Chức Năng Tư Tưởng Văn Hóa Của Giáo Dục / 2023 / Top 17 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 12/2022 # Top View | Phauthuatthankinh.edu.vn

Giáo Dục Với Chức Năng Tư Tưởng / 2023

Do giáo dục tác động đến con người cho nên nó cũng có khả năng tác động đến các lĩnh vực của đời sống xã hội, đến các quá trình xã hội mà con người là chủ thể. Những tác dụng của giáo dục đối với các quá trình xã hội xét về mặt xã hội học được gọi là những chức năng xã hội của giáo dục. Có 3 loại chức năng xã hội của giáo dục : Chức năng kinh tế – sản xuất, chức năng – chính trị xã hội và chức năng tư tưởng – văn hoá.

Những chức năng này thể hiện vai trò của giáo dục đối với sự tồn tại và phát triển của xã hội về tất cả các mặt. Chức năng tư tưởng-văn hóa Giáo dục không chỉ có ý nghĩa lớn lao trong lĩnh vưc sản xuất vật chất, mà còn là cơ sở để hình thành nền văn hóa tinh thần của dân tộc – Giáo dục có tác dụng to lớn đến việc xây dựng một hệ tư tưởng chi phối toàn xã hội . giáo dục Việt Nam có tác dụng vô cùng to lớn trong việc truyền bá hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa, xây dựng ý thức pháp quyền và ý thức đạo đức, xây dựng cho xã hội Việt Nam tư tưởng của chủ nghĩa Mác-lênin và tư tửởng Hồ Chí Minh – Giáo dục cũng có vai trò quan trọng trong việc xây dựng nền văn hóa, văn học, nghệ thuật, góp phần xây dựng một lối sống phổ biến cho toàn xã hội bằng con đường giáo dục nhà trường, giáo dục truyền thông – G iáo dục xây dựng một trình độ văn hoá cho toàn dân. Giáo dục Việt Nam xây dựng trình độ văn hóa cho toàn dân bằng một hệ thống giáo dục trên cơ sở khả năng và nhu cầu hiện tại cũng như xu hướng phát triển của tương lai của nền kinh tế và xã hội nước ta, đồng thời phù hợp với đặc điểm của truyền thống văn hóa của dân tộc và xu hướng phát triển của thời đại – Giáo dục góp phần phát triển tư tưởng văn hoá bằng cách phổ cập giáo dục phổ thông với trình độ ngày càng cao cho toàn xã hội. Với một nền giáo dục phổ thông tốt được phổ cập rộng rãi, sẽ nâng cao dân trí, làm xuất hiện và bồi dưỡng nhân tài, đào tạo nguồn nhân lực cho đất nước. -Giáo dục bồi dưỡng nhân tài cho đất nước bằng việc thành lập các trường chuyên, lớp chọn. Phát hiện và bồi dưỡng nhân tài, góp phần làm phong phú thêm các giá trị văn hóa-xã hội thúc đẩy các quá trình xã hội phát triển – Trong sự phát triển hội nhập giáo dục là cầu nối giữa thế hệ trẻ với các nền văn hóa. Nhờ có giáo dục mà thế hệ trẻ biết được, lĩnh hội và phát huy có chọn lọc nền văn hóa của đất nước và các nền văn hóa khác. Giáo dục thúc đẩy xã hội phát triển. Trong xã hội ta hiện nay giáo dục được sử dụng như là một công cụ của chuyên chính vô sản để tuyên truyền phổ biến các đường lối chủ trương đổi mới của đất nước để giác ngộ quần chúng nhân dân giúp họ nhận thức đúng các chủ trương đường lối của Đảng và chính sách pháp luật của nhà nước từ đó họ có ý thức tự giác chấp hành và vân động mọi người thực hiện. Tóm lại: Sự nghiệp giáo dục-đào tạo có nhiệm vụ đào tạo các thế hệ công dân mới, đầy đủ tài năng, phẩm chất và bản lĩnh để đưa đất nước ra khỏi tình trạng nghèo nàn, tiến lên đuổi kịp trào lưu phát triển của thế giới. không thể thiết kế chiến lược con người nếu không đặt giáo dục vào đúng vị trí của nó trong đời sống xã hội hiện đại. Hội nghị lần thứ hai Ban chấp hành trung ương khóa 8 đã xác định: “Nhiệm vụ và mục tiêu cơ bản của giáo dục là nhằm xây dựng con người và thế hệ thiết tha gắn bó với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có đạo đức trong sáng, có ý chí kiên cường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa của dân tộc, có năng lực tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại,…”

Chu Văn Quý @ 23:35 10/03/2010 Số lượt xem: 9375

Chương Vii Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Văn Hóa / 2023

, Student at Ho Chi Minh Open University

Published on

Tư tưởng Hồ Chí Minh chương VII tư tưởng hồ chí minh về văn hóa

1. CHƯƠNG VII: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VĂN HÓA, ĐẠO ĐỨC VÀ XÂY DỰNG CON NGƯỜI MỚI GVHD: Cô Phạm Kim Dung Nhóm thực hiện: Nguyễn Thị Hòa STT 27 Lê Thị Ân Huệ STT 29 TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

2. NỘI DUNG Những quan điểm cơ bản của Hồ Chí Minh về văn hóa Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng con người mới

3. I. NHỮNG QUAN ĐiỂM CƠ BẢN CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ VĂN HÓA A. Định nghĩa về văn hóa ” vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn , ở và phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn.” 1. Định nghĩa về văn hóa và quan điểm xây dựng nền văn hóa mới

4. Giá trị vật chất Giá trị tinh thần VĂN HÓA Nhằm đáp ứng sự sinh tồn cũng là mục đích sống của loài người

5. b. Quan điểm về xây dựng nền văn hóa Xây dựng nền văn hóa 1. Xây dựng tâm lý 2. Xây dựng luân lý 3. Xây dựng xã hội 4. Xây dựng chính trị 5. Xây dựng kinh tế

6. a. Quan điểm về Vị trí và vai trò của văn hóa trong đời sống xã hội Một là văn hóa là đời sống tinh thần của xã hội thuộc kiến trúc thượng tầng Văn hóa Chính trị Kinh tế Xã hội 2. Quan điểm của Hồ Chí Minh về các vấn đề chung của văn hóa

7. chính trị, xã hội có được giải phóng thì văn hóa mới được giải phóng. chính trị giải phóng mở đường cho văn hóa phát triển Trong quan hệ với chính trị

8. Trong quan hệ với kinh tế Phải chú trọng xây dựng kinh tế, xây dựng cơ sở hạ tầng để có điều kiện xây dựng và phát triển văn hóa

9. Hai là, văn hóa không thể đứng ngoài mà phải ở trong kinh tế và chính trị, phải phục vụ nhiệm vụ chính trị và thúc đẩy phát triển văn hóa Chính trị Văn hóa Văn hóa phải tham gia vào nhiệm vụ chính trị, tham gia vào cách mạng, kháng chiến và xây dựng xã hội chủ nghĩa Kinh tế Văn hóa Văn hóa phải phục vụ thúc đẩy việc phát triền kinh tế

10. b. Quan điểm về Tính chất của nền văn hóa Tính khoa học Chiều sâu đặc trưng của văn hóa dân tộc, Tính dân tộc Tính đại chúng Hiện đại, tiên tiến, thuận với trào lưu thời đại , kế thừa truyền thống tốt đẹp của dân tộc và tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại Phải phục vụ nhân dân và do nhân dân xây dựng nên

11. c. Quan điểm về chức năng của văn hóa Tư tưởng Tình cảm Bồi dưỡng tư tưởng đúng đắn và những tình cảm cao đẹp Chức năng cao quý nhất của văn hóa là phải bồi dưỡng, nêu cao tư tưởng đúng đắn và tình cảm cao đẹp, loại bỏ những sai lầm và thấp hèn Thấp hèn Cao đẹp Sai lầm Đúng đắn

12. c. Quan điểm về chức năng của văn hóa Mở rộng hiểu biết, nâng cao dân trí Nhân dân có thể tham gia sáng tạo và hưởng thụ văn hóa, góp phần cùng đảng ” biến một nước dốt nát, cực khổ thành một nước văn hóa cao và đời sống vui tươi hạnh phúc.  

13. c. Quan điểm về chức năng của văn hóa Bồi dưỡng những phẩm chất, phong cách và lối sống tốt đẹp, lành mạnh, hướng dẫn con người đến chân, thiện , mỹ để hoàn thiện bản thân Văn hóa giúp con người hình thành nên những phẩm chất, phong cách và lối sống tốt đẹp, lành mạnh Phải làm thế nào cho văn hóa thấm sâu vào tâm lý quốc dân, nghĩa là văn hóa phải sửa đổi được những tham nhũng, lười biếng, phù hoa xa xỉ, văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi Phẩm chất Đạo đức Đạo đức Lối sống Thói quen Phomg tục tập quán Đạo đức Lối sống Thói quen Phong tục tập quán

14. 3. Quan điểm của Hồ Chí Minh về một số lĩnh vực của văn hóa a. Văn hóa giáo dục Nền giáo dục phong kiến Nền giáo dục thực dân Tầm chương  kinh viện  bất bình đẳng  trọng nam khinh nữ Ngu dân  đồi bại  xảo trá  nguy hiểm hơn cả sự dốt nát

15. Nền giáo dục hiện đại Mục tiêu *Thực hiện ba chức năng của văn hóa thông qua việc dạy và học Nội dung *Văn hóa *Chính trị *Khoa học- kỹ thuật *Chuyên môn nghề nghiệp *Lao động Phương châm, phương pháp *Phương châm: học đi đôi với hành *Phương pháp: phù hợp với trình độ người học, lứa tuổi Đội ngũ giáo viên *Có đạo đức cách mạng *Yêu nghề nghiệp *Đoàn kết *Giỏi về chuyên môn *Thuần thục về phương pháp

16. b. Văn hóa văn nghệ Một là, văn hóa – văn nghệ là một mặt trận. Nghệ sĩ là chiến sĩ, tác phẩm văn nghệ là vũ khí sắc bén trong đấu tranh cach mạng Hai là, văn nghệ phải gắn với đời sống thực tiễn của nhân dân Ba là, phải có những tác phẩm mới xứng đáng với thời đại của đát nước và dân tộc

17. c. Văn hóa đời sống Đạo đức mới Nếp sống mớiLối sống mới Sống có lý tưởng, đạo đức Cần. Kiệm, liêm, chính Xây dựng nếp sống văn minh

18. Xây dựng văn hóa đời sống mới nhằm biến Việt Nam từ một quốc gia nghèo nàn, lạc hậu trở thành một quốc gia văn minh và phú cường là một công việc lâu dài và phải có phương pháp tốt

19. * Nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức * Sinh viên học tập và làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức

21. Đạo đức là cái gốc của người cách mạng Người cách mạng phải có đức, không có đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân.

22. Đạo đức Sức hấp dẫn của chủ nghĩa xã hội Phẩm chất đạo đức cao quý Chủ nghĩa cộng sản trở thành một sức mạnh vô địch. Tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh Có sức hấp dẫn lớn lao, mạnh mẽ với nhân dân Việt Nam và thế giới + nguồn cổ vũ động viên tinh thần mạnh mẽ.

23. Quan điểm về những chuẩn mực đạo đức cách mạng Trung với nước, hiếu với dân Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư Thương yêu con người, sống có tình nghĩa Có tinh thần quốc tế trong sáng

24. Trung với nước, hiếu với dân Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư Siêng năng, chăm chỉ Tiết kiệm Trong sạch, không tham lam Ngay thẳng Công bằng, công tâm, không thiên vị Thương dân, tin dân, phục vụ nhân dân hết lòng Trung thành với sự nghiệp dựng nước và giữ nước Đối với một quốc gia, cần, kiệm, liêm, chính là thước đo sự giàu có về vật chất, vững mạnh về tinh thần, thể hiện sự văn minh, tiến bộ.

25. Thương yêu con người, sống có tình nghĩa Có tinh thần quốc tế trong sáng Nếu không có tình yêu thương thì không thể nói đến cách mạng, càng không thể nói đến chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản. Sự tôn trọng, hiểu biết, thương yêu và đoàn kết với giai cấp vô sản trên toàn thế giới, với tất cả các dân tộc và nhân dân các nước, chống lại mọi sự chia rẽ, thù hằn, phân biệt chủng tộc…

27. Sinh viên học tập và làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh Việc tu dưỡng đạo đức hết sức quan trọng, đặc biệt là đối với thế hệ trẻ. Thanh niên phải có đức, có tài. Thực hành tốt đạo đức cách mạng giúp ta vượt qua khó khăn, thử thách. Trong xã hội, mỗi người có công việc, vị trí, tài năng khác nhau, nhưng ai giữ được đạo đức cách mạng đều là người cao thượng.

28. Kiên trì tu dưỡng theo các phẩm chất đạo đức Hồ Chí Minh yêu Tổ quốc Nhân dân Chủ nghĩa xã hội Lao động Khoa học và kỷ luật

29. Làm thế nào để có được những phẩm chất ấy?  Rèn luyện đức tính: trung thành, tận tụy, thật thà và chính trực.  Xác định rõ nhiệm vụ của mình.  Kết hợp học tập và rèn luyện.  Chống thói xem khinh lao động, nhất là lao động chân tay.  Chống lười biếng.  Chống kêu ngạo, giả dối, khoe khoang.  Phải trả lời được câu hỏi: Học để làm gì? Học để phục vụ ai? Phải xác định rõ thế nào là tốt, xấu? Ai là bạn, ai là thù?

30. Thực trạng đạo đức lối sống trong sinh viên, thanh niên hiện nay Phần lớn sinh viên, thanh niên tri thức vẫn giữ được đạo đức tốt, lối sống lành mạnh. Đây là những biểu hiện không thể coi thường.

31. Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh 1. Trung với nước, hiếu với dân, suốt đời đấu tranh cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người. 2. Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, đời riêng trong sáng, nếp sống giản dị và đức khiêm tốn phi thường. 3. Đức tin tuyệt đối vào sức mạnh của nhân dân, kính trọng nhân dân và hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân; luôn nhân ái, vị tha, khoan dung và nhân hậu với con người. 4. Tấm gương về ý chí và nghị lực tinh thần to lớn, quyết tâm vượt qua mọi thử thách, gian nguy để đạt được mục đích cuộc sống. HỌC

32. III. TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ XÂY DỰNG CON NGƯỜI MỚI 1. Quan niệm của Hồ Chí Minh về con người a. Con người được nhìn nhận như một chỉnh thể Chỉnh thể thống nhất về: tâm lực, thề lực và các hoạt động Con người trong tính đa dạng: Trong quan hệ xã hội  trong tính cách  trong phẩm chất  trong khát vọng  trong khả năng Sự thống nhất của 2 mặt đối lập Hay Dở Tốt Xấu Thiện ác Hiền Dữ Tính người Tính bản năng

33. b. Con người cụ thể, lịch sử Nghĩa rộng Nghĩa hẹp  ” phẩm giá con người”  “giải phóng con người”  ” người ta”  ” con người”  ” ai”  Con người trong các mối quan hệ xã hội, quan hệ giai cấp  Theo giới tính  Theo lứa tuổi  Theo nghề nghiệp  Trong khối thống nhất của cộng đồng dân tộc  Trong quan hệ quốc tế Con người hiện thực, cụ thể, khách quan

34. c. Bản chất của con người mang tính xã hội Sinh tồn Nhận thức Hiện tượng  quy luật tự nhiên, xã hội Hiểu mình, hiểu người Xác lập mối quan hệ

35. c. Bản chất của con người mang tính xã hội Sản phẩm Tổng hợp các mối quan hệ xã hội từ rộng đến hẹp, bao gồm: quan hệ anh em, họ hàng, bầu bạn, đồng bào, loài người

36. Quan điểm của Hồ Chí Minh về vai trò của con người Con người là vốn quý nhất, nhân tố quyết định thành công của sự nghiệp cách mạng. Con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của cách mạng; phải coi trọng, chăm sóc, phát huy nhân tố con người.

37. “Trồng người” là yêu cầu khách quan, vừa cấp bách, vừa lâu dài của cách mạng. “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, trước hết cần có những con người xã hội chủ nghĩa” Chiến lược “trồng người” là một trọng tâm, một bộ phận hợp thành của chiến lược phát triển kinh tế-xã hội. Quan điểm của Hồ Chí Minh về chiến lược “trồng người”

Công Tác Giáo Dục Tư Tưởng Chính Trị, Đạo Đức, Lối Sống / 2023

Công tác giáo dục tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống

cho đội ngũ cán bộ, giáo viên ngành giáo dục và đào tạo tỉnh từ nay đến năm 2015

Tình hình tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, viên chức, công chức ngành giáo dục trong thời gian qua

Về ưu điểm

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm tới vấn đề đạo đức, nhất là đạo đức của người cách mạng. Bác viết: “Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng mới hoàn thành được nhiệm vụ”. Theo Người, “Cũng như sông phải có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn, không có gốc thì cây héo. Người làm cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân. Quán triệt tư tưởng về đạo đức của Người, trong các năm qua cán bộ, giáo viên ngành giáo dục tỉnh Đồng Nai luôn tận tâm phục vụ lợi ích của nhân dân, của Tổ quốc; luôn có ý thức chính trị, phẩm chất đạo đức và đạo đức nghề nghiệp tốt; có tinh thần trách nhiệm, sáng tạo trong công tác quản lý và giảng dạy.

Bên cạnh đó, cán bộ quản lý và giáo viên của ngành giáo dục tỉnh luôn chấp hành nghiêm túc đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, tận tụy, sáng tạo, có ý thức tổ chức kỷ luật, có đạo đức, lối sống lành mạnh, tích cực học tập, rèn luyện, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, kiên định trước khó khăn, thách thức, không ngừng tham gia học tập và tự học nhằm nâng cao năng lực chuyên môn, nhận thức chính trị, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu của xã hội. Giữ gìn tư cách đạo đức, nhân cách và hình mẫu mô phạm của người thầy; nghiêm túc chấp hành quy chuẩn đạo đức nghề nghiệp. Có ý thức thực hiện cuộc vận động “hai không” trong giáo dục với bốn nội dung: “Nói không với tiêu cực trong thi cử, bệnh thành tích, vi phạm đạo đức nhà giáo và học sinh ngồi nhầm lớp”.

Đến nay, toàn ngành hiện có trên 8.960 đảng viên/32.631 CB, GV, CNV. Đây là lực lượng nòng cốt, tiên phong, gương mẫu trong các hoạt động đặc biệt là trong triển khai thực hiện cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”.

Về hạn chế, khuyết điểm: Công tác giáo dục tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống

Bên cạnh những ưu điểm mà cán bộ, viên chức, công chức ngành giáo dục tỉnh Đồng Nai đạt được vẫn còn một số hạn chế, khuyết điểm cần khắc phục như: Một bộ phận nhỏ cán bộ, giáo viên, công nhân viên còn hạn chế về năng lực; không tự giác học tập để nâng cao năng lực sư phạm, đáp ứng yêu cầu của nhiệm vụ giáo dục. Một số cán bộ, giáo viên, công nhân viên của ngành giáo dục của tỉnh chưa đạt chuẩn về trình độ, chưa quan tâm đến công tác giáo dục tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống cho học sinh, sinh viên.

Những hạn chế, khuyết điểm nêu trên là do nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan:

Những nguyên nhân khách quan: Do tác động tiêu cực của cơ chế thị trường, đời sống giáo viên dù đã có nhiều cải thiện song phần nào vẫn chưa đáp ứng nhu cầu cuộc sống; do còn khoảng trống trong cơ chế, chính sách, pháp luật, do công tác quản lý cán bộ, giáo viên đôi lúc còn chưa chặt chẽ…

Nguyên nhân chủ quan là từ cá nhân mỗi cán bộ, viên chức, công chức ngành giáo dục tỉnh chưa cố gắng học tập để nâng cao trình độ, đáp ứng yêu cầu công việc; chưa cố gắng vượt khó trong quá trình tổ chức thực hiện nhiệm vụ; chưa rèn luyện tư tưởng đạo đức, nâng cao bản lĩnh để vượt qua các cám dỗ về vật chất, chạy theo lợi ích cá nhân.

Mục đích – yêu cầu

Mục đích: Công tác giáo dục tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống

– Nhằm nâng cao nhận thức, năng lực công tác, phẩm chất chính trị, đạo đức của cán bộ, giáo viên.

– Nâng cao tính chính trị, tính gương mẫu, nêu gương trong đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên; động viên khắc phục khó khăn nêu cao tinh thần trách nhiệm với sự nghiệp giáo dục thế hệ trẻ.

Tăng cường nhận thức của đội ngũ cán bộ, giáo viên về vai trò của giáo dục tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và kỹ năng sống cho sinh học sinh, sinh viên trong phát triển toàn diện con người Việt Nam thời kỳ CNH, HĐH

Tăng cường nhận thức của đội ngũ cán bộ, viên chức, công chức ngành giáo dục về vai trò của giáo dục tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và kỹ năng sống cho học sinh sinh viên là một việc làm rất quan trọng và cần thiết đối với sự nghiệp giáo dục của tỉnh hiện nay, đây là một yếu tố rất quan trọng trong việc hình thành nhân cách, phát triển con người trong nhà trường theo mục tiêu giáo dục đó là “Đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” .

Có thể khẳng định, một trong những mục tiêu quan trọng của nền giáo dục nước ta là giáo dục nhân cách, giáo dục làm người. Tư tưởng, lối sống là biểu hiện của nhân cách được hình thành và phát triển trong môi trường gia đình, nhà trường và xã hội. Muốn giáo dục chính trị, đạo đức, lối sống cho học sinh, sinh viên đạt hiệu quả thì cán bộ, giáo viên cần phải là những người có tư cách đạo đức tốt, không được phép phạm sai lầm về đạo đức và là tấm gương mẫu mực, xử lý các vấn đề kỹ năng trong cuộc sống linh hoạt, hiệu quả để học sinh, sinh viên noi theo.

Việc dạy học phải bắt đầu từ những kỹ năng sống gắn với thực tế, tình huống cụ thể và những quy tắc, quy định văn hóa đạo đức phù hợp tâm sinh lý lứa tuổi của học sinh, sinh viên trong nhà trường.

2.1. Cán bộ, viên chức, công chức ngành giáo dục Giải pháp: Công tác giáo dục tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sốngcần xác định đúng vị trí của công tác giáo dục tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và kỹ năng sống trong nhà trường

Những vấn đề trọng tâm của công tác giáo dục tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống và kỹ năng sống cho học sinh, sinh viên

Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về giáo dục đào tạo đã chỉ rõ: Giáo dục chính trị, tư tưởng, giáo dục đạo đức, lối sống và kỹ năng sống; giáo dục chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cho học sinh, sinh viên là một việc làm rất quan trọng, cần được toàn xã hội, ngành giáo dục và đào tạo quan tâm hàng đầu, do đó công tác này phải được cấp ủy, các nhà quản lý giáo dục quan tâm chỉ đạo và đầu tư nhân lực và vật lực.

Việc giáo dục tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và kỹ năng sống trong nhà trường cho sinh viên, học sinh là hoạt động có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc bồi dưỡng lý tưởng, nhận thức chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống lành mạnh và kỹ năng sống cho sinh viên học sinh nhằm hình thành những lớp công dân sống có lý tưởng, có bản lĩnh, nhân cách sống và kỹ năng sống chủ động, tích cực trong xã hội.

2.2. Đổi mới nội dung và nhân rộng các hình thức tổ chức giáo dục tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và kỹ năng sống trong nhà trường

Công tác giáo dục tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và kỹ năng sống trong nhà trường cho sinh viên, học sinh là điểm cuối cùng, là khâu then chốt trong giáo dục mà nhà trường phổ thông cần đạt đến. Việc các thầy cô truyền đạt tri thức của nhân loại thông qua các môn học trong nhà trường cũng nhằm để cung cấp cho các em hiểu, nhận thức ra lẽ sống, lý tưởng sống kiến thức và kỹ năng để trở thành một con người sống tích cực và hướng thiện.

Để xác định đúng vị trí của công tác giáo dục tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và kỹ năng sống cho học sinh, sinh viên trong các trường học trên địa bàn tỉnh cần tập trung một số giải pháp sau:

Một là, 100% cán bộ, giáo viên trong trường học được quán triệt về quan điểm chỉ đạo về tăng cường nội dung công tác giáo dục tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và kỹ năng sống trong nhà trường cho sinh viên, học sinh vào trong kế hoạch giảng dạy của nhà trường, coi đây là một trong những nhiệm vụ then chốt của công tác giáo dục.

Hai là, đối với các giáo viên chủ nhiệm, giáo viên dạy bộ môn đều phải lên chương trình lồng ghép, tích hợp giáo dục tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và kỹ năng sống trong nhà trường cho sinh viên, học sinh trong bộ môn mình đảm nhiệm tùy theo từng cấp học.

* Giải pháp:

Ba là, đối với giáo viên là Bí thư Đoàn trường và tổng phụ trách Đội phải xây dựng chương trình hoạt động trong đó tập trung đẩy mạnh công tác giáo dục tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và kỹ năng sống trong nhà trường cho sinh viên, học sinh, xây dựng môi trường văn hóa học đường.

Bốn là, tập trung giáo dục, tạo môi trường cổ vũ, hỗ trợ, định hướng học sinh trong việc hình thành lý tưởng sống tốt đẹp, xây dựng lối sống đẹp, văn hóa học đường, đồng thời ngăn chặn, xóa bỏ các hiện tượng: sống không có hoài bào, ước mơ, không có lý tưởng; không có ý thức giữ gìn trật tự và vệ sinh nơi công cộng; ăn mặc không phù hợp với lứa tuổi và hoàn cảnh; gian lận trong thi cử; vi phạm qui chế trường học, nội qui lớp học; đồng thời tăng cường hình thành và rèn luyện các kỹ năng sống có giá trị…

Một trong các nhiệm vụ mà ngành giáo dục và đào tạo hướng đến trong thời gian tới là đổi mới nội dung và nhân rộng các hình thức tổ chức giáo dục tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và kỹ năng sống trong nhà trường thông qua các việc làm cụ thể như:

2.3. Tăng cường công tác bồi dưỡng nâng cao nhận thức chính trị và kỹ năng sư phạm cho cán bộ quản lý và giáo viên

– Các môn học đều phải có nội dung tích hợp giáo dục chính trị tư tưởng, đạo đức, lối sống và kỹ năng sống cho học sinh. Qua đó, giúp cho sinh viên học sinh xác định đúng đắn mục đích, động cơ, thái độ học tập và rèn luyện.

* Giải pháp:

– Đổi mới phương pháp giáo dục và tổ chức các hoạt động ngoài giờ lên lớp đa dạng và phong phú, cụ thể dưới nhiều hình thức.

– Khích lệ và tạo điều kiện để học sinh tham gia các hoạt động của địa phương, nhà trường, của các tổ chức đoàn thể chính trị – xã hội…

Một là, tổ chức các hội thi, cuộc thi viết, thi thuyết trình, các diễn đàn… với những nội dung về tăng cường giáo dục đạo đức và lối sống cho học sinh qua đó góp phần định hướng giá trị sống, lý tưởng sống cho học sinh.

Hai là, tổ chức các hoạt động giao lưu giữa các đơn vị nhằm học hỏi những mô hình hay, nhưng cách làm sáng tạo và hiệu quả nhằm nhân rộng và triển khai tốt các nội dung giáo dục đạo đức lối sống và kỹ năng sống.

Ba là, mời các chuyên gia tham vấn tâm lý hoặc những thầy cô có kinh nghiệm cũng như uy tín trong học sinh để nói chuyện theo các chuyên đề, qua đó nhằm gợi mở, nắm bắt tư tưởng và định hướng cách nghĩ cho học sinh

Trong những năm qua, đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên ngành giáo dục và đào tạo tỉnh nhà đã có những đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp giáo dục và đào tạo, đã có bước trưởng thành vượt bậc cả về số lượng và chất lượng. Tuy nhiên, để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ mà Đảng và Nhà nước giao phó, phát huy được những kết quả đạt được, trong thời gian tới đội ngũ cán bộ và giáo viên cần được nâng cao về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, nâng cao nhận và phẩm chất chính trị, đạo đức, tính gương mẫu… Tăng cường đổi mới phương pháp giảng dạy, mềm hóa các hình thức chuyển tải kiến thức và linh hoạt hoạt trong việc cung cấp kiến thức cho học sinh.

Một là, Sở Giáo dục và Đào tạo tiến hành tập huấn cho giáo viên ở từng cấp học về phương pháp tích hợp, lồng ghép các nội dung giáo dục chính trị tưởng, đạo đức lối sống và kỹ năng sống, trong đó sẽ tập huấn cho giáo viên ở những bộ môn cụ thể.

Hai là, nâng cao chất lượng hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở trường học bằng các việc làm cụ thể như:

– Coi hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp (GDNGLL) là hoạt động cơ bản được thực hiện có mục đích, tổ chức có kế hoạch.

– Hoạt động GDNGLL không phải là một hoạt động “phụ khóa” mà nó thực sự là một bộ phận quan trọng không thể thiếu trong các hoạt động giáo dục.

– Hoạt động GDNGLL là “cầu nối” tạo ra mối liên hệ hai chiều giữa nhà trường với xã hội.

* Về đạo đức nghề nghiệp

Thông qua hoạt động GDNGLL nhà trường và học sinh có điều kiện phát huy vai trò tích cực của mình đối với cuộc sống xã hội. Hoạt động GDNGLL vừa có mục đích giáo dục học sinh vừa có mục đích phục vụ xã hội; mặt khác, GDNGLL là điều kiện và phương tiện để huy động sức mạnh của cộng đồng tham gia vào quá trình giáo dục học sinh và phát triển nhà trường.

Ba là, đối với đội ngũ cán bộ Đoàn và tổng phụ trách Đội trong trường học, một năm sẽ tham gia tập huấn ít nhất 02 đợt, trong đó sẽ tập trung tập huấn về các nội dung như: kỹ năng, nghiệp vụ cho cán bộ Đoàn – Đội trường học, nội dung sinh hoạt chi Đoàn – chi Đội, phương pháp đổi mới nội dung hình thức công tác giáo dục của Đoàn trong trường học, kỹ năng tổ chức các chương trình dã ngoại, tổ chức các hội thi… qua đó nhằm tăng cường đổi mới và sáng tạo trong tổ chức hoạt động của tổ chức Đoàn – Đội, để hoạt động Đoàn – Đội trong trường học thực sự thu hút học sinh, sinh viên

2.4. Nêu cao tính chuẩn mực, gương mẫu của cán bộ, giáo viên đối với sinh viên học sinh thông qua việc nâng cao nhận thức chính trị, trau dồi đạo đức nghề nghiệp và phẩm chất đạo đức, lối sống (Căn cứ theo chuẩn về đạo đức nhà giáo (Ban hành kèm theo quyết định số 16/2008/QĐ-BGDĐT ngày 16/4/2008 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo)

– Chấp hành nghiêm chỉnh chủ trư­ơng, đ­ường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nư­ớc; thi hành nhiệm vụ theo đúng quy định của pháp luật. Không ngừng học tập, rèn luyện nâng cao trình độ lý luận chính trị để vận dụng vào hoạt động giảng dạy, giáo dục và đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao.

* Về lối sống, tác phong

– Có ý thức tổ chức kỷ luật, chấp hành nghiêm sự điều động, phân công của tổ chức; có ý thức tập thể, phấn đấu vì lợi ích chung.

– Gương mẫu thực hiện nghĩa vụ công dân, tích cực tham gia các hoạt động chính trị, xã hội.

– Tâm huyết với nghề nghiệp, có ý thức giữ gìn danh dự, l­ương tâm nhà giáo; có tinh thần đoàn kết, th­ương yêu, giúp đỡ đồng nghiệp trong cuộc sống và trong công tác; có lòng nhân ái, bao dung, độ lư­ợng, đối xử hoà nhã với người học, đồng nghiệp; sẵn sàng giúp đỡ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng của học sinh, đồng nghiệp và cộng đồng.

– Tận tụy với công việc; thực hiện đúng điều lệ, quy chế, nội quy của đơn vị, nhà trường, của ngành.

– Công bằng trong giảng dạy và giáo dục, đánh giá đúng thực chất năng lực của người học; thực hành tiết kiệm, chống bệnh thành tích, chống tham nhũng, lãng phí.

– Thực hiện phê bình và tự phê bình thường xuyên, nghiêm túc; thường xuyên học tập nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, ngoại ngữ, tin học để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp giáo dục.

* Giữ gìn, bảo vệ truyền thống đạo đức nhà giáo

– Sống có lý tư­ởng, có mục đích, có ý chí vượt khó vươn lên, có tinh thần phấn đấu liên tục với động cơ trong sáng và tư duy sáng tạo; thực hành cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.

– Tác phong làm việc nhanh nhẹn, khẩn trương, khoa học; có thái độ văn minh, lịch sự trong quan hệ xã hội, trong giao tiếp với đồng nghiệp, với người học; giải quyết công việc khách quan, tận tình, chu đáo.

– Trang phục, trang sức khi thực hiện nhiệm vụ phải giản dị, gọn gàng, lịch sự, phù hợp với nghề dạy học, không gây phản cảm và phân tán sự chú ý của người học.

– Đoàn kết, giúp đỡ đồng nghiệp cùng hoàn thành tốt nhiệm vụ; đấu tranh, ngăn chặn những hành vi vi phạm pháp luật và các quy định nghề nghiệp. Quan hệ, ứng xử đúng mực, gần gũi với nhân dân, phụ huynh học sinh, đồng nghiệp và người học; kiên quyết đấu tranh với các hành vi trái pháp luật.

– Xây dựng gia đình văn hoá, thư­ơng yêu, quý trọng lẫn nhau; biết quan tâm đến những người xung quanh; thực hiện nếp sống văn hoá nơi công cộng.

– Không lợi dụng chức vụ, quyền hạn để thực hiện hành vi trái pháp luật, quy chế, quy định; không gây khó khăn, phiền hà đối với người học và nhân dân.

– Không gian lận, thiếu trung thực trong học tập, nghiên cứu khoa học và thực hiện nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục.

– Không trù dập, chèn ép và có thái độ thiên vị, phân biệt đối xử, thành kiến người học; không tiếp tay, bao che cho những hành vi tiêu cực trong giảng dạy, học tập, rèn luyện của người học và đồng nghiệp.

– Không xâm phạm thân thể, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người học, đồng nghiệp, ngư­ời khác. Không làm ảnh hưởng đến công việc, sinh hoạt của đồng nghiệp và người khác.

– Không hút thuốc lá, uống rượu, bia trong công sở, trong trường học và nơi không được phép hoặc khi thi hành nhiệm vụ giảng dạy và tham gia các hoạt động giáo dục của nhà trường.

– Không sử dụng điện thoại di động và làm việc riêng trong các cuộc họp, trong khi lên lớp, học tập, coi thi, chấm thi.

– Không gây bè phái, cục bộ địa phương, làm mất đoàn kết trong tập thể và trong sinh hoạt tại cộng đồng.

– Không được sử dụng bục giảng làm nơi tuyên truyền, phổ biến những nội dung trái với quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước.

– Không trốn tránh trách nhiệm, thoái thác nhiệm vụ, tự ý bỏ việc; không đi muộn về sớm, bỏ giờ, bỏ buổi dạy, cắt xén, dồn ép chương trình, vi phạm quy chế chuyên môn làm ảnh hưởng đến kỷ cương, nề nếp của nhà trường.

Chủ động nắm bắt và định hướng dư luận trong học sinh, sinh viên

– Những vấn đề có tính phức tạp cần kịp thời báo cáo với ban lãnh đạo nhà trường, tổ công tác xử lý thông tin dư luận của nhà trường (theo tinh thần chỉ đạo tại Kế hoạch số 177 ngày 28/11/2012 của Sở Giáo dục và Đào tạo Đồng Nai) để giải quyết và báo cáo ban ngành chức năng.

Đẩy mạnh việc thực hiện Chỉ thị số 03-CT/TW của Bộ Chính trị (khóa XI) gắn với việc thực hiện chuyên đề năm 2013 “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh về phong cách quần chúng, dân chủ, nêu gương”

Có thể khẳng định, phong cách Hồ Chí Minh là tài sản tinh thần vô cùng to lớn của Đảng, của dân tộc ta, mãi mãi là nguồn sáng bất tận soi rọi vào mỗi tâm hồn con người Việt Nam, hướng cho mọi người đến với chân, thiện, mỹ của cuộc sống. Học tập và làm theo phong cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với sự nghiệp cách mạng, sự nghiệp giáo dục ở nước ta hiện nay, giúp cán bộ, giáo viên phải luôn tự tu dưỡng, rèn luyện để trở thành những người có phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống giản dị, trong sáng, luôn lấy lợi ích của nhân dân làm mục đích hoạt động của mình.

Học tập và làm theo phong cách Hồ Chí Minh nhằm mục đích làm cho cán bộ quản lý giáo dục, giáo viên, công chức, viên chức không ngừng rèn luyện để hoàn thiện về phẩm chất và nhân cách của mình, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp giáo dục của thời đại mới. Việc học tập và rèn luyện sẽ giúp cho mỗi cán bộ, giáo viên phát huy ưu điểm, khắc phục khuyết điểm để không ngừng tiến bộ và phát triển.

Hiện nay, khi mà toàn Đảng, toàn dân đang thực hiện Chỉ thị số 03-CT/TW ngày 14-5-2011 của Bộ Chính trị về tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh và Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”, thì việc học tập và làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, nhất là phong cách quần chúng, dân chủ, nêu gương có ý nghĩa rất to lớn, góp phần làm cho việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Bác Hồ có hiệu quả thiết thực hơn.

Phong cách quần chúng trong tư tưởng Hồ Chí Minh bắt nguồn từ sự thấm nhuần sâu sắc quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin. Phong cách quần chúng trong tư tưởng của Người thể hiện bằng phong cách sâu sát quần chúng, vì lợi ích của quần chúng, đi đúng đường lối quần chúng, lắng nghe ý kiến của quần chúng, của những người chiến sĩ cộng sản suốt đời phấn đấu cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người.

Theo Người, phong cách quần chúng của người cán bộ cách mạng là hết sức cần thiết, nhờ đó mà sâu sát, liên hệ mật thiết với nhân dân, không mắc bệnh chủ quan, không quan liêu, đại khái, ham chuộng hình thức. Người đã nhiều lần nhấn mạnh: Sâu sát quần chúng là biểu hiện quan trọng nhất của phương pháp làm việc Xã hội Chủ nghĩa, nó đối lập với lề lối làm việc quan liêu, hống hách, cửa quyền của bọn quan lại cai trị dưới chế độ cũ. Người cũng cho rằng: “Cán bộ muốn cho xứng đáng, phải làm được việc. Muốn làm được việc, thì phải được dân tin, dân phục, dân yêu”. Do vậy, rèn luyện phong cách quần chúng trong công tác luôn là trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Phong cách quần chúng của người cán bộ, giáo viên theo Tư tưởng Hồ Chí Minh biểu hiện ở một số vấn đề cơ bản sau:

Người cán bộ, giáo viên phải luôn có lòng tin tuyệt đối vào đồng nghiệp và học sinh sinh viên; biết phấn đấu, hy sinh vì lợi ích của tập thể, lợi ích của học sinh, sinh viên; coi kết quả giáo dục nhân cách và tri thức cũng như lợi ích của học sinh, sinh viên là mục đích trung tâm; phải biết dựa vào học sinh để xây dựng kế hoạch và có phương pháp giáo dục, giảng dạy cho sát, cho đúng, đồng thời biết dựa vào học sinh, biết tổ chức, động viên, huy động được tiềm năng, sức mạnh của các em để thực hiện thắng lợi kế hoạch đã đề ra để đạt kết quả cao trong giảng dạy và học tập. Để làm được điều đó, đội ngũ cán bộ, giáo viên phải thành tâm, kiên trì trong việc giác ngộ, giáo dục học sinh. Muốn cho học sinh thành thật bày tỏ ý kiến, cán bộ, giáo viên phải thành tâm, phải chịu khó lắng nghe, phải khéo khơi cho các em bày tỏ tâm tư, nguyện vọng của mình. Người thường dạy rằng “Dễ mười lần không dân cũng chịu, khó trăm lần dân liệu cũng xong”. “Nước lấy dân làm gốc”, “Gốc có vững cây mới bền, Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân”. Một khi đã có sự đồng thuận từ phía các đồng nghiệp và từ phía phụ huynh và các em học sinh thì sự nghiệp giáo dục dù có khó khăn đến mấy cũng giải quyết được.

Để có được phong cách quần chúng, Người nhấn mạnh cán bộ đảng viên cần có sự rèn luyện, trau dồi đạo đức tác phong, phải thực sự hòa mình với quần chúng, phải “từ nơi quần chúng ra, trở lại nơi quần chúng”, hiểu quần chúng mới có thể gần gũi quần chúng và được quần chúng yêu mến. Một khi đồng nghiệp, phụ huynh, học sinh yêu mến, kính trọng và tin yêu thì việc gì dù có khó mấy cũng thành công.

Bên cạnh đó, phong cách dân chủ cũng được thể hiện rất rõ trong phong cách của Hồ Chí Minh. Người yêu cầu mỗi cán bộ, đảng viên phải đặt mình trong tập thể, lắng nghe ý kiến của tập thể, phát huy sức mạnh của tập thể, nhận trách nhiệm cá nhân và hoàn thành tốt nhiệm vụ được tập thể giao phó, tuyệt đối tuân thủ nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách. Người nói: “Dân chủ là của cải quý báu nhất của nhân dân, thực hành dân chủ là chìa khóa vạn năng để giải quyết mọi khó khăn”. Người quan niệm cái gì có lợi cho nhân dân, cho dân tộc là chân lý và Người xem phục vụ nhân dân là phục tùng chân lý, làm công bộc cho dân là một việc làm cao thượng.

Đối với người cán bộ quản lý giáo dục và giáo viên luôn cần hiểu học sinh, sinh viên mình, sẵn sàng học ở đồng nghiệp, dùng kinh nghiệm của đồng nghiệp để bồi đắp thêm cho kinh nghiệm của mình. Dân chủ là phải có sự lãnh đạo toàn diện, tuyệt đối và thống nhất của cấp trên theo nguyên tắc dân chủ tập trung, tập thể lãnh đạo – cá nhân phụ trách; dân chủ phải gắn với vai trò chịu trách nhiệm của cá nhân. Dân chủ càng rộng rãi, thì trách nhiệm của cá nhân càng lớn, càng tập trung; trách nhiệm cá nhân phải thể hiện được bản lĩnh dám làm, dám chịu trách nhiệm, không đùn đẩy cho tập thể; người đề ra quyết định phải chịu trách nhiệm với những quyết định của mình. Cương vị lãnh đạo càng cao thì càng đòi hỏi phải có tác phong tập thể – dân chủ thực sự, chứ không phải hình thức. Đồng thời, phải nhất quán trong tư tưởng, chỉ đạo và triển khai thực hiện công tác giảng dạy tri thức và đạo đức cho học sinh, trung thành với mục tiêu của Đảng, luôn luôn đề cao cảnh giác với các thủ đoạn của kẻ xấu nhằm vào học sinh sinh viên, gắn bó và tôn trọng tập thể; đặt lợi ích của học sinh lên trên hết. Quyền của học sinh, sinh viên bao giờ cũng phải gắn với nghĩa vụ của học sinh, không thể tách rời. Phải tạo điều kiện và khuyến khích học sinh bày tỏ tâm tư, nguyện vọng của các em, muốn vậy phải thật gần gũi các em, tạo không khí cởi mở, chia sẻ và tôn trọng học sinh để phát huy tính chủ động, tư tin của học sinh trong quá trình học tập.

Có thể nói, người giáo viên nhất là cán bộ quản lý giáo dục phải biết cách tập hợp được tài năng, trí tuệ của nhiều người, của tập thể để phấn đấu cho mục tiêu chung. Mà muốn làm được vậy, phải tạo ra được một không khí dân chủ thực sự trong nội bộ, tuyệt đối không lợi dụng chức vụ, quyền hạn để thực hiện hành vi trái pháp luật, quy chế, quy định hoặc gây khó khăn, phiền hà cho giáo viên và học sinh sinh viên. Biết gắn bó và tôn trọng tập thể, lắng nghe ý kiến của tập thể, thông qua việc tạo ra không khí phấn khởi, hăng hái, sáng tạo trong công việc. Người cán bộ, giáo viên phải nghiêm túc thực hành kỷ luật, thực hiện nghiêm túc kỷ luật của cơ quan, đơn vị mình đây cũng chính là đạo đức của người giáo viên. Thực hiện tốt phong cách dân chủ là góp phần thắng lợi trong sự nghiệp giáo dục của thời kỳ mới.

Phong cách nêu gương, theo Hồ Chí Minh, nêu gương thì trước hết phải làm gương trong mọi công việc từ nhỏ đến lớn, thể hiện thường xuyên, về mọi mặt, phải cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư, nói phải đi đôi với làm. Người yêu cầu mỗi cán bộ, đảng viên phải làm kiểu mẫu trong công tác và lối sống, trong mọi lúc, ở mọi nơi; nói phải đi đôi với làm, để quần chúng noi theo. Nói đi đôi với làm, đối lập với nói mà không làm của những người hứa suông hoặc “nói một đằng, làm một nẻo” của những kẻ cơ hội. Tự mình phải gương mẫu thực hiện nêu gương trước mới giúp người khác làm theo, bản thân mình không gương mẫu thì không thể nói ai được.

Có thể khẳng định, nêu gương có vai trò hết sức to lớn đối với việc hoàn thiện đạo đức con người. Trong gia đình thì người con chịu ảnh hưởng trực tiếp từ cha mẹ. Người anh, người chị phải là tấm gương đối với em. Trong tổ chức, tập thể, những người lãnh đạo phải là tấm gương cho cấp dưới. Trong nhà trường, thầy cô phải là tấm gương sáng đối với học trò…

Vì thế là người cán bộ quản lý giáo dục và giáo viên, có thể nói trước hết cần phải nêu gương trên ba mối quan hệ đó là: đối với mình, đối với đồng nghiệp, đối với học sinh và việc học tập nghiên cứu, giảng dạy. Đối với mình phải không tự cao tự đại, tự mãn, kiêu ngạo mà luôn học tập cầu tiến bộ, luôn tự kiểm điểm để phát triển điều hay, sửa đổi điều dở của bản thân, phải tự phê bình mình như rửa mặt hằng ngày; đối với đồng nghiệp và học sinh luôn giữ thái độ chân thành, khiêm tốn, đoàn kết, thật thà, không dối trá, lừa lọc, khoan dung, độ lượng; đối với việc học tập và giảng dạy dù trong hoàn cảnh nào phải giữ nguyên tắc “dĩ công vi thượng” (để việc công lên trên, lên trước việc tư) hết lòng vì đồng nghiệp và học trò; thường xuyên học và tự học nâng cao phẩm chất chính trị, năng lực quản lý lãnh đạo… để phục vụ công tác ngày một tốt hơn.

Chủ tịch Hồ Chí Minh nhiều lần nhắc nhở cán bộ, đảng viên, trước dân chúng, không phải chúng ta cứ viết lên trán hai chữ “cộng sản” là được người ta tôn trọng, mà muốn lãnh đạo nhân dân “mình phải làm mực thước cho nhân dân bắt chước”. Trong phong trào xây dựng đời sống mới, xây dựng xã hội mới, Người nhắc nhở cán bộ, đảng viên phải thực hiện phương châm “đảng viên đi trước, làng nước theo sau”, nghiêm túc thực hiện cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, kiên quyết đấu tranh với tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, xa xỉ. Có như thế người cán bộ cách mạng mới được dân mến, dân tin, dân phục, mới có thể công tâm, sâu sát, gắn bó mật thiết với quần chúng nhân dân.

nghe nhạc: Nhạc thiếu nhi vui nhộn hay nhất

Biện Pháp Giáo Dục Hành Vi Văn Hóa… / 2023

BIỆN PHÁP GIÁO DỤC HÀNH VI VĂN HÓA TRONG GIAO TIẾP ỨNG XỬ CHO TRẺ (6-11 tuổi) TRONG GIA ĐÌNH HIỆN NAY

Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

2. THỰC TRẠNG

Để xác định các biện pháp giáo dục hành vi văn hoá trong giao tiếp ứng xử cho trẻ trong gia đình, chúng tôi đã tiến hành điều tra 88 phụ huynh (44 nam và 44 nữ) trên địa bàn thành phố Thanh Hoá.

TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC – SỐ 17. 2014

Bảng 1: Nhận thức của cha mẹ về giáo dục HVVH trong giao tiếp ứng xử cho trẻ trong gia đình.

Khoa Tâm lý – Giáo dục, Trường Đại học Hồng Đức

26

Qua bảng số liệu cho thấy: Số lƣợng ý kiến của các bậc cha mẹ cho rằng việc giáo dục hành vi văn hoá trong giao tiếp ứng xử cho trẻ 6 – 11 tuổi trong gia đình là “rất cần thiết” chiếm tỉ lệ cao nhất (53,4% tổng số ý kiến trả lời), số ý kiến trả lời “cần thiết” chiếm 42,1% và số ý kiến cho rằng công việc này bình thƣờng chiếm tỉ lệ rất ít 4,5% và không có ý kiến nào cho rằng, công việc này là không cần thiết. Nhƣ vậy, hầu hết các bậc cha mẹ đều nhận thức đƣợc tầm quan trọng và sự cần thiết của việc hình thành thói quen, nếp sống, hành vi ứng xử văn hoá cho con trong độ tuổi này. Một số ít cha mẹ trả lời bình thƣờng là do họ chƣa thực sự quan tâm đến việc giáo dục, uốn nắn con cái trong độ tuổi này và họ quá đề cao đời sống vật chất, ít chú ý tới đời sống tinh thần của trẻ.

TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC – SỐ 17. 2014

Để hiểu rõ hơn sự quan tâm của các bậc cha mẹ đối việc giáo dục hành vi văn hoá cho trẻ, chúng tôi tiếp tục tìm hiểu việc sử dụng các biện pháp giáo dục hành vi văn hoá cho trẻ trong gia đình, nguyên nhân và các yếu tố ảnh hƣởng, thời gian cha mẹ dành cho con cái…

Bảng 2: Mức độ sử dụng các biện pháp giáo dục trong gia đình của các bậc cha mẹ.

27

Qua kết quả ở Bảng 2, chúng tôi có một số nhận xét sau: Các biện pháp: 2.1; 2.2; 2.3; 2.4; 2.5; 2.6; 2.7; 2.8; 2.9 có ĐTB từ 2,21 đến 2,86 chứng tỏ cha mẹ đã chú ý sử dụng ở mức độ thƣờng xuyên.

Biện pháp mà các bậc cha mẹ sử dụng nhiều nhất là biện pháp “Khen thƣởng, động viên, khích lệ” và biện pháp “Cha mẹ làm gƣơng cho con” có ĐTB đạt 2,85. Trong độ tuổi này trẻ chƣa có khả năng tự kiểm tra, tự đánh giá các hành động, hành vi của bản thân và ngƣời lớn, trẻ thiên về bắt chƣớc và làm theo. Do đó, cha mẹ luôn uốn nắn mình, làm gƣơng cho con cái là rất cần thiết. Việc cha mẹ sử dụng các biện pháp này thƣờng xuyên chứng tỏ họ đã ý thức đƣợc tính chất giáo dục bằng sự làm gƣơng trong gia đình có ảnh hƣởng rất lớn đến trẻ và mang lại hiệu quả cao trong giáo dục. Khen thƣởng, động viên khuyến khích là biện pháp uốn nắn hành vi của trẻ, giúp trẻ phân biệt cái tốt, cái xấu, cái đƣợc phép và không đƣợc phép rất hiệu quả. Còn biện pháp “mắng chửi thậm tệ” các bậc cha mẹ không hoặc rất ít sử dụng. ĐTB chỉ 1.20 thấp nhất chứng tỏ các bậc cha mẹ không sử dụng hoặc rất ít khi sử dụng. Các bậc cha mẹ nhận thức rất rõ nếu thƣờng xuyên chửi mắng con sẽ làm trẻ bị tổn thƣơng về mặt tinh thần và làm cho trẻ trở nên bƣớng bỉnh hơn, chống đối, cãi lại cha mẹ và ảnh hƣởng đến cách cƣ xử của trẻ với mọi ngƣời…

Từ kết quả điều tra thực trạng cùng với quan sát cuộc sống của một số gia đình, phỏng vấn cha mẹ có con trong độ tuổi, nghiên cứu, trao đổi với các chuyên gia về giáo dục gia đình, các giảng viên ở trƣờng ĐH… Chúng tôi rút ra một số nhận xét về về hành vi văn hoá của trẻ 6-11 tuổi trong gia đình nhƣ sau:

Phần lớn trẻ đã bắt đầu nhận thức đƣợc những yêu cầu cần phải thực hiện theo đúng chuẩn mực, nhƣng đó chỉ là những hành vi đơn giản và mang tính bắt buộc cao. Các bậc cha mẹ đã nhận thức đƣợc sự cần thiết phải hình thành cho trẻ thói quen, nề nếp tốt trong gia đình. Họ đã tích cực tổ chức cuộc sống nề nếp ngăn nắp và tạo cho các em những mối quan hệ trong gia đình theo yêu cầu chuẩn mực văn hoá, đạo đức xã hội. Nhiều bậc bậc cha mẹ ý thức rất rõ vai trò của gia đình trong việc hình thành và phát triển nhân cách học sinh. Họ đã áp dụng tốt những mục tiêu, nội dung giáo dục đạo đức, giáo dục kỹ năng sống cho trẻ em độ tuổi tiểu học… Nhƣng nhìn chung, các bậc cha mẹ tập chung đầu tƣ nhiều cho con học tốt các môn văn hoá, mong muốn con đỗ đạt cao còn vấn đề giáo dục đạo đức lối sống, quan hệ ứng xử hàng ngày cho trẻ còn coi nhẹ và còn lúng túng trong việc xử dụng các biện pháp giáo dục con trong gia đình.

TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC – SỐ 17. 2014

Một trong những vấn đề mà các bậc cha mẹ còn hạn chế trong giáo dục trẻ hiện nay là:

Họ tạo mọi điều kiện vật chất tốt nhất cho cuộc sống, sinh hoạt của con nhƣng chƣa có sự theo dõi, kiểm soát chặt chẽ. Hình thức này thƣờng gặp ở các gia đình kinh doanh, buôn bán hoặc ở những gia đình bố mẹ làm ở các công ty lớn yêu cầu công việc cao.

28

Nhiều cha mẹ giáo dục con theo kiểu hình thức, tự nhiên, khi con bắt đầu có những biểu hiện hành vi sai lệch mới vội vàng tìm cách ngăn ngừa.

Một bộ phận cha mẹ quá đề cao giáo dục nhà trƣờng, gần nhƣ khoán trắng con cho nhà trƣờng còn sự theo dõi của gia đình chỉ là thứ yếu…

3.1. Xây dựng ý thức hành vi văn hoá cho trẻ thông qua việc bồi dưỡng các kiến thức về khoa học giáo dục con cái trong gia đình nói chung và nâng cao nhận thức cho cha mẹ về nhiệm vụ, vai trò, mục tiêu, nội dung giáo dục hành vi văn hoá cho trẻ trong gia đình. Mục tiêu, ý nghĩa

Sở dĩ các bậc cha mẹ còn tồn tại những vấn đề trên là do ảnh hƣởng của nền kinh tế thị trƣờng, chính sách mở cửa giao lƣu kinh tế, văn hoá trong giai đoạn hiện nay đã có những tác động đến nhận thức và hành vi của trẻ, cũng nhƣ của cha mẹ học sinh. Thời gian dành cho trẻ quá ít nên việc rèn luyện, hƣớng dẫn cho con không thƣờng xuyên trong khi đó hàng ngày, hàng giờ có nhiều hành vi, lối sống từ bên ngoài tác động vào trẻ làm cho các em bắt chƣớc và thay đổi hành vi của mình. Phần lớn các cha mẹ kiến thức hiểu biết về tâm sinh lí của con chƣa đầy đủ nên cách giáo dục con còn áp đặt, phiến diện một chiều, nhiều cha mẹ đặt lợi ích của bản thân nhiều hơn là mong muốn phát triển con cái theo đúng nhu cầu và sự phát triển của trẻ. Trong khi đó, sự phối kết hợp giữa gia đình, nhà trƣờng và các tổ chức xã hội chƣa thực sự có sự thống nhất chặt chẽ.

3. MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÁO DỤC HÀNH VI VĂN HOÁ CHO TRẺ TRONG GIA ĐÌNH HIỆN NAY

Để xác định biện pháp giáo dục hành vi văn hoá cho trẻ trong gia đình, chúng tôi dựa trên cơ sở mục tiêu giáo dục, xuất phát từ cơ sở lí luận tâm lí, ý thức, nhân cách đƣợc hình thành và phát triển thông qua hoạt động, từ kết quả thực tiễn nghiên cứu để đề xuất một số biện pháp nhƣ sau:

Bồi dƣỡng các kiến thức về khoa học giáo dục con cái trong gia đình cho các bậc cha mẹ để họ nắm đƣợc một số kiến thức cơ bản nhất trong giáo dục con cái. Biết cách xây dựng chƣơng trình, kế hoạch và nội dung giáo dục con cái phù hợp với từng độ tuổi.

TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC – SỐ 17. 2014 Cách thức tổ chức

Các kiến thức đƣa ra, cha mẹ có thể hiểu và áp dụng trong giáo dục con cái mọi nơi, mọi tình huống ở gia đình. Các bậc cha mẹ nhận thức đúng đắn trách nhiệm của mình trong giáo dục hành vi văn hoá cho trẻ. Nhận thức đƣợc sự cần thiết, cũng nhƣ tầm quan trọng của việc dạy dỗ, giáo dục con cái…

Mục tiêu nội dung giáo dục phù hợp với sự phát triển chung của lứa tuổi, mục tiêu của giáo dục tiểu học.

29

Các kiến thức về giáo dục trẻ em trong gia đình có thể chuyển tải đến cha mẹ dƣới các hình thức: Tổ chức các buổi hội nghị, hội thảo, mời chuyên gia nói chuyện, trao đổi và phổ biến các kinh nghiệm giáo dục gia đình cho các bậc cha mẹ. Các đối tƣợng tham gia tuyên truyền và tổ chức có: Nhà trƣờng, Hội phụ nữ xã, phƣờng, thành phố, các tổ chức xã hội khác…

Các buổi hội thảo, tuyên truyền, tập huấn, tập trung vào các nội dung:

Vị trí, vai trò, nhiệm vụ của giáo dục gia đình, các điều kiện cần thiết cho giáo dục gia đình, những nội dung cơ bản của giáo dục gia đình và giáo dục hành vi văn hoá cho trẻ, một số phƣơng pháp tổ chức các hoạt động cho trẻ trong gia đình.

Giáo dục cho trẻ biết cách quan tâm đến mọi ngƣời, phát triển tính độc lập, tự chủ và kỹ năng khắc phục khó khăn để vƣơn lên hoàn thiện nhân cách.

Giáo dục thẩm mỹ cho trẻ vì cái đẹp tồn tại trong hành vi văn hoá của con ngƣời…

Cung cấp một số kiến thức về sự phát triển tâm sinh lí trẻ em ở từng độ tuổi để cha mẹ thực sự hiểu trẻ.

Các kiến thức về khoa học giáo dục con cái có thể cung cấp đến cha mẹ thông qua các kênh thông tin: Truyền hình, internet, sách, báo… Xây dựng giáo trình, tài liệu về giáo dục gia đình có thể cung cấp cho các bậc cha mẹ tham khảo và vận dụng.

Cung cấp cho các gia đình nội dung giáo dục hành vi văn hoá, những chuẩn mực hành vi chung.

Mục tiêu, ý nghĩa

Công tác tuyên truyền giáo dục này đƣợc tiến hành thƣờng xuyên, định kỳ theo quy định của xã, phƣờng nhân ngày 8/3; ngày gia đình Việt Nam 28/6 hàng năm.

3.2. Cha mẹ tổ chức các hoạt động cho trẻ trong gia đình, để giúp trẻ lĩnh hội các chuẩn mực hành vi văn hoá theo yêu cầu.

Hoạt động, giao lƣu là con đƣờng cơ bản để hình thành và phát triển nhân cách của con ngƣời. Qua hoạt động, giao lƣu trẻ biến kinh nghiệm xã hội thành kinh nghiệm của bản thân và phát triển năng lực tinh thần và biểu hiện các hành vi ra bên ngoài.

Qua tổ chức các hoạt động cho trẻ, giúp các em biết xác định mục tiêu, kế hoạch và thực hiện kế hoạch học tập và rèn luyện mà gia đình đã vạch ra.

TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC – SỐ 17. 2014

Cha mẹ cần bám sát cuộc sống của trẻ để phát hiện ra những hành động, thói quen sinh hoạt của trẻ, trên cơ sở đó thiết kế và tổ chức lại các hoạt động của trẻ cho phù hợp với chuẩn mực hành vi văn hoá.

Trẻ tích cực tham gia, thực hiện tốt các loại hình hoạt động giúp trẻ có đƣợc những tri thức về kỹ năng, thao tác thực hành. Đồng thời giúp trẻ hiểu thêm các chuẩn mực hành vi văn hoá, hình thành năng lực định hƣớng giá trị trong cuộc sống, biết phân biệt cái đúng –

30

cái sai, cái thiện – cái ác… bồi dƣỡng cho trẻ những cảm xúc, tình cảm tích cực. Xây dựng những nề nếp, thói quen thực hiện chuẩn mực hành vi trong sinh hoạt hàng ngày.

Các hoạt động phải tạo đƣợc hứng thú, hấp dẫn và cha mẹ cần phải tổ chức phối

Cách thức tổ chức

kết hợp nhiều loại hình hoạt động nhƣ giải trí, lao động, học tập…

Các hoạt động phải mang tính sáng tạo, phù hợp với sự phát triển tâm sinh lí lứa

tuổi các em…

Khi tổ chức thực hiện các hoạt động cho con cái trong gia đình đạt kết quả cao, cha mẹ cần nắm rõ quy trình giáo dục HVVH cho trẻ:

Cha mẹ cung cấp cho trẻ những biểu tƣợng về HVVH bằng cách sử dụng hình thức kể chuyện, hƣớng dẫn, quan sát và tổ chức đàm thoại trong gia đình

Biểu diễn HVVH mẫu và tổ chức cho trẻ làm theo mẫu hành vi.

Ví dụ: Chuẩn mực HVVH thể hiện sự chăm sóc ông bà, cha mẹ bao gồm những việc cụ thể:

3.3. Cha mẹ thường xuyên rèn luyện thói quen hành vi văn hoá trong giao tiếp ứng xử cho con

Hàng ngày làm vui lòng ông bà, cha mẹ bằng việc đi xin phép, về chào hỏi, lễ phép, vâng lời, lấy tăm, rót nƣớc mời ông bà…

Sẵn sàng giúp đỡ ông bà, cha mẹ làm những việc phù hợp

Tổ chức cho trẻ thực hiện hành vi văn hoá trong đời sống hàng ngày

Lặp lại những hành vi đã trải nghiệm có ý nghĩa để trở thành nề nếp, thói quen trong cuộc sống và quan hệ hàng ngày.

Mục tiêu, ý nghĩa

Tổ chức các hoạt động sao cho cân bằng, trong giáo dục trí tuệ, đức, thể, mỹ…

trong cuộc sống gia đình.

TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC – SỐ 17. 2014

Thói quen hành vi văn hoá bao gồm sự lễ phép với mọi ngƣời, thái độ ân cần tôn trọng ngƣời lớn tuổi, ngôn ngữ đúng đắn, dáng điệu nghiêm chỉnh… mỗi nét tính cách bền vững đều đƣợc biểu hiện trong những thói quen tƣơng ứng. Song thói quen sẽ yếu đi và mất đi khi điều kiện thay đổi. Do đó, cần phải giáo dục thói quen, HVVH một cách liên tục, thƣờng xuyên.

Tất cả những thói quen, HVVH, từ cử chỉ, hành động ổn định trở thành nhu cầu của con ngƣời, nếu nhu cầu đƣợc thoả mãn, con ngƣời cảm thấy vui vẻ, dần dần sẽ mang tính tự nhiên, ổn định, bền vững. Để đạt đƣợc sự ổn định, bền vững cần tập luyện thƣờng xuyên, liên tục, trong đó cha mẹ cần:

31

Tổ chức cho con lặp đi, lặp lại thƣờng xuyên những hành động, cử chỉ, hành vi phù hợp với chuẩn mực.

Cha mẹ giúp con hình dung đƣợc những thao tác cụ thể và tiến hành thao tác đó một cách ngắn gọn, rõ ràng, dễ hiểu.

Tạo điều kiện cho trẻ rèn luyện và thƣờng xuyên giúp đỡ trẻ trong quá trình luyện tập.

Luyện tập thói quen hành vi văn hoá càng phong phú, đa dạng trong mọi tình huống, mọi hoàn cảnh khác nhau thì giá trị giáo dục càng cao. Không nên gò ép, trẻ, mà nên tạo ra nhiều tình huống phong phú, cho trẻ cơ hội tiếp xúc, bộc lộ càng tốt. Cha mẹ cần theo dõi, kiểm tra nhắc nhở trẻ kịp thời sửa lỗi.

Luyện tập từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp, phù hợp với sự vận động, phát triển tâm sinh lí lứa tuổi. Cha mẹ cần kiên trì, không nóng vội, phải làm đi làm lại nhiều lần để củng cố hoàn thiện trở thành thói quen hành vi.

Cách thức tổ chứ c

Giáo dục thói quen hành vi cho trẻ, cha mẹ cần đi từ các bƣớc sau:

TẠP CHÍ KHOA HỌC, TRƢỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC – SỐ 17. 2014

Bƣớc thứ nhất: Tập làm, nhằm hình thành cho trẻ những kỹ năng cụ thể để thực hiện các thói quen đạo đức, thói quen văn hoá.

Bƣớc thứ hai: Khích lệ, động viên thƣờng xuyên để tạo hứng thú, xây dựng tính tự giác, tích cực cho trẻ thực hiện HVVH . Ở bƣớc này cha mẹ có thể:

Bƣớc ba: Rèn luyện, ôn tập: Để hình thành thói quen, HVVH một cách bền vững, chắc chắn.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Giáo dục hành vi văn hoá trong giao tiếp ứng xử cho trẻ là một quá trình lân dài, bền bỉ không thể nóng vội vì hành vi của trẻ chƣa mang tính ổn định cao mà phải tạo điều kiện cho trẻ tham gia rèn luyện củng cố thƣờng xuyên trong một thời gian nhất định thì mới có hiệu quả.

MEASURES IN EDUCATINY CULTURAL BECHAVIOURS IN COMMUNICATION FOR 6 – 11 YEAR OLD CHILDREN Nguyen Thi Phuong Lan ABSTRACT The cultural behavior education for 6-11 year old children is necessary and crucial as this is the first foundation for the for mativi, and comprehensive and sustainable development of each individuals. The parents need to determine their responsibilities and roles to cooperate with schools and society to educate the cultural behaviors for their children during this developement stage. To orgauize activities and pratise habits and cultural behaviours in communication more regularly for children in cach family that cluldren can perceive standardized habits and cultural behaviours.

32

Qua nghiên cứu và tìm hiểu thực tế việc sử dụng biện pháp giáo dục HVVH cho trẻ trong gia đình cho thấy: Các bậc cha mẹ đã quan tâm nhiều đến việc giáo dục hành vi văn hoá cho trẻ nhƣng vẫn còn nhiều thiếu sót trong việc sử dụng các biện pháp giáo dục, việc dành thời gian cho trẻ, phƣơng pháp giáo dục của các bậc cha mẹ đều xuất phát từ những kinh nghiệm rời rạc. Vì vậy hiệu quả chƣa cao, để giúp các bậc cha mẹ có đƣợc các biện pháp giáo dục thích hợp, góp phần vào sự phát triển toàn diện nhân cách của trẻ, các bậc cha mẹ cần nhận thức đúng đắn vai trò trách nhiệm của mình trong việc giáo dục con cái trƣởng thành và việc làm đầu tiên đối với mỗi ngƣời làm cha, mẹ là nâng cao hiểu biết về giáo dục gia đình nói chung và những kiến thức về giáo dục hành vi văn hoá cho trẻ trong gia đình. Giáo dục con cái cần xuất phát từ lợi ích và quy luật phát triển tự nhiên về tâm sinh lí của trẻ, cũng nhƣ xuất phát từ thực tế cuộc sống, hoàn cảnh hiện tại của gia đình để rèn luyện những thói quen, hành vi văn hoá cho con theo chuẩn mực.

Phạm Khắc Chƣơng, Nguyễn Thị Bích Hồng. Giáo dục gia đình, NXBGD 1999.

Trần Tuyết Oanh. Giáo dục học, tập 2, NBĐHSP, 2008).

Nguyễn Thanh Bình. Những vấn đề cấp bách trong giáo dục con cái ở lứa tuổi thiếu niên trong gia đình thành phố hiện nay. NXBĐHQG, 2001.

Một số biện pháp giúp cha mẹ giáo dục hành vi đạo đức cho con cái trong gia đình theo chương trình lớp 1, 2 bậc tiểu học. Luận án thạc sĩ GDH, 2003.

Keywords: measures, chilren, edcation, cultural behaviours, culturally habitual behaviours.

Ngƣời phản biện: chúng tôi Phan Thanh Long; Ngày nhận bài: 02/11/2013; Ngày

thông qua phản biện: 29/11/2013; Ngày duyệt đăng: 26/12/2013

33

Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí