Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Tổ Chức Cơ Sở Đảng Trong Quân Đội Nhân Dân

Theo quy định tại Mục III Phần B Quy định 59-QĐ/TW năm 2024 về tổ chức đảng trong Quân đội nhân dân Việt Nam do Ban Chấp hành Trung ương ban hành thì nội dung này được quy định như sau:

1- Chức năng

– Lãnh đạo mọi mặt hoạt động trong đơn vị.

2- Nhiệm vụ

Các tổ chức cơ sở đảng trong Quân đội thực hiện đầy đủ 5 nhiệm vụ đã ghi trong Điều lệ Đảng và các quy định của Ban Bí thư về chức năng, nhiệm vụ của tổ chức cơ sở đảng trong Quân đội nhân dân Việt Nam. Trong quá trình lãnh đạo thực hiện toàn diện các nhiệm vụ, cấp ủy cơ sở ở các loại hình sau đây cần chú trọng lãnh đạo nhiệm vụ có tính đặc thù:

– Tổ chức cơ sở đảng ở đơn vị chiến đấu: Lãnh đạo nâng cao chất lượng huấn luyện, trình độ sẵn sàng chiến đấu, sức mạnh chiến đấu, xây dựng chính quy, rèn luyện kỷ luật; xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện gắn với xây dựng đảng bộ trong sạch, vững mạnh; giữ gìn và sử dụng có hiệu quả vũ khí, trang bị, cơ sở vật chất hậu cần – kỹ thuật trong đơn vị; tổ chức tốt đời sống vật chất, tinh thần cho bộ đội, bảo đảm đơn vị huấn luyện giỏi, sẵn sàng chiến đấu cao, chiến đấu thắng lợi trong mọi tình huống.

– Tổ chức cơ sở đảng ở cơ quan: Lãnh đạo quán triệt và chấp hành các đường lối, quan điểm, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nghị quyết, chỉ thị của cấp trên. Nâng cao chất lượng nghiên cứu, tham mưu đúng đường lối, chủ trương, quan điểm, nguyên tắc của Đảng; hướng dẫn, kiểm tra thực hiện theo chức năng, nhiệm vụ của cơ quan; bồi dưỡng nâng cao kiến thức, năng lực, đổi mới phương pháp và tác phong công tác cho cán bộ, đảng viên.

– Tổ chức cơ sở đảng trong các học viện, nhà trường: Lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ giáo dục – đào tạo, nghiên cứu khoa học đúng đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nghị quyết, chỉ thị của cấp trên; đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp dạy – học và nghiên cứu khoa học; xây dựng đội ngũ cán bộ khoa học, đội ngũ giáo viên; xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật, tiềm lực khoa học – công nghệ nhằm hoàn thành mục tiêu, yêu cầu đào tạo, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng, huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, chiến đấu của Quân đội và phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; lãnh đạo xây dựng nhà trường chính quy, tiên tiến, mẫu mực.

– Tổ chức cơ sở đảng ở bệnh viện: Lãnh đạo quán triệt và thực hiện quan điểm kết hợp y học hiện đại với y học cổ truyền trong chẩn đoán, điều trị và nghiên cứu khoa học; không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ; giáo dục rèn luyện phẩm chất đạo đức, y đức, quan điểm, trách nhiệm của người thầy thuốc Quân đội đối với bệnh nhân.

– Tổ chức cơ sở đảng ở các đơn vị nghiên cứu khoa học công nghệ và môi trường: Lãnh đạo quán triệt và thực hiện đúng đường lối, quan điểm của Đảng về khoa học công nghệ và môi trường, nâng cao chất lượng, hiệu quả nghiên cứu, bám sát thực tiễn, phục vụ thiết thực cho nhiệm vụ xây dựng, huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu của Quân đội và sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Chấp hành nghiêm kỷ luật công tác, giữ gìn bí mật quân sự, bí mật quốc gia.

– Tổ chức cơ sở đảng ở đơn vị, cơ quan quản lý cơ sở vật chất kỹ thuật, tài chính: Lãnh đạo quán triệt và thực hiện quan điểm cần kiệm, liêm chính, ý thức tự lực, tự cường, chấp hành nghiêm chế độ quản lý, sử dụng, bảo quản trang bị kỹ thuật, vật tư, tài chính; kiên quyết đấu tranh chống mọi biểu hiện cửa quyền, lãng phí, tham ô, tham nhũng, hối lộ, làm thất thoát tài sản của Nhà nước, Quân đội.

Trong khi thực hiện các nhiệm vụ nêu trên, những vấn đề thuộc về chủ trương, biện pháp lãnh đạo, nhất thiết phải do tập thể cấp ủy quyết định.

Trân trọng!

Xuyên Tạc Bản Chất, Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Quân Đội

Xuyên tạc bản chất, chức năng, nhiệm vụ của Quân đội là một thủ đoạn trong chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, nhằm thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nội bộ, tiến tới “phi chính trị hóa”, “dân sự hóa” Quân đội. Thời gian gần đây, thủ đoạn này càng được tiến hành ráo riết hơn, vì vậy, cần phải nhận diện và kiên quyết đấu tranh bác bỏ.

Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, quân đội là một hiện tượng xã hội mang tính lịch sử, là sản phẩm của đấu tranh giai cấp. Bất cứ quân đội nào cũng đều mang bản chất giai cấp của giai cấp thống trị đã sinh ra nó. Không có quân đội phi giai cấp, siêu giai cấp, quân đội trung lập. V.I. Lê-nin đã khẳng định: “Quân đội không thể và không nên trung lập. Không lôi kéo quân đội vào chính trị – đó là khẩu hiệu của bọn tôi tớ, giả nhân, giả nghĩa của giai cấp tư sản” 1. Quán triệt, vận dụng tư tưởng đó vào thực tiễn xây dựng Quân đội ở Việt Nam, Đảng ta đã tổ chức xây dựng quân đội kiểu mới của giai cấp vô sản từ không đến có, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện. Các đội tự vệ công nông, đội du kích Bắc Sơn, đội du kích Ba Tơ, đội Cứu quốc quân,… là những mầm mống đầu tiên của lực lượng vũ trang nhân dân, quân đội nhân dân. Trong Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “chính trị trọng hơn quân sự”, “tuyên truyền trọng hơn tác chiến”, “người trước, súng sau”. Ngày 22-12-1964, kỷ niệm 20 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam, Người khẳng định: “Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng” 2. Đó là luận điểm khái quát nhất về bản chất, truyền thống, chức năng, nhiệm vụ của Quân đội nhân dân Việt Nam.

Thế nhưng, với mưu đồ đen tối, các thế lực thù địch ra sức chống phá, xuyên tạc, hòng “phi chính trị hóa”, “dân sự hóa” Quân đội. Chúng coi đây là một trong ba trọng tâm chống Đảng, Nhà nước và hướng lái, chuyển hóa cách mạng Việt Nam. Kế hoạch của chúng là: lấy phá vỡ nền tảng chính trị là then chốt; chống phá về kinh tế là biện pháp cơ bản, thường xuyên, lâu dài; “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang là nhiệm vụ trọng yếu. Thủ đoạn đó không mới, nhưng cực kỳ nguy hiểm, nhằm xóa nhòa bản chất giai cấp, chức năng chính trị, xã hội của lực lượng vũ trang cách mạng; phủ nhận nguyên tắc Đảng lãnh đạo Quân đội, làm cho Quân đội mất phương hướng chính trị, xa rời mục tiêu, lý tưởng chiến đấu và bị vô hiệu hóa. Để đạt được mục tiêu đề ra, chúng đã và đang sử dụng mọi biện pháp hòng làm thay đổi bản chất chính trị của Quân đội và sự nghiệp xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, v.v. Chúng lập luận trơ trẽn rằng, việc tổ chức ra quân đội chỉ để bảo vệ “lợi ích dân tộc”, “lợi ích quốc gia”; rằng, quân đội phải “trung lập”, “đứng ngoài chính trị”, “không cần đặt dưới sự lãnh đạo của đảng phái nào”. Chúng còn viện dẫn những hiện tượng cá biệt, đơn lẻ để đánh giá, xuyên tạc bản chất, chức năng, nhiệm vụ của Quân đội, v.v. Gần đây, các thế lực thù địch tiếp tục tuyên truyền, xuyên tạc về việc Quân đội tham gia sản xuất, phát triển kinh tế xây dựng đất nước. Thâm độc hơn, chúng tỏ vẻ thân thiện góp ý rằng “Quân đội nhân dân Việt Nam không nên thực hiện sản xuất, lao động”, mà chỉ thuần túy làm nhiệm vụ quốc phòng; “Quân đội không làm kinh tế là sự đột phá về tư duy”; mừng vì “Quân đội sẽ không làm kinh tế”; hay “đáng lẽ Quân đội phải ngừng làm kinh tế lâu rồi”, vì làm kinh tế thì “lợi ít, hại nhiều”, v.v. Những luận điệu thâm độc không có gì khác là nhằm xuyên tạc bản chất, truyền thống, chức năng của Quân đội, tách Quân đội khỏi sự gắn bó máu thịt với nhân dân và sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đồng thời hạ thấp uy tín của Quân đội trong đời sống xã hội, v.v.

Cần thấy rằng, quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội ta luôn gắn liền với sự nghiệp cách mạng của Đảng, cuộc đấu tranh của quần chúng nhân dân. Trong mọi điều kiện, hoàn cảnh, dù thời bình hay thời chiến, Quân đội luôn mang bản chất cách mạng, là chỗ dựa vững chắc cho Đảng, Nhà nước trong bảo vệ chế độ và nền độc lập dân tộc; gắn bó mật thiết với nhân dân, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh, lập nên những chiến công hiển hách, đánh đuổi thực dân, đế quốc và là lực lượng nòng cốt trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Đó là cơ sở thực tiễn khẳng định chức năng, bản chất, truyền thống của Quân đội nhân dân Việt Nam. Lý luận và thực tiễn đã cho thấy Quân đội nhân dân Việt Nam có ba chức năng cơ bản. Cùng với chức năng “đội quân chiến đấu” còn là “đội quân công tác”, “đội quân lao động sản xuất”. Đó là nhiệm vụ được Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Đảng Cộng sản Việt Nam và nhân dân giao cho Quân đội. Hiểu đầy đủ và nắm vững chức năng của Quân đội phải là như vậy. Trong vấn đề này, các thế lực thù địch đã rất thâm độc khi chỉ đề cập tới chức năng “đội quân chiến đấu” và coi đó là duy nhất, trong khi lờ đi hai chức năng cơ bản còn lại, thậm chí còn xuyên tạc, phê phán việc Quân đội tham gia lao động sản xuất, xây dựng kinh tế. Thật trơ trẽn, lố bịch!

Ngay sau khi Cách mạng Tháng Mười Nga thành công, trong điều kiện phải tiến hành cuộc chiến tranh chống thù trong, giặc ngoài, V.I. Lê-nin vẫn không coi nhẹ nhiệm vụ phát triển kinh tế, mà đặt kinh tế và quốc phòng trong mối quan hệ biện chứng, tác động qua lại. Theo quan điểm đó, mối quan hệ giữa tổ chức quân sự với kinh tế và văn hóa của nước ấy chưa bao giờ bị lơi lỏng. Trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, việc kết hợp kinh tế với quốc phòng được thể hiện rõ trong chính sách “ngụ binh ư nông” của các thời Lý, Trần, Lê. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn: “…quyết tâm xây dựng Quân đội ta thành một quân đội hùng mạnh, sẵn sàng chiến đấu, học tập giỏi, công tác giỏi, sản xuất giỏi” 3. Nhiệm vụ lao động, sản xuất của Quân đội được thể hiện trong các văn kiện chính thức của Đảng qua các kỳ đại hội, mới nhất là văn kiện Đại hội XII của Đảng và Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ X: “… kết hợp chặt chẽ kinh tế, văn hóa, xã hội với quốc phòng – an ninh…” và “quốc phòng – an ninh với kinh tế”, v.v. Thực tiễn cho thấy, những năm sau chiến tranh, các thế hệ cán bộ, chiến sĩ Quân đội luôn phát huy truyền thống và bản chất tốt đẹp “Bộ đội Cụ Hồ”, thực hiện tốt chức năng “đội quân chiến đấu, đội quân công tác, đội quân lao động, sản xuất”, góp phần quan trọng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Khi xem xét những luận điểm đề cập bản chất, chức năng, nhiệm vụ của Quân đội, nhất là Quân đội tham gia lao động sản xuất, xây dựng kinh tế, với cách nhìn nhận khách quan, toàn diện, chúng ta không “vơ đũa cả nắm”, không đánh đồng người tốt, kẻ xấu, nhưng cần nhận diện, phân biệt rõ quan điểm nào là sai trái, quan điểm nào là thù địch để có cách

ứng xử phù hợp. Đối với những người do thiếu thông tin, nhận thức chưa đầy đủ về chức năng, nhiệm vụ của Quân đội thì phải tuyên truyền, thuyết phục để họ nhận thức đúng vấn đề, không có những hành động vô tình tiếp tay cho kẻ xấu, làm tổn hại đến uy tín, thanh danh Quân đội. Đối với những kẻ thù địch, cố tình xuyên tạc, chống phá Quân đội thì phải kiên quyết đấu tranh, nghiêm trị theo pháp luật. Đó là cách làm thiết thực nhất, hữu hiệu nhất trong bối cảnh các thế lực thù địch và những phần tử cơ hội chính trị đang sử dụng mọi “mưu ma, chước quỷ” chống phá Quân đội nhân dân Việt Nam.

1 – V.I. Lê-nin – Toàn tập, Tập 12, Nxb Tiến bộ, M. 1979, tr. 136.

2 – Hồ Chí Minh – Toàn tập, Tập 14, Nxb CTQG, H. 2011, tr. 435.

3 – Sđd, Tập 11, tr. 367.

Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Quân Đội Nhân Dân Việt Nam

Trải qua suốt chiều dài lịch sử xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, mỗi bước phát triển của Quân đội nhân dân Việt Nam đều gắn liền với quá trình phát triển chức năng, nhiệm vụ của quân đội. Việc xác định đúng đắn chức năng, nhiệm vụ của quân đội và lãnh đạo quân đội thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ đó là một trong những nguyên nhân quan trọng làm cho Quân đội nhân dân Việt Nam luôn giữ vững bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân, tính dân tộc; luôn giữ vững và phát huy bản chất “Bộ đội Cụ Hồ”; là lực lượng chính trị quan trọng của Đảng trong việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị của cách mạng, của đất nước. Cuốn sách Chức năng, nhiệm vụ của Quân đội nhân dân Việt Nam – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn sẽ góp phần không nhỏ trong việc làm rõ hơn chức năng, nhiệm vụ quan trọng của Quân đội nhân dân Việt Nam.

Nội dung cuốn sách tập trung trình bày về chức năng, nhiệm vụ của Quân đội nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, trải qua các thời kỳ Tổng khởi nghĩa giành chính quyền, kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ cũng như trong thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Theo các tác giả, chức năng, nhiệm vụ của quân đội là sự phản ánh bản chất chính trị – xã hội của quân đội kiểu mới, đồng thời phản ánh thực tiễn đấu tranh cách mạng của giai cấp công nhân và nhân dân các dân tộc Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng. Chức năng, nhiệm vụ của Quân đội nhân dân Việt Nam là vấn đề có tính bản chất của một quân đội của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Trong cuốn sách đã viết: Là quân đội kiểu mới của giai cấp vô sản, sinh ra ở một nước nông nghiệp phương Đông, Quân đội nhân dân Việt Nam được Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định là một quân đội nhiều chức năng: chức năng chiến đấu, chức năng công tác, chức năng lao động sản xuất. Trong đó chức năng cơ bản hàng đầu là chức năng chiến đấu. Đặc biệt, các chức năng, nhiệm vụ này của Quân đội nhân dân Việt Nam trong từng thời kỳ (kháng chiến chống thực dân Pháp, chống Mỹ, cứu nước, thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa) không ngang bằng nhau nhưng thống nhất trong bản chất của Quân đội nhân dân Việt Nam. Từng chức năng, nhiệm vụ này sẽ được phân tích khá cụ thể trong chương II, chương III, chương IV của cuốn sách.

Từ góc độ nghiên cứu tổng kết lý luận, phần cuối cuốn sách đã rút ra 4 bài học về xác định và tổ chức thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Quân đội nhân dân hơn 67 năm xây dựng và trưởng thành. Những bài học đó có ý nghĩa như những vấn đề có tính quy luật của việc xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam. Đặc biệt, các tác giả đã đưa ra một số dự báo về sự phát triển chức năng, nhiệm vụ của Quân đội nhân dân Việt Nam trong thời kỳ mới. Đây là những dự báo góp phần quan trọng trong việc định hướng quá trình phát triển của Quân đội nhân dân Việt Nam.

Với những thông tin và nội dung trong cuốn sách, đây sẽ là một kênh tri thức góp phần bổ sung, phát triển, hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ quân đội – một vấn đề có tính cấp thiết, có ý nghĩa lý luận, thực tiễn quan trọng trong tình hình hiện nay.

Cuốn sách gồm 5 chương:

Chương I: Tiếp cận khoa học về chức năng, nhiệm vụ của Quân đội nhân dân Việt Nam

Chương II: Chức năng, nhiệm vụ của Quân đội nhân dân Việt Nam thời kỳ Tổng khởi nghĩa giành chính quyền và kháng chiến chống thực dân Pháp

Chương III: Chức năng, nhiệm vụ của Quân đội nhân dân Việt Nam thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước

Chương IV: Chức năng, nhiệm vụ của Quân đội nhân dân Việt Nam thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa

Chương V: Bài học kinh nghiệm và dự báo sự phát triển chức năng, nhiệm vụ của Quân đội nhân dân Việt Nam trong thời kỳ mới

Chức Năng, Nhiệm Vụ Quyền Hạn Của Đảng Ủy Các Đơn Vị Trong Quân Đội

Theo quy định tại Mục II.1 Phần B Quy định 59-QĐ/TW năm 2024 về tổ chức đảng trong Quân đội nhân dân Việt Nam do Ban Chấp hành Trung ương ban hành thì nội dung này được quy định như sau:

a) Chức năng

– Lãnh đạo mọi mặt các đơn vị thuộc quyền.

b) Nhiệm vụ

– Nghiên cứu, đề xuất với cấp ủy cấp trên nội dung, biện pháp để thực hiện chủ trương, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nghị quyết, chỉ thị của Quân ủy Trung ương về nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, cơ yếu và những chủ trương về công tác đảng, công tác chính trị, về thực hiện các chế độ, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với Quân đội nhân dân, Dân quân tự vệ và lực lượng cơ yếu.

– Lãnh đạo đơn vị chấp hành đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nghị quyết của đảng ủy, mệnh lệnh của cấp trên, nghị quyết đại hội đảng bộ và nghị quyết của cấp ủy cấp mình, thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao.

– Giáo dục, xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên và quần chúng trong đơn vị có bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, nhất trí và tin tưởng vào đường lối, quan điểm của Đảng, phát huy bản chất cách mạng, truyền thống vẻ vang của dân tộc, của Đảng, của Quân đội, của đơn vị. Đấu tranh chống các quan điểm sai trái, tư tưởng cơ hội thực dụng, chủ nghĩa cá nhân, phòng, chống sự suy thoái về tư tưởng chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống; nâng cao ý thức tổ chức kỷ luật, sẵn sàng nhận và hoàn thành mọi nhiệm vụ.

– Xây dựng các tổ chức cơ sở đảng và chi bộ trong sạch, vững mạnh, có năng lực lãnh đạo toàn diện và sức chiến đấu cao; chấp hành nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, tự phê bình, phê bình và các chế độ sinh hoạt, giữ vững sự đoàn kết thống nhất trong đảng bộ.

– Lãnh đạo nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác đảng, công tác chính trị và hiệu lực chế độ một người chỉ huy gắn với chế độ chính ủy, chính trị viên trong Quân đội theo Nghị quyết số 51-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa IX.

– Lãnh đạo công tác kiểm tra, giám sát. Kiểm tra, giám sát các tổ chức đảng và đảng viên thuộc diện quản lý theo quy định của Điều lệ Đảng và hướng dẫn của cấp trên. Thi hành kỷ luật và giải quyết khiếu nại, tố cáo theo thẩm quyền.

– Lãnh đạo nâng cao chất lượng huấn luyện – đào tạo, trình độ sẵn sàng chiến đấu, sức mạnh chiến đấu của đơn vị. Xây dựng cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện, có hệ thống tổ chức chỉ huy, các tổ chức quần chúng và hội đồng quân nhân ở đơn vị cơ sở vững mạnh, hoạt động đúng chức năng, nhiệm vụ. Xây dựng đoàn kết nội bộ, đoàn kết quân dân, thực hiện tốt Quy chế dân chủ ở cơ sở. Lãnh đạo công tác hội nhập quốc tế và đối ngoại về quốc phòng, công tác tư pháp, thanh tra, pháp chế trong đơn vị.

– Lãnh đạo công tác hậu cần, kỹ thuật, tài chính, kế hoạch – đầu tư, lao động sản xuất làm kinh tế của đơn vị. Chấp hành nghiêm quy định của Nhà nước, Quân đội về quản lý, sử dụng vũ khí, trang bị, cơ sở vật chất hậu cần, kỹ thuật, tài chính, tài sản của đơn vị, bảo đảm an toàn, hiệu quả, phòng, chống tham nhũng, lãng phí.

Các chủ trương, biện pháp lãnh đạo thực hiện nghị quyết, chỉ thị của cấp trên và lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị của đơn vị. Những chủ trương về phương án tác chiến; về tổ chức biên chế; về công tác đảng, công tác chính trị; về quản lý, sử dụng đất quốc phòng, công tác kế hoạch và đầu tư; công tác hậu cần, kỹ thuật, tài chính và lao động sản xuất làm kinh tế.

Do tính chất nhiệm vụ, các cấp ủy sau đây cần chú trọng lãnh đạo các nhiệm vụ có tính đặc thù:

+ Đảng ủy quân khu: Đi đối với trách nhiệm lãnh đạo các đơn vị thuộc quyền, còn có nhiệm vụ chỉ đạo, hướng dẫn các cấp ủy địa phương lãnh đạo xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân, công tác quân sự địa phương, xây dựng lực lượng bộ đội địa phương và Dân quân tự vệ, thực hiện chính sách hậu phương quân đội; phối hợp với cấp ủy địa phương thực hiện đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trong quân khu.

+ Đảng ủy quân sự tỉnh có nhiệm vụ: Đề xuất nội dung lãnh đạo và giúp cấp ủy địa phương chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra các cấp, các ngành thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng và chính sách hậu phương quân đội tại địa phương mình theo nghị quyết của đảng ủy quân sự cấp trên. Lãnh đạo mọi mặt cơ quan quân sự cùng cấp và các đơn vị bộ đội địa phương thuộc quyền thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ do cấp ủy địa phương và cấp ủy, người chỉ huy quân sự cấp trên giao.

+ Đảng ủy Bộ đội Biên phòng cùng với trách nhiệm lãnh đạo các đơn vị thuộc quyền, còn có nhiệm vụ nghiên cứu, đề xuất để Quân ủy Trung ương quyết định các chủ trương về công tác biên phòng và xây dựng bộ đội biên phòng, đồng thời lãnh đạo bộ đội biên phòng trong cả nước thực hiện các chủ trương trên.

+ Đảng ủy bộ đội biên phòng tỉnh cùng với việc lãnh đạo mọi mặt các đơn vị thuộc quyền, còn có nhiệm vụ nghiên cứu, đề xuất với cấp ủy địa phương và Đảng ủy Bộ đội Biên phòng nội dung lãnh đạo về công tác biên phòng và xây dựng nền biên phòng toàn dân vững mạnh, đồng thời có trách nhiệm lãnh đạo các đơn vị bộ đội biên phòng tỉnh chấp hành nghị quyết của tỉnh ủy, nghị quyết của Đảng ủy Bộ đội Biên phòng và nghị quyết của đảng ủy quân khu về xây dựng và tác chiến trong khu vực phòng thủ.

+ Đảng ủy đơn vị sản xuất quốc phòng và làm kinh tế có nhiệm vụ: Lãnh đạo đơn vị thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ; quán triệt và thực hiện quan điểm kết hợp kinh tế – xã hội với quốc phòng, an ninh và quốc phòng, an ninh với kinh tế – xã hội tạo thế quân sự, quốc phòng trong khu vực phòng thủ ở địaphương, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ quân sự, quốc phòng trong mọi tình huống; sản xuất, kinh doanh phát triển, đạt hiệu quả kinh tế – xã hội cao theo đúng đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, quy định của Quân đội; góp phần cùng các doanh nghiệp nhà nước giữ vị trí chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân.

+ Cấp ủy đảng trong các doanh nghiệp của Quân đội liên doanh với nước ngoài có nhiệm vụ lãnh đạo doanh nghiệp thực hiện nhiệm vụ sản xuất kinh doanh đúng pháp luật, chính sách của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, bảo đảm lợi ích hợp pháp của các bên trong doanh nghiệp, bảo vệ quyền lợi, nhân phẩm người lao động.

c) Quyền hạn

– Quyết định thành lập, giải thể tổ chức đảng cấp dưới trực tiếp.

– Quyết nghị việc bổ nhiệm, bãi nhiệm, miễn nhiệm chức vụ cán bộ, thăng quân hàm sĩ quan, chuyển ra, kéo dài thời hạn phục vụ tại ngũ, nâng lương cán bộ theo phân cấp quản lý.

– Quyết định hoặc đề nghị kỷ luật đối với tổ chức đảng, đảng viên theo Điều lệ Đảng và quy định của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư.

Việc đề bạt, bổ nhiệm, điều động cán bộ, quyết định thôi phục vụ tại ngũ đối với cán bộ và xem xét kỷ luật đối với đảng viên thuộc đảng bộ quân sự địa phương, đảng bộ bộ đội biên phòng tỉnh là sĩ quan theo phân cấp quản lý cần được bàn bạc, thống nhất giữa đảng ủy quân khu, Đảng ủy Bộ đội Biên phòng với tỉnh ủy trước khi quyết định. Trường hợp còn có ý kiến khác nhau thì báo cáo Quân ủy Trung ương, Ban Bí thư, Bộ Chính trị xem xét, quyết định. Trường hợp khẩn cấp trong chiến đấu, việc điều động, bổ nhiệm cán bộ quân sự địa phương, cán bộ bộ đội biên phòng tỉnh thực hiện theo quyết định của cấp có thẩm quyền trong Quân đội.

– Xem xét, quyết định những vấn đề khác do ban thường vụ đề nghị theo quy chế làm việc của đảng ủy.

Trân trọng!

Chức Năng, Nhiệm Vụ Của Các Đội Thuộc Chi Cục Thuế

(Theo quyết định số 245/QĐ-TCT ngày 25/3/2024 của Tổng cục Trưởng Tổng cục Thuế)

Giúp Chi cục trưởng Chi cục Thuế thực hiện công tác tuyên truyền về chính sách pháp luật thuế; hỗ trợ người nộp thuế trong phạm vi Chi cục Thuế quản lý.

1.1. Xây dựng chương trình, kế hoạch hỗ trợ người nộp thuế, tuyên truyền chính sách, pháp luật thuế cho người nộp thuế, người dân và các cơ quan, tổ chức khác trên địa bàn;

1.2. Tổ chức thực hiện tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật về thuế cho người nộp thuế, người dân, các cơ quan, tổ chức trên địa bàn; Thực hiện cập nhật, niêm yết công khai các thủ tục hành chính thuế, chính sách thuế khi có thay đổi;

1.3. Thực hiện công tác hỗ trợ về pháp luật thuế; là đầu mối tiếp nhận, hướng dẫn, giải đáp các vướng mắc về chính sách thuế và các thủ tục hành chính về thuế, thực hiện giải quyết một số thủ tục hành chính thuế cho người nộp thuế theo quy định; Phụ trách Bộ phận một cửa (trừ Bộ phận “một cửa” đóng tại địa bàn cấp huyện nơi không có trụ sở chính của Chi cục Thuế khu vực);

1.4. Thực hiện cấp phát, quyết toán ấn chỉ thuế thuộc quản lý của Chi cục Thuế; theo dõi giám sát việc cấp bán các loại ấn chỉ theo quy định;

1.5. Thực hiện việc thẩm định các hồ sơ, giải quyết kịp thời các thủ tục theo hồ sơ đề nghị tự in hoá đơn của các tổ chức và cá nhân nộp thuế theo quy định; Thông báo doanh nghiệp được sử dụng hoá đơn tự in, hóa đơn Điện tử thuộc phạm vi Chi cục Thuế quản lý;

1.6. Tổng hợp báo cáo tình hình sử dụng ấn chỉ thuế của Chi cục Thuế;

1.9. Tổng hợp các vướng mắc của người nộp thuế về chính sách thuế và các thủ tục hành chính thuế, báo cáo Lãnh đạo Chi cục giải quyết hoặc trình cấp có thẩm quyền xem xét, giải quyết;

1.10. Tổng hợp đề xuất việc khen thưởng, tuyên dương và tôn vinh người nộp thuế thực hiện tốt nghĩa vụ nộp thuế và các tổ chức, cá nhân khác ngoài ngành thuế có thành tích xuất sắc trong việc tham gia công tác quản lý thuế;

1.11. Theo dõi, tổng hợp, báo cáo kết quả thực hiện công tác hỗ trợ, tuyên truyền về thuế, công tác khen thưởng, tôn vinh người nộp thuế và công tác cải cách hành chính thuế; đề xuất các biện pháp nâng cao hiệu quả công tác hỗ trợ người nộp thuế và công tác tuyền truyền về thuế;

1.12. Tổ chức công tác bảo quản, lưu trữ hồ sơ nghiệp vụ và các văn bản pháp quy của Nhà nước thuộc lĩnh vực quản lý của Đội;

1.13. Thực hiện các nhiệm vụ khác do Chi cục trưởng Chi cục Thuế giao.

2.2. Thực hiện công tác đăng ký thuế và cấp mã số thuế cho người nộp thuế theo phân cấp quản lý thuế; cập nhật tình trạng hoạt động của người nộp thuế thuộc phạm vi quản lý của Chi cục Thuế; đôn đốc và xử lý vi phạm hành chính về hành vi vi phạm về đăng ký thuế của người nộp thuế;

2.3. Thực hiện công tác quản lý kê khai thuế của người nộp thuế thuộc phạm vi quản lý của Chi cục Thuế bao gồm: quản lý nghĩa vụ kê khai của người nộp thuế; tiếp nhận, xử lý hồ sơ khai thuế của người nộp thuế; ấn định thuế và thông báo số thuế phải nộp đối với các trường hợp người nộp thuế không nộp tờ khai thuế; đôn đốc và xử lý vi phạm hành chính về hành vi chậm nộp, không nộp hồ sơ khai thuế của người nộp thuế; tiếp nhận và xử lý hồ sơ gia hạn thời hạn kê khai thuế của người nộp thuế;

2.5. Cập nhật và thông báo số thuế phải nộp đối với người nộp thuế thuộc diện khoán thuế, nộp thuế theo thông báo của cơ quan thuế;

2.6. Tiếp nhận và giải quyết hồ sơ đề nghị hoàn trả tiền thuế nộp thừa của người nộp thuế, khoản thu thuộc phạm vi quản lý của Chi cục Thuế.

2.7. Tiếp nhận và giải quyết hồ sơ đề nghị hoàn thuế theo phân cấp (trừ thuế thu nhập cá nhân và các khoản thu từ đất) chuyển Cục Thuế xem xét, quyết định;

2.9. Thực hiện công tác thống kê, kế toán thuế đối với người nộp thuế và các khoản thu; quản lý nghĩa vụ thuế của người nộp thuế bao gồm phải nộp, đã nộp, còn phải nộp, được khấu trừ, được hoàn trả, được miễn thuế, được giảm thuế, còn nộp thừa, còn được hoàn trả của người nộp thuế; xác nhận nghĩa vụ thuế cho người nộp thuế thuộc phạm vi quản lý của Chi cục Thuế;

2.10. Tiếp nhận và xử lý chứng từ nộp tiền vào ngân sách nhà nước; thực hiện hạch toán kế toán thuế, kế toán thu ngân sách nhà nước theo quy định đối với từng địa bàn thu cấp huyện theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước và theo quy định về kế toán nhà nước; phối hợp với Kho bạc Nhà nước để đối chiếu các khoản tiền thuế và các khoản thu từ đất, lệ phí trước bạ, thuế thu nhập cá nhân, phí, lệ phí và thu khác trên địa bàn; thực hiện quyết toán thu ngân sách nhà nước và lập báo cáo tài chính theo địa bàn ngân sách cấp huyện thuộc phạm vi quản lý thuế của Chi cục Thuế;

2.12. Hiện đại hóa và ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động quản lý thuế, quản lý nội bộ ngành cho công chức thuế tại Chi cục Thuế và cung cấp các dịch vụ hỗ trợ Người nộp thuế trong địa bàn quản lý: đề xuất nhu cầu, lắp đặt, quản lý, vận hành, bảo hành, bảo trì, bảo dưỡng hệ thống mạng, trang thiết bị tin học tại Chi cục Thuế;

2.13. Tiếp nhận các chương trình ứng dụng và tổ chức cài đặt, hướng dẫn, hỗ trợ cán bộ thuế vận hành, sử dụng các phần mềm ứng dụng phục vụ công tác quản lý tại Chi cục Thuế;

2.14. Quản trị tài khoản người sử dụng phần mềm ứng dụng thuộc Chi cục Thuế được phân cấp quản trị; Quản lý và sử dụng tài khoản quản trị ứng dụng, tài khoản quản trị mạng, tài khoản truy cập máy chủ đúng quy định về bảo mật an toàn hệ thống công nghệ thông tin;

2.16. Thu thập và xử lý các thông tin quản lý rủi ro về người nộp thuế thuộc phạm vi quản lý; Quản lý dữ liệu thông tin về quản lý thuế; sao lưu dữ liệu, kiểm tra độ an toàn của dữ liệu, bảo mật dữ liệu và phòng chống sự xâm nhập từ bên ngoài và virus máy tính;

2.17. Thực hiện các báo cáo theo quy định về công tác đăng ký thuế, quản lý khai thuế, hoàn thuế, khấu trừ thuế, tính thuế và thông báo thuế, nộp thuế, hoàn trả tiền thuế, kế toán thuế, thống kê thuế; công tác quản lý thiết bị tin học và ứng dụng tin học; tổng hợp vướng mắc, kiến nghị, đề xuất các biện pháp nâng cao hiệu quả công tác đăng ký thuế, quản lý khai thuế, khấu trừ thuế, tính thuế và thông báo thuế, nộp thuế, hoàn trả tiền thuế, kế toán thuế, thống kê thuế và ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý thuế;

2.18. Tổ chức thực hiện công tác bảo quản, lưu trữ hồ sơ nghiệp vụ và các văn bản pháp quy của Nhà nước thuộc lĩnh vực quản lý của Đội;

2.19. Thực hiện các nhiệm vụ khác do Chi cục trưởng Chi cục Thuế giao.

3.1. Xây dựng chương trình, kế hoạch thực hiện công tác kiểm tra, giám sát kê khai thuế trên địa bàn bao gồm cả công tác kê khai thuế thu nhập cá nhân của người nộp thuế là các cơ quan hành chính sự nghiệp, đoàn thể thuộc và trực thuộc Uỷ ban nhân dân cấp quận, huyện quản lý;

3.5. Tổ chức kiểm tra lại kết quả kiểm tra của Đội Kiểm tra thuế theo chỉ đạo của Chi cục trưởng Chi cục Thuế hoặc khi có đơn khiếu nại các quyết định xử lý về thuế của cơ quan thuế trong hoạt động kiểm tra thuế thuộc thẩm quyền giải quyết của Chi cục trưởng Chi cục Thuế;

3.8. Xác định các trường hợp có dấu hiệu trốn thuế, gian lận thuế để chuyển hồ sơ cho bộ phận thanh tra – kiểm tra của cơ quan thuế cấp trên giải quyết. Trường hợp vi phạm pháp luật về thuế đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự thì chuyển hồ sơ cho cơ quan điều tra để xử lý theo pháp luật hình sự và pháp luật tố tụng hình sự;

3.9. Kiểm tra xác minh các trường hợp người nộp thuế sáp nhập, giải thể, phá sản, ngừng kê khai, người nộp thuế không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký, chấm dứt hiệu lực mã số thuế, chuyển đổi hình thức sở hữu hoặc tổ chức sắp xếp lại doanh nghiệp, cổ phần hoá doanh nghiệp… thuộc Chi cục Thuế quản lý; giải quyết tố cáo hành vi trốn thuế của người nộp thuế;

3.10. Thực hiện kiểm tra, đối chiếu xác minh hoá đơn và trả lời kết quả xác minh hoá đơn theo quy định; xử lý và kiến nghị xử lý vi phạm về quản lý và sử dụng hoá đơn, sai phạm về thuế theo kết quả xác minh hoá đơn; tổ chức kiểm tra việc chấp hành các quy định về quản lý, sử dụng biên lai, ấn chỉ thuế của người nộp thuế và các tổ chức, cá nhân được cơ quan thuế uỷ quyền thu thuế, phí, lệ phí trong phạm vi được phân cấp quản lý thuế;

3.13. Theo dõi, đôn đốc việc thực hiện các kiến nghị về thuế của cơ quan Thanh tra, Kiểm toán Nhà nước và các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền khác về sai phạm của Người nộp thuế;

3.16. Nhận dự toán thu ngân sách của người nộp thuế thuộc Chi cục Thuế trực tiếp quản lý (trừ các đối tượng thuộc quản lý của Đội Quản lý thuế xã, phường/liên xã phường, Đội trước bạ và thu khác); trực tiếp chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện dự toán thu đối với người nộp thuế thuộc phạm vi quản lý;

3.18. Tổ chức công tác bảo quản, lưu trữ hồ sơ nghiệp vụ và các văn bản pháp quy của Nhà nước thuộc lĩnh vực quản lý của Đội;

3.19. Thực hiện các nhiệm vụ khác do Chi cục trưởng Chi cục Thuế giao.

Giúp Chi Cục trưởng Chi cục Thuế hướng dẫn về nghiệp vụ quản lý thuế, chính sách, pháp luật thuế cho công chức thuế trong Chi cục Thuế; thực hiện công tác pháp chế về thuế thuộc phạm vi Chi cục Thuế quản lý; xây dựng dự toán thu ngân sách nhà nước (đối với Chi cục thuế khu vực phải xây dựng dự toán thu ngân sách nhà nước cho từng địa bàn cấp huyện) và tổ chức thực hiện dự toán thu ngân sách nhà nước được giao của Chi cục Thuế.

4.1. Xây dựng chương trình, kế hoạch thực hiện công tác xây dựng dự toán thu; triển khai, hướng dẫn nghiệp vụ quản lý thuế cho các bộ phận, công chức thuế trong Chi cục Thuế;

4.3. Xây dựng dự toán thu ngân sách nhà nước báo cáo lãnh đạo Chi cục Thuế trình cấp có thẩm quyền và tham mưu cho lãnh đạo Chi cục Thuế giao dự toán thu ngân sách nhà nước cho các Đội; tổ chức thực hiện dự toán thu thuế hàng tháng, quý, năm trên địa bàn quản lý; chủ trì, phối hợp với Đội Kê khai – Kế toán thuế – Tin học và Đội Quản lý thuế xã, phường/liên xã phường tiến hành khảo sát doanh thu hằng năm đối với hộ kinh doanh theo quy định; tham mưu, đề xuất với cơ quan thuế cấp trên, lãnh đạo Chi cục các biện pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý thu thuế;

4.6. Thẩm định hồ sơ hoàn thuế thu nhập cá nhân, hồ sơ kiểm tra thuế tại trụ sở người nộp thuế thuộc phạm vi quản lý của Chi cục Thuế;

4.7. Đề xuất với cấp trên hoặc cơ quan có thẩm quyền giải quyết những vướng mắc trong quá trình thực hiện nhiệm vụ quản lý thuế của Chi cục Thuế, việc chấp hành nghĩa vụ thuế của người nộp thuế; đề xuất, kiến nghị sửa đổi, bổ sung những văn bản hướng dẫn về nghiệp vụ thuế chưa phù hợp với tình hình thực tế phát sinh;

4.8. Xây dựng chương trình, kế hoạch hoạt động của Chi cục Thuế hàng tháng, quý, năm; theo dõi, đôn đốc và tham mưu cho lãnh đạo Chi cục chỉ đạo triển khai kế hoạch, chương trình công tác của Chi cục Thuế;

4.9. Tổng hợp, phân tích, đánh giá toàn diện tình hình thực hiện nhiệm vụ quản lý thuế; tổ chức công tác sơ kết, tổng kết tình hình thực hiện nhiệm vụ quản lý thuế của Chi cục Thuế;

4.10. Xây dựng chương trình, kế hoạch và phối hợp với các đơn vị khác triển khai công tác pháp chế của Chi cục Thuế; Kiểm tra, đánh giá tình hình thực hiện công tác pháp chế, đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác pháp chế của Chi cục Thuế;

4.11. Tổ chức kiểm tra, rà soát các văn bản trả lời, hướng dẫn về thuế của Chi cục Thuế ban hành; đề xuất biện pháp và trình Lãnh đạo Chi cục Thuế xử lý đối với các văn bản ban hành chưa phù hợp quy định;

4.12. Theo dõi tình hình thi hành pháp luật và kiểm tra việc thực hiện pháp luật;

4.13. Thực hiện công tác bồi thường nhà nước trong lĩnh vực thuế;

4.14. Thẩm định dự thảo văn bản hướng dẫn, xử lý về thuế thuộc thẩm quyền ban hành của Chi cục Thuế;

4.15. Nghiên cứu, đề xuất việc giải quyết các tranh chấp, tố tụng về thuế theo quy định của pháp luật;

4.16. Tổng hợp, đánh giá, báo cáo kết quả thực hiện công tác tổng hợp, nghiệp vụ, dự toán, pháp chế; đề xuất nâng cao các biện pháp nâng cao hiệu quả công tác;

4.17. Tổ chức công tác bảo quản, lưu trữ hồ sơ nghiệp vụ và các văn bản pháp quy của Nhà nước thuộc lĩnh vực quản lý của Đội;

5.1. Xây dựng nội dung, chương trình, kế hoạch kiểm tra nội bộ hàng năm trên địa bàn quản lý;

5.4. Đề xuất, kiến nghị biện pháp xử lý đối với các bộ phận thuộc Chi cục Thuế, công chức thuế vi phạm pháp luật, nội quy, quy chế, quy trình nghiệp vụ quản lý thuế phát hiện khi kiểm tra nội bộ và giải quyết khiếu nại;

5.5. Phối hợp với các cơ quan chức năng có thẩm quyền bảo vệ công chức, viên chức thuế bị đe doạ, uy hiếp, vu khống… trong khi thi hành công vụ;

5.6. Chủ trì, phối hợp với các Đội thuộc Chi cục Thuế xây dựng kế hoạch, biện pháp phòng ngừa, tổ chức triển khai thực hiện các quy định của Luật phòng chống tham nhũng và thực hiện kiểm tra công tác phòng, chống tham nhũng của Chi cục Thuế; Xây dựng kế hoạch, tổ chức kiểm tra công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí;

5.9. Thực hiện công tác bảo quản, lưu trữ hồ sơ nghiệp vụ và các văn bản pháp quy của Nhà nước thuộc lĩnh vực quản lý của Đội;

5.10. Thực hiện các nhiệm vụ khác do Chi cục trưởng Chi cục Thuế giao.

Giúp Chi cục trưởng Chi cục Thuế quản lý thu lệ phí trước bạ, các khoản đấu giá về đất, tài sản, tiền thuê đất, tiền sử dụng đất, thuế sử dụng đất phi nông nghiệp (thuế tài sản), phí, lệ phí và các khoản thu khác ( bao gồm thuế thu nhập cá nhân của cá nhân hành nghề tự do, các khoản thu về đất bao gồm cả thuế thu nhập cá nhân đối với chuyển nhượng bất động sản, nhận thừa kế, quà tặng, lệ phí trước bạ và thu khác) phát sinh trên địa bàn thuộc phạm vi Chi cục Thuế quản lý; Thực hiện dự toán thu thuế đối với đối tượng được giao quản lý.

6.2. Tiếp nhận phiếu chuyển thông tin, hồ sơ địa chính do cơ quan Tài nguyên và Môi trường, Văn phòng đăng ký đất đai và bộ phận một cửa tại Chi cục chuyển đến; tiếp nhận hồ sơ khai thuế của người nộp thuế; kiểm tra thông tin, hồ sơ địa chính, kiểm tra hồ sơ khai thuế; tính thuế; phát hành thông báo thu các khoản thu về đất, lệ phí trước bạ và các khoản thu khác; Tiếp nhận và xử lý các hồ sơ hoàn thuế thu nhập cá nhân của cá nhân hành nghề tự do; Tiếp nhận và xử lý hồ sơ hoàn thuế, miễn thuế, giảm thuế các khoản thu từ đất (trừ thuế sử dụng đất phi nông nghiệp của cá nhân, hộ gia đình).

6.3. Tổ chức thu nộp hoặc phối hợp với Kho bạc Nhà nước, Ngân hàng thương mại (được ủy nhiệm thu) để thu nộp tiền thuế các khoản thu về đất, lệ phí trước bạ và thu khác theo thông báo;

6.4. Kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện nghĩa vụ nộp các khoản thu về đất, lệ phí trước bạ và các khoản thu khác của người nộp thuế trên địa bàn quản lý; Thực hiện theo dõi, báo cáo công tác nợ đối với các trường hợp không thực hiện nộp các khoản thu về đất, lệ phí, trước bạ và thu khác về Đội Quản lý nợ và Cưỡng chế nợ thuế;

6.5. Đề xuất xử lý những trường hợp người nộp thuế có hành vi vi phạm pháp luật về thuế trong việc chấp hành nghĩa vụ nộp các khoản thu về đất, lệ phí trước bạ và thu khác; đôn đốc thực hiện các quyết định xử lý vi phạm;

6.6. Tổ chức công tác bảo quản, lưu trữ hồ sơ nghiệp vụ (kể cả hồ sơ điện tử) và các văn bản pháp quy của Nhà nước thuộc lĩnh vực quản lý của Đội;

6.7. Thực hiện các nhiệm vụ khác do Chi cục trưởng Chi cục Thuế giao.

Giúp Chi cục trưởng Chi cục Thuế thực hiện công tác hành chính, văn thư, lưu trữ; công tác quản lý nhân sự; quản lý tài chính, quản trị; quản lý ấn chỉ trong phạm vi Chi cục Thuế quản lý.

7.1. Xây dựng kế hoạch hàng năm về đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, kinh phí hoạt động và quản lý ấn chỉ thuế của Chi cục Thuế hàng năm;

7.2. Tổ chức thực hiện công tác hành chính, văn thư, lưu trữ; xây dựng và thực hiện dự toán kinh phí, quản lý kinh phí hoạt động, trang thiết bị, phương tiện làm việc, trang phục, quản lý ấn chỉ thuế; thực hiện nhiệm vụ đơn vị dự toán cấp 3 của Chi cục Thuế; Xây dựng chương trình kế hoạch, tổ chức thực hiện và tổng hợp công tác cải cách hành chính, công tác kiểm soát thủ tục hành chính; Kiểm tra đánh giá hệ thống quản lý chất lượng ISO;

7.3. Phối hợp với các đơn vị chuẩn bị chương trình, nội dung, tài liệu phục vụ cho hội nghị, cuộc họp của Lãnh đạo Chi cục Thuế;

7.4. Tổ chức triển khai thực hiện các quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức bộ máy của Chi cục Thuế, chế độ quản lý, sử dụng công chức thuế, lao động, tiền lương, đào tạo, bồi dưỡng công chức thuế, công tác bảo vệ chính trị nội bộ của Chi cục Thuế theo phân cấp quản lý;

7.5. Đề xuất, kiến nghị cấp có thẩm quyền xem xét xử lý đối với công chức thuế vi phạm pháp luật, vi phạm các quy định, quy trình quản lý thuế theo phân cấp quản lý cán bộ;

7.8. Lập kế hoạch luân phiên, luân chuyển, điều động, chuyển đổi vị trí công tác theo thẩm quyền; tổng hợp, báo cáo công tác nhân sự, hành chính, văn thư, lưu trữ, công tác quản lý tài chính, quản trị, quản lý ấn chỉ trong phạm vi Chi cục Thuế quản lý;

7.9. Tổ chức triển khai thực hiện kế hoạch thực hành tiết kiệm, chống lãng phí của Chi cục Thuế;

7.10. Tổ chức công tác bảo quản, lưu trữ hồ sơ nghiệp vụ và các văn bản pháp quy của Nhà nước thuộc lĩnh vực quản lý của Đội và của Chi cục Thuế theo quy định hiện hành về văn thư, lưu trữ;

7.11. Thực hiện các nhiệm vụ khác do Chi cục trưởng Chi cục Thuế giao.

8.1. Xây dựng chương trình, kế hoạch thực hiện công tác quản lý nợ và cưỡng chế thu tiền nợ, tiền phạt, tiền chậm nộp trên địa bàn;

8.3. Thực hiện các thủ tục thu tiền thuế nợ, tiền chậm nộp, tiền phạt; theo dõi, đôn đốc, tổng hợp kết quả thu hồi tiền thuế nợ, tiền phạt vào ngân sách nhà nước; thực hiện xác nhận tình trạng nợ ngân sách nhà nước trong trường hợp doanh nghiệp giải thể, người nộp thuế không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký, hoàn thuế;

8.5. Tham mưu, đề xuất xử lý, thẩm định trình cấp có thẩm quyền giải quyết hoặc quyết định theo thẩm quyền các hồ sơ xin gia hạn thời hạn nộp thuế; khoanh nợ, xoá tiền nợ thuế, tiền phạt, tiền chậm nộp thuế; nộp dần tiền thuế nợ; miễn tiền chậm nộp thuế; không tính tiền chậm nộp thuế;

8.6. Theo dõi kết quả xử lý nợ của cơ quan thuế cấp trên và thực hiện các quyết định xử lý nợ đối với người nộp thuế thuộc Đội Thuế quản lý;

8.8. Thực hiện xác nhận nợ thuế cho người nộp thuế theo quy định; điều chỉnh tiền chậm nộp do sai sót vào ứng dụng quản lý thuế tập trung (TMS); xử phạt vi phạm đối với người nộp thuế chậm nộp hồ sơ khai thuế trên 90 ngày kể từ ngày kết thúc thời hạn nộp hồ sơ khai thuế hoặc kể từ ngày kết thúc thời hạn gia hạn nộp hồ sơ khai thuế;

8.9. Tổng hợp, đánh giá, báo cáo kết quả thực hiện công tác quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế thuộc phạm vi Chi cục Thuế quản lý; đề xuất các biện pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế;

8.10. Tổ chức công tác bảo quản, lưu trữ hồ sơ nghiệp vụ và các văn bản pháp quy của Nhà nước thuộc lĩnh vực quản lý của Đội;

8.11. Thực hiện các nhiệm vụ khác do Chi cục trưởng Chi cục Thuế giao.

Giúp Chi cục trưởng Chi cục Thuế quản lý thu thuế các tổ chức (nếu có), cá nhân nộp thuế trên địa bàn xã, phường được phân công (bao gồm các hộ sản xuất kinh doanh công thương nghiệp và dịch vụ, kể cả hộ nộp thuế thu nhập cá nhân; thuế sử dụng đất phi nông nghiệp, thuế sử dụng đất nông nghiệp, thuế tài nguyên…); Thực hiện dự toán thu thuế đối với đối tượng được giao quản lý.

9.1. Xây dựng chương trình, kế hoạch công tác quản lý thuế đối với người nộp thuế trên địa bàn được phân công;

9.4. Tiếp nhận tờ khai đăng ký thuế, tờ khai thuế, hồ sơ miễn thuế, giảm thuế (nếu có) chuyển Đội Kê khai – Kế toán thuế – Tin học xử lý; tiếp nhận thông báo ngừng nghỉ kinh doanh, văn bản đề nghị miễn giảm thuế của các hộ kinh doanh trên địa bàn thuộc phạm vi quản lý của Đội chuyển Đội Kê khai – Kế toán thuế – Tin học xử lý;

9.5. Thực hiện kiểm tra, đối chiếu xác minh hoá đơn và trả lời kết quả xác minh hoá đơn theo quy định; xử lý và kiến nghị xử lý vi phạm về quản lý và sử dụng hoá đơn, sai phạm về thuế theo kết quả xác minh hoá đơn; tổ chức kiểm tra việc chấp hành các quy định về quản lý, sử dụng biên lai, ấn chỉ thuế của các tổ chức (nếu có), cá nhân nộp thuế trên địa bàn xã, phường được phân công;

9.9. Thực hiện phân loại nợ, quản lý nợ, đôn đốc thu tiền thuế nợ, tiền phạt, tiền chậm nộp; chủ trì, phối hợp với Đội Quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế thực hiện cưỡng chế thu tiền thuế nợ, tiền phạt, tiền chậm nộp đối với người nộp thuế thuộc phạm vi quản lý của Đội Quản lý thuế xã, phường/liên xã phường;

9.10. Đề xuất uỷ nhiệm thu đối với từng địa bàn đặc thù và đôn đốc uỷ nhiệm thu thực hiện thu nộp thuế theo đúng quy định; giám sát công tác uỷ nhiệm thu, phát hiện kịp thời các dấu hiệu vi phạm để uốn nắn; đôn đốc uỷ nhiệm thu thu đúng, thu đủ và nộp kịp thời vào Ngân sách, chống lạm thu, chống nợ đọng thuế (nếu có) đối với Người nộp thuế thuộc địa bàn quản lý;

9.11. Phối hợp với Đội Kiểm tra thuế tham gia kiểm tra người nộp thuế, các tổ chức được uỷ nhiệm thu thuế trong việc chấp hành pháp luật thuế, các quyết định hành chính thuế theo quy định của pháp luật;

9.12. Xử lý hoặc đề nghị xử lý các hành vi vi phạm trong lĩnh vực thuế của người nộp thuế, các tổ chức, cá nhân được uỷ nhiệm thu thuế;

9.15. Thực hiện các nhiệm vụ khác do Chi cục trưởng Chi cục Thuế giao.

Giúp Chi cục trưởng Chi cục Thuế thực hiện một số nhiệm vụ về quản lý thuế đối với một số khoản thu trên địa bàn cấp huyện; tiếp nhận và giải quyết một số thủ tục hành chính cho người nộp thuế; thực hiện các thủ tục hành chính theo cơ chế “một cửa liên thông” với các cơ quan chức năng trên địa bàn cấp huyện nơi không có trụ sở chính của Chi cục Thuế khu vực.

Giao Cục trưởng Cục Thuế căn cứ tình hình thực tế trên địa bàn để quy định số lượng công chức bố trí tại Bộ phận “Một cửa”, nhưng nhất thiết phải có công chức làm công tác: Kê khai; tuyên truyền hỗ trợ; thu nhập cá nhân (bao gồm cả thu lệ phí trước bạ và thu khác); giao một Lãnh đạo Chi cục Thuế khu vực trực tiếp phụ trách và giải quyết các công việc tại Bộ phận “Một cửa”.

10.2. Tiếp nhận và trực tiếp giải quyết các hồ sơ đăng ký thuế để cấp mã số thuế, hồ sơ thay đổi thông tin đăng ký thuế không làm thay đổi cơ quan thuế quản lý cho người nộp thuế (trừ doanh nghiệp) trên địa bàn.

10.3. Tiếp nhận và trực tiếp giải quyết hồ sơ khai thuế, tính thuế, thông báo thuế của cá nhân kinh doanh nộp thuế theo từng lần phát sinh; hồ sơ khai thuế của cá nhân cho thuê tài sản; hồ sơ khai lệ phí trước bạ ô tô, xe máy; hồ sơ xác định nghĩa vụ tài chính đối với các khoản thu về đất của người nộp thuế trên địa bàn cấp huyện; các khoản thu khác phát sinh trên địa bàn thuộc ngân sách cấp huyện nhưng không do Chi cục Thuế khu vực giải quyết;

10.5. Tiếp nhận hồ sơ của người nộp thuế nộp trực tiếp tại bộ phận “một cửa” nhưng không thuộc chức năng trực tiếp giải quyết của bộ phận “một cửa” chuyển hồ sơ về Chi cục Thuế giải quyết; nhận và trả kết quả giải quyết cho người nộp thuế đến nhận trực tiếp tại bộ phận “một cửa”;

10.6. Thực hiện báo cáo kết quả thực hiện công việc theo các quy định, quy trình nghiệp vụ với Chi cục Thuế theo phạm vi được phân công;

– Đội Tuyên truyền – Hỗ trợ người nộp thuế tại Mục 1, Phần I;

– Đội Trước bạ và thu khác tại Mục 6, Phần I.

(2) Đội Kê khai – Kế toán thuế – Tin học – Nghiệp vụ – Dự toán – Pháp chế thực hiện chức năng, nhiệm vụ của các Đội sau:

– Đội Kê khai – Kế toán thuế – Tin học tại Mục 2, Phần I;

– Đội Tổng hợp – Nghiệp vụ – Dự toán – Pháp chế tại Mục 4, Phần I;

– Đội Kiểm tra nội bộ tại Mục 5, Phần I.

(3) Đội Kiểm tra thuế (bao gồm thực hiện nhiệm vụ Quản lý nợ và Cưỡng chế nợ thuế) thực hiện cả chức năng của Đội Quản lý nợ và Cưỡng chế nợ thuế tại Mục 8, Phần I.

(1) Đội Nghiệp vụ Quản lý thuế (Tuyên truyền – Hỗ trợ – Nghiệp vụ – Dự toán – Kê khai – Kế toán thuế – Tin học – Trước bạ và thu khác) thực hiện chức năng, nhiệm vụ của các Đội sau:

– Đội Tuyên truyền – Hỗ trợ người nộp thuế tại Mục 1, Phần I;

– Đội Tổng hợp – Nghiệp vụ – Dự toán – Pháp chế tại Mục 4, Phần I;

– Đội Kê khai – Kế toán thuế – Tin học tại Mục 2, Phần I;

– Đội Trước bạ và thu khác tại Mục 6, Phần I;

– Đội Kiểm tra nội bộ Mục 5, Phần I.

(2) Đội Kiểm tra thuế (bao gồm thực hiện nhiệm vụ Quản lý nợ và Cưỡng chế nợ thuế) thực hiện cả chức năng của Đội Quản lý nợ và Cưỡng chế nợ thuế tại Mục 8, Phần I.

(1) Đội Tổng hợp (Hành chính – Nhân sự – Tài vụ – Quản trị – Ấn chỉ – Nghiệp vụ – Dự toán) thực hiện chức năng, nhiệm vụ của các Đội sau:

– Đội Tổng hợp – Nghiệp vụ – Dự toán – Pháp chế tại Mục 4, Phần I;

– Đội Kiểm tra nội bộ Mục 5, Phần I.

– Đội Tuyên truyền – Hỗ trợ người nộp thuế tại Mục 1, Phần I;

– Đội Quản lý nợ và Cưỡng chế nợ thuế tại Mục 8, Phần I;

– Đội Kiểm tra thuế tại Mục 3, Phần I;

– Đội Kê khai – Kế toán thuế – Tin học tại Mục 2, Phần I;

– Đội Trước bạ và thu khác tại Mục 6, Phần I.

– Đội Quản lý thuế xã, phường/liên xã phường tại Mục 10, Phần I;

2. Cục trưởng Cục Thuế các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Chi cục trưởng Chi cục Thuế có trách nhiệm tổ chức triển khai thực hiện đầy đủ các chức năng, nhiệm vụ quản lý thuế trên địa bàn đảm bảo hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

3. Trong quá trình thực hiện nếu có vướng mắc, đề nghị Chi cục Thuế và Cục Thuế các tỉnh, thành phố phản ánh về Tổng cục Thuế để xem xét, sửa đổi, bổ sung./.