Đo Chức Năng Hô Hấp Trong Chẩn Đoán Bệnh Phổi Tắc Nghẽn Mãn Tính (Copd)

Trong các xét nghiệm chẩn đoán COPD , đo chức năng hô hấp là xét nghiệm có ý nghĩa đặc biệt quan trọng để sàng lọc, chẩn đoán xác định, chẩn đoán phân biệt và phân độ bệnh.

Vì thế, việc đo chức năng hô hấp nên được tiến hành định kỳ để xác định sớm các rối loạn thông khí và tiến triển của chúng nếu đã có.

Trong các xét nghiệm được sử dụng để đánh giá bệnh nhân bị bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính, xét nghiệm đo chức năng hô hấp là một xét nghiệm có ý nghĩa quan trọng trên thực tế.

1. Ý nghĩa của đo chức năng hô hấp đối với bệnh nhân COPD

Phương pháp đo chức năng hô hấp có thể thể hiện nhiều ý nghĩa khác nhau, tùy thuộc vào giai đoạn khảo sát và mục đích khảo sát.

– Đánh giá sớm các rối loạn thông khí ở bệnh nhân

Đo chức năng hô hấp định kỳ ở những người có yếu tố nguy cơ mắc bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính cao như người hút thuốc lá, người làm việc trong các môi trường ô nhiễm , người mắc các bệnh phổi mãn tính khác,… sẽ giúp đánh giá các rối loạn thông khí ngay từ các giai đoạn sớm chưa có biểu hiện lâm sàng. Điều này sẽ giúp tầm soát và sàng lọc sớm các đối tượng và có phương pháp quản lý thích hợp.

– Chẩn đoán xác định bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính

Bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính có đặc trưng là sự viêm, tắc nghẽn các đường dẫn khí nhỏ trong phổi, từ đó gây nên các biểu hiện lâm sàng khác nhau như khó thở, ho khạc đờm kéo dài,… Do vậy, với các rối loạn thông khí được thể hiện trên kết quả đo chức năng hô hấp, bác sĩ có thể chẩn đoán bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính một cách chính xác và đánh giá được mức độ, giai đoạn của bệnh.

– Chẩn đoán phân biệt với các bệnh khác

Đo chức năng hô hấp ở người bệnh kết hợp với sử dụng thuốc giãn phế quản trước đó còn có thể giúp bác sĩ chẩn đoán phân biệt được bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính với các bệnh lý có biểu hiện tương tự, đặc biệt là hen phế quản.

Đo chức năng hô hấp là xét nghiệm quan trọng trong chẩn đoán bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính(Ảnh: Internet)

2. Người bệnh cần chuẩn bị gì trước khi đo chức năng hô hấp?

Mặc dù là kỹ thuật không quá phức tạp về quy trình thực hiện, tuy nhiên để đảm bảo kết quả đo chính xác thì người bệnh cũng cần thực hiện tốt một số chuẩn bị sau đây:

– Mặc quần áo rộng rãi: Người bệnh nên mặc các loại quần áo rộng rãi và thoải mái khi thực hiện đo chức năng hô hấp, tránh sử dụng quần áo có kích thước quá nhỏ hoặc bó chặt sẽ làm ảnh hưởng đến khả năng hít và thở tối đa khi đo.

– Ngưng hút thuốc và sử dụng rượu: Khi được chỉ định đo chức năng hô hấp, bệnh nhân sẽ được yêu cầu ngưng hút thuốc ít nhất 30 phút và ngưng sử dụng rượu ít nhất 4 giờ trước khi thực hiện kỹ thuật để đảm bảo cho kết quả đo chính xác nhất.

– Tránh vận động nặng: Vận động nặng quá sức trước khi thực hiện kỹ thuật đo có thể làm thay đổi nhu cầu oxi của cơ thể, thay đổi các đặc trưng trong hô hấp của bệnh nhân (nhịp thở, lưu lượng thở,…) do đó có khả năng khiến cho kết quả đo có mức độ sai số lớn. Việc ngưng các hoạt động gắng sức nên được diễn ra trong 30 phút trước khi thực hiện kỹ thuật.

– Không ăn no: Không ăn no trước 2 tiếng trước khi đo chức năng hô hấp là điều mà bệnh nhân sẽ được yêu cầu. Ăn quá no ngay gần thời điểm đo sẽ khiến cơ hoành không thể hạ xuống thấp nhất do bị dạ dày đang chứa đầy thức ăn cản trở, vì vậy làm cho phổi không thể giãn nở hết mức. Điều này làm sai lệch kết quả đo.

– Ngưng các thuốc giãn phế quản: Thuốc giãn phế quản sẽ làm cải thiện khả năng thông khí ở bệnh nhân do giúp mở rộng khẩu kính của các phế quản trong phổi. Nếu bệnh nhân sử dụng các thuốc giãn phế quản quá gần thời điểm do, dưới tác dụng của thuốc sẽ làm gia tăng giả tạo các kết quả của phép đo, từ đó gây sai lệch trong chẩn đoán. Những thuốc giãn phế quản nên được ngưng sử dụng 4h và thuốc giãn phế quản tác dụng kéo dài nên được ngưng sử dụng ít nhất 12h trước khi đo.

Người bệnh cần ngưng sử dụng thuốc giãn phế quản trước khi đo chức năng hô hấp (Ảnh: Internet)

3. Các thông số trong đo chức năng hô hấp và ý nghĩa

Xét nghiệm đo chức năng hô hấp ở người bệnh COPD có thể cho ra nhiều thông số kết quả khác nhau, các thông số thường được quan tâm bao gồm:

– VC: Dung tích sống (VC) là thể tích khí mà người bệnh hít vào hay thở ra hết sức, sự giảm dung tích sống lớn hơn 20% so với dung tích sống lý thuyết thì được coi là bệnh lý. Trong COPD, người ta thường quan tâm nhiều đến chỉ số dung tích sống gắng sức (FVC) là kết quả khi hít vào hoặc thở ra nhanh, mạnh và hết sức và thông thường thì giá trị của FVC sẽ bằng giá trị của VC.

– FEV1: Thể tích thở ra tối đa trong giây đầu tiên (FEV1) cũng là chỉ số được quan tâm nhiều trong bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính. Chỉ số này cho phép đánh giá đường thở của người bệnh có thông thoáng hay không, có bị cản trở thông khí hay không. Do đó, nó là một trong các tiêu chuẩn được sử dụng để chẩn đoán và phân độ bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính.

– Tỷ số Tiffeneau: Được tính bằng công thức FEV1/VC, chỉ số Tiffeneau có ý nghĩa giúp đánh giá mức độ co giãn của hệ hô hấp và tình trạng thông thoáng của đường dẫn khí. Do FVC thường có giá trị bằng VC nên người ta hay sử dụng tỷ số FEV1/FVC để làm giá trị của tỷ số Tifeneau.

Ngoài ra, trong kết quả đo chức năng hô hấp người ta còn có thể ghi nhận một số các chỉ số khác kể đến như thể tích khí lưu thông, thể tích khí dự trữ hít vào, thể tích khí dự trữ thở ra, thể tích khí dự trữ hít vào, thể tích khí cặn, thông khí phút tối đa,…

4. Phân độ bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính theo kết quả đo chức năng hô hấp

Theo chiến lược toàn cầu về bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính (Global Initiative for Chronic Obstructive Lung Disease – GOLD), thì người ta phân độ bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính theo kết quả đo chức năng hô hấp kèm theo một số yếu tố khác như sau:

Giai đoạn 1: FEV1/FVC dưới 70% và giá trị FEV1 dưới 80% giá trị theo lý thuyết. Người bệnh có thể có hoặc không có các biểu hiện của bệnh.

Giai đoạn 2: FEV1/FVC dưới 70% và giá trị 50% dưới FEV1 dưới 80% giá trị theo lý thuyết. Người bệnh hay có các biểu hiện lâm sàng của bệnh.

Giai đoạn 3: FEV1/FVC dưới 70% và giá trị 30% dưới FEV1 dưới 80% giá trị theo lý thuyết và người bệnh thường xuyên có các biểu hiện của bệnh làm giảm chất lượng cuộc sống.

Giai đoạn 4: FEV1/FVC dưới 70% và giá trị FEV1 dưới 30%. Bệnh nhân bị ảnh hưởng cuộc sống nặng nề và thậm chí có thể tử vong.

5. Những yếu tố làm sai lệch kết quả và các chống chỉ định của đo chức năng hô hấp

5.1. Các yếu tố làm sai lệch kết quả đo

Trong quá trình thực hiện kỹ thuật, một số yếu tố từ cả phía nhân viên y tế và bệnh nhân nếu không được kiểm soát tốt thì có thể dẫn đến sự sai lệch trong kết quả đo chức năng hô hấp.

5.2. Các chống chỉ định của đo chức năng hô hấp

Trong một số trường hợp, đo chức năng hô hấp trên bệnh nhân dù có ý nghĩa tương đối nhưng lại đem đến nhiều nguy cơ biến chứng nặng nề, lớn hơn rất nhiều so với ý nghĩa mà nó mang lại. Do đó, đo chức năng hô hấp bị chống chỉ định cho các trường hợp sau:

Bệnh nhân đau ngực chưa rõ nguyên nhân, mắc hội chứng vành cấp,… là các chống chỉ định của đo chức năng hô hấp (Ảnh: Internet)

– Bệnh nhân đang ở trong đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính.

– Nhiễm trùng cấp tính tại đường hô hấp hoặc ho ra máu chưa rõ nguyên nhân.

– Bệnh nhân mắc hội chứng vành cấp, phình động mạch chủ hoặc đau ngực không rõ nguyên nhân.

– Bệnh nhân mới phẫu thuật bụng hay lồng ngực.

Qua đó có thể thấy rằng, đo chức năng hô hấp là một xét nghiệm hết sức có giá trị trong sàng lọc, chẩn đoán xác định, chẩn đoán phân biệt và phân độ bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính. Vì vậy, đối với những người có nguy cơ cao mắc bệnh và bệnh nhân, việc đo chức năng hô hấp nên được tiến hành định kỳ để theo dõi sớm các rối loạn thông khí và sự tiến triển của các rối loạn này nếu có.

Chụp X quang có thể phát hiện bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính không?

Phổi tắc nghẽn mãn tính (COPD) là căn bệnh được đặc trưng bởi sự tắc nghẽn luồng khí thở ra không có khả năng hồi phục hoàn toàn. Vậy làm sao có thể phát hiện được phổi tắc nghẽn mãn tính?

Theo các thống kê, COPD là tình trạng chức năng hô hấp suy giảm nghiêm trọng và là nguyên nhân gây tử vong cho rất nhiều bệnh nhân. Vì thế, việc chẩn đoán chính xác và kịp thời là vô cùng quan trọng để điều trị COPD sớm, tránh dẫn đến những ảnh hưởng sức khỏe trầm trọng về sau.

Những bệnh nhân mắc COPD thường gặp các dấu hiệu ban đầu bao gồm ho ra nhiều chất đờm, tức ngực, khó thở, hụt hơi. Với các triệu chứng này, một trong những phương pháp chẩn đoán phát hiện phổi tắc nghẽn mãn tính là chụp X quang phổi để đánh giá tình trạng bệnh.

1. Phát hiện phổi tắc nghẽn mãn tính bằng phương pháp chụp X quang phổi

Chụp X quang phổi là một trong những phương pháp chẩn đoán COPD. Theo đó, hình ảnh COPD trên phim X-quang rất dễ gây nhầm lẫn cho các bác sĩ, đặc biệt là những bác sĩ chưa có nhiều kinh nghiệm. Bởi vì cấu trúc, hình thái thể hiện trên phim X quang của những bệnh nhân COPD có thể tương tự như nhiều tình trạng bệnh lý về phổi khác.

Vì thế, khi chẩn đoán phát hiện phổi tắc nghẽn mãn tính bằng phương pháp chụp X quang cần xem xét kỹ từng chi tiết hình ảnh, kết hợp với các xét nghiệm, kỹ thuật khác và các thăm khám lâm sàng.

Trước khi chỉ định chụp X-quang cho bệnh nhân COPD, các bác sĩ sẽ tiến hành thăm khám và theo dõi các triệu chứng của người bệnh. Kết quả của phương pháp chụp X-quang phổi có thể giúp đánh giá sự tiến triển của COPD mà không cần đến các thủ thuật xâm lấn.

Các bệnh nhân thường được chỉ định chụp X quang ở tư thế đứng – Ảnh Internet.

2. Trình tự chẩn đoán phát hiện COPD bằng phương pháp chụp X quang

Bước 1: Chuẩn bị & tiến hành chụp X-quang

Trước khi tiến hành chụp X-quang để chấn đoán phát hiện phổi tắc nghẽn mãn tính, bệnh nhân cần thay áo và loại bỏ tất cả các vật cản quang ra khỏi vùng khảo sát. Thông thường, các bệnh nhân tiến hành chụp X-quang ở tư thế đứng. Tuy nhiên, trong mô bác sĩ có thể yêu cầu khảo sát thêm với nằm nghiêng trong trường hợp nghi ngờ có dịch trong phổi.

Bước 2: Theo dõi & chẩn đoán

Các bác sĩ sẽ dựa vào hình ảnh phim X-quang để đánh giá một phần về hình thái và cấu trúc bên trong cơ thể của bệnh nhân.

Bước 3: Mô tả

Hình ảnh trên phim X quang để phát hiện COPD sẽ cho các bác sĩ thấy một số dấu hiệu trực quan. Cụ thể đó là:

– Tình trạng căng giãn phổi quá mức (Hyperinflation).

– Căng phồng phổi quá mức do phổi ứ khí. Tình trạng này xảy ra khi mô phổi bị tổn thương và mất tính đàn hồi khiến phổi có thể mất chức năng thải khí sau mỗi hơi thở. Hậu quả của nó khiến bệnh nhân không thể nạp được nhiều không khí với mỗi hơi thở dẫn đến khó thở.

Hình ảnh trên phim X quang để phát hiện COPD sẽ cho các bác sĩ thấy một số dấu hiệu trực quan – Ảnh Internet

– Hoành phẳng hay còn gọi là cơ hoành bẹt (Flattened diaphragm): Hình ảnh trên phim X-quang cũng có thể cho thấy những thay đổi cấu trúc trong phổi hoặc mô xung quanh. Tình trạng này cũng là kết quả của căng phồng phổi quá mức khiến cơ hoành bẹt xuống.

– Thay đổi về đường thở (Changes in airways): Đây là một dấu hiệu sớm của COPD. Những thay đổi này có thể rất khó để chẩn đoán chính xác.

– Bóng khí (Bullae) : Các bóng khí là những túi không khí có thể hình thành khi khí phế thũng làm tổn thương mô phổi, có thể thấy khi chụp X quang. Các bác sĩ thường sẽ chỉ định phẫu thuật để loại bỏ chúng vì chúng có thể nguy hiểm nếu không được điều trị kịp thời.

– Bóng tim hẹp : Khi COPD tiến triển, tim có thể thay đổi hình dạng. Theo đó, phim X quang có thể có hình ảnh bóng tim hẹp hoặc thon dài.

Bước 4: Chẩn đoán COPD

X-quang ngực là công cụ có thể giúp chẩn đoán COPD tuy nhiên khả năng vẫn còn khá hạn chế. Do đó, người bệnh cần theo dõi và điều trị bệnh sớm sau chẩn đoán để làm chậm quá trình tiến tiển của bệnh và giúp kiểm soát các triệu chứng giúp ebenhj nhân có tiên lượng tốt nhất.

1010 điều bệnh nhân COPD cần nhớ để phòng ngừa biến chứng phổi tắc nghẽn mãn tính Mặc dù không có phương pháp điều trị dứt điểm nhưng bạn hoàn toàn có thể phòng ngừa biến chứng phổi tắc nghẽn mãn tính bằng cách thiết lập lại lối sống lành mạnh. Phổi tắc nghẽn mãn tính (CODP) là căn bệnh khiến phổi bị rối loạn…

Đo Chức Năng Hô Hấp Giúp Tiết Lộ Điều Gì Về Copd? ✅

Đo chức năng hô hấp, hay đo phế dung, đóng vai trò quan trọng trong bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD). Thử nghiệm này giúp bác sĩ theo dõi tình trạng bệnh từ lúc bắt đầu được chẩn đoán đến suốt quá trình điều trị và theo dõi.

Hô hấp kế giúp chẩn đoán và đo lường tình trạng khó thở, như hơi thở ngắn, ho hoặc tăng sản xuất chất nhầy.

Đo chức năng hô hấp có thể phát hiện bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính ngay cả trong giai đoạn sớm nhất, thậm chí trước khi bất kỳ triệu chứng rõ ràng, đáng chú ý nào xuất hiện.

Cùng với chẩn đoán COPD, xét nghiệm này cũng có thể giúp theo dõi tiến triển của bệnh, hỗ trợ điều trị và giúp xác định phương pháp điều trị có thể hiệu quả nhất.

Đo chức năng hô hấp thực hiện như thế nào? Đo chức năng hô hấp giúp tiết lộ điều gì về COPD?

Bác sĩ sẽ tiến hành đo chức năng hô hấp tại phòng khám bằng một dụng cụ gọi là hô hấp kế (phế dung kế). Thiết bị này giúp đo chức năng phổi và ghi lại kết quả.

Bạn cần hít một hơi thật sâu và sau đó thổi vào ống ngậm trên máy đo chức năng hô hấp nhanh và mạnh nhất có thể.

Phế dung kế sẽ đo tổng thể tích khí mà bạn thở ra gắng sức, gọi là dung tích sống thở mạnh (FVC) cũng như thể tích khí thở ra gắng sức trong giây đầu tiên (FEV1).

Chỉ số FEV1 cũng bị ảnh hưởng bởi các yếu tố khác bao gồm tuổi tác, giới tính, chiều cao và dân tộc. Kết quả FEV1 được tính theo tỷ lệ phần trăm của FVC (FEV1/FVC).

Tỷ lệ phần trăm này giúp xác nhận chẩn đoán COPD và cho biết bệnh đang tiến triển ở giai đoạn nào.

Theo dõi COPD nhờ đo chức năng hô hấp Đo chức năng hô hấp giúp tiết lộ điều gì về COPD?

Bác sĩ sẽ sử dụng phế dung kế để thường xuyên theo dõi chức năng phổi và giúp bạn theo dõi tiến triển của bệnh.

Dựa vào chỉ số FEV1 và FVC sau khi đo chức năng hô hấp, bạn sẽ được chẩn đoán đang ở giai đoạn nào của COPD sau đây:

COPD giai đoạn 1

Đây là giai đoạn đầu tiên, còn gọi là giai đoạn nhẹ của COPD. Lúc này, giá trị FEV1 bằng hoặc lớn hơn giá trị bình thường dự kiến (FEV1 ≥ 80%).

Ở giai đoạn đầu, các triệu chứng của bệnh biểu hiện khá nhẹ.

COPD giai đoạn 2

Giá trị FEV1 nằm trong khoảng từ 50-79% so với giá trị bình thường dự kiến.

Các triệu chứng như khó thở sau khi hoạt động và ho, khạc đờm đáng chú ý hơn. Giai đoạn này được coi là COPD vừa phải.

COPD giai đoạn 3

Giá trị FEV1 rơi vào khoảng 30-49% so với giá trị bình thường dự kiến.

Trong giai đoạn nghiêm trọng này, xuất hiện tình trạng khó thở, mệt mỏi và khả năng chịu đựng thấp hơn đối với hoạt động thể chất thường ngày. Các đợt bùng phát COPD xảy ra thường xuyên hơn, đây là mức độ COPD nặng.

COPD giai đoạn 4

Đây là giai đoạn nghiêm trọng nhất của bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính. Giá trị FEV1 dưới 30% so với mức bình thường dự kiến hoặc FEV1 dưới 50% khi bạn mắc phải suy hô hấp mạn tính.

Ở giai đoạn này, chất lượng cuộc sống bị ảnh hưởng rất nhiều và các biến chứng trầm trọng có thể đe dọa đến tính mạng.

Đo chức năng hô hấp hỗ trợ điều trị COPD Đo chức năng hô hấp giúp tiết lộ điều gì về COPD?

Thường xuyên sử dụng phế dung kế để theo dõi tiến triển bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính trong khi điều trị là vô cùng cần thiết.

Mỗi giai đoạn bệnh đều có những vấn đề riêng cần giải quyết, hiểu rõ bệnh đang ở mức độ nào cho phép bác sĩ lựa chọn phương pháp điều trị tốt nhất.

Bác sĩ cũng sẽ xem xét các yếu tố như các tình trạng sức khỏe hiện tại để khuyên bạn thực hiện điều trị phục hồi chức năng như tập thể dục.

Đo chức năng hô hấp cùng với những phương pháp điều trị theo từng giai đoạn sẽ cho biết bạn có đang hồi phục hiệu quả hay không, có cần thay đổi liệu pháp khác không.

Kết quả kiểm tra đo chức năng hô hấp có thể cho bác sĩ biết nếu dung tích phổi đã ổn định, cải thiện hoặc giảm sút. Từ đó, bác sĩ sẽ có một số điều chỉnh trong chữa trị.

Kết luận Đo chức năng hô hấp giúp tiết lộ điều gì về COPD?

Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính là một tình trạng bệnh chưa thể chữa khỏi hiện nay. Tuy nhiên, những phương pháp điều trị và thay đổi lối sống có thể giúp giảm bớt các triệu chứng, làm chậm tiến triển cũng như cải thiện chất lượng cuộc sống của bạn.

Hô Hấp Ký Đo Chức Năng Hô Hấp

Đo hô hấp ký là xét nghiệm giúp chẩn đoán các tình trạng bệnh lý của phổi, phổ biến nhất là bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD). Ngoài ra đo hô hấp ký được dùng để theo dõi mức độ nghiêm trọng của một số bệnh lý về phổi, cũng như theo dõi đáp ứng hiệu quả điểu trị.

Hô hấp ký là gì? Xét nghiệm này được thực hiện như thế nào?

Trước khi làm, bạn được đo chiều cao và cân nặng. Khi đo bạn cần phải thổi vào máy hô hấp ký. Trước tiên bạn ngậm môi xung quanh ống thổi, hít sâu vào sau đó thổi ra mạnh nhất có thể tới khi không thổi thêm khí được nữa. Quá trình này mất vài giây. Để đánh giá thêm về chức năng phổi, kỹ thuật viên đo có thể yêu cầu bạn hít sâu vào sau đó thở ra chậm hết sức có thể tùy thuộc vào mục đích chuẩn đoán. Trong quá trình đo, kỹ thuật viên kẹp mũi của bạn bằng một cái kẹp mũi mềm để đảm bảo rằng bạn không thở ra đường mũi. Kỹ thuật viên có thể thực hiện lặp lại hơn ba lần để kiểm tra xem kết quả đọc được có giống nhau ở mỗi lần thổi.

Các thông số giá trị khi đo chức năng hô hấp bằng hô hấp ký?

Máy hô hấp ký đo được thể tích và tốc độ dòng khí bạn hít vào và thở ra. Các thông số máy ghi nhận được bao gồm:

Thể tích khí thở ra gắng sức trong 1 giây đầu tiên (Forced expiratory volume in one second – FEV1). Đây là thể tích không khí mà bạn có thể thổi ra trong vòng một giây đầu tiên của thì thở ra. Bình thường bạn thường có thể thổi ra hầu hết không khí ra khỏi phổi trong vòng một giây.

Những kết quả đo được thể hiện điều gì?

Một kết quả đo chức năng hô hấp bằng hô hấp ký thường được thể hiện như sau:

Kết quả hô hấp ký bình thường

Một kết quả hô hấp ký bình thường sẽ thay đổi phụ thuộc vào độ tuổi, thể trạng, chủng tộc và giới tính. Giới hạn bình thường được thể hiện trên biểu đồ, và bác sĩ tham khảo biểu đồ này khi họ đánh giá kết quả đo của bạn.

Hội chứng tắc nghẽn

Gặp trong tình trạng hẹp hay tắc nghẽn đường hô hấp. Nguyên nhân chính gây nên hội chứng tắc nghẽn khi đo phế dung là hen phế quản và COPD. Vì thế, đo hô hấp ký có thể giúp chẩn đoán tình trạng bệnh. Nếu đường hô hấp bị hẹp hay tắc nghẽn, nó sẽ làm cho lượng không khí bạn thở ra nhanh giảm xuống. Vì vậy, chỉ số FEV1 sẽ giảm và tỷ lệ FEV1/FVC là thấp hơn so với bình thường. Theo quy ước, hội chứng tắc nghẽn xảy ra khi: Chỉ số FEV1/FVC thấp hơn 0,7, Chỉ số FEV1 có thể ít hơn 80% của giá trị dự đoán. Trong khi chỉ số FVC thường là bình thường hoặc gần bình thường. Đánh giá sau thử thuốc giãn phế quản – test dãn phế quản. Kết quả đo hô hấp ký cải thiện nếu đường hô hấp bị hẹp trở nên rộng hơn sau khi xịt thuốc. Ở bệnh nhân COPD, bác sĩ thường dung chỉ số FEV1 sau thử thuốc để đánh giá mức độ tắc nghẽn.Đối với bệnh lý hen phế quản, thường kết quả sau thử thuốc giãn phế quản cải thiện đáng kế, tuy nhiên ở bệnh COPD thường đáp ứng cải thiện kém. Theo một số hướng dẫn, các giá trị sau đây giúp chẩn đoán mức độ tắc nghẽn khi đo hô hấp ký:

Hội chứng hạn chế khi đo hô hấp ký

Hội chứng hạn chế khi đo hô hấp ký, phản ánh gián tiếp qua chỉ số FVC thấp hơn so với giá trị dự đoán. Hội chứng này thường thấy ở nhiều tình trạng bệnh lý khác nhau ảnh hưởng đến mô phổi, hoặc khả năng của phổi khi giãn ra và giữ một lượng khí. Những tình trạng này là do xơ hóa hay sẹo phổi làm cản trở quá trình hít thở. Một số dị tật trong quá trình phát triển của phổi cũng có thể gây ra khiếm khuyết hạn chế này. Chỉ số FEV1 cũng sẽ bị giảm xuống, nhưng đây là do tương ứng với FVC giảm. Vì vậy, khi bị hội chứng hạn chế tỷ lệ FEV1/FVC là bình thường.

Sự kết hợp hội chứng tắc nghẽn và hội chứng hạn chế khi đo hô hấp ký

Trong trường hợp này bạn có thể có hai tình trạng – ví dụ, bệnh hen phế quản cộng với một rối loạn phổi khác. Ngoài ra, một số tình trạng phổi có dấu hiệu của cả hội chứng tắc nghẽn và hội chứng hạn chế. Ví dụ: ở bệnh xơ nang (cystic fibrosis) , có rất nhiều chất nhầy trong đường hô hấp, gây hẹp đường hô hấp (thể hiện phần tắc nghẽn), và gây tổn thương mô phổi (thể hiện phần gây hạn chế).

Đo hô hấp ký có giống với máy đo lưu lượng đỉnh không (peak flow)?

Không. Một máy đo lưu lượng đỉnh là một thiết bị nhỏ để đo tốc độ không khí mà bạn có thể thổi ra nhanh khỏi phổi. Giống như đo hô hấp ký, nó có thể phát hiện hẹp đường hô hấp. Nó thuận tiện hơn đo hô hấp ký và thường được sử dụng để giúp chẩn đoán hen phế quản. Nhiều người bị bệnh hen phế quản cũng sử dụng máy đo lưu lượng đỉnh để theo dõi bệnh. Đối với những người bị COPD, đọc lưu lượng đỉnh có thể đưa ra chẩn đoán sơ bộ về chứng hẹp đường hô hấp, nhưng nó có thể đánh giá không đúng về độ nghiêm trọng của bệnh COPD. Do đó, đo hô hấp ký vẫn là xét nghiệm chính xác hơn để chẩn đoán và theo dõi những người bị COPD.

Trước khi đo hô hấp ký cần chuẩn bị những gì?

Làm theo các hướng dẫn trước khi đo hô hấp ký ở cơ sở xét nghiệm mà bạn được đo xét nghiệm này. Các hướng dẫn có thể bao gồm những điều như: không sử dụng thuốc hít hoặc uống có tác dụng làm giãn phế quản trong một thời gian định sẵn trước khi tiến hành xét nghiệm (một vài giờ hoặc nhiều hơn, tùy thuộc vào loại thuốc hít). Ngoài ra, không được dùng rượu, ăn quá no, hoặc tập thể dục mạnh trong một vài giờ trước khi xét nghiệm. Tốt nhất, bạn không nên hút thuốc trong vòng 24 giờ trước khi xét nghiệm.

Đo hô hấp ký có thể gặp những nguy cơ gì?

Đo hô hấp ký là một xét nghiệm có nguy cơ rất thấp (ít gây hại). Tuy nhiên, việc thổi ra mạnh có thể làm tăng áp lực trong lồng ngực, bụng và mắt. Vì vậy, không nên tiến hành đo hô hấp ký nếu bệnh nhân có các tình trạng sau đây:

Đau thắt ngực không ổn định.

Thử nghiệm đảo ngược – Test đáp ứng thuốc giãn phế quản

Đo Chức Năng Hô Hấp

1. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ ĐO CHỨC NĂNG HÔ HẤP

1.1. Đại cương

   Đo chức năng hô hấp( thăm dò chức năng hô hấp) là sử dụng các phương pháp để đánh giá hoạt động chức năng của bộ máy hô hấp.Nó bao gồm chức năng thông khí phổi,chức năng vận chuyển khí của máu và vai trò điều hòa của các trung tâm hô hấp.

   Trong thực hành lâm sàng của ngành hô hấp thế giới cũng như ở Việt Nam khi nói đến đo chức năng hô hấp thường được hiểu đơn giản là đánh giá chức năng thông khí phổi.

Có nhiều phương pháp thăm dò chức năng thông khí phổi như hô hấp ký, phế động ký, thăm dò tính đàn hồi của phổi ngực, đo sức cản đường hô hấp… nhưng thông dụng nhất vẫn là hô hấp ký.

 Hô hấp ký là phương pháp ghi lại sự thay đổi các thể tích, dung tích, lưu lượng phổi trong các thì hô hấp bình thường và gắng sức.”

   Các trị số đo được của chức năng hô hấp sau đó được biểu diễn dưới dạng một đường cong trong đó một trục thể hiện các số đo về lưu lượng khí lưu thông, còn trục còn lại thể hiện các số đo của các thể tích khí có trong phổi, do vậy đường cong này còn được gọi là đường cong lưu lượng thể tích.

Giãn đồ

lưu lượng- thể tích                                          Giãn đồ thể tích- thời gian

1.1.1. Các thông số đánh giá khả năng chứa đựng của phổi

     

       Các thông số đánh giá khả năng chứa đựng của phổi là những thông số về thể tích và dung tích (theo qui ước của hô hấp khi có từ 2 thể tích trở lên cộng lại với nhau thì gọi là dung tích). Nhóm thông số này có đơn vị là lít.

-  TV (Tidal Volume) – thể tích khí lưu thông: thể tích khí hít vào và thở ra bình thường

-  IRV (Inspiratory Reserve Volume-thể tích khí dự trữ hít vào): thể tích khí hít vào hết sức sau khi hít vào bình thường. 

-  ERV (Expiratory Reserve Volume –thể tích khí dự trữ thở ra): thể tích khí thở ra hết sức sau khi thở ra bình thường

-  RV (Residual volume-thể tích khí cặn): thể tích khí còn lại trong phổi sau khi thở ra hết sức.

1.1.1.2. Nhóm thông số dung tích (C: capacity)

-  IC (Inspiratory-dung tích hít vào): thể tích khí hít vào hết sức.

-  FRC (Functional Residual Capacity-dung tích cặn chức năng): thể tích khí còn lại trong phổi sau khi thở ra bình thường.

-  VC (Vital Capacity-dung tích sống): thể tích khí hít vào hết sức và thở ra hết sức. VC tăng nhờ luyện tập, giảm nhiều ở một số bệnh phổi hoặc bệnh của lồng ngực như: tràn dịch màng phổi, u phổi, gù vẹo cột sống… Trong thăm dò chức năng thông khí phổi, VC giảm 20% so với chỉ số lý thuyết trở nên được coi là giảm VC bệnh lý. Có 3 dạng:

            + SVC(Slow Vital Capacity): dung tích sống thở chậm.

            + FVC (Forced Vital Capacity-dung tích sống gắng sức): hít vào và thở ra nhanh, mạnh và hết sức,và ở người bình thường FVC=VC.

            + IVC (dung tích sống hít vào): thở ra hết sức rồi hít vào hết sức.

-  TLC (Total Lung Capacity-dung tích toàn phổi): khả năng chứa đựng tối đa của phổi.

1.1.2. Các thông số đánh giá sự thông thoáng của đường dẫn khí

Các thông số đánh giá sự thông thoáng của đường dẫn khí là những thông số về lưu lượng (F: flow) với đơn vị là lít/s và một số thông số khác. Các thông số này có tính đến kháng lực của đường dẫn khí.

-  FEV

1

 (Forced Expiratory Volume in 1st second-VEMS): thể tích khí thở ra tối đa trong 1 giây đầu tiên sau khi hít vào hết sức. FEV

1

 đánh giá mức độ thông thoáng của đường dẫn khí và khả năng giãn nở của phổi, FEV

1

 giảm trong một số bệnh gây thắt hẹp đường dẫn khí đặc biệt trong bệnh hen phế quản.

-  Chỉ số Tiffeneau: là tỷ lệ phần trăm của FEV

1

 so với VC. Bình thường khoảng 70%. Chỉ số Tiffeneau đánh giá mức độ chun giãn của phổi, lồng ngực, cơ hoành, mức độ thông thoáng của đường dẫn khí.

Chỉ số Tiffeneau = FEV

1

/VC x 100.

(Chỉ số Gaensler = FEV

1

/FVC x 100)

Ở người bình thường, FVC xấp xỉ bằng VC nên chỉ số Gaensler cũng xấp xỉ bằng chỉ số Tiffeneau.

-  FEF

25-75%

(Forced Expiratory Flow at 25%-75%):lưu lượng thở ra gắng sức trong khoảng 25%-75% dung tích sống gắng sức.Chỉ số phát hiện sớm tắt nghẽn bắt đầu ở đường dẫn khí có đk< 2mm.

– FIF

50% 

(Forced Inspiratory Flow at 50%)lưu lượng hít vào gắng sức 50% trong dung tích sống gắng sức.Thường đánh giá tắt nghẽn đường hô hấp trên.

-  PEF (Peak Expiratory Flow -lưu lượng đỉnh)

-  MVV ( Maximal Voluntary Ventilation) thông khí phút tối đa

     Máy ghi lưu lượng: dòng khí thở ra tạo nên áp suất P sẽ được bộ phận sensor (cảm biến) chuyển thành đại lượng điện ghi đồ thị biểu diễn lưu lượng F theo thời gian.

     Máy hô hấp kế sẽ được ghép với máy tính tính tích phân lưu lượng cho các kết quả về thể tích.

1.3. Phương tiện dụng cụ

– Máy hô hấp kế

– Giấy ghi hô hấp đồ: giấy nhiệt với khổ giấy phù hợp cho tưng loại máy.

– Ống thở: có thể sử dụng một lần hoặc tái sử dụng.

– Nose clips: kẹp mũi.

– Nhiệt kế phòng.

– Cân và thước đo chiều cao.

1.4. Chỉ định, chống chỉ định hô hấp ký: ATS 1994

1.4.1. Chỉ định

– Chẩn đoán:

đánh giá các triệu chứng,dấu hiệu lâm sàng hay các xét nghiệm cận lâm sang bất thường

+ Triệu chứng:khó thở,khò khè,ngồi thở,ho,đàm ,đau ngực,giảm âm thở,lồng ngực phình,thở ra chậm,tím tái,dị dạng lồng ngực,ran nổ không giải thích được

+ Xét nghiệm cận lâm sang: giảm O2 máu,tăng CO2 máu,đa hồng cầu,X- quang lồng ngực bất thường.

– Đo ảnh hưởng của bệnh lên chức năng hô hấp

– Khám phát hiện trên đối tượng có nguy cơ cao: người hút thuốc lá,người làm việc nơi có chất độc hại,khám sức khỏe định kỳ.

Đánh

giá nguy cơ trước phẫu thuật

– Xác định tiên lượng:ghép phổi

–  

Đánh

giá trước khi tập luyện

–  

Đánh

giá mức độ thương tật

– Theo dõi:tác dụng trị liệu,diễn tiến bệnh lên chức năng phổi,thuốc độc hại với phổi,người làm nơi độc haị với phổi…

1.4.2. Chống chỉ định

– Ho ra máu không rõ nguồn gốc

– Tràn khí màng phổi

– Tình trạng tim mạch không ổn định: mới nhồi máu cơ tim hoặc thuyên tắc phổi

– Túi phình động mạch

– Mới phẫu thuật mắt

– Mới phẫu thuật bụng hay

lồng ngực

– Bệnh nhân không hợp tác: bệnh nhân tâm thần,giảm thính lực….

1.5. Kỹ thuật đo hô hấp ký

– Bệnh nhân được giải thích đầy đủ, an tâm hợp tác. Không mặc quần áo quá chật. Dừng các thuốc giãn phế quản trước khi đo.

Thuốc dạng hít

+ Tác dụng ngắn: 4 giờ

+ Tác dụng dài: 12 giờ

Thuốc giãn phế quản dạng uống     

+ Tác dụng ngắn: 8 giờ

+ Dạng phóng thích chậm: 12giờ

Cho bệnh nhân đo chiều cao, cân nặng sau đó nghỉ ngơi và không dùng các chất kích thích trước khi đo.

– Hướng dẫn bệnh bệnh nhân cách đo, làm mẫu cho bệnh nhân và nếu cần cho bệnh nhân làm thử. Tư thế bệnh nhân ngồi thoải mái, thả lỏng. Trước khi đo phải kẹp mũi, ngậm kín ống thở để đảm bảo nguyên tắc máy và phổi là một hệ thống ống kín.

2. ĐỌC KẾT QUẢ HÔ HẤP KÝ

2.1. Đánh giá kết quả của hô hấp ký

2.1.1. Tiêu chuẩn chấp nhận được

– Khởi đầu tốt: thể tích ngoại suy <5% FVC hoặc 150mL

– Không có các

lỗi kĩ thuật khác:

+ Ho trong giây đầu tiên khi thở ra

+ Đóng nắp thanh môn

+ Gắng sức không

liên tục

+ Kết thúc thở ra sớm

+ Hở khí qua miệng

+ Ống ngậm bị tắc khi thở ra

2.1.2. Tiêu chuẩn

l

ặp

l

ại được

– Sai biệt giữa 2 FVC

l

ớn nhất ≤ 150 mL hay 5%

– Sai biệt giữa 2 FEV1

l

ớn nhất ≤ 150 mL hay 5%

– Số

l

ần thực hiện không quá 4

l

ần

– Thời gian nghỉ giữa 2

l

ần k quá 1 phút

2.2. Đọc kết quả

– Bước 1

+ FVC hay VC<80% → Hội chứng hạn chế

+ Đánh giá mức độ hạn chế

– Bước 2

+ Đánh giá lưu lượng thở ra FEF: 25 – 75

+ FEF 25 – 75: thường thay đổi cùng hướng với FEV1

+ FEF 25 – 75 nhạy hơn trong việc phát hiện tắc nghẽn dòng khí nhỏ

– Bước 4

+ Đánh giá MVV

+ MVV thay đổi tương tự FEV1

+ Bình thường MVV = FEV1x40(30)

+ FEV1↓ → MVV cũng ↓ tuy nhiên không còn đúng theo tỉ lệ trên

+ Khi FEV1 bình thường, MVV ↓ thì có thể:

Hợp tác không tốt: Không gắng sức, hoc, yếu cơ…

Bệnh thần kinh cơ

Tổn thương hô hấp lớn

Béo phì

– Bước 5

+ Đánh giá test dãn phế quản:

+ Bệnh nhân được xịt 400μg Salbutamol, 15 phút sau đo lại hô hấp ký

+ Có đáp ứng test dãn phế khi bệnh nhân có 1 trong 3 tiêu chí sau:

FEV1 ↑ 12% và 200ml (ATS)

FVC hay VC ↑ 12% và 200ml (ATS)

3. CÁC HỘI CHỨNG RỐI LOẠN THÔNG KHÍ

3.1. Hội chứng hạn chế

3.1.1.Tiêu chuẩn chẩn đoán

TLC giảm

(F)VC < 80% dự đoán

FEV1/(F)VC bình thường hoặc tăng

3.1.2. Phân độ

%(F)VC  dự đoán                              

Bậc hạn chế  

< 80 – 60

1 nhẹ

< 60 -40

2 trung bình

< 40

3 nặng

3.1.3. Các nguyên nhân gây Hội chứng hạn chế

: PPINT

P – Bệnh màng phổi

Tràn khí màng phổi

Tràn dịch màng phổi

Dày màng phổi

P – Bệnh nhu mô phổi

Sarcoidosis

Viêm phổi quá mẫn

Xơ phổi do:

Thuốc: busu

l

fa

n (K), nitrofurantoin(K), bleomycin(K), amidarone( chông loạn nhịp) và các thuốc chống K khác.

Paraquat :xơ phổi nhanh,tử vong

Xạ trị vùng phổi.

– Bệnh collagen

Viêm khớp dạng thấp

Lupus ban đỏ hệ thống

Systemic sclerosis: xơ cứng bì hệ thống

– Lymphangitis carcinomatosa: viêm mạch bạch huyết do u ác tính

I – Xơ phổi mô kẽ lan tỏa

N

– Bệnh thần kinh cơ : viêm tủy sống,nhược cơ,teo cơ,HC Guillain Barre

T

– Bệnh lồng ngực: vẹo cột sống,viêm cột sống dính khớp..

3.2. Hội chứng tắc nghẽn

3.2.1. Tiêu chuẩn chẩn đoán

FEV1/FVC <70%

3.2.2. Phân độ

% FEV1 dự đoán

Bậc tắc nghẽn

< 80 -60

1 nhẹ

<60- 40

2 trung bình

<40

3 nặng

* Phân loại giai đoạn theo GOLD 2003

Bệnh nhân với FEV1/FVC < 70%

GOLD 1   nhẹ

FEV1 ≥ 80% trị số dự đoán

GOLD 2  trung bình

50%≤ FEV1 <80%

GOLD 3  nặng

30%≤ FEV1 <50%

GOLD 4  rất nặng

FEV1 < 30% trị số dự đoán

3.2.3. Các nguyên nhân gây Hội chứng tắc nghẽn

: OWL

O

– Bên ngoài phế quản

Phá hủy nhu mô phổi àm giảm lưc keo giãn nở phế quản

Bị hạch hay khói u đè ép

Phù quanh phế quản

W – Do thành phế quản

Dày lên trong viêm phổi,viêm phì đại các tuyến

Co thắt cơ trơn trong hen

Viêm:COPD,hen,viêm phế quản mạn

Xơ,sẹo:COPD,lao phổi biến chứng

L

– Do bên trong òng ống phế quản

Bít tắc do quá nhiều chất tiết

Viêm phế quản mạn

COPD

Hen phế quản

Phù phổi

Hít phải vật

l

Ứ động chất tiết hậu phẫu

Dị dạng phế quản

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Nguyễn Văn Tường

(2006),

Sinh lý học hô hấp và thăm dò chức năng hô hấp

,

NXB Y học, Hà Nội

Lê Thị Tuyết Lan

(2024), Hô hấp ký, Bài giảng SĐH, Đại học Y-Dược TP HCM.

American Thoracic Society guidelines

(1994), Standardization of Spirometry

GOLD

(2024), Global Initiative for chronic obstructive lung Disease,”Global Strategy for the Diagnosis, Managanment and Prevent of Chronic obstructive pulmonary disealse; National Heart, Lung and Blood Institute/WHO”.

 

Hô Hấp Ký Trong Bệnh Copd

Thử nghiệm này hoạt động ra sao?

Trong thử nghiệm hô hấp ký, một thiết bị gọi là hô hấp kế đo lường số lượng không khí bạn có thể thổi ra khỏi hai phổi. Người bị COPD hoặc các bệnh phổi khác không thể thổi không khí ra nhiều như và nhanh như người không bị COPD.

Thử nghiệm này được tiến hành ra sao?

Đầu tiên, bác sĩ hoặc một nhân viên yêu cầu bạn mang một kẹp mũi. Kẹp này giúp bảo đảm rằng tất cả không khí bạn hít thở đi qua miệng. Sau đó, bạn sẽ đặt một ống nhựa vào miệng. Ống này nối với hô hấp kế. Bạn được yêu cầu hít vào sâu rồi thổi ra tất cả không khí trong hai phổi vào ống mạnh hết sức, nhanh hết sức. Hô hấp kế đo lường lưu lượng khí của bạn và bác sĩ sẽ đọc các kết quả. Bác sĩ có thể yêu cầu bạn thực hiện thử nghiệm nhiều lần, hoặc thử nghiệm sau khi bạn đã hít thuốc.

Kết quả có ý nghĩa gì?

Thử nghiệm hô hấp ký sẽ cho bác sĩ biết hai chuyện:

+ Thể tích không khí bạn có thể thở ra trong một giây. Nó được gọi là lưu lượng thở ra gắng sức trong 1 giây – FEV1.

+ Thể tích không khí bạn có thể thở ra trong một lần. Nó được gọi là dung tích sống gắng sức – FVC.

Để xác định hai phổi của bạn hoạt động tốt hay không, bác sĩ sẽ chia FEV1 với FVC. Nó được gọi là tỉ lệ FEV1/FVC. Nếu FEV1/FVC của bạn nhỏ hơn 70%, chức năng phổi của bạn không bình thường. Điều này có nghĩa là bạn bị một tình trạng hô hấp gọi là COPD hoặc suyễn.

Nếu bác sĩ đã chẩn đoán bạn bị COPD, bác sĩ có thể yêu cầu bạn thử nghiệm hô hấp ký lần này qua lần khác. Điều này giúp theo dõi chức năng phổi của bạn và xác định COPD của bạn có đang trở nặng hay không.

Nguồn: FamilyDoctor.orghttp://familydoctor.org/familydoctor/en/diseases-conditions/chronic-obstructive-pulmonary-disease/diagnosis-tests/spirometry-.htmlTrần Thanh Xuân dịch