở hai khía cạnh là tạo lập chính sách và trọng tài trong các xung đột môi trường giữa hoạt động công nghiệp và người dân nhằm kiểm soát chống ô nhiễm môi trường và bảo vệ điều kiện sống của con người.

· Thu phí hoặc thuế các doanh nghiệp gây ô nhiễm môi trường. Để xây dựng một cơ chế phát triển bền vững, nhiều nghiên cứu đã đề nghị phải lồng ghép chi phí môi trường vào hệ thống tài khoản quốc gia , nghĩa là phải đánh giá bằng tiền tệ đối với sự suy thoái môi trường như gây ô nhiễm và làm cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên. Khi đối mặt với vấn đề ô nhiễm không khí, nước hoặc đất đai, chính phủ có một số lựa chọn để cân nhắc nhằm cân bằng giữa nhu cầu có một môi trường sạch hơn với các chi phí kinh tế của việc làm sạch môi trường.

Trong thời gian tới Việt Nam cần phải thực hiện giải pháp kiểm soát ô nhiễm dựa trên thị trường bằng cách ban hành hạn ngạch ô nhiễm, quy định lượng khí thải được thải ra môi trường đối với các doanh nghiệp. Để thực hiện được điều này đòi hỏi Việt Nam cần có một đội ngũ chuyên gia về môi trường để có thể xác định được lượng khí thải nào và khối lượng bao nhiêu được phép thải ra môi trường. Bên cạnh đó là một tổ chức thực sự minh bạch để không xảy ra những tiêu cực trong vấn đề mua bán, cấp phép hạn ngạch.

Trong lựa chọn đối tác đầu tư.Cần ưu tiên chọn những đối tác doanh nghiệp FDI từ những nước phát triển có các chuẩn môi trường cao, nơi có qui định chặt chẽ về công tác môi trường. Những doanh nghiệp này, ngoài khả năng sử dụng các công nghệ sạch, thường áp dụng các biện pháp quản lý môi trường tốt hơn, còn có thể gắn kết chặt chẽ giữa hoạt động FDI và nền kinh tế nước chủ nhà, đặc biệt là thông qua quá trình chuyển giao tri thức và công nghệ sạch cho các nhà thầu phụ địa phương. Cần thể chế hoá các công cụ kinh tế để khuyến khích doanh nghiệp FDI có thái độ thân thiện hơn với môi trường, nếu không doanh nghiệp chỉ thực hiện không vi phạm những qui định về tiêu chuẩn môi trường, mà không cố gắng tìm cách giảm tổng lượng chất thải và áp dụng các giải pháp phòng ngừa hiệu quả. Trong khâu cấp phép đầu tư, cần chú ý chỉ cấp phép cho các dự án khai thác tài nguyên thiên nhiên nào có công nghệ cao, trình độ quản lý tốt và có uy tín, hạn chế tối đa việc cấp phép cho những dự án có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng đầu tư vào Việt Nam như dự án sản xuất giấy, thép… , những dự án không phù hợp với quy hoạch phát triển của Việt Nam, tạo dư thừa công suất quá lớn mà khó có triển vọng khai thác sử dụng. Trong khâu quy hoạch đầu tư, cần phải quy hoạch theo tính toán tăng trưởng của thu nhập trong nước, sự phát triển FDI để tính ra dung lượng thị trường cho sản phẩm từ đó đưa ra một số lượng dự án hợp lý.

· Giải pháp về xúc tiến đầu tư. Cần tổ chức các hội nghị xúc tiến đầu tư cho các nhà đầu tư nước ngoài nhằm cung cấp thông tin về môi trường đầu tư, đồng thời tạo cơ hội để trao đổi trực tiếp với các nhà đầu tư đang hoạt động tại Việt Nam về môi trường đầu tư của VN.

Để FDI “sạch hơn”, chúng ta cần thiết phải có cái nhìn khách quan hơn ở nhiều góc độ khác nhau đối với hiệu quả của dòng vốn này mang lai cho nền kinh tế đất nước để từ đó có cách ứng xử phù hợp hơn nhằm đáp ứng cho nhu cầu tăng trưởng bền vững nền kinh tế VN./.