Đổi Mới Giáo Dục Là Giải Pháp Đột Phá / Top 4 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 2/2023 # Top View | Phauthuatthankinh.edu.vn

Vì Sao Đổi Mới Kiểm Tra, Thi, Đánh Giá Chất Lượng Giáo Dục Được Coi Là Giải Pháp Đột Phá Đổi Mới Giáo Dục?

– Đổi mới cả nội dung, phương pháp đánh giá (kiểm tra, thi hết môn, thi lên lớp, thi tốt nghiệp). Chuyển từ đánh giá kiến thức mà người học nắm được sang đánh giá việc hình thành năng lực, phẩm chất của người học.

– Kết hợp chặt chẽ kết quả đánh giá định kì của người dạy với kết quả thi, đánh giá của người dạy và tự đánh giá của người học; đánh giá của nhà trường và đánh giá của xã hội.

– Tách bạch đánh giá kết quả học tập của từng học sinh với đánh giá chất lượng giáo dục của nhà trường, địa phương và cả nước.

– Giao quyền tự chủ cho các trường đại học, cao đẳng trong tuyển sinh theo hướng: Các trường lập phương án tuyển sinh của mình theo hướng dẫn, quy định, trình Bộ Giáo dục và Đào tạo phê duyệt, để các trường tăng thêm quyền chủ động và đảm bảo công tác tuyển sinh được thực hiện nghiêm túc.

Đổi mới kiểm tra, thi, đánh giá được coi là giải pháp đột phá nhằm đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo Việt Nam là vì:

– Trong bối cảnh của Việt Nam, khi giáo dục nặng về ứng thí và tâm lí sính bằng cấp khá phổ biến trong xã hội thì công tác kiểm tra, thi, đánh giá có tác động hết sức mạnh mẽ đến việc dạy và học. “Thi gì học nấy” nên đổi mới kiểm tra, thi, đánh giá sẽ có tác động trở lại đến toàn bộ các yếu tố của quá trình dạy và học trong các nhà trường. Đổi mới kiểm tra, thi, đánh giá không đòi hỏi tốn kém nhiều kinh phí.

– Hiện trạng công tác kiểm tra, thi, đánh giá của cả hệ thống nước ta còn có nhiều hạn chế, lạc hậu từ mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương tiện đến quy trình, cách thức xử lí, sử dụng kết quả; coi việc đánh giá kết quả học tập chỉ là việc cho điểm các bài thi, bài kiểm tra…; cách tổ chức còn nặng nề, tốn kém… Do đó, để đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo, nhất thiết phải thực hiện ngay việc đổi mới kiểm tra, đánh giá và thi cử.

Giải PháP Đột Phá PháT Triển GiáO Dục

Thứ tư, 12/10/2011 07:20

Trong đổi mới căn bản toàn diện nền giáo dục, cần có nhận thức mới về phát triển giáo dục theo hướng bảo đảm chất lượng của phát triển giáo dục, không làm giáo dục theo kiểu “phong trào”. Phát triển giáo dục nhanh và bền vững là yêu cầu cấp bách, nhưng cũng là yêu cầu lâu dài có ý nghĩa sống còn với giáo dục Việt Nam. Giáo dục Việt Nam tuy đã đạt được rất nhiều thành tựu, đã khởi sắc thực sự, song giáo dục Việt Nam vẫn là nền giáo dục của một nước nghèo, một nước trong những nước đang phát triển.

Đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục là cánh cửa để dân tộc ta sáng tạo ra trí tuệ

và tiếp nhận thành tựu văn minh của nhân loại.

Để giáo dục có thể phát triển ngang tầm các nền giáo dục của các nước phát triển chỉ có thể phát triển nhanh và bền vững mới có điều kiện thúc đẩy giáo dục phát triển có hiệu quả và có sức cạnh tranh, không chạy theo “tốc độ thành tích”, không chạy theo số lượng, mở rộng quy mô đơn thuần; coi trọng nâng cao không ngừng chất lượng giáo dục để ngày càng một nâng cao vị thế giáo dục Việt Nam trong khu vực và trên thế giới.

Phát triển giáo dục nhanh, bền vững và hiệu quả là tạo sức cạnh tranh cho kinh tế- xã hội, vì thực chất công cuộc cạnh tranh kinh tế- xã hội giữa các nước hiện nay là cạnh tranh về giáo dục. Phát triển nhanh và bền vững về giáo dục là góp phần đưa con người vào vị trí trung tâm của tiến trình phát triển kinh tế- xã hội ở nước ta, giáo dục tạo cơ hội giúp cho mọi người phát huy được tài năng, trí tuệ, sở trường, năng lực của mình, tham gia vào quá trình phát triển và thụ hưởng thành quả của quá trình đổi mới toàn diện nước ta mà Đảng đang thực hiện. Chất lượng cuộc sống của mỗi người ngày một nâng cao.

Các chính sách xã hội về giáo dục được thực hiện theo tinh thần: Nhà nước ngày một tăng nguồn lực cho giáo dục, thực hiện nhiều chương trình mục tiêu quốc gia về giáo dục, hỗ trợ các vùng sâu, vùng xa, vùng còn nhiều khó khăn, đồng bào dân tộc thiểu số, diện chính sách và người nghèo… ngày càng được hưởng nhiều chính sách ưu đãi về giáo dục, đồng thời phát huy tiềm năng, trí tuệ và các nguồn lực vật chất trong và ngoài nước của nhân dân, Việt kiều và các tổ chức quốc tế. Xác định điều kiện mới, động lực mới để thúc đẩy sự phát triển của bản thân hệ thống giáo dục. Sự tương quan phát triển giáo dục với các lĩnh vực khác trong phát triển kinh tế- xã hội, trong công cuộc đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Xây dựng nền giáo dục dân tộc, chất lượng, tiên tiến, hiện đại để làm nền tảng cho nền kinh tế mới đang ngày một phát triển.

Chiến lược phát triển kinh tế- xã hội 2011- 2020 đã xác định một trong các khâu đội phá chiến lược là “Phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, tập trung vào việc đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục quốc dân; gắn kết chặt chẽ phát triển nguồn nhân lực với phát triển khoa học công nghệ”. Cạnh tranh phát triển kinh tế giữa các quốc gia trên thế giới hiện nay, nói cho cùng bản chất là cạnh tranh sự phát triển giáo dục. Giáo dục phát triển sẽ đào tạo ra nguồn nhân lực mới, nguồn nhân lực chất lượng cao. Do vậy, trong suốt những năm đổi mới, Đảng và Nhà nước ta luôn coi giáo dục là quốc sách hàng đầu và có thể nói đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao là quốc sách.

Kinh nghiệm 25 năm thực hiện sự nghiệp đổi mới giáo dục cho thấy giáo dục nước ta muốn thực hiện tốt được những nhiệm vụ như đã nêu ở trên và nhất là muốn đổi mới căn bản và toàn diện thành công trong thập niên tới cần thực hiện các giải pháp đột phá.

Thứ nhất, đổi mới quản lý nhà nước về giáo dục phù hợp với cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Hoàn thiện thể chế quản lý nhà nước về giáo dục trên cơ sở tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính giáo dục. Thống nhất một đầu mối quản lý nhà nước về giáo dục; quản lý theo pháp quyền trên cơ sở một hệ thống pháp luật giáo dục đồng bộ với sự phối hợp chặt chẽ giữa các Bộ, ngành, địa phương và triệt để phân cấp quản lý giáo dục; tăng quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội cho các cơ sở giáo dục, nhất là các cơ sở giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp. Tăng hiệu lực quản lý nhà nước về giáo dục trong toàn ngành ở tất cả các cấp quản lý nhà nước phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra giáo dục; chuyển dần quản lý nhà nước về giáo dục nặng về hành chính sang quản lý chất lượng và từ quản lý nhà nước theo cách kiểm soát sang giám sát mọi hoạt động giáo dục. Nâng cao vai trò các tổ chức xã hội nghề nghiệp giáo dục như Hội Giáo chức, Hội Khuyến học, liên hiệp hội các trường ngoài công lập… trong phát triển giáo dục.

Thứ hai, hoàn thiện hệ thống giáo dục quốc dân theo hướng mở, hiện đại và liên thông.

Hoàn thiện hệ thống giáo dục quốc dân theo hướng mở và liên thông, chuẩn hóa, hiện đại hóa, đa dạng hóa và hội nhập quốc tế, đáp ứng nhu cầu nhân lực cho phát triển kinh tế- xã hội trong đó đặc biệt coi trọng đào tạo nhân lực chất lượng cao ở tất cả các cấp trình độ.

Xây dựng một hệ thống giáo dục đa dạng về phương thức học tập, đảm bảo “ai ai cũng được học hành”, được học theo nguyện vọng của chính mình và được học suốt đời trong xã hội học tập; một hệ thống giáo dục được chuẩn hóa với những tiêu chí dân tộc, tiên tiến, hiện đại đảm bảo sự liên thông trong và ngoài nước trên cơ sở chuẩn hóa với các yếu tố đảm bảo chất lượng trong từng cấp học và trình độ đào tạo.

Hệ thống giáo dục mới sẽ là hệ thống giáo dục chất lượng cao và là tiền đề cho phát triển khoa học, công nghệ, khai thác nhiều nhất và vận dụng có hiệu quả nguồn tri thức của dân tộc, của nhân loại và làm nền tảng cho công cuộc xây dựng nền kinh tế tri thức ở nước ta.

Thứ ba, xây dựng, phát triển nhanh đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục giỏi.

Nguồn lực đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục là vốn quý nhất, là động lực, là nhân tố đảm bảo cho lợi thế giáo dục nước ta phát triển và cạnh tranh được với các nền giáo dục tiên tiến trong khu vực và trên thế giới. Nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục giỏi là chìa khóa, là nhân tố trung tâm cho sự nghiệp giáo dục phát triển.

Suy đến cùng, chất lượng nền giáo dục nước ta cao hay thấp phần lớn phụ thuộc vào chất lượng đội ngũ thầy, cô giáo và cán bộ quản lý giáo dục. Do vậy, phải đặt trọng tâm vào tạo bước chuyển biến chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục. Thực tiễn 25 năm đổi mới giáo dục đã khẳng định phải mở rộng, phát huy dân chủ và thực hiện đồng bộ các khâu phát hiện, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, đánh giá, luân chuyển, bố trí sử dụng, thực hiện chính sách đãi ngộ tương xứng.

Xây dựng, đào tạo, bồi dưỡng nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục trong toàn ngành là nhiệm vụ thường xuyên, lâu dài bởi vì sự nghiệp giáo dục nước ta luôn phát triển đặt ra yêu cầu và đòi hỏi ngày càng cao về trình độ, chất lượng chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm của nhà giáo và năng lực lãnh đạo, quản lý của cán bộ quản lý giáo dục. Trách nhiệm của nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục không chỉ là trách nhiệm với hiện trạng giáo dục nước ta hôm nay mà còn là trách nhiệm với quá khứ và tương lai. Ngành Giáo dục nước ta phải là nơi thu hút được những người giỏi nhất, thông minh nhất và yêu nghề nhất để thực sự là đòn bẩy để nâng con người Việt Nam lên vị trí hàng đầu trong khu vực và trên thế giới.

Do vậy, cần đẩy mạnh việc thực hiện tốt chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước trong chú trọng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục có đủ phẩm chất, năng lực, trình độ giảng dạy, nghiên cứu khoa học và quản lý.

Giải Pháp Đột Phá Để Phát Triển Giáo Dục Đbscl

Nếu nhìn XHHGD từ phía nhà trường và thầy giáo thì chính là nhằm đảm bảo quyền tự chủ cúa nhà trường cũng như tự do giảng dạy của giảng viên hơn nữa; từng trường, từng địa phương, từng đối tượng học sinh sinh viên (HSSV) được quyền có chương trình cũng như cách thức giảng dạy riêng cho phù hợp. Dưới góc độ phụ huynh, nhằm đảm bảo cho họ quyền tự do lựa chọn nơi học tập cho con em của họ. “Có những gia đình có nguồn thu nhập khá, muốn con em của họ vào học ở những trường tốt hơn thì nhà nước nên tạo điều kiện cho các doanh nghiệp, tổ chức mở những cơ sở GD tiện nghi, chất lượng cao hơn để đáp ứng nhu cầu này”- TS. Nguyễn Tiến Dũng nhấn mạnh.

Chủ tịch HĐQT Trường ĐH Tây Đô cũng nhận định rằng, hiện nay công tác XHH GD đang được nhiều bậc phụ huynh HS quan tâm. Phần đông cha mẹ HS đều có ý kiến nhà trường cần tuyên truyền rộng rãi hơn nữa, thông tin kịp thời để họ hiểu được việc làm cụ thể chủ trương XHH GD cùng với Ban đại diện cha mẹ HS sử dụng nguồn đầu tư cho hiệu quả. Chính vì lẽ đó, trong thời gian tới để đẩy mạnh công tác này, nhà trường cần xây dựng Hội đồng tư vấn GD (khác ban đại diện cha mẹ HS) có kinh nghiệm, khả năng và nhiệt tình đối với công tác XHH GD tham gia.

ĐBSCL có dân số chiếm tỷ trọng 22% so với dân số cả nước. Người dân ĐBSCL với nguồn lực tự nhiên và con người đã tạo ra những đóng góp lớn cho đời sống kinh tế – xã hội của cả nước. GD-ĐT ở ĐBSCL đang “ở vị trí thấp nhất trong bản đồ GD-ĐT cả nước”. Do đó, khi phân bổ ngân sách GD-ĐT cho vùng không thể là 17,7% như 5 năm qua, cũng không hợp lý chỉ là 22% theo cách phân bổ thông thường theo đầu dân, mà phải trên 22% theo đầu dân và theo hệ số vượt trội hơn.

Ở ĐBSCL giáo dục phát triển kém nhất cả nước

Cũng theo Chủ tịch HĐQT Trường ĐH Tây Đô, đối với ĐBSCL phải tính toán xem xét những khoản đóng góp của dân cần được trích lại cho GD-ĐT. “Trong đó, hoạt động xổ số kiến thiết tuy tạo được nguồn thu lớn cho ngân sách địa phương nhưng có tác động “chưa tốt” đối với GD-ĐT. Nên chăng phải trích phần lớn từ nguồn thu đó cho GD-ĐT để xổ số kiến thiết “chuộc lỗi” với GD-ĐT của người dân trên vùng đất này”- TS. Dũng thẳng thắn kiến nghị.

Chính vì thế, theo ông Tùng, các trường đại học, cao đẳng, trung cấp dạy nghề, cần có ít nhất một ngành đào tạo theo nhu cầu của địa phương và theo sự đặt hàng của doanh nghiệp, và phấn đấu để có một ngành mũi nhọn đạt chuẩn quốc tế. Các trường đó nên mời các nhà chuyên môn, các chuyên gia của công ty, doanh nghiệp tham gia giảng dạy tại trường để góp phần nâng cao trình độ chuyên môn và kỹ năng tay nghề cho SV theo sát với yêu cầu và trình độ phát triển của thực tiễn.

LTS Dân trí – Nhiều năm qua, tình hình giáo dục của ĐBSCL vẫn thuộc vào “vùng lõm” của cả nước. Các cấp lãnh đạo và quản lý đều biết vậy nhưng chưa có biện pháp thỏa đáng để thúc đẩy sự phát triển giáo dục của vùng này lên ngang tầm cả nước.

Cuộc Hội thảo “Phát triển giáo dục ĐBSCL” vừa qua đã nêu lên được những kiến nghị có ý nghĩa thiết thực, nhất là cần đây mạnh các biện pháp “Xã hộihóa giáo dục” nhằm tăng đầu tư cho giáo dục từ nhiều nguồn và phục vụ đúng những đối tượng khác nhau. Mặt khác, nhà nước ở trung ương cũng như chính quyền ở địa phương cần tăng đầu tư cho giáo dục xứng đáng với công sức đóng góp của nhân dân trong vùng “vựa lúa” của cả nước.

Mô Hình 9+: Giải Pháp Đột Phá Cho Giáo Dục Nghề Nghiệp

GD&TĐ – Cho phép học sinh (HS) tốt nghiệp THCS học liên thông theo mô hình 9+ được xem là giải pháp đột phá cho giáo dục nghề nghiệp (GDNN) trong thời gian tới. Theo đó, các em có thể gia nhập thị trường lao động sớm hơn, trong khi cơ hội học lên cao đẳng, đại học vẫn rộng mở.

Học nghề sau tốt nghiệp THCS đang là một lựa chọn khả thi

Cơ hội mới

Mỗi năm Việt Nam có khoảng 1,2 triệu HS tốt nghiệp THCS, các em được định hướng vào 4 luồng chính gồm: Học tiếp lên THPT; học lên trung cấp chuyên nghiệp hoặc trung cấp nghề; vừa làm vừa học tiếp THPT theo chương trình giáo dục thường xuyên; trực tiếp đi làm kiếm sống.

Phần lớn các tỉnh, thành đều có HS học tiếp lên THPT với tỷ lệ hơn 70%, thậm chí có địa phương hơn 80%… chọn luồng GDNN chỉ là giải pháp của rất ít HS.

Việc đề xuất cho phép HS tốt nghiệp THCS được học nghề kết hợp học văn hóa, đủ điều kiện sẽ liên thông lên các trình độ cao hơn (mô hình 9+) và dự thảo Luật Giáo dục (sửa đổi) được xem là giải pháp đột phá cho GDNN trong thời gian tới.

9+ là mô hình đào tạo song hành học nghề và học văn hóa sau khi HS tốt nghiệp lớp 9 và có thể tiếp tục liên thông lên bậc cao đẳng, rút ngắn thời gian đào tạo. Mô hình này đã triển khai thành công ở nhiều nước trên thế giới. Điển hình là tại Đức với mô hình đào tạo kép và tại Nhật Bản với mô hình đào tạo KOSEN, đào tạo cho người học tốt nghiệp tương đương THCS ở Việt Nam rất thành công, đem lại giá trị về nguồn nhân lực đáp ứng nền kinh tế của đất nước.

Mô hình 9+ theo Luật GDNN và theo thông lệ quốc tế là học hết lớp 9, HS có quyền lựa chọn học nghề ngắn hạn trong thời gian sáu tháng đến một năm và các em tham gia thị trường lao động ngay tại các trung tâm dạy nghề. Các em không phải làm những công việc độc hại và được pháp luật cho phép độ tuổi từ 16 – 18.

Lựa chọn khác là HS tham gia chương trình đào tạo 9+2, 9+3, 9+4, 9+5 để theo tám bậc của khung trình độ quốc gia. Sau hai năm, các em lấy bằng trung cấp và có thể học liên thông lên cao đẳng, đại học…

Rộng mở nhiều lựa chọn nghề nghiệp

Hiện nay, mô hình 9+ đã được triển khai tại một số cơ sở GDNN và được xem là hướng đi hiệu quả trong tháo gỡ nút thắt phân luồng THPT tại Việt Nam. Theo ý kiến chuyên gia, mô hình này nếu được áp dụng rộng rãi ở Việt Nam thì cần thay đổi một số quy định trong Luật Giáo dục, cho phép HS tốt nghiệp THCS học thẳng lên cao đẳng qua chương trình đào tạo được phê duyệt nhằm bảo đảm kiến thức văn hóa, chuyên môn và bằng tốt nghiệp cao đẳng được liên thông lên trình độ cao hơn.

Trao đổi về vấn đề phân luồng hướng nghiệp, chọn ngành nghề của giới trẻ hiện nay, Thứ trưởng Bộ LĐ-TB&XH Lê Quân cho rằng, học trung cấp ngay sau khi tốt nghiệp lớp 9 là một lựa chọn khả thi. Thay vì mất thêm 3 năm theo học THPT, học nghề ngay từ khi học xong lớp 9, HS hệ trung cấp sẽ gia nhập thị trường lao động sớm hơn. Trong khi đó, cơ hội học lên cao đẳng và đại học vẫn còn rộng mở.

Thị trường lao động và doanh nghiệp hiện nay quan tâm nhiều hơn tới tay nghề, trình độ thực tế và thái độ làm việc của người lao động, thay vì việc chỉ quan tâm tới bằng cấp như thời kỳ trước đây. Học trung cấp là một trong những con đường ngắn, phù hợp với năng lực nhiều em để có một nghề nghiệp và thu nhập ổn định. Đồng thời, các em vẫn có cơ hội học tiếp lên cao đẳng và đại học sau này.

Quá trình học trung cấp sau khi tốt nghiệp THCS đã được quy định rõ trong Luật Giáo dục và Luật GDNN. Học nghề để trở thành kỹ thuật viên, lao động có tay nghề, có thu nhập tốt và ổn định. Người theo học nghề thường có việc làm ngay khi tốt nghiệp và được phép học tiếp lên cao đẳng, đại học nếu có nhu cầu.

Thực hiện chỉ tiêu phân luồng sau trung học theo Quyết định số 522/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, mới đây Bộ LĐ-TB&XH đã ban hành Thông tư số 07/2019/TT-BLĐTBXH ngày 7/3/2019, với nhiều điểm mới, tạo điều kiện cho các trường cao đẳng, trung cấp tuyển sinh năm 2019.

Thông tư này tạo điều kiện thuận lợi nhất cho thí sinh có nhu cầu đăng ký vào học GDNN. HS tốt nghiệp THCS có nguyện vọng học trình độ cao đẳng cũng có thể đăng ký dự tuyển. Tuy nhiên, các đối tượng này, trong quá trình học phải hoàn thiện chương trình văn hóa trung học phổ thông theo quy định của Bộ GD&ĐT.