Chức Năng Tổ Chức Kinh Tế / TOP #10 ❤️ Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 10/2022 ❣️ Top View | Phauthuatthankinh.edu.vn

Chức Năng Tổ Chức Và Quản Lý Kinh Tế Của Nhà Nước Chxhcn Việt Nam

Luận Văn Đề Tài Chức Năng Tổ Chức, Quản Lí Của Nhà Nước Xhcn Trong Lĩnh Vực Kinh Tế Của Nước Cộng Hòa Xhcn Việt Nam

Phân Tích Cơ Cấu Tổ Chức Của Công Ty

Giáo Trình Chủ Nghĩa Xã Hội Khoa Học

Tự Xây Dựng Cơ Cấu Tổ Chức Trong Doanh Nghiệp Như Thế Nào?

Đề Tài Chức Năng Tổ Chức Và Quản Lý Văn Hoá, Giáo Dục Và Khoa Học Công Nghệ Của Nhà Nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam

Website: http://www.docs.vn Email : Tel : 0918.775.368

Website: http://www.docs.vn Email : Tel : 0918.775.368

Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368

giai đoạn cách mạng mới, trong đó xây phát triển nền kinh tế thị trường

Tổ Chức Xã Hội Là Gì? Đặc Điểm, Phân Loại Các Loại Tổ Chức Xã Hội

Vai Trò Của Các Tổ Chức Xã Hội Và Một Vài Khuyến Nghị

Khái Niệm Và Ðặc Ðiểm Của Các Tổ Chức Xã Hội Ở Nước Ta

Khái Niệm Và Đặc Điểm Của Tổ Chức Xã Hội

Dịch Vụ Báo Cáo Tài Chính

Đề Tài Chức Năng Tổ Chức Và Quản Lý Kinh Tế Của Nhà Nước Chxhcn Việt Nam

Chức Năng Quản Lý Kinh Tế Của Nhà Nước Ta Trong Giai Đoạn Hiện Nay

Không Bào Và Dịch Tế Bào

Bài 9. Tế Bào Nhân Thực (Tiếp Theo) Sinh 10 Bai 9 10 Ok Doc

Nhân Và Không Bào Của Tế Bào Thực Vật

Nêu *gắn Gọn* Về Cấu Trúc Và Chức Năng Của Không Bào, Lizõôm, Màng Sinh Chất, Thành Tế Bào, Chất Nền Ngoại Bào Câu Hỏi 1288074

a nhà nước co thể xác định được: – Nhà nước làm gì (nội dung hoạt động) – Nhà nước làm như thế nào (phương thức hoạt động) 1. Nhà nước điều chỉnh hoạt động kinh tế bằng pháp luật và các công cụ quản lý vĩ mô khác Chức năng quản lý vĩ mô của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường vạch rõ phạm vi hoạt động của Nhà nước là ở tầm tổng thể các hành vi của các chủ thể kinh tế. Điều này quy định việc nhà nước phải sử dụng pháp luật và các công cụ quản lý vĩ mô khác là những loại công cụ có khả năng định hướng, kiểm soát, điều chỉnh, phối hợp các hành vi ấy sao cho chúng diễn ra trong vòng trật tự, đảm bảo vững chắc cho tự do kinh doanh nhằm hướng tới các mục tiêu tăng trưởng và phát triển bền vững. a/ Nhà nước ban hành và thực thi chính sách kinh tế vĩ mô Trước hết ta phải nắm được chính sách kinh tế vĩ mô là gì? Chính sách kinh tế vĩ mô la chính sách của Nhà nước tác động lên tổng thể nền kinh tế quốc dân nhằm đạt tới các mục tiêu tăng trưởng bền vững của đất nước. Nhìn chung, nội dung chính sách kinh tế – xã hội của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN có thể được xem xét cụ thể ở một số chính sách cơ bản sau: – Chính sách đối với các thành phần kinh tế. Nếu trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung trước đây, thành phần kinh tế XHCN chiếm vị trí độc tôn, các thành phần kinh tế khac bị hạn chế và phải cải tạo XHCN thì trong nền kinh tế thị trường Nhà nước thừa nhận và tôn trọng sự tồn tại của nhiều thành phần kinh tế là kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế cá thể, tiểu chủ, kinh tế tư bản tư nhân, kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài (Điều 16 Hiến pháp năm 1992 – sửa đổi năm 2001). Tất cả các thành phần kinh tế ấy dù là khác nhau về lợi ích trực tiếp nhưng đều được coi là những bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân, trong đó kinh tế nhà nước đóng vai trò chủ đạo, là lực lượng vật chất quan trọng và là công cụ để Nhà nước thực hiện vai trò định hướng điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Như vậy, chính sách kinh tế nhiều thành phần của Nhà nước nhằm đạt được 2 mục tiêu là phát huy tiềm năng to lớn của xã hội, xây dựng và phát triển lực lượng sản xuất, cơ sở vật chất kỹ thuật làm nền tảng vững chắc cho sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước và định hướng XHCN cho quá trình phát triển nền kinh tế quốc dân. Chính sách đối với các thành phần kinh tế được coi là chính sách cốt lõi trong hệ thống chính sách của Đảng và Nhà nước, nó có ý nghĩa chi phối toàn bộ hoạt động xã hội khác ở Việt Nam và là điểm nút của mọi khởi động. – Chính sách tăng trưởng và phát triển kinh tế – xã hội. Thông qua chính sách này, Nhà nước xác định mục đích phát triển kinh tế – xã hội của đất nước là “làm cho dân giàu nước mạnh, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu vật chất và tinh thần của nhân dân” (Điều 16 Hiến pháp năm 1992). – Chính sách thu hút vốn đầu tư. Vốn là yếu tố vật chất quyết định cho sự phát triển của nền kinh tế thị trường, vì vậy Nhà nước phải chú trọng thực hiện hang loạt các biện pháp pháp lí và tổ chức thực tiễn để thu hút vốn đầu tư từ cả trong và ngoài nước. Nhà nước chủ trương phát triển nhanh và bền vững thị trường chứng khoán để tạo điều kiện thuận lợi cho sự lưu thông các nguồn vốn trong xã hội. Chính sách này đã tập trung động viên các nguồn tài chính với quy mô và tốc độ ngày càng cao cho phát triển kinh tế – xã hội. Khối lượng đầu tư trong các năm gần đây tăng nhanh, tỉ lệ đầu tư xã hội so với GDP đã tăng từ 15,5% năm 1991 lên 30,9% năm 1997, năm 1999 có giảm xuống nhưng vẫn đạt 28,4%. Nhà nước đa dạng hoá các hình thức huy động vốn gắn với chính sách phát triển các thành phần kinh tế, trong đó vốn trong nước là chủ yếu. Cùng với chính sách thu hút vốn đầu tư nước ngoài, chính sách khuyến khích đầu tư trong nước, việc Nhà nước tổ chức và tạo điều kiện cho sự ra đời và phát triển các hoạt động kinh doanh chứng khoán sẽ tạo thuận lợi cho việc luân chuyển tự do và an toàn của các nguồn vốn trên thị trường, qua đó thúc đẩy nền kinh tế nước nhà phát triển. – Chính sách quản lí và sử dụng đất đai. Trên cơ sở chế độ sở hữu toàn dân và sự quản lí thống nhất của Nhà nước với toàn bộ vốn đất đai, chính sách đặc thù của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN là Nhà nước tôn trọng và thừa nhận các quyền của người sử dụng đất nhằm phát huy mọi tiềm năng đất đai, lao động, vốn để phát triển kinh tế, đặc biệt là sản xuất nông nghiệp, giải quyết thoả đáng các vấn đề kinh tế – xã hội ở nông thôn. Người sử dụng đất có quyền chuyển nhượng, cho thuê, thế chấp, để lại thừa kế quyền sử dụng đất phù hợp với các quy định của pháp luật dân sự và pháp luật đất đai. Đến nay, chính sách đất đai của Nhà nước cũng đang tiếp tục được sửa đổi và hoàn thiện theo hướng giảm nhẹ các thủ tục hành chính có lien quan, đảm bảo sự an toàn và thuận lợi cho người sử dụng đất, đảm bảo sự quản lí của Nhà nước về mục đích sử dụng đất cũng nhue quyền định đoạt của Nhà nước đối với đất đai với các chính sách khác của Nhà nước. – Chính sách hội nhập nền kinh tế quốc tế và khu vực. Đây là một trong những chính sách lớn và có giá trị vô cùng quan trọng của Đảng và Nhà nước phù hợp với xu thế tất yếu có tính thời đại của nền kinh tế quốc dân. Tại Đại hội IX, Đảng tiếp tục khẳng định chính sách của Việt Nam là chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực.Trên cở sở đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, rộng mở, đa phương hoá, đa dạng hoá các quan hệ quốc tế của Đảng, chính sách hội nhập thể hiện các quan điểm phát huy nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm độc lập tự chủ và định hướng XHCN, bảo vệ lợi ích dân tộc, giữ vững an ninh quốc gia, bản sắc văn hoá dân tộc, bảo vệ môi trường sinh thái… Nội dung chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường còn được thể hiện ở hang loạt các chính sách như chính sách xuất nhập khẩu, chính sách tài chính, tiền tệ, tín dụng thuế, chính sách quản lí vĩ mô về giá cả… Phương thức ban hành và thực thi chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước cần phải tuân theo những yêu cầu như sau: – Nhà nước vạch rõ và kiên định những chủ trương lớn căn cứ trên các mục tiêu của sự nghiệp xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. – Nhà nước xây dựng và hoàn thiện chiến lược phát triển, các định hướng phát triển cho các ngành, vùng, các lĩnh vực kinh tế của đất nước. – Chính sách kinh tê vĩ mô phải được dựa trên nền tảng luật pháp vững chắc, nghĩa là hệ thống pháp luật thể hiện được “linh hồn” của chính sách nhưng cũng đảm bảo tính khả thi và hiệu qủa cho các chính sách. b/Nhà nước kế hoạch hoá nền kinh tế quốc dân Bản chất của quan hệ kinh tế quyết định nội dung và phương thức hoạt động của Nhà nước trong kế hoạch hoá của Nhà nước có tính đặc thù thích ứng với yêu cầu của các mô hình kinh tế đó. Nội dung hoạt động kế hoạch háo nền kinh tế quốc dân của Nhà nước là sự cụ thể hoá những quyết định chiến lược, đảm bảo thực hiện hoá mục tiêu đề ra trong chính sách của Nhà nước.Trên cơ sở phân tích và dự báo về thị trường một cách khoa học, Nhà nước cụ thể hoá nôij dung của các mục tiêu chiến lược theo các bước đi, với những biện pháp thích hợp. Kế hoạch kinh tế vĩ mô của Nhà nước nhằm phối hợp các hành vi của các chủ thể kinh tế, tác động đến quyết định cụ thể trong hoạt động kinh doanh của họ. Kế hoạch của Nhà nước nhằm phối hợp các hành vi của toàn bộ nền kinh tế quốc dân, góp phần tạo sức cạnh tranh chung của nền kinh tế quốc dân trên thương trường quốc tế…Vì vậy, kế hoạch vĩ mô của Nhà nước được coi là công cụ cơ bản để định hướng phát triển nền kinh tế quốc dân, bảo đảm sự tăng trưởng và phát triển bền vững của đất nước. Những năm qua, theo quá trình phát chuyển đổi chức năng kinh tế của Nhà nước, công tác kế hoạch hoá ở Việt Nam cũng đổi mới theo những nội dung thích hợp. Cụ thể là Nhà nước thực hiện việc giảm mạnh mẽ hệ thống chỉ tiêu kế hoạch pháp lệnh, tạo điều kiện chủ động sản xuất kinh doanh cho các thành phần kinh tế. Đặc biệt, việc tổ chức điều hành kế hoạch được thay đổi sang phương thức mới như thong tin hướng dẫn thay vì giao sổ kiểm tra như trước đây, điều hành kế hoạch trong tổng thể hệ thống công cụ gồm chính sách, pháp luật, kế hoạch, sử dụng hệ thống tính toán kế hoạch theo thong lệ quốc tế. Nhà nước cũng đã chuyển trọng tâm của công tác kế hoạch sang xây dựng và thựuc thi kế hoạch phát triển nền kinh tế quốc dân đồng thời tổ chức laij cơ quan kế hoạch các cấp. Bên cạnh đó, Nhà nước Việt Nam còn đề ra các kế hoạch hang năm, kế hoạch 5 năm, hoặc những kế hoạch được thể hiện dưới nhiều hình thức như chương trình mục tiêu, quy hoạch, dự án…để tập trung giải quyết nhiều vấn đè bức xúc kinh tế, xã hội đất nước trong quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường, nhất là vấn đề việc làm cho người lao động. Phương thức hoạt động kế hoạch háo của Nhà nước là tổng hợp các hình thức phương pháp hoat động kế hoạch hoá cũng như phạm vi, mức độ sử dụng kế hoạch. Nếu như với nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, kế hoạch của Nhà nước là kế hoạch với hệ thống chỉ tiêu pháp lệnh chi tiết và chặt chẽ và là công cụ tuyệt đối vừa điều chỉnh kinh tế vi mô vừa điều chỉnh vĩ mô, thì với nền kinh tế thị trường, kế hoạch có tính chất khác hẳn. Nền kinh tế thị trường không loại bỏ kế hoạch, mà chỉ chuyển đổi từ kế hoạch pháp lệnh sang kế hoạch định hướng, lúc này kế hoạch không còn tác động trực tiếp đến các chủ thể kinh tế và chính các chủ thể kinh tế cũng có kế hoạch, chương trình hành động riêng của họ. Hoạt động kế hoạch hoá nền kinh tế quốc dân của Nhà nước có những mặt mạnh là tập trung được các nguồn lực cho các mục tiêu phát triển, bảo đảm giữ được mục tiêu tăng trưởng kinh tế với giải quyết các vấn đề xã hội một cách chủ động. Tuy nhiên, cần phải thấy công cụ kế hoạch có hạn chế là khó có thể bao quát được hết các nhu cầu đa dạng của thị trường mà các nhu cầu này lại luôn luôn biến động. c/Nhà nước sử dụng các công cụ tài chính, tiền tệ, tín dụng Tài chính tiền tệ tín dụng là các phạm trù đặc trưng của nền kinh tế thị trường. Bởi vậy, để quản lý nền kinh tế thị trường, Nhà nước không thể không nắm trong tay và sử dụng có hiệu quả các công cụ đó. Tài chính là công cụ có chức năng tạo nguồn thu cho ngân sách Nhà nước và phân phối lại thu nhập quốc dân. Qua đó, Nhà nước tác động vào tất cả các khâu của quá trình tái sản xuất xã hội và tác động vào tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế – xã hội. Nội dung chính sách tài chính quốc gia thể hiện ở các chính sách cơ bản như: Chính sách về vốn, chính sách tài chính với doanh nghiệp, chính sách ngân sách nhà nước, chính sách tài chính đối ngoại… Thuế là loại công cụ đặc biệt duy nhất chỉ có trong tay Nhà nước. Nhà nước không thể thưc hiện tốt chức năng kinh tế mà lại không chú trọng công cụ thuế vì thong qua thuế, Nhà nước tác động vào các lợi ích của các chủ thể kinh tế, điều tiết hoạt động sản xuất, kinh doanh của họ theo mục tiêu đã định. Chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, với cơ cấu kinh tế đa thành phần thì thuế không chỉ là nguồn thu quan trọng nhất cho ngân sách nhà nước mà còn là công cụ đảm bảo cho dự công bằng, bình đẳng giữa các thành phần kinh tế. Vì vậy, ngày nay, thuế trở thành công cụ quản lý kinh tế vĩ mô quan trong hàng đầu của Nhà nước. Tiền tệ, tín dụng cũng là những công cụ nhạy cảm trong nền kinh tế thị trường. Chính sách tiền tệ, tín dụng còn là bộ phận quan trọng trong chính sách tài chính quốc gia. Các công cụ tài chính, tiền tệ, tín dụng phát huy vai trò trong việc tạo ra các yếu tố kích thích hay hạn chế sự phát triển của các quan hệ kinh tế theo hướng nhất định. Thông qua loại công cụ này Nhà nước có thể kìm chế lạm phát khắc phục tính chu kỳ, tạo ra tính ổn định và sự phát triển bình thường cho nền kinh tế thị trường. Phương thức tác động này của Nhà nước trong cơ chế thị trường chỉ mang tính gián tiếp lên tất cả các chủ thể ở các thành phần kinh tế trên cơ sở vận dụng các quy luật của thị trường. d/Nhà nước quản lí kinh tế vĩ mô bằng pháp luật Vai trò của pháp luật trong nền kinh tế thị trường cho phép hoạt động quản lí kinh tế của Nhà nước được triển khai theo nội dung mới, đó là sự quản lí kinh tế vĩ mô bằng pháp luật. – Pháp luật quy định chế độ sở hữu mới nhằm tạo cơ sở để xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN – Pháp luật xác định cơ cấu chủ thể kinh tế thị trường và tạo cơ sở cho nền kinh tế Việt Nam hội nhập với nền kinh tế thế giới. – Pháp luật quy định cơ sở páhp lí cho sự tồn tại và phát triển của các loại thị trường. – Pháp luật quy đinhk chế độ quản lí vĩ mô của Nhà nước đối với nền kinh tế thị trường – Pháp luật quy định các điều kiện cạnh tranh nhằm trậ tự hoá thị trường. – Pháp luật bảo đảm sự an toàn nhằm khắc phục các khuyết tật của nền kinh tế thị trường. – Pháp luật quy định cơ chế xử lí các vi phạm pháp luật trong hoạt động kinh tế và giải quyết các tranh chấp kinh tế Có thể nhận định rằng pháp luật vừa là công cụ quản lí quan trọng nhất của Nhà nước vừa là hành lang an toàn cho sự vận động của nền kinh tế thị trường 2. Nhà nước thực hiện chức năng quản lí đối với kinh tế Nhà nước * Phạm vi, vai trò của kinh tế nhà nước Trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, ở các nước XHCN , các xí nghiệp quốc doanh chiếm tỉ trọng và số lượng lớn với phạm vi bao trùm lên hầu hết các ngành, các lĩnh vực của nền kinh tế quốc dâ. Việt Nam trong thời kỳ “cực thịnh” của kinh tế nhà nước cũng đã có hàng chục nghìn xí nghiệp quốc doanh. Chuyển sang nền kinh tế thị trường, Nhà nước phải xác định rõ vai trò của kinh tế nhà nước cho phù hợp với các quy luật của nền kinh tế nhiều thành phần. Bởi vì, trong nền kinh tế thị trường tồn tại một cách khách quan sự phân công, phối hợp vai trò giữa các thành phần kinh tế trong tổng thể nền kinh tế quốc dân. Nội dung quản lý nhà nước với kinh tế nhà nước có thể được xác định khái quát trên mối quan hệ giữa Nhà nước với chủ thể kinh tế nhà nước. Trong nền kinh tế thị trường, quan hệ giữa Nhà nước với chủ thể kinh tế nhà nước được thể trên hai phương diện cơ bản sau: Thứ nhất, với tu cách là người quản lý toàn bộ nền kinh tế quốc dân gồm tất cả các chủ thể kinh tế thuộc mọi thành phần kinh tế, Nhà nước thực hiện sự quản lý với chủ thể kinh tế nhà nước theo chuẩn mực pháp luật chung về hoạt động kinh tế còn chủ thể kinh tế nhà nước hoạt động độc lập với Nhà nước, bình đẳng về quyền và nghĩa vụ như mọi chủ thể thuộc các thành phần kinh tế khác. Nhà nước có nghĩa vụ tôn trọng quyền tự chủ về tài chính, quyền chủ động trong các hoạt động của chủ thể kinh tế nhà nước còn chủ thể kinh tế nhà nước có nghĩa vụ tuân thủ nghĩa vụ thuế và các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật. Nhìn chung, ở khía cạnh này, quan hệ giữa Nhà nước và chủ thể kinh tế nhà nước cũng giống như quan hệ giữa Nhà nước với các loại chủ thể khác thuộc mọi thành phần kinh tế. Thứ hai, với tư cách là người đại diện cho sở hữu toàn dân thông qua hoạt động của chủ thể đầu tư vốn nhà nước thì vốn đó được chuyển giao cho các chủ thể kinh tế nhà nước nhưng tài sản của chủ thể kinh tế nhà nước lại được tách bạch khỏi khối tài sản của Nhà nước và thuộc quyền kinh doanh của các chủ thể đó. Nhà nước thành lập chủ thể kinh tế nhà nước nhưng chúng lại có tư cách chủ thế, độc lập về tài sản, hoạt động trên nguyên tắc bảo toàn và làm tăng giá trị tài sản của Nhà nước. Tài sản của chủ thể kinh tế nhà nước thuộc đối tượng sở hữu nhà nước nhưng người sử dụng (kinh doanh, khai thác dịch vụ) tài sản ấy lại là chủ thể kinh tế hoạt động độc lập với Nhà nước. Khi xem xét mối quan hệ giữa Nhà nước với chủ thể kinh tế nhà nước thì cần căn cứ vào tư cách pháp nhân của loại chủ thể này với tính cách là tổng hợp các dấu hiệu pháp lí thể hiện tập trung mối quan hệ giữa Nhà nước và chủ thể kinh tế nhà nước trong nền kinh tế thị trường. Nhà nước đầu tư vốn cho các chủ thể kinh tế nhà nước (thông qua các chủ thể đầu tư) không phải là kiểu “ban cho” như cấp trên giao cho cấp dưới trong quan hệ hành chính mà là quan hệ kinh tế bình đẳng thông qua hợp đồng, trong đó xác định đầy đủ lợi ích, nghĩa vụ và trách nhiệm của mỗi bên; Nhà nước không chịu trách nhiệm tài sản thay cho các chủ thể ấy dưới bất cứ hình thức nào. Trong nền kinh tế thị trường, thông qua quan hệ tài chính (đầu tư vốn), Nhà nước nắm được khâu then chốt, trọng yếu của nền kinh tế quốc dân qua đó đảm bảo tiềm lực kinh tế cho các chính sách và sự định hướng phát triển kinh tế – xã hội của Nhà nước; bảo đảm an ninh, quốc phòng và giữ vững độc lập, chủ quyền quốc gia. Khi xem xét mối quan hệ giữa Nhà nước với chủ thể kinh tế nhà nước thì cũng có vấn đề đặt ra là phân biệt giữa quản lý nhà nước về kinh tế và quản lý sản xuất kinh doanh cung ứng dịch vụ. Hoạt động quản lý của chủ thể kinh tế nhà nước là hoạt động quản lý trực tiếp (quản trị) gắn chặt với hoạt động tác nghiệp của các chủ thể ấy. Trong khi đó, hoạt động quản lý kinh tế của Nhà nước bao giờ cũng là hoạt động thực thi quyền lực nhà nước. Nhà nước thực hiện quyền sở hữu tài sản thông qua hoạt động đầu tư vốn nhưng như thế cũng không có nghĩa cơ quan nhà nước là người đầu tư trực tiếp, kinh doanh trực tiếp kể cả trong lĩnh vực tài chính. Kinh nghiệm chuyển đổi chức năng kinh tế của nhà nước ở các nước cho thấy sự rõ ràng, rành mạch về quyền tài sản giữa Nhà nước và chủ thể kinh tế nhà nước cần được bảo đảm bằng thể chế quản lý tài sản nhà nước. Nội dung quản lý Nhà nước cũng cần có sự phân biệt với mỗi loại chủ thể kinh tế nhà nước như doanh nghiệp hoạt động kinh doanh và doanh nghiệp hoạt động công ích; doanh nghiệp với các tổ chức hoạt động trong các lĩnh vực văn hoá, khoa học, y tế, giáo dục, thông tin… Trong điều kiện ở Việt Nam hiện nay, nền kinh tế thị trường đang trong quá trình hình thành, hơn lúc nào hết kinh tế nhà nước phải là lực lượng có đủ sức mạnh để dẫn dắt kinh tế nhà nước phải là lực lượng có đủ sức mạnh để dẫn dắt các thành phần kinh tế khác phát triển. Vì thế không thể coi nhẹ mặt noà trong mục tiêu tổng hợp về kinh tế – xã hội trong hoạt động của kinh tế tế nhà nước. Nhà nước không thể chỉ theo đuổi các mục tiêu xã hội bằng hoạt động của doanh nghiệp công ích và các tổ chức sự nghiệp mà không chú trọng kinh doanh trong các ngành nghề, lĩnh vực quan trọng của nền kinh tế. Chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam hiện nay là tăng cường năng lực tài chính của Nhà nước để tập trung đầu tư cho loại hình doanh nghiệp, tổ chức kinh tế này vì đây là sứ mệnh đặc thù của Nhà nước mà không thành phần kinh tế nào có thể gánh vác thay được. Tuy vậy, Nhà nước cũng không thể lấy toàn bộ việc đầu tư vào các dịch vụ công cộng dẫn đến sự quá tải của Nhà nước mà hậu quả là không đảm bảo được các nhu cầu và lợi ích của xã hội. Ngày nay, Nhà nước phải thực hiện xã hội hoá từng bước việc việc cung ứng các sản phẩm dịch vụ công cộng, san sẻ gánh nặng của mình một cách linh hoạt bằng cách giao bớt cho tư nhân thực hiện các dịch vụ công cộng, san sẻ gánh nặng của mình một cách linh hoạt bằng cách giao bớt cho tư nhân thực hiện các dịch vụ công cộng thông qua hình thức pháp lí thích hợp. Nhìn chung có thể nhận thấy quan hệ tài sản giữa Nhà nước với chủ thể kinh tế nhà nước ở Việt Nam hiện nay còn đang trong quá trình chuyển đổi. tuy nhiên, vấn đề quản lí Nhà nước đối với chủ thể kinh tế nhà nước nói chung và đối với doanh nghiệp nhà nước hoạt động kinh doanh sao cho có hiệu quả bao giờ cũng là vấn đề khó khăn, phức tạp cả về lí luận và thực tiễn bởi vì đồng thời phải đạt cả ba yếu cầu là hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và đảm bảo định hướng XHCN. * Phương thức quản lý nhà nước đối với kinh tế nhà nước Phương thức quản lý nhà nước đối với kinh tế nhà nước là tổng hợp các hình thức, phương thức quản lí của nhà nướ đối với các chủ thể kinh tế nhà nước. Phương thức quản lí nhà nước đối với chủ thể kinh tế này không tách biệt với phương pháp quản lí nhà nước về kinh tế nói chung. Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa phương thức tác động của Nhà nước vào các chủ thể kinh tế nhà nước đã được chuyển đổi căn bản so với nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung. Hướng cải cách quan trọng về chế dộ quản lí tài sản nhà nước trong nền kinh tế thị trường là chuyển từ chế độ quản lí hiện vật là chủ yếu sang chế độ quản lý giá trị là chủ yếu. Do đó, phương thức quản lý nhà nước đối với kinh tế nhà nước lúc này cũng được chuyển từ phương thức quản lí mang tính chất trực tiếp sang phương thức quản lí có tính chất gián tiếp (quản lí vĩ mô) bằng các hình thức, biện pháp như pháp luật, kế hoạch, chính sách, các công cụ tài chính, tiền tệ, tín dụng; thông qua hoạt động đầu tư vốn nhà nước của các công ty tài chính… * Tính chất chung của bộ máy Nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Nếu quan niệm bộ máy Nhà nước là “vận tải” chức năng của Nhà nước thì chức năng của Nhà nước được “chuyển tải” thông qua hoạt động của toàn thể các bộ phận cấu thành nên nhà nước . Nhưng việc thực hiện chức năng kinh tế của bộ máy nhà nước lại được thể hiện khác nhau trong các mô hình kinh tế. Trong nền kinh tế thị trường, sự tồn tại và phát triển của các chủ thể kinh tế ngày càng đa dạng, phong phú nhưng tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước không phải tỉ lệ thuận về phạm vi và số lượng với chủ thể kinh tế mà theo nguyên tắc đa chức năng, đa lĩnh vực. Bộ máy nhà nước là hệ thống quản lí, điều hành trực tiếp nên cứ hễ nền kinh tế có bao nhiêu lớp đối tượng thì có bấy nhiêu hệ cơ quan quản lí chuyên ngành của Nhà nước được lập ra. Đây là đặc điểm đặc trưng và đương nhiên, trong mô hình kinh tế ấy, bộ máy nhà nước trở nên cồng kềnh, phức tạp với nhiều tầng nấc trung gian. Điều này cũng nói lên tính phức tạp của cơ chế tác động, quan hệ qua lại giữa Nhà nước và các quá trình kinh tế, trong đó cơ cấu tổ chức, cơ chế hoạt động, phạm vi thẩm quyền của cơ quan, nhân viên nhà nước là sự biểu hiện đặc thù cho chức năng kinh tế của nhà nước. Sự thay đổi của nền kinh tế tất yếu kéo theo những thay đổi về vai trò, tính chất cơ cấu tổ chức và thẩm quyền của các cơ quan trong bộ máy nhà nước. So với bộ máy Nhà nước trong nền kinh tê kế hoạch hoá tập trung thì tính chất chung của bộ máy nhà nước trong nền kinh tế thị trường đã chuyển đổi từ tính chất trực tiếp sang tính chất gián tiếp. Những quan hệ kinh tế trực tiếp dưới hình thái thể hiện vật trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung trước đây đã và đang nhường chỗ cho các quan hệ kinh tế gián tiếp dưới hình thái giá trị. * Nội dung thẩm định của các cơ quan nhà nước trong quản lý nền kinh tế thị trường định hướng XHCN Vấn đề thẩm quyền của các cơ quan nhà nước trong quản lí nền kinh tế thị trường định hướng XHCN có thể được xem xét từ những khía cạnh sau: a. Từ sự phân công và phối hợp thực hiện quyền lực nhà nước. Chuyển sang nền kinh tế thị trường, Việt Nam đã tiến hành cải cách tổ chức hoạt động bộ máy nhà nước, xác định cơ cấu thẩm quyền, chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan nhà nước theo yêu cầu của nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội trong điều kiện mới. Bộ máy Nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN được tổ chức và hoạt động trên cơ sở phân công chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và sự phối hợp giữa các cơ quan trong việc thực thi quyền lực nhà nước, đảm bảo tính thống nhất của quyền lực nhà nước. Tổ chức và hoạt động của bộ máy đó đảm bảo tính nhân dân, tính dân chủ rộng rãi, kết hợp với việc đề cao trách nhiệm của mối cơ quan, cá nhân người lãnh đạo; đảm bảo tính chủ động, nhánh nhạy trong quản lí nhà nước, đáp ứng những đòi hỏi bức xúc trước mắt và lâu dài trong sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. b. Từ tổ chức bộ máy và thẩm quyền của các cơ quan hành chính nhà nước. Chuyển sang cơ chế thị trường, bộ máy hành chính quan liêu ấy không những không còn tác dụng mà lại ngăn trở sự phát triển của nền kinh tế vì nó tạo ra những rào cản vô lí cũng như các đặc quyền, đặc lợi và nguy cơ tham nhũng. Do vậy, cải cách mạnh mẽ hệ thống hành chính là yêu cầu khách quan của sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội ở Việt Nam. Cải cách hành chính là vấn đề có nội dung sâu sắc và rộng lớn mà việc xác định nguyên tắc tổ chức và vi phạm thẩm quyền của các cơ quan hành chính nhà nước cho phù hợp với cơ chế kinh tế mới là nội dung cốt lõi. Trong đó, trước hết cần chú trọng nguyên tắc chuyên môn hoá nguyên tắc chủ đạo trong tổ chức và hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước. Nguyên tắc này thể hiện tập trung mối liên hệ hữu cơ giữa tổ chức bộ máy, thẩm quyền của các cơ quan hành chính nhà nước với các yêu cầu của nền kinh tế quốc dân. Nhìn chung, trong hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước thì mỗi cơ quan với thẩm quyền và nội dung hoạt động cụ thể đều đóng vai trò nhất định trong việc thực hiện chức năng kinh tế của Nhà nước đồng thời sự phối hợp hoạt động giữa các cơ quan ấy trên cơ sở thống nhất vai trò của Nhà nước tạo nên sức mạnh của hệ thống hành chính nhà nước, đảm bảo hiệu lực, hiệu quả kinh tế – xã hội của hệ thống đó và của bộ máy Nhà nước nói chung. Từ những trong chuyển đổi trong nội dung quản lý nhà nước về kinh tế tất yếu dẫn đến những đổi mới về tổ chức bộ máy nhà nước phá bỏ các tầng nấc trung gian và bao nhiêu cản trở vô lí khác cho sự phát triển của nền kinh tế. Những năm qua, Việt Nam đã có sự phát triển của nền

Chức Năng Kinh Tế Của Nhà Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam Hiện Nay

Vai Trò Và Chức Năng Kinh Tế Của Nhà Nước

Nêu Một Ví Dụ Về Ý Nghĩa Của Sự Phát Triển Kinh Tế Đối Với Cá Nhân, Gia Đình Và Xã Hội

Xu Hướng Biến Đổi Chức Năng Kinh Tế Hộ Gia Đình Nông Thôn Việt Nam

Kiểm Soát Xung Đột Lợi Ích Trong Khu Vực Công

Ifbd: Các Tổ Chức Quốc Tế Cho Rối Loạn Chức Năng Ruột

Trẻ Sơ Sinh Hay Bị Ọc Sữa Có Thể Do Rối Loạn Chức Năng Đường Ruột

Oibd: Rối Loạn Chức Năng Ruột Opioid Gây Ra

Detoxic Của Nga Thực Phẩm Chức Năng Diệt Ký Sinh Trùng, Làm Sạch Ruột 20 Viên

Thuốc Detoxic Của Nga Diệt Gọn Ký Sinh Trùng Trong Cơ Thể

Những Thực Phẩm Giúp Làm Sạch Ruột Già (Đại Tràng) Hiệu Quả

IFBD có nghĩa là gì? IFBD là viết tắt của Các tổ chức quốc tế cho rối loạn chức năng ruột. Nếu bạn đang truy cập phiên bản không phải tiếng Anh của chúng tôi và muốn xem phiên bản tiếng Anh của Các tổ chức quốc tế cho rối loạn chức năng ruột, vui lòng cuộn xuống dưới cùng và bạn sẽ thấy ý nghĩa của Các tổ chức quốc tế cho rối loạn chức năng ruột trong ngôn ngữ tiếng Anh. Hãy nhớ rằng chữ viết tắt của IFBD được sử dụng rộng rãi trong các ngành công nghiệp như ngân hàng, máy tính, giáo dục, tài chính, cơ quan và sức khỏe. Ngoài IFBD, Các tổ chức quốc tế cho rối loạn chức năng ruột có thể ngắn cho các từ viết tắt khác.

IFBD = Các tổ chức quốc tế cho rối loạn chức năng ruột

Tìm kiếm định nghĩa chung của IFBD? IFBD có nghĩa là Các tổ chức quốc tế cho rối loạn chức năng ruột. Chúng tôi tự hào để liệt kê các từ viết tắt của IFBD trong cơ sở dữ liệu lớn nhất của chữ viết tắt và tắt từ. Hình ảnh sau đây Hiển thị một trong các định nghĩa của IFBD bằng tiếng Anh: Các tổ chức quốc tế cho rối loạn chức năng ruột. Bạn có thể tải về các tập tin hình ảnh để in hoặc gửi cho bạn bè của bạn qua email, Facebook, Twitter, hoặc TikTok.

Như đã đề cập ở trên, IFBD được sử dụng như một từ viết tắt trong tin nhắn văn bản để đại diện cho Các tổ chức quốc tế cho rối loạn chức năng ruột. Trang này là tất cả về từ viết tắt của IFBD và ý nghĩa của nó là Các tổ chức quốc tế cho rối loạn chức năng ruột. Xin lưu ý rằng Các tổ chức quốc tế cho rối loạn chức năng ruột không phải là ý nghĩa duy chỉ của IFBD. Có thể có nhiều hơn một định nghĩa của IFBD, vì vậy hãy kiểm tra nó trên từ điển của chúng tôi cho tất cả các ý nghĩa của IFBD từng cái một.

Ý nghĩa khác của IFBD

Bên cạnh Các tổ chức quốc tế cho rối loạn chức năng ruột, IFBD có ý nghĩa khác. Chúng được liệt kê ở bên trái bên dưới. Xin vui lòng di chuyển xuống và nhấp chuột để xem mỗi người trong số họ. Đối với tất cả ý nghĩa của IFBD, vui lòng nhấp vào “thêm “. Nếu bạn đang truy cập phiên bản tiếng Anh của chúng tôi, và muốn xem định nghĩa của Các tổ chức quốc tế cho rối loạn chức năng ruột bằng các ngôn ngữ khác, vui lòng nhấp vào trình đơn ngôn ngữ ở phía dưới bên phải. Bạn sẽ thấy ý nghĩa của Các tổ chức quốc tế cho rối loạn chức năng ruột bằng nhiều ngôn ngữ khác như tiếng ả Rập, Đan Mạch, Hà Lan, Hindi, Nhật bản, Hàn Quốc, Hy Lạp, ý, Việt Nam, v.v.

Bài 10. Đặc Điểm Chung Và Vai Trò Của Ngành Ruột Khoang

Bài 9. Đa Dạng Của Ngành Ruột Khoang

Đặc Điểm Chung Và Vai Trò Của Ngành Ruột Khoang

Tâm Lý Ảnh Hưởng Đến Hội Chứng Ruột Kích Thích

Hội Chứng Ruột Kích Thích

Phân Tích Các Chức Năng Của Tiền Tệ Quá Trình Tổ Chức Và Quản Lý Kinh Tế Ở Việt Nam

Các Chức Năng Của Tiền Tệ (Chuc Nang Cua Tien Te)

Đâu Không Phải Là Chức Năng Của Tiền Tệ?

Chức Năng Cất Trữ Giá Trị (Store Of Value) Của Tiền Tệ Là Gì?

Khái Niệm, Bản Chất Và Chức Năng Tiền Tệ

Mối Quan Hệ Giữa Các Chức Năng Của Tiền Tệ

Lời mở đầu

Phần I : Lý thuyết chung về chức năng của tiền tệ.

1. Khái quát về sự ra đời của tiền tệ

2. Cơ sở lý luận, đặc điểm chung và chức năng tiền tệ

2.1. Vai trò của tiền tệ

2.2. Các hình thái tiền tệ

2.3. Bản vị tiền tệ

2.4. Khối tiền tệ

2.5 Các chức năng của tiền tệ

Phần II: Phân tích các chức năng của tiền tệ.

2.1 Chức năng làm thước đo giá trị.

2.2 Chức năng làm phương tiện lưu thông.

2.3 Chức năng làm phương tiện thanh toán.

2.4 Chức năng làm phương tiện cất trữ.

2.5 Chức năng làm tiền tệ thế giới.

Phần III: Các chức năng của tiền tệ trong quá trình tổ chức và quản lý kinh tế ở Việt Nam.

Gắn liền với công cuộc đổi mới và mở cửa ở nước ta, có nhiều yêu cầu phải mở giải quyết cùng một lúc: Vừa ổn định, vừa phát triển kinh tế trong nước, vừa mở rộng giao lưu quan hệ quốc tế, thu hút vốn đầu tư nước ngoài .Nhu cầu mở rộng lượng tiền cung ứng (Cầu về tiền) ngày càng lớn, dẫn đến sự xác lập quan hệ cung – cầu mới về tiền trong khi đó vẫn phải tiếp tục ổn định kinh tế vĩ mô với hạt nhân là ổn định tiền tệ, tạo lập nền tảng cho sự phát triển chung.

Ngày nay không ai còn có thể phủ nhận bằng việc điều chỉnh tiền tệ cho phù hợp với nhu cầu của nền kinh tế là một trong những vấn đề thiết yếu mà tổ chức của các hệ thống tiền tệ phải tuân thủ và chính sách tiền tệ phải theo đuổi.

Xét về toàn cảnh thị trường tài chính thế giới trong những năm qua thì bức tranh thị trường tài chính khá sáng sủa, các khoảng tối đã bị thu hẹp và nhường chỗ cho những khoảng sáng. Thế giới đã từng chứng kiến sự hồi phục nhanh chóng của các nền kinh tế từ châu Á, châu Âu và Mỹ sau những tác động tiêu cực từ cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ châu Á diễn ra giữa năm 1997 chắc chắn còn là nỗi ám ảnh đối với nhiều người.

Bước vào thế kỷ mới, những năm 2000, năm bản lề của sự phát triển và hưng thịnh, Việt Nam – con rồng châu Á xác định mục tiêu tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội. Vì vậy việc lựa chọn giải pháp nào để xây dựng và điều hành chính sách tiền tệ quốc gia có hiệu quả nhất vẫn còn là một ẩn số phức tạp và nhiều bất cập.

Qua đó tôi xin mạnh dạn trình bày tiểu luận môn học Lý thuyết tài chính tiền tệ với đề tài: ” PHÂN TÍCH CÁC CHỨC NĂNG CỦA TIỀN TỆ QUÁ TRÌNH TỔ CHỨC VÀ QUẢN LÝ KINH TẾ Ở VIỆT NAM“.

Tiểu luận gồm 3 phần:

Phần I : Lý thuyết chung về chức năng của tiền tệ.

Phần II: Phân tích các chức năng của tiền tệ.

Phần III: Các chức năng của tiền tệ trong quá trình tổ chức và quản lý kinh tế ở Việt Nam.

Phần I : Lý thuyết chung về chức năng của tiền tệ.

1. Khái quát về sự ra đời của tiền tệ

Mọi người đề biết tiền tệ là một thuật ngữ rất quen thuộc trong đời sống kinh tế xã hội, tuy nhiên, khó có thể tìm ra một khái niệm thống nhất về tiền tệ. Tiền tệ là một phạm trù kinh tế nhưng cũng lại là một phạm trù lịch sử. Sự xuất hiện của tiền tệ là một phát minh vĩ đại của loại người trong lĩnh vực kinh tế, nó có tác dụng thúc đẩy nhanh chóng các hoạt động giao lưu kinh tế, làm thay đổi bộ mặt kinh tế xã hội. Tiền tệ ra đời là một tất yếu khách quan từ sự phát triển của sản xuất và trao đổi hàng hoá (nềnkinh tế ­ xã hội). Tiền tệ thực hiện các chức năng giúp cho sản xuất ­ tiêu dùng hàng hoá phát triển và vì vậy mà trở thành một trong các các công cụ hữu hiệu để tổ chức và quản lý nền kinh tế.

2. Cơ sở lý luận, đặc điểm chung và chức năng tiền tệ

chúng tôi trò của tiền tệ

Vai trò của tiền tệ trong nền kinh tế thị trường thể hiện ở ba mặt:

-Thứ nhất: tiền tệ là phương tiện không thể thiếu để mở rộng và phát triển nền kinh tế hàng hóa. C.Mác đã chỉ ra rằng, người ta khổng thể tiến hàng sản xuất hàng hóa nếu như không có tiền và sự vận động của nó.

Khi tiền tệ tham gia trong chức năng thước đo giá trị và phương tiện lưu thông là cho việc đo lường và biểu hiện giá trị của hàng hóa trở nên giản đơn, thuận lợi và thống nhất, làm cho sự vận động của hàng hóa trong lưu thông tiến hành một cách trôi chảy.

-Thứ hai: tiền tệ là phương tiện để thực hiện và mở rộng các quan hệ quốc tế. Trong điều kiện của nền kinh tế hàng hóa phát triển chuyển sang nền kinh tế thị trường thì tiền tệ không những là phương tiện thực hiện các quan hệ kinh tế xã hội trong phạm vi quốc gia mà còn là phương tiện quan trọng để thực hiện và mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế.

-Thứ ba: tiền tệ là một công cụ để phục vụ cho mục đích của người sử dụng chúng.

Trong điều kiện của nền kinh tế hàng hóa phát triển cao thì hầu hết các mối quan hệ kinh tế-xã hội đều được tiền tệ hóa, mọi cá nhân, tổ chức, cơ quan đều không thể thoát ly khỏi các quan hệ tiền tệ. Chừng nào còn tồn tại nền kinh tế hàng hóa và tiền tệ thì thế lực của đồng tiền vẫn còn phát huy sức mạnh của nó.

2.2.Các hình thái tiền tệ

2.2.1.Hóa tệ : Hóa tệ là loại tiền tệ bằng hàng hóa. Đấy chính là hình thái đầu tiên của tiền tệ và được sử dụng trong một thời gian dài. Trong các loại hàng hóa được dùng làm tiền tệ được chia làm hai loại: hàng hóa không phải kim loại (non metallic commodities) và hàng hóa kim loại (metallic commodities). Do vậy, hóa tệ cũng bao gồm hai loại: hóa tệ không kim loại và hóa tệ kim loại:

2.2.1.1.Hóa tệ không kim loại: Tức là dùng hàng hóa không kim loại làm tiền tệ.

2.2.1.2.Hóa tệ kim loại Tức là lấy kim loại làm tiền tệ. Các kim loại được dùng làm tiền tệ gồm: đồng, kẽm, vàng, bạc

2.2.2.Tín tệ : Tức là loại tiền mà bản thân nó không có giá trị, song nhờ sự tín nhiệm của mọi người mà nó được lưu dùng. Tín tệ gồm hai loại: Tín tệ kim loại và tiền giấy.

2.2.2.1.Tiền kim loại

Tiền kim loại thuộc hình thái tín tệ khác với tiền kim loại thuộc hình thái hóa tệ ở chỗ: Trong hóa tệ kim loại giá trị của kim loại làm thành tiền bằng giá trị ghi trên bề mặt của đồng tiền, còn ở tín tệ kim loại, giá trị chất kim loại đúc thành tiền và giá trị ghi trên bề mặt của đồng tiền không có liên hệ gì với nhau, có thể gắn cho nó một giá trị nào cũng được

2.2.2.2.Tiền giấy: Tiền giấy có hai loại: tiền giấy khả hoán và tiền giấy bất khả hoán.

– Tiền giấy khả hoán: là một mảnh giấy được in thành tiền tiền và lưu hành, thay thế cho tiền bằng vàng hay tiền bằng bạc mà người ta không‎ gửi tại ngân hàng.

– Tiền giấy bất khả hoán là loại tiền giấy bắt buộc lưu hành và dân chúng không thể đem nó đến ngân hàng để đổi lấy vàng hay bạc. Đấy là loại tiền giấy mà ngày nay tất cả các quốc gia trên thế giới đều sử dụng.

2.2.3. Bút tệ : Bút tệ hay còn gọi là tiền ghi sổ được tạo ra khi phát tín dụng thông qua tài khoản tại ngân hàng,do vậy, bút tệ không có hình thái vật chất, nó chỉ là những con số trả tiền hay chuyển tiền thể hiện trên tài khoản ngân hàng. Thực chất, bút tệ là tiền phi vật chất, nhưng nó cũng có những tính chất giống như tiền giấy là được sử dụng trong thanh toán qua những công cụ thanh toán của ngân hàng như: séc, lệnh chuyển tiền

2.2.4. Tiền điện tử : Tiền điện tử là là một hệ thống cho phép người sử dụng có thể thanh toán khi mua hàng hoặc sử dụng các dịch vụ nhờ truyền đi các con số từ máy tính này tới máy tính khác. Tiền điện tử tồn tại dưới hình thức tài khoản trong ngân hàng, và do ngân hàng thương mại tạo nên. Tiền điện tử ra đời với các phương tiện thanh toán như séc, lệnh chuyển tiền.

2.3. Bản vị tiền tệ

Khi nói đến chế độ tiền tệ tức là nói đến hệ thống tổ chức lưu thông tiền tệ của một nước do pháp luật quy định, trong đó các nhân tố khác nhau của lưu thông tiền tệ được kết hợp thành một khối thống nhất. Chế độ tiền tệ được cấu thành bởi các yếu tố sau:

-Bản vị tiền tệ: chính là cái được sử dụng làm căn cứ để định giá đồng tiền. Có thể chọn một kim loại nào đó hoặc có thể lấy ngoại tệ hay sức sản xuất trong nước để làm bản vị tiền tệ.

-Đơn vị tiền tệ: mỗi một quốc gia có một đơn vị tiền tệ khác nhau, ví dụ ở Việt Nam là “đông”, ở Mỹ là “dollar”

-Công cụ lưu thông tiền tệ: là những phương tiện lưu thông và phương tiện thanh toán được sử dụng, chẳng hạn như: tiền giấy, tiền tín dụng, tiền xu

Trong lịch sử tiền tệ, kể từ khi chủ nghĩa tư bản hình thành và phát triển, các nước đã trãi qua nhiều chế độ bản vị tiền tệ khác nhau, cụ thể là:

2.3.1. Chế độ đơn kim bản vị

Là chế độ tiền tệ trong đó chỉ có một kim khí, vàng hoặc bạc, được tự do đúc thành tiền và có khả năng miễn trái vô hạn. Tự do đúc thành tiền nghĩa là mọi người dân có thể biến đổi những thỏi kim khí thành những đồng tiền bằng cách đem đến nơi đúc tiền. Khả năng miễn trái vô hạn, nghĩa là bắt buộc mọi người phải nhận tiền kim khí pháp định, mặc dù số lượng là bao nhiêu. Ở nước nào sử dụng bạc làm bản vị, người ta gọi là đơn kim bản vị bạc, nước nào sử dụng vàng làm bản vị, người ta gọi là đơn kim bản vị vàng.

2.3.2. Chế độ lưỡng kim bản vị

Là chế độ tiền tệ trong đó có hai loại kim khí vàng và bạc được đúc thành tiền và có khả năng miễn trái vô hạn. Có một giá trị pháp định giữa giá trị tiền tệ của vàng và bạc.

2.3.3. Các chế độ vàng biến thể

Kể từ khi tiền giấy trở nên thôg dụng, chủ yếu là tiền giấy khả hoán, còn đồng tiền vàng ngày càng ít lại. Thì kim bản vị vàng nguyên thủy biến thể qua một vài hình thái: chế độ bản vị tiền vàng, chế độ bản vị vàng thoi, chế độ bản vị hối đoái vàng.

-Chế độ bản vị tiền vàng: là chế độ trong đó tiền giấy khả hoán được chuyển đổi thành tiền vàng theo định nghĩa chính thức.

-Chế độ bản vị vàng thoi hay hay là chế độ kim định bản vị, theo chế độ này tiền giấy không được tự do đổi ra tiền vàng mà phải có một khối lượng tiền giấy nhất định mới đổi được một thoi vàng.

-Chế độ bản vị hối đoái vàng hay là chế độ kim hoàn bản vị. Đấy là chế độ trong đó tiền giấy không được đổi trực tiếp ra vàng, muốn chuển đổi ra vàng phải thông qua một đồng tiền trung gian khác.

2.3.4. Chế độ ngoại tệ bản vị

Chế độ ngoại tệ bản vị là chế độ tiền tệ trong đó đơn vị tiền tệ của một nước được định nghĩa theo một ngoại tệ nhất định, thường là ngoại tệ mạnh.

Khác với chế độ bản vị hối đoái vàng, ngoại tệ bản vị không có liên hệ gì với vàng. Ngoại tệ mạnh được dùng làm bản vị có thể không chuyển đổi ra vàng theo một giá cố định như trong bản vị hối đoái vàng. Ở chế độ ngoại tệ bản vị, chỉ có sự liên hệ giữa đơn vị tiền tệ này với đơn vị tiền tệ khác được dùng làm bản vị tiền tệ theo một giá trị chính thức cố định. Đơn vị ngoại tệ mạnh được chọn là để làm phương tiện thanh toán trong các cuộc giao dịch quốc tế.

*Bản vị dollar: Nền tảng vật chất của đồng dollar là nền kinh tế của Mỹ. Giá trị của dollar được chính phủ Mỹ mà đại diện là ngân hang trung ương Mỹ điều tiết và duy trì ổn định. Đồng dollar là đồng tiền mạnh, có giá trị ổn định, thuận tiền trong thanh toán quốc tế, do vậy nó được sử dụng rộng rãi trên thế giới. Nhiều nước đã gắn đồng tiền nước mình với dollar, còn được coi là theo bản vị dollar.

2.3.5. Bản vị lương thực

Theo quan điểm bản vị lương thực thì giá trị đồng tiền sẽ được đảm bảo nếu giá lương thực ổn định.

2.3.6. Bản vị hàng hóa

Nếu như bản vị vàng gắn đơn vị tiền tệ với một lượng vàng nhất định, thì bản vị hang hóa lại gắn tiền với hàng hóa.

Bản vị hàng hóa hay đồng tiền được bảo đảm bằng hàng hóa đã xuất hiện và được áp dụng tại các nước xã hội chủ nghĩa trước đây theo mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung. Thông qua hệ thống thương nghiệp nhà nước và hệ thống giá nhà nước, đồng tiền được bảo đảm bằng hàng hóa cung cấp, thậm chí theo nhiều nhóm hàng. Bạn đường của hệ thống này là chế độ tem phiếu.

2.4. Khối tiền tệ

Khối tiền tệ M1: Tiền mặt, Tiền gửi không kỳ hạn

Khối tiền tệ M2: M1, Tiền gửi tiết kiệm, Tiền gửi định kỳ tại ngân hàng

Khối tiền tệ M3: M2, Các loại tiền gửi ở các định chế tài chính khác

Khối tiền tệ L: M3, Trái phiếu kho bạc ngắn hạn, Trái phiếu tiết kiệm dài hạn của kho bạc, Thương phiếu, Các thuận nhận của ngân hàng.

Từ khối tiền tệ M1 đến khối tiền tệ L số lượng các thành phần tăng dần, tuy nhiên tính lỏng (khả năng thanh khoản) của các yếu tố này giảm dần.

Đối với Việt Nam hiện nay ta có sơ đồ sau:

M1 M2 M3 L

– Tiền mặt

– Tiền gửi không kỳ hạn M1 +

– Tiền gửi tiết kiệm

– Tiền gửi có kỳ hạn

– Kỳ phiếu

– Trái phiếu do Ngân hàng phát hành M2 + Các loại tiền gửi ở các định chế tài chính khác L=M2

* Chức năng làm tiền tệ thế giới.

Phần II: Phân tích các chức năng của tiền tệ.

2.1.Chức năng thước đo giá trị

Tiền tệ thực hiện chức năng thước đo giá trị khi tiền tệ đo lường và biểu hiện giá trị của các hàng hóa khác.

Chúng ta đo lường các giá trị của hàng hóa và dịch vụ bằng tiền giống như chúng ta đo khối lượng bằng kg hoặc đo khoảng cách bằng km. Để thấy vì sao chức năng này lại quan trọng, chúng ta nhìn vào nền kinh tế đổi chác, trong đó tiền không thực hiện chức năng này. Nếu nền kinh tế chỉ có ba mặt hàng, ví dụ: vải, gạo, muối thì chỉ có ba giá để có thể trao đổi thứ này với thứ khác: giá của một mét vải tính bằng bao nhiêu kiliogram gạo, giá của một mét vải tính bằng bao nhiêu kilogram muối và giá của một kilogram gạo tính bằng bao nhiêu kilogram muối. Nếu có mười mặt hàng, chúng ta sẽ có 45 giá để trao đổi mặt hàng này với mặt hàng khác, với 100 mặt hàng chúng ta có đến 4950 giá, với 1.000 mặt hàng có 499.500 giá.

Công thức cho chúng ta biết số giá ta cần khi có N mặt hàng: N(N -1)/2

Hãy tưởng tượng ra sự khó khăn đến thế nào nếu ta đi mua sắm trong một siêu thị với 1000 mặt hàng khác nhau. Khi quyết định giá của vật này rẻ hay đắt hơn giá cuả cái kia rất khó khăn vì giá của 1 kilogam gà được đo bằng 5 kilogam thóc, trong khi 1 kilogam cá được định giá băng 3 kilogam cà chua. Chắc chắn rằng bạn có thể so sánh giá của tất cả các mặt hàng, bảng giá của một mặt hàng sẽ phải kê ra 999 giá khác nhau và thời gian dung để đọc chúng rất lâu làm cho chi phí giao dịch tăng đáng kể.

Giải pháp cho vấn đề này là đưa tiền vào nền kinh tế và dùng tiền để thể hiện giá ch tất cả các mặt hàng, như vậy chúng ta có thể dễ dàng so sánh được giá gạo, vải hay muối. Nếu chỉ có 3 mặt hàng trong nền kinh tế thì điều này sẽ không có ‎ nghĩa lớn so với nền kinh tế đổi chác vì chúng ta chỉ có 3 giá khi giao dịch. Tuy nhiên, với số lượng hàng hóa lớn hơn thì tầm quan trọng của tiền lúc này sẽ rất lớn, với 10 mặt hàng bây giờ chúng ta chỉ cần 10 giá, 100 mặt hàng chỉ cần 100 giá. Tại siêu thị có 1000 mặt hàng thì nay chỉ cần 1000 giá để xem chứ không phải 499.500 giá.

Số lượng giá trong một nền kinh tế đổi chác và số lượng giá trong một nền kinh tế dùng tiền tệ được thể hiên qua bảng sau:

SỐ LƯỢNG MẶT HÀNG SỐ LƯỢNG GIÁ TRONG NỀN KINH TẾ ĐỔI CHÁC SỐ LƯỢNG GIÁ TRONG NỀN KINH TẾ SỬ DỤNG TIỀN TỆ

3 3 3

10 45 10

100 4950 100

1.000 499.500 1.000

10.000 49.995.000 10.000

Chúng ta có thể thấy rằng việc dùng tiền để đo lường làm giảm hẳn chi phí thời gian để giao dịch trong một nền kinh tế, nhất là giảm hẳn số giá cần phải xem xét. Cái lợi của chức năng này của tiền tăng lên khi nền kinh tế trở nên phức tạp hơn.

C.Mác đã cho rằng để thực hiện chức năng thước đo giá trị, tiền tệ phải là tiền thực – tiền có đủ giá trị nội tại. Để đo lường và biểu hiện giá trị các hàng hóa, có thể sử dụng tiền trong ‎ niệm và cần phải có tiêu chuẩn giá cả, tiêu chuẩn giá cả là đơn vị đo lường tiền tệ của mỗi quốc gia bao gồm hai yếu tố: tên gọi của đơn vị tiền tệ và hàm lượng kim loại qu‎ trong một đơn vị tiền tệ.

Với việc đảm nhận chức năng thước đo giá trị, tiền tệ đã giúp cho mọi việc tính toán trong nền kinh tế trở nên đơn giản như tính GNP, thu nhập, thuế khóa, chi phí sản xuất, vay nợ, trả nợ, giá trị hàng hóa, dịch vụ

2.2.Chức năng phương tiện lưu thông

Tiền tệ thực hiện chức năng phương tiện trao đổi khi tiền tệ môi giới cho quá trình trao đổi hàng hóa.

Khi tiền tệ xuất hiện, hình thái trao đổi trực tiếp bằng hiện vật dần dần nhường chỗ cho hình thái trao đổi gián tiếp thực hiện thông qua trung gian của tiền tệ. Hình thái trao đổi này trở thành phương tiện và động lực thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng nhanh chóng, buôn bán trở nên dễ dàng, sản xuất thuận lợi. Có thể ví tiền tệ như một chất nhớt bôi trơn guồng máy sản xuất và lưu thông hàng hóa. Khi mức dộ tiền tệ hóa ngày càng cao thì hoạt động giao lưu kinh tế càng được diễn ra thuận lợi, trôi chảy.

Nghiệp vụ trao đổi gián tiếp thực hiện qua trung gian của tiền tệ, gồm:

– Thứ nhất: bán hàng để lấy tiền:H-T

– Thứ hai : dùng tiền để mua hàng T – H

Hay H – T – H

Hàng hóa – Tiền – Hàng hóa

Nhưng thỉnh thoảng hai vế này không di liền với nhau. Tiền tệ là phương tiện làm trung gian trao đổi dần dần trở thành mục tiêu trong các cuộc trao đổi và được ưa chuộng. Chính sức mua của tiền tệ đã quyết định điều này. Do vậy muốn tiền thực hiện tốt chức năng phương tiện trao đổi đòi hỏi hệ thống tiền tệ của một quốc gia phải có sức mua ổn định, số lượng tiền tệ phải đủ liều lượng đáp ứng nhu cầu trao đổi trong mọi hoạt động kinh tế, hệ thống tiền tệ phải có đủ các loại tiền, đáp ứng kịp thời, nhanh chóng nhu cầu giao dịch của dân chúng.

2.3.Chức năng phương tiện thanh toán

Quá trình lưu thông hàng hóa phát triển, ngoài quan hệ hàng hóa-tìền tệ, còn phát sinh những nhu cầu vay mượn, thuế khóa, nộp địa tô bằng tiền. Trong những trường hợp này, tiền tệ chấp nhận chức năng thanh toán.

Như vậy, khi thực hiện chức năng phương tiện thanh toán, tiền tệ không còn là môi giới của trao đổi hàng hóa, mà là khâu bổ sung cho quá trình trao đổi, tức là tiền tệ vận động tách rời sự vận động của hàng hóa.

Tiền tệ khi thực hiện chức năng làm phương tiện chi trả đã tạo ra khả năng làm cho số lượng tiền mặt cần thiết cho lưu thông giảm đi tương đối vì sự mua bán chịu, thực hiện thanh toán bù trừ lẫn nhau.

Muốn được chấp nhận làm phương tiện thanh toán, tiền phải là tiền mặt – vận động từ người mua chịu hay đi vay sang người bán chịu hay cho vay; tiền tệ phải có sức mua ổn định, tương đối bền vững theo thời gian, chính sức mua ổn định đã tạo cho người ta niềm tin và sự tín nhiệm tiền tệ.

2.4.Chức năng phương tiện cất trữ

Tiền tệ chấp hành chức năng phương tiện tích lũy khi tiền tệ tạm thời rút khỏi lưu thông, trở vào trạng thái tĩnh, chuẩn bị cho nhu cầu chi dùng trong tương lai.

Khi tiền tệ chưa xuất hiện, người ta thường thực hiện tích lũy dưới hình thái hiện vật, hình thái này không tiện lợi vì nó đòi hỏi phải có chỗ rộng rãi, phải tốn nhiều chi phí bảo quản, dễ hư hỏng, khó lưu thông và ít sinh lời.

Khi tiền tệ xuất hiện, người ta dần dần thay thế tích lũy dưới hình thái hiện vật bằng hình thái tích lũy dưới dạng tiền tệ. Hình thái này có nhiều ưu điểm, điểm nổi bật là dễ lưu thông và thanh khoản. Tuy nhiên, tích lũy dưới hình thái tiền tệ có nhược điểm là có thể dễ mất giá khi nền kinh tế có lạm phát. Do vậy, để tiền tệ thực hiện được chức năng phương tiện tích lũy đòi hỏi hệ thống tiền tệ quốc gia phải đảm bảo được sức mua.

Chính vì thế bản thân đồng tiền phải có giá trị tức là tiền vàng.

2.5.Chức năng tiền tệ thế giới

Tiền tệ thực hiện chức năng tiền tệ thế giới khi tiền tệ thực hiện bốn chức năng thước đo giá trị, phương tiện trao đổi, phương tiện thanh toán, phương tiện tích lũy ở phạm vi ngoài quốc gia, nói cách khác là đồng tiền của một nước thực hiện chức năng tiền tệ thế giới khi tiền của quốc gia đó được nhiều nước trên thế giới tin dùng và sử dụng như chính đồng tiền của nước họ.

Tóm lại, điều kiện quan trọng nhất để cho một vật được sử dụng làm tiền tệ thực hiện các chức năng: thước đo giá trị, phương tiện trao đổi, phương tiện thanh toán, phương tiện tích lũy, tiền tệ thế giới là chúng phải có sức mua ổn định, bền vững, tạo được niềm tin và sự tín nhiệm của dân chúng.

Phần III: Các chức năng của tiền tệ trong quá trình tổ chức và quản lý kinh tế ở Việt Nam.

1. phải dựa trên các chức năng đã trình bày,

2. nêu thực trạng của Vn hiện nay

3. qua đó nêu giải pháp hiệu quả

Trước dự báo của các tổ chức quốc tế về tình hình kinh tế thế giới tăng trưởng không mấy khả quan, bất ổn kinh tế vĩ mô và biến động phức tạp của thị trường tài chính tiền tệ toàn cầu dự kiến tiếp tục gây khó khăn cho quá trình phục hồi kinh tế thế giới. Trong khi, kinh tế trong nước đang phải đối mặt với những vấn đề nan giải như lạm phát, nhập siêu ở mức cao, tình trạng đô-la hóa trong nền kinh tế, một số bộ phận của khu vực tài chính (thị trường bất động sản, chứng khoán, ngoại hối .) diễn biến còn phức tạp . ,

NHNN xác định mục tiêu định hướng trong việc điều hành CSTT là điều hành CSTT chủ động, linh hoạt và thận trọng nhằm mục tiêu hàng đầu là kiểm soát lạm phát và ổn định kinh tế, góp phần tăng trưởng kinh tế. Các công cụ CSTT và các biện pháp điều hành được thực hiện phù hợp với quy định của Luật NHNN, chỉ đạo của Chính phủ và điều kiện thực tế của thị trường tài chính – tiền tệ. NHNN tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ chặt chẽ và linh hoạt để ưu tiên kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế ở mức phù hợp; thị trường tiền tệ, ngoại hối ổn định phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô.

Mặc dù diễn biến thị trường ngoại hối là ổn định nhưng để tăng cường tính chủ động trong công tác điều hành chính sách tỷ giá trong điều kiện nhập siêu còn lớn, lạm phát gia tăng, vốn FDI có xu hướng giảm, NHNN phải ban hành những chính sách mới với kỳ vọng là sẽ hỗ trợ tốt cho công tác điều hành CSTT để kiềm chế lạm phát, bảo đảm an sinh xã hội, ổn định kinh tế vĩ mô theo chủ trương của Chính phủ, tiếp tục duy trì được sự ổn định cho tỷ giá, tăng cường dự trữ ngoại hối, giảm mức độ đô-la hóa.

Ba là, Quyết tâm thực hiện hiệu quả công cụ hạn mức tín dụng, hạn chế cung tiền thông qua kênh tín dụng, kết hợp hài hòa với công cụ lãi suất nhằm thực hiện giảm tổng cầu

– Kiểm soát chặt chẽ tốc độ tăng trưởng tín dụng

– Điều chỉnh cơ cấu tín dụng, tập trung vốn phát triển sản xuất kinh doanh, nông nghiệp nông thôn, xuất khẩu, công nghiệp hỗ trợ, doanh nghiệp nhỏ và vừa;

Bên cạnh đó, nhằm hỗ trợ mục tiêu tập trung vốn vay cho phát triển sản xuất kinh doanh và nông nghiệp, đồng thời nâng cao chất lượng tín dụng. Đồng thời để hạn chế tốc độ tăng trưởng tín dụng ngoại tệ quá nóng.

Những mối lo về việc tạo lập được một mặt bằng lãi suất phù hợp (không quá cao, đảm bảo cho các doanh nghiệp tiếp cận được vốn của ngân hàng để phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh), đảm bảo tính thanh khoản hệ thống, duy trì sự ổn định bền vững của thị trường ngoại hối vẫn còn là những thách thức của NHNN.

Các TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài cần nhận thức rõ trách nhiệm và chia sẻ khó khăn cùng doanh nghiệp, đất nước và tập trung thực hiện một số giải pháp sau:

– Kiểm soát tốc độ tăng trưởng tín dụng của từng ngân hàng dưới 20% ở mọi thời điểm; giảm dần tốc độ và tỷ trọng cho vay lĩnh vực phi sản xuất trong tổng dư nợ; kiểm soát chặt chẽ chất lượng tín dụng, đánh giá lại các khoản cấp tín dụng đối với khách hàng;

– Chấp hành nghiêm quy định về lãi suất huy động tối đa bằng đồng Việt Nam;

– Xem xét, đánh giá lại rủi ro, giảm dần quy mô hoạt động trên thị trường 2 ở mức hợp lý nhằm đảm bảo phù hợp với quy mô của TCTD trên thị trường 1 và khả năng quản trị rủi ro của đơn vị;

– Thực hiện các giải pháp tiết kiệm chi phí để giảm mặt bằng lãi suất, tránh hiện tượng cạnh tranh không lành mạnh.

Các đơn vị chức năng thuộc NHNN tập trung thực hiện các giải pháp sau:

– Tiếp tục điều hành CSTT chặt chẽ, thận trọng, linh hoạt, bảo đảm tốc độ tăng trưởng tín dụng; sử dụng linh hoạt các loại lãi suất thuộc công cụ điều hành của NHNN để điều tiết và tác động ổn định thị trường tiền tệ;

– Tiếp tục theo dõi sát diễn biến thị trường ngoại tệ, vàng, đặc biệt là những tháng cuối năm để có giải pháp điều hành thích hợp; thực hiện các biện pháp để tăng dự trữ ngoại tệ;

– Tăng cường thanh tra, kiểm tra tính tuân thủ, chấp hành kỷ cương, giám sát thị trường tiền tệ và hoạt động ngân hàng, kiểm soát chặt chẽ chất lượng hoạt động của các TCTD; xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm quy định về các tỷ lệ đảm bảo an toàn, quy định về trần lãi suất huy động và các quy định khác; phối hợp với các cơ quan truyền thông để thông tin hành vi vi phạm và kết quả xử lý đối với TCTD; đảm bảo an toàn hệ thống tránh rủi ro và giảm nợ xấu, ổn định và lành mạnh hóa thị trường tiền tệ, trước hết là thị trường liên ngân hàng, kể cả nội ngoại tệ, thị trường vàng

– Xây dựng đề án tái cơ cấu hệ thống ngân hàng để nâng cao chất lượng, hiệu quả và an toàn hệ thống; Triển khai đồng bộ các giải pháp cơ cấu lại hoạt động ngân hàng theo Đề án được Chính phủ phê duyệt với nguyên tắc không để xảy ra đổ vỡ ngoài tầm kiểm soát, từng bước nâng cao tính an toàn, lành mạnh và hiệu quả của hệ thống ngân hàng. Kiên quyết xử lý dứt điểm những ngân hàng yếu kém, tạo điều kiện thuận lợi cho các TCTD hoạt động an toàn, hiệu quả phát triển. Nghiên cứu, sớm ban hành một số văn bản hướng dẫn nghiệp vụ tín dụng như: vay vốn giữa các TCTD, đầu tư tài chính, trong đó có hoạt động đầu tư trái phiếu doanh nghiệp, ủy thác, nhận ủy thác đầu tư.

Bên cạnh đó, Ngoài ra sẽ không ngừng nâng cao chất lượng thống kê, dự báo phục vụ cho hoạch định và điều hành chính sách tiền tệ. Đồng thời, làm tốt công tác thông tin truyền thông, đưa thông tin đầy đủ, kịp thời về các giải pháp điều hành và hoạt động ngân hàng

Câu Hỏi Và Đáp Án Lý Thuyết Tiền Tệ

Câu Hỏi Tự Ôn Tập Chương Tiền Tệ

Tiền Tệ Và Chính Sách Tiền Tệ

Hệ Thống Tiền Tệ Quốc Tế

Phân Tích Các Chức Năng Của Tiền Tệ Theo Quan Điểm Của Nhà Kinh Tế Học Hiện Đại? Nêu Ý Nghĩa?

🌟 Home
🌟 Top