Chức Năng Hệ Hô Hấp Của Ếch / Top 7 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 6/2023 # Top View | Phauthuatthankinh.edu.vn

Cấu Tạo Và Chức Năng Của Hệ Hô Hấp?

Mũi:Là phần đầu của hệ hô hấp. Về giải phẫu mũi gồm có 3 phần: mũi ngoài, mũi trong hay ổ mũi, các xoang cạnh mũi. Chức năng: Chủ yếu là dẫn khí, làm sạch và sưởi ấm không khí trước khi vào phổi, đồng thời là cơ quan khứu giác.Những bệnh thường gặp : Viêm xoang , viêm mũi dị ứng, ngạt mũi, lệch vách ngăn mũi,…Hầu – họng:Là nơi giao nhau giữa đường ăn và đường thở chính vì vậy nơi này rất nhạy cảm và dễ mắc bệnh, họng chứa vòm họng và vòng bạch huyết các amidan…Chức năng: Là cửa ngõ quan trọng bảo vệ các tác nhân từ bên ngoài vào cơ thể, khi các bộ phận này bị viêm sẽ lây lan xuống thanh quản, phế quản…Các bệnh thường gặp:Họng là bộ phận nhạy cảm nhất, là nơi tiếp xúc nhiều nhất với các tác nhân gây bệnh, bảo vệ họng sẽ tránh được các bệnh về đường hô hấp Viêm họng hiện có nhiều dạng khác nhau, nguyên nhân, triệu chứng bệnh cũng khác nhau, Thông thường bệnh viêm họng sẽ được chia thành 2 dạng là viêm họng cấp và mãn tính. Trong viêm họng cấp thì lại bao gồm viêm họng đỏ, viêm họng trắng và viêm họng loét. Trong bệnh viêm họng mãn thì bao gồm viêm họng thể teo, viêm họng quá phát và viêm họng hạt.Thanh quản:Được cấu tạo bởi tổ chức sụn và sợi cơ ngoài ra có hệ thống mạch máu và thần kinh.Chức năng: Thanh quản có tác dụng chính là phát âm, lời nói phát ra do luồng không khí thở ra tác động lên các khối nếp thanh quản, sự căng và vị trí của các nếp thanh âm có ảnh hưởng đến tần số âm thanh.Nguyên nhân của ho và nấc: Ho là phản xạ hô hấp trong đó dây thanh môn đóng bất thì lình, mở ra dẫn tới sự bật tung không khí bị dồn qua miệng và mũi. Nấc là phản xạ hít vào trong đó 1 lượng gắn âm kiểu hít vào được phát sinh do sự co thắt đột ngột của cơ hoành thanh môn bị khép lại 1 phần hay toàn bộ.Những bệnh thường gặp: Viêm thanh quản, sơ dây thanh, bệnh dị tật, câm bẩm sinhKhí quản:Là một ống dẫn khí hình lăng trụ nối tiếp từ dưới thanh quản ngang mức đốt sống cổ 6 với hệ phế quản của phổi. Ở đoạn cuối nó phân chia làm 2 đoạn nối với 2 phế quản chính khí quản phải và trái. Ở ngang mức đốt sống ngực 4 hoặc 5 nó thuộc hệ hô hấp dưới.Chức năng: Dẫn không khí vào ra, điều hòa lượng không khí đi vào phổi, làm tăng khả năng trao đổi khí ở phổi.Những bệnh thường gặp như: Chít hẹp khí quản, chèn ép khí quản do khối u khí quản,…Phế quản: Được chia làm 2 bên:Phế quản chính phải gồm: 10 phế quản phân thùy, chia ba nhánh lớn là phế quản thùy trên, phế quản thùy giữa và phế quản thùy dưới. Tương ứng với phổi phải có 3 thùy là: thùy trên, thùy giữa, thùy dưới. Phế quản chính trái cũng gồm: 10 phế quản phân thùy, chia hai nhánh lớn là phế quản thùy trên và phế quản thùy dưới, ứng với phổi trái có 2 thùy: thùy trên và thùy dưới.Chức năng: Phế quản nằm trong đường ống dẫn khí có nhiệm vụ đưa không khí lưu thông từ ngoài vào phế nang và ngược lại. Phế quản có hình như cành cây, có chi nhánh đến các thuỳ phổi.Những bệnh thường gặp như: viêm phế quản, giãn phế quản, hen phế quản u phế quản,…Hình ảnh: Giải phẫu phế quản và phổi.Phổi: Phổi của người bao gồm có 2 lá phổi, được cấu tạo bởi các thùy. Thông thường, phổi trái thường nhỏ hơn phổi phải. Theo nghiên cứu khoa học và kiểm chứng thực tế, mỗi lá phổi có dung tích khoảng 5000 ml khi hít vào gắng sức. Phổi có hình thể gồm mặt ngoài, mặt trong và màng phổi.Chức năng: Trao đổi khí oxy và CO2: Quá trình trao đổi khí này diễn ra trên toàn bộ mặt trong các phế quản và phế nang có niêm mạc bao phủ với lớp nhung mao rất mịn luôn rung chuyển để đưa các vật lạ ra ngoài. Song song với đó tế bào phổi còn có chức năng giúp cơ thể duy trì cuộc sống tế bào biểu mô và tế bào nuôi mô. Chúng tạo nên một hàng rào ngăn nước và các phân tử protein đi quá nhiều vào mô kẽ ( tổ chức liên kết giữa màng phế nang và mao quản ), tham gia vào quá trình chuyển hóa và tổng hợp nhiều chất quan trọng.

Hô Hấp Ký Đo Chức Năng Hô Hấp

Đo hô hấp ký là xét nghiệm giúp chẩn đoán các tình trạng bệnh lý của phổi, phổ biến nhất là bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD). Ngoài ra đo hô hấp ký được dùng để theo dõi mức độ nghiêm trọng của một số bệnh lý về phổi, cũng như theo dõi đáp ứng hiệu quả điểu trị.

Hô hấp ký là gì?

Xét nghiệm này được thực hiện như thế nào?

Trước khi làm, bạn được đo chiều cao và cân nặng. Khi đo bạn cần phải thổi vào máy hô hấp ký. Trước tiên bạn ngậm môi xung quanh ống thổi, hít sâu vào sau đó thổi ra mạnh nhất có thể tới khi không thổi thêm khí được nữa. Quá trình này mất vài giây. Để đánh giá thêm về chức năng phổi, kỹ thuật viên đo có thể yêu cầu bạn hít sâu vào sau đó thở ra chậm hết sức có thể tùy thuộc vào mục đích chuẩn đoán. Trong quá trình đo, kỹ thuật viên kẹp mũi của bạn bằng một cái kẹp mũi mềm để đảm bảo rằng bạn không thở ra đường mũi. Kỹ thuật viên có thể thực hiện lặp lại hơn ba lần để kiểm tra xem kết quả đọc được có giống nhau ở mỗi lần thổi.

Các thông số giá trị khi đo chức năng hô hấp bằng hô hấp ký?

Máy hô hấp ký đo được thể tích và tốc độ dòng khí bạn hít vào và thở ra. Các thông số máy ghi nhận được bao gồm:

Thể tích khí thở ra gắng sức trong 1 giây đầu tiên (Forced expiratory volume in one second – FEV1). Đây là thể tích không khí mà bạn có thể thổi ra trong vòng một giây đầu tiên của thì thở ra. Bình thường bạn thường có thể thổi ra hầu hết không khí ra khỏi phổi trong vòng một giây.

Những kết quả đo được thể hiện điều gì?

Một kết quả đo chức năng hô hấp bằng hô hấp ký thường được thể hiện như sau:

Kết quả hô hấp ký bình thường

Một kết quả hô hấp ký bình thường sẽ thay đổi phụ thuộc vào độ tuổi, thể trạng, chủng tộc và giới tính. Giới hạn bình thường được thể hiện trên biểu đồ, và bác sĩ tham khảo biểu đồ này khi họ đánh giá kết quả đo của bạn.

Hội chứng tắc nghẽn

Gặp trong tình trạng hẹp hay tắc nghẽn đường hô hấp. Nguyên nhân chính gây nên hội chứng tắc nghẽn khi đo phế dung là hen phế quản và COPD. Vì thế, đo hô hấp ký có thể giúp chẩn đoán tình trạng bệnh. Nếu đường hô hấp bị hẹp hay tắc nghẽn, nó sẽ làm cho lượng không khí bạn thở ra nhanh giảm xuống. Vì vậy, chỉ số FEV1 sẽ giảm và tỷ lệ FEV1/FVC là thấp hơn so với bình thường. Theo quy ước, hội chứng tắc nghẽn xảy ra khi: Chỉ số FEV1/FVC thấp hơn 0,7, Chỉ số FEV1 có thể ít hơn 80% của giá trị dự đoán. Trong khi chỉ số FVC thường là bình thường hoặc gần bình thường. Đánh giá sau thử thuốc giãn phế quản – test dãn phế quản. Kết quả đo hô hấp ký cải thiện nếu đường hô hấp bị hẹp trở nên rộng hơn sau khi xịt thuốc. Ở bệnh nhân COPD, bác sĩ thường dung chỉ số FEV1 sau thử thuốc để đánh giá mức độ tắc nghẽn.Đối với bệnh lý hen phế quản, thường kết quả sau thử thuốc giãn phế quản cải thiện đáng kế, tuy nhiên ở bệnh COPD thường đáp ứng cải thiện kém. Theo một số hướng dẫn, các giá trị sau đây giúp chẩn đoán mức độ tắc nghẽn khi đo hô hấp ký:

Hội chứng hạn chế khi đo hô hấp ký

Hội chứng hạn chế khi đo hô hấp ký, phản ánh gián tiếp qua chỉ số FVC thấp hơn so với giá trị dự đoán. Hội chứng này thường thấy ở nhiều tình trạng bệnh lý khác nhau ảnh hưởng đến mô phổi, hoặc khả năng của phổi khi giãn ra và giữ một lượng khí. Những tình trạng này là do xơ hóa hay sẹo phổi làm cản trở quá trình hít thở. Một số dị tật trong quá trình phát triển của phổi cũng có thể gây ra khiếm khuyết hạn chế này. Chỉ số FEV1 cũng sẽ bị giảm xuống, nhưng đây là do tương ứng với FVC giảm. Vì vậy, khi bị hội chứng hạn chế tỷ lệ FEV1/FVC là bình thường.

Sự kết hợp hội chứng tắc nghẽn và hội chứng hạn chế khi đo hô hấp ký

Trong trường hợp này bạn có thể có hai tình trạng – ví dụ, bệnh hen phế quản cộng với một rối loạn phổi khác. Ngoài ra, một số tình trạng phổi có dấu hiệu của cả hội chứng tắc nghẽn và hội chứng hạn chế. Ví dụ: ở bệnh xơ nang (cystic fibrosis) , có rất nhiều chất nhầy trong đường hô hấp, gây hẹp đường hô hấp (thể hiện phần tắc nghẽn), và gây tổn thương mô phổi (thể hiện phần gây hạn chế).

Đo hô hấp ký có giống với máy đo lưu lượng đỉnh không (peak flow)?

Không. Một máy đo lưu lượng đỉnh là một thiết bị nhỏ để đo tốc độ không khí mà bạn có thể thổi ra nhanh khỏi phổi. Giống như đo hô hấp ký, nó có thể phát hiện hẹp đường hô hấp. Nó thuận tiện hơn đo hô hấp ký và thường được sử dụng để giúp chẩn đoán hen phế quản. Nhiều người bị bệnh hen phế quản cũng sử dụng máy đo lưu lượng đỉnh để theo dõi bệnh. Đối với những người bị COPD, đọc lưu lượng đỉnh có thể đưa ra chẩn đoán sơ bộ về chứng hẹp đường hô hấp, nhưng nó có thể đánh giá không đúng về độ nghiêm trọng của bệnh COPD. Do đó, đo hô hấp ký vẫn là xét nghiệm chính xác hơn để chẩn đoán và theo dõi những người bị COPD.

Trước khi đo hô hấp ký cần chuẩn bị những gì?

Làm theo các hướng dẫn trước khi đo hô hấp ký ở cơ sở xét nghiệm mà bạn được đo xét nghiệm này. Các hướng dẫn có thể bao gồm những điều như: không sử dụng thuốc hít hoặc uống có tác dụng làm giãn phế quản trong một thời gian định sẵn trước khi tiến hành xét nghiệm (một vài giờ hoặc nhiều hơn, tùy thuộc vào loại thuốc hít). Ngoài ra, không được dùng rượu, ăn quá no, hoặc tập thể dục mạnh trong một vài giờ trước khi xét nghiệm. Tốt nhất, bạn không nên hút thuốc trong vòng 24 giờ trước khi xét nghiệm.

Đo hô hấp ký có thể gặp những nguy cơ gì?

Đo hô hấp ký là một xét nghiệm có nguy cơ rất thấp (ít gây hại). Tuy nhiên, việc thổi ra mạnh có thể làm tăng áp lực trong lồng ngực, bụng và mắt. Vì vậy, không nên tiến hành đo hô hấp ký nếu bệnh nhân có các tình trạng sau đây:

Đau thắt ngực không ổn định.

Thử nghiệm đảo ngược – Test đáp ứng thuốc giãn phế quản

Bài 15: Hệ Hô Hấp

■Giải thích sự khuếch tán khí trong hô hấp ngoài và hô hấp trong. ■ Mô tả sự vận chuyển oxy và carbon dioxide vào trong máu. ■ Giải thích cơ chế thần kinh và hóa học điều hòa hô hấp. ■ Giải thích sự ảnh hưởng của hô hấp đến pH dịch cơ thể.

II.THUẬT NGỮ MỚI:

Alveoli (al-VEE-oh-lye) – phế quản. Alveolus. Bronchial tree (BRONG-kee-uhl TREE) -cây phế quả

Epiglottis (ep-i-GLAH-tis) nắp thanh môn.

Glottis (GLAH-tis) thanh môn

Intrapleural pressure (IN-trah-PLOOR-uhl PRES-shur) áp suất trong KMP

Intrapulmonic pressure (IN-trah-pull- MAHN-ik PRES-shur) áp suất trong phổi Larynx (LA-rinks) thanh quản

Partial pressure (PAR-shul – PRES-shur)áp suất riêng phần.

Phrenic nerves (FREN-ik NURVZ)thần kinh hoành.

Pulmonary surfactant (PULL-muh-ner-ee sir-FAK-tent) lớp chất hoạt diện

Residual air (ree-ZID-yoo-al AIR) khí cặn.

Respiratory acidosis (RES-pi-rah-TOR-eeass-i-DOH-sis) toan hô hấp.

Respiratory alkalosis (RES-pi-rah-TOR-eeal-kah-LOH-sis) kiềm hô hấp

Soft palate (SAWFT PAL-uht) khẩu cái mềm.

Tidal volume (TIGH-duhl -VAHL-yoom)thể tích khí lưu thông

Ventilation (VEN-ti-LAY-shun) thông khí

Vital capacity (VY-tuhl kuh-PASS-i-tee) dung tích sống.

III. THUẬT NGỮ LÂM SÀNG:

Cyanosis (SIGH-uh-NOH-sis) – chứng xanh tím.

Dyspnea (DISP-nee-ah or disp-NEE-ah) chứng khó thở

Emphysema (EM-fi-SEE-mah) khí phế thũng

Heimlich maneuver (HIGHM-lik-ma-NEW-ver) nghiệm pháp Heimlich

Hyaline membrane disease(HIGH-e-lin MEM-brain di-ZEEZ) Bệnh màng trong (HMD)

Pneumonia (new-MOH-nee-ah)viêm phổi

Pulmonary edema (PULL-muh- ner-ee uh-DEE-muh) phù phổi

Pneumothorax (NEW-moh-THAW-raks) tràn khí màng phổi

IV. NỘI DUNG:

Đôi khi ta miêu tả một thói quen “tự nhiên như việc thở vậy”. Đúng vậy, điều gì có thể tự nhiên hơn thế.Chúng ta hiếm khi để ý đến hít thở và cũng không mong đợi nó đến, giống như việc ta trông ngóng một bữa tối vậy. Chúng ta hít thở, thường với tần số 12 đến 20 phịp/phút, và nhanh hơn nếu cần (như khi tập thể dục). Bạn có thể nghe về việc các ca sỹ học cách thở, nhưng thực chất họ học cách làm sao để việc thở trở nên hiệu quả hơn.

Hầu hết hệ hô hấp là những gì chúng ta luôn nghĩ về hít thở: không khí đi vào và ra khỏi hai phổi. Phổi là nơi trao đổi oxy và carbon dioxide giữa không khí và máu, Cả hai sự trao đổi này đều quan trọng. Tất cả các tế bào cần oxy để thực hiện quá trình hô hấp tế bào sản xuất ra ATP. Quan trọng không kém là quá trình đào thải lượng CO2 được tạo ra. CO2 được coi là chất cặn bã của hô hấp tế bào. Và như chúng ta đã biết, hệ tuần hoàn là một phần không thể thiếu trong quá trình vận chuyển các khí này trong máu.

PHÂN CHIA HỆ HÔ HẤP:

Hệ hô hấp được chia thành đường hô hấp trên và đường hô hấp dưới. Đường hô hấp trên bao gồm các bộ phận nằm ngoài khoang ngực: mũi, các khoang mũi, hầu, thanh quản, và phần trên của khí quản. Đường hô hấp dưới gồm các bộ phận nằm trong khoang ngực: phần dưới của khí quản, và hai phổi, mà trong đó chứa nhiều phế quản và phế nang. Ngoài ra, hệ hô hấp còn bao gồm màng phổi và các cơ hô hấp hình thành nên khoang ngực: cơ hoành và cơ liên sườn.

2. HẦU:

Hầu (pharynx) là một ống cơ nằm phía sau mũi và khoang miệng và phía trước cột sống cổ. Về hình thể, hầu được chia làm 3 phần: hầu mũi (tỵ hầu), hầu miệng (khẩu hầu) và hầu thanh quản (hạ hầu, thanh hầu) (Hình 15 – 1) Phần trên nhất là tỵ hầu (nasopharynx), nằm sau ổ mũi. Khẩu cái mềm (soft palate) được nâng lên trong khi nuốt để cản tỵ hầu, ngăn thức ăn hay nước bọt trào ngược lên trên. Lưỡi gà (uvula) là một phần của khẩu cái mềm có thể nhìn thấy ở phía sau họng. Ở thành sau của tỵ hầu có hạnh nhân hầu, một mô lympho chứa các đại thực bào. Mở vào phần tỵ hầu là 2 vòi tai (ống Eustache), kéo dài tới khoang tai giữa. Vai trò của vòi tai là cho phép khí đi vào hay ra khỏi vùng tai giữa, giúp màng nhĩ rung động đúng cách.

Tỵ hầu là đường chỉ cho khí đi qua, nhưng các phần còn lại của hầu đều cho phép cả khí và thức ăn đi qua, mặc dù không cùng lúc. Khẩu hầu (oropharynx) nằm phía sau miệng; niêm mạc là lớp biểu mô trụ giả tầng, liên tiếp với ổ miệng. Cùng với hạnh nhân hầu và các hạnh nhân lưỡi nằm ở nền lưỡi, chúng tạo nên vòm bạch huyết quanh hầu, tiêu diệt các tác nhân gây bệnh thâm nhập vào niêm mạc.

Thanh hầu (laryngopharynx) là phần dưới nhất của hầu. Nó mở ra phía trước là thanh quản và sau là thực quản. Sự co cơ ở khẩu hầu và thanh hầu là một phần của phản xạ nuốt.

3. THANH QUẢN:

Thanh quản (larynx) l à bộ phận quan trọng giúp ta phát ra được âm thanh. Chức năng khác của nó là đường dẫn khí giữa hầu và khí quản. Đường dẫn khí luôn phải đảm bảo mở trong mọi lúc, vì vậy thanh quản được cấu tạo bởi 9 vòng sụn nối với nhau bởi các dây chằng. Sụn là một mô cứng chắc nhưng linh hoạt, ngăn cản sự xẹp thanh quản. Trong khi đó, thực quản (nằm phía sau thanh quản) là một ống cơ dễ xẹp xuống, trừ khi nó đang chưa thức ăn ở bên trong. Sụn lớn nhất của thanh quản là sụn giáp (thyroid cartilage) (Hình 15 – 2), ta có thể sờ thấy nó ở ngay phía trước cổ. Sụn nắp thanh môn (epiglottis cartilage, sụn thượng thiệt) nằm ở trên cùng. Trong khi nuốt, thanh quản được nâng lên và nắp thanh môn đóng lại, giống như một cách cửa hay nắp có bản lề, ngăn chặn sự xâm nhập của nước bọt hay thức ăn vào thanh quản. Niêm mạc của thanh quản là biểu mô có lông chuyển, trừ các dây âm thanh (biểu mô lát tầng không sừng hóa). Các lông chuyển trên bề mặt biểu mô “quét” liên tục để loại bỏ chất nhầy, bụi bẩn và các vi sinh vật.

Các dây âm thanh (vocal cords) (hay vocal folds) nằm ở hai bên thanh môn (glottis), phần mở ra ở giữa hai dây này. Trong khi thở, các dây thanh âm được giữ nguyên bên cạnh thanh môn, nên khí di chuyển tự do vào và ra khỏi khí quản (HÌnh 15 – 3). Trong khi nói, các cơ trong thanh quản kéo chúng ngang qua thanh môn, và khi thở ra, khí làm rung dây thanh âm sản sinh ra âm thanh có thể chuyển thành lời nói. Ta cũng có thể nói

4. KHÍ QUẢN VÀ CÂY PHẾ QUẢN:

Khí quản (trachea) dài khoảng 4 đến 5 inch (10-13 cm), kéo dài từ thanh quản đến phế quản chính; nằm phía trước thực quản. Nếu bạn đặt tay vào nền cổ, ngay trên xương ức, sẽ sờ thấy cấu trúc hình ống cứng của khí quản. Thành khí quản chứa 16-20 vòng sụn hình chữ C, giúp khí quản luôn mở. (Hình 15 – 2 và15 – 4). Có khuyết ở phía sau các vòng sụn, cho phép thực quản mở rộng hơn khi nuốt thức ăn. Niêm mạc của khí quản là biểu mô trụ có lông chuyển, có tế bào goblet (xem Hình 4 – 3 phần C chương 4). Gióng như ở thanh quản, các lông chuyển quét lên phía trên về hầu.Phế quản chính (primary bronchi) trái hay phải (Hình 15-4) là các nhánh của khí quản đi vào trong phổi, Cấu trúc của chúng giống với khí quản, với các vòng sụn hình chữ C và lót bởi biểu mô trụ có lông chuyển. Bên trong phổi, mỗi phế quản chính chia nhỏ thành phế quản thùy kéo dài đến các thùy tương ứng trong phổi (3 thùy phổi phải, 2 thùy phổi trái). Ống phế quản tiếp tục phân nhánh rồi tạo nên cây phế quản (bronchial tree). Tưởng tượng khí quản là thân của một cây bị lộn ngược với rất nhiều nhánh, càng ngày càng nhỏ; những nhánh nhỏ đó được gọi là các tiểu phế quản (bronchioles). Thành của các tiểu phế quản không có sụn; điều này rất quan trọng trong lâm sàng của bệnh hen suyễn (xem mục 15-1: Bệnh hen suyễn). Các tiểu phế quản tận nằm trong các cụm phế nang – các túi khí của phổi.

Phổi (lungs) nằm hai bên tim trong khoang ngực và được bao bọc và bảo vệ bởi khung xương sườn. Đáy phổi nằm áp sát trên vòm hoành; đỉnh phổi nằm phía trên xương đòn. Ở giữa mỗi phổi có một diện lõm vào được gọi là rốn phổi (hilus), nơi phế quản chính và động tĩnh mạch phổi đi vào. Màng phổi gồm 2 lá thành và lá tạng. Lá thành (parietal pleura) bao mặt trong thành ngực, và lá tạng (visceral pleura) bao mặt ngoài phổi. Giữa hai lá màng phổi là thanh dịch, giảm ma sát và giúp hai màng trượt dễ dàng lên nhau khi thở.

Sự thông khí (ventilation) là thuật ngữ chỉ quá trình không khí đi vào và ra khỏi phế nang. Quá trình này gồm hai phần: hít vào và thở ra, được điều phối bởi hệ thần kinh và các cơ hô hấp. Các trung tâm hô hấp nằm trên hành não và cầu não. Chức năng cụ thể của chúng sẽ được đề cập ở phần sau, nhưng hành não chính là nơi tạo xung đến các cơ hô hấp. Các cơ hô hấp là cơ hoành và các cơ liên sườn trong và ngoài (Hình 15 – 6). Cơ hoành (diaphragm) là một cơ hình vòm phía dưới phổi; khi co lại, cơ hoành đi xuống dưới. Các cơ liên sườn nằm giữa các xương sườn. Các cơ liên sườn ngoài (external intercostal muscles) kéo xương sườn lên trên và ra ngoài. Các cơ liên sườn trong (internal intercostal muscles) kéo xương sườn xuống dưới và vào trong. Sự thông khí là kết quả của sự vận động các cơ hô hấp tạo nên áp suất khác biệt giữa phế nang và cây phế quản. Đối với quá trình hô hấp, có 3 loại áp suất rất quan trọng:

1. Áp suất khí quyển (Atmospheric pressure) – áp suất của không khí quanh chúng ta. Áp suất khí quyển ở ngang mực nước biển là 760mmHg. Ở nơi cao hơn, áp suất sẽ thấp hơn. 2. Áp suất khoang màng phổi (Intrapleural pressure) – áp suất trong khoang ảo giữa lá thành và lá tạng màng phổi. Nó có chức năng rất quan trọng. Một lớp mỏng thanh dịch giúp hai lá màng phổi dính vào nhau. Áp suất khoang màng phổi thường nhỏ hơn áp suất khí quyển (khoảng 756 mmHg) nên được gọi là áp suất “âm”. Phổi đàn hồi làm cho lá thành và lá tạng tách rời nhau. Tuy nhiên, lượng dịch huyết thanh ngăn cản sự tách rời của 2 lá này (xem mục 15-3: Bệnh tràn khí màng phổi)

3. Áp suất bên trong phổi (Intrapulmonic pressure) là áp suất bên trong cây phế quản và phế nang. Áp suất dao động, cao hơn hoặc nhỏ hơn áp suất khí quyển trong mỗi chu kỳ thở.

Khi hai phổi mở rộng, áp lực bên trong phổi giảm xuống nhỏ hơn áp suất khí quyển, khí sẽ qua mũi đi vào các đường dẫn khí tới các phế nang. Quá trình này diễn ra cho đến khi áp suất trong phổi bằng áp suất khí quyển; đó là quá trình thở vào bình thường. Tất nhiên, quá trình này còn kéo dài thêm nữa, đó là khi ta hít sâu. Khi đó đòi hỏi các cơ hô hấp co mạnh hơn để mở rộng phổi, cho phép nhiều khí đi vào hơn.

2. THÌ THỞ RA:

Thì thở ra (exhalation) hay còn gọi là expiration, bắt đầu khi xung vận động từ hành não giảm kích thích và cơ hoành cùng cơ liên sườn ngoài giãn. Vì vậy, khoang ngực giảm thể tích, phổi xẹp xuống, và các mô liên kết có tính đàn hồi – các mô bị căng ra trong quá trình hít vào, giãn ra làm thu nhỏ các phế nang. Khi áp lực trong phổi tăng lên cao hơn áp suất khí quyển, khí bị buộc ra khỏi phổi cho đến khi hai áp suất được cân bằng lại.

Lưu ý rằng thì thở vào là một quá trình chủ động đòi hỏi sự co cơ, nhưng thì thở ra bình thường là một quá trình thụ động, do giãn các cơ và phụ thuộc vào mực độ đàn hồi của mô phổi. Nói cách khác, bình thường chúng ta cần dùng năng lượng để thở vào nhưng không cần khi thở ra (xem mục 15-4: Khí phế thũng).

Tuy nhiên, chúng ta có thể vượt xa nhịp thở ra bình thường và đẩy được nhiều khí ra ngoài hơn, ví dụ như khi nói chuyện, hát, hay thổi bóng bay. ó là khi ta thở ra gắng sức – một quá trình chủ động đòi hỏi sự co cơ. Các cơ liên sườn trong co lại kéo các xương sườn đi xuống và vào trong, đẩy khí ra khỏi phổi. Các cơ bụng co lại, ví dụ như cơ thẳng bụng, ép các tạng trong ổ bụng và đẩy cơ hoành lên trên, khiến khí buộc phải đi ra khỏi phổi (xem mục 15-5: Nghiệm pháp Heimlich).

Thể tích khí lưu thông (Tidal volume – TV) – thể tích 1. khí lưu chuyển trong một lần hít vào và thở ra thông thường. Giá trị trung bình thể tích khí lưu thông ở người bình thường là 500ml, nhưng nhiều người có giá trị nhỏ hơn do nhịp thở nông. 2. Thể tích thông khí phút (Minute respiratory volume – MRV) – lượng khí hít vào thử ra trong 1 phút. MRV bằng thể tích khí lưu thông nhân với tần số thở trong 1 phút (trung bình 12-20 nhịp/phút). Nếu TV trung bình là 500ml và tần số thở là 12 nhịp/ phút thì MRV = 6000ml/phút = 6l/phút. Với những bệnh nhân thở nông thì thể tích khí lưu thông thường nhỏ hơn giá trị trung bình nên

3. Thể tích khí dự trũ hít vào (Inspiratory reserve) – lượng khí thu được khi cố gắng hít vào hết sức. Bình thường, thể tích dự trữ hít vào có giá trị từ 2000 đến 3000 ml.

4. Thể tích khí dự trữ thở ra (Expiratory reserve) – lượng khí thu được khi cố gắng thở ra hết sức. Bình thường, thể tích dự trữ thở ra có giá trị từ 1000 đến 1500ml. 5. Dung tích sống (Vital capacity) – tổng của thể tích khí lưu thông, thể tích dự trữ hít vào và thể tích dự trữ thở ra. Nói cách khác

6. Thể tích khí cặn (Residual air volume) – lượng khí còn lại trong phổi sau khi đã thở ra hết sức; trung bình 1000 đến 1500ml. Thể tích khí cặn rất quan trọng để đảm bảo mọi thời điểm đều có khí trong phổi, để quá trình trao đổi khí liên tục, ngay cả giữa các lần thở.Một số thể tích được miêu tả phía trên được đo bởi phế khí (spirometers), dụng cụ ghi lại sự chuyển động của khí. Các ca sỹ hay nhạc sỹ chơi nhạc cụ hơi thường có dung tích sống lớn hơn so với chiều cao và độ tuổi vì các cơ hô hấp đã thay đổi theo chế độ luyện tập của họ. Điều này cũng giống với các vận động viên luyện tập thường xuyên. Tuy nhiên người mắc bệnh khí phế thũng cần năng lượng để thở ra, dung tích sống và thể tích dự trữ thở ra thường thấp hơn giá trị trung bình.

SỰ TRAO ĐỔI KHÍ:

Có hai vùng trao đổi khí oxy và carbondioxide: hai phổi và mô trong cơ thể. Sự trao đổi khí giauwx không khí trong phế nang và máu trong mạng mao mạch phổi đưuọc gói là hô hấp ngoài (external respiration). Thuật ngữ này có thể gây hiểu lầm vì ta thường cho rằng “bên ngoài” là nằm ngoài cơ thể. Tuy nhiên, trong trường hợp này, “bên ngoài” mang nghĩa là sự trao đổi trong đó bao gồm khí từ môi trường bên ngoài, mặc dù xảy ra bên trong phổi, trong cơ thể. Hô hấp trong (internal respiration) là sự trao đổi khí giữa máu trong mao mạch hệ thống và các mô của cơ thể.

Khí ta hít vào (khí quyển) chứa khoảng 21% oxy và 0.04% carbon dioxide. Mặc dù hầu hết (78%) không khí là nito, khí này không có chức năng sinh lý trong cơ thể, nên ta đơn giản thở ra nguyên vẹn lượng nito hít vào. Khí thở ra chứa khoảng about 16% oxy và 4.5% carbon dioxide, vì vậy rõ ràng oxy còn được lưu lại một phần trong cơ thể và carbon dioxide từ tế bào sản xuất ra được đẩy ra ngoài.

Quá trình vận chuyển của carbon dioxid phức tạp hơn một chút. Một số carbon dioxid hòa tan trong huyết tương, và một số được vận chuyển bởi hemoglobin (carbaminohemoglobin), nhưng chúng chỉ chiếm khoảng 20% tổng lượng CO2 vận chuyển. Hầu hết carbon dioxid vận chuyển trong máu dưới dạng ion bicarbonate (HCO3 ). Trước hết ta cùng nhìn lại các phản ứng chuyển CO2 thành ion bicarbonate.

Khi carbon dioxid vào trong máu, hầu hết khuếch tán vào các tế bào hồng cầu, nơi chứa enzyme carbonic anhydrase. Enzyme này (chứa kẽm) xúc tác

CO2 + H2O → H2CO3

Sau đó acid carbonic phân ly: H2CO3 → H+ + HCO3- Các ion bicarbonate khuếch tán ra khỏi hồng cầu vào trong huyết tương, để lại các ion hydrogen (H+) vẫn còn trong hồng cầu. Quá nhiều ion H+ sẽ khiến tế bào hồng cầu dần bị acid hóa, nhưng hemoglobin hoạt động như một hệ đệm để ngăn cản tình trạng này. Để duy trì trạng thái cân bằng ion, ion chloride (Cl-) từ huyết tương đi vào tế bào hồng cầu; điều này đươc gọi là sự trao đổi clorua. Vậy CO2 ở đâu? Nó ở trong huyết tương như một phần của ion HCO3 . Khi máu tới phổi, vùng có PCO2 thấp, các phản ứng trên xảy ra theo thứ tự ngược lại, và CO2 được hình thành lại rồi khuếch tán vào phế nang để thải ra ngoài.

CƠ CHẾ ĐIỀU HÒA THẦN KINH:

Các trung tâm hô hấp nằm ở hành não (medulla) và cầu não (pons), là những phần nằm trong thân não (Hình 15-9). Tronh hành não là trung tâm hít vào và thở ra.

Trung tâm hít vào tự tạo xung theo nhịp. Các xung này di chuyển theo các dây thần kinh đến các cơ hô hấp để kích thích sự co cơ. Kết quả ta có sự hít vào. Và khi phổi phồng lên, các receptor nhận cảm áp suất của các tế bào trong phổi phát hiện sức căng này và tạo xung cảm giác đến hành não; các xung này sẽ ức chế trung tâm hít vào. Hiện tượng này được gọi là phản xạ Hering- Breuer , đồng thời cũng giúp ngăn cản phổi phồng lên quá to. Khi trung tâm hít vào bị ức chế, dẫn đến giảm xung tới các cơ hô hấp, khiến chúng giãn ra và bắt đầu thì thở ra. Rồi khi trung tâm hít vào hoạt động trở lại thì chu kỳ hít thở mới được bắt đầu. Khi cần thở ra mạnh hơn trong mọt số trường hợp, ví dụ như

Nhưng có rất nhiều biến thể của nhịp thở bình thường, hơn thế chúng còn rất hay gặp. Xúc cảm thường ảnh hưởng đến hô hấp; một nối sợ hãi đột ngột có thể khiến hơi thở gấp gáp hơn, hoặc sự sợ hãi thường làm tăng tần số thở. Trong các tình huống này, các xung dẫn truyền từ vùng dưới đồi (hypothalamus) điều chỉnh tín hiệu đi của hành não. Vỏ não (cerebral cortex) cho phép cơ thể tự động thay đổi tần số hay nhịp điệu thở để có thể nói, hát, thở nhanh hơn hay chậm hơn hoặc ngay cả ngừng thở trong vòng 1-2 phút. Tuy nhiên, các thay đổi này không thể tiếp diễn mãi mãi, hành não sẽ dần lấy lại sự kiểm soát.

Ho (coughing) và hắt hơi (sneezing) là các phản xạ để loại bỏ các chất kích thích khỏi đường hô hấp; hành não chứa trung tâm điều chỉnh của cả 2 phản xạ này. Hắt hơi gây ra bởi các chất gây kích ứng niêm mạc mũi và ho gây ra bởi chất kích ứng niêm mạc hầu họng, thanh quản và khí quản. Bản chất của 2 phản xạ này giống nhau: Vào thì hít vào, thanh môn đóng lại để tạo áp lực. Sau đó thanh môn mở đột ngột, tạo nên nhịp thở ra. Ho khiến ta thở ra qua miệng, trong khi hắt hơi khiến ta thở ra qua mũi. Một số người hắt hơi ngay cả khi tiếp xúc với ánh sáng như ánh sáng mặt trời. Hiện tượng này được gọi là hắt hơi quang học (photic sneezing) và có tính di truyền. Quy luật di truyền là gen trội trên NST thường, với đặc điểm chỉ mang một gen bệnh, từ mẹ hoặc bố, đều biểu hiện bệnh. (người ta tin tằng nó được tạo ra bởi các dây thần kinh chi phối phản xạ hắt hơi và khả năng phát hiện ánh sáng bị lạc chỗ mà không vì mục đích hữu ích nào cả. Nấc cục cũng là một phản xạ, do co thắt cơ hoành. Hậu quả là nhịp hít vào nhanh, dừng lại khi thanh môn đóng đột ngột, tạo tiếng “hic”. Chất kích thích có thể đã gây kích thích thần kinh cơ hoành hoặc các dây thần kinh bụng. Uống quá nhiều rượu là một kích thích gây ra nấc cục. Một số nguyên nhân đến nay còn chưa rõ. Phản xạ hô hấp khác là ngáp. Hầu hết chúng ta ngáp khi mệt mỏi, nhưng cơ chế kích thích và mục đích phản xạ ngáp vẫn chưa được biết đầy đủ. Có thể nguyên nhân kích thích là sự tích lũy nhiều carbon dioxide, như khi chúng ta chán hoặc buồn ngủ và nhịp thở trở nên nông hơn. Nhưng có bằng chứng hiện nay cho thấy ngáp giúp não bộ “mát mẻ” hơn bằng việc tạo lối tắt cho dòng máu nóng thay vì đi lên não sẽ đi đến mặt, nơi mà hơi nóng ngay sát bề mặt da, từ đó dễ dàng thoát ra ngoài. Điều này có thể có lợi bởi bộ não mát mẻ hơn là bộ não thông minh hơn. Phản xạ này vẫn còn đang được tiếp tục nghiên cứu. Mặc dù vào hiện tại chưa biết rõ tại sao ngáp lại lây truyền, nhưng khi nhìn ai đó ngáp thì hầu như chắc chắn ta sẽ muốn ngáp. Bạn có thể đang ngáp khi đọc đoạn về phản xạ ngáp này.

2. ĐIỀU HÒA THEO CƠ CHẾ HÓA HỌC:

Vì vậy, carbon dioxide là khí điều hóa hô hấp chủ yếu, do nó có ảnh hưởng tới pH máu. Như đã đề cập từ trước, quá nhiều lượng CO2 gây hạ pH máu, một tình trạng không được tiếp tục diễn ra trong cơ thể. Do đó, bất kì nguyên nhân gây tăng nồng độ CO2 trong máu một cách nhanh chóng đều được bù lại bởi tăng tần số thở để thải nhiều CO2. Ví dụ khi ta giữ một nhịp thở, điều gì sẽ khiến ta thở lại? Do ta cạn hết oxy? Có thể không phải, do các lý do đã đề cập ở trên. Điều đã xảy ra là sự tích lũy CO2 đã làm hạ pH máu xuống thấp đủ để kích thích hành não gửi tín hiệu bắt đầu lại chu kỳ thở.

Trong một số trường hợp, oxy trở thành khí điều hòa hô hấp chủ yếu. BN mắc các bệnh phổi trầm trọng, mạn tính như khí phế thũng, phổi bị giảm khả năng trao đổi khí của cả oxy và carbon dioxide. pH máu giảm do tích lũy CO2 được điều chỉnh bởi hai thận, nhưng nồng độ oxy trong máu vẫn giảm. Cuối cùng, nồng độ oxy máu hạ thấp tới mức tạo nên kích thích mạnh làm tăng tần số và biên độ hô hấp.

HÔ HẤP VÀ THĂNG BẰNG ACID-BASE:

Như ta vừa được biết, hô hấp ảnh hưởng đến pH của các dịch cơ thể bởi vì nó điều hòa lượng carbon dioxide trong các chất dịch. Ghi nhớ rằng CO2 phản ứng với nước tại nên acid carbonic (H2CO3), chất mà ion hóa thành ion H+ và HCO3 . Càng nhiều ion hydrogen xuất hiện trong dịch của cơ thể, pH càng thấp. Và càng ít ion hydrogen xuất hiện, pH càng cao.

Hệ hô hấp có thể là nguyên nhân gây mất cân bằng pH, hoặc nó có thể giúp chỉnh lại sự mất thăng bằng pH gây ra bởi một số nguyên nhân khác. 1. NHIỄM TOAN HÔ HẤP VÀ KIỀM HÔ HẤP: Nhiễm toan hô hấp (respiratory acidosis) xảy ra khi tần số hoặc hiệu quả hô hấp giảm xuống, dẫn đến tích lũy carbon dioxide trong dịch cơ thể. Quá nhiều CO2 khiến càng nhiều ion H+ được tạo thành, làm giảm pH. Nín thở có thể gây nên tình trạng nhiễm toan hô hấp nhẹ, nhanh chóng kích thích hành não gây thở trở lại. Các nguyên nhân trầm trọng hơn của nhiễm toan hô hấp là các bệnh về phổi như viêm phổi và khí phế thũng, hoặc hen nặng. Mỗi bệnh đều gây giảm trao đổi khí và cho phép lượng CO2 lớn còn lại trong dịch cơ thể.

Nhiễm kiềm hô hấp (respiratory alkalosis) xảy ra khi tăng tần số hô hấp, và CO2 bị thải ra quá nhanh. CO2 giảm làm giảm tạo ion H+, làm tăng pH. Thở nhanh trong vài phút có thể bị nhiễm kiềm hô hấp nhẹ. Trẻ nhỏ khóc trong thời gian dài (khóc là một tiếng thở ra bất thường (noisy exhalation)) cũng có thể nhiễm tình trạng này. Tuy nhiên, nhìn chung, nhiễm kiềm chuyển hóa không thường xuyên xảy ra. Chấn thương vật lý nặng và sốc, hoặc trong trạng thái lo lắng về tinh thần hoặc cảm xúc, có thể kèm theo tăng thông khí và hâu quả dẫn đến nhiễm kiềm chuyển hóa. Hơn nữa, khi đi lên quá cao (ít oxy trong không khí) có thể gây tăng tần số thở tạm thời trước khi cơ chế bù trừ xảy ra (tăng tần suất sản sinh RBC – xem Chương 11).

2. SỰ BÙ TRỪ HÔ HẤP:

Nếu sự mất cân bằng pH gây ra bởi nguyên nhân khác ngoài sự thay đổi hô hấp, nó được gọi là nhiễm toan chuyển hóa hoặc nhiễm kiềm chuyển hóa. Trong cả hai trường hợp, sự thay đổi pH kích thích thay đổi tần số hô hấp có thể giúp đưa giá trị pH về bình thường.

Nhiễm toan chuyển hóa (metabolic acidosis) có thể gây ra bởi bệnh đái tháo đường không điều trị (ketoacidosis), bệnh thận, hoặc tiêu chảy nặng. Trong các trường hợp này, nồng độ ion H+ trong dịch cơ thể tăng. Bù trừ hô hấp bao gồm sự tăng tần số và biên độ hô hấp để thải nhiều CO2 làm giảm sự tạo thành ion H+ , đưa pH về giá trị bình thường.

Nhiễm kiền chuyển hóa (metabolic alkalosis) không thường xuyên xảy ra nhưng có thể gây ra bởi uống quá nhiều thuốc có tính kiềm như thuốc giúp làm giảm rối loạn dạ dày. Một nguyên nhân khác là nôn chất nôn ở dạ dày. Trong các trường hợp này, nồng độ ion H+ trong dịch cơ thể giảm. Bù trừ hô hấp là giảm tần số thở để giữ CO2 trong cơ thể để tăng tạo ion H+ , đưa giá trị pH trở về bình thường.

SỰ GIÀ HÓA VÀ HỆ THỐNG HÔ HẤP:

Có thể cách quan trọng nhất giúp hệ hô hấp khỏe mạnh là không hút thuốc. Trong trường hợp không có sự tấn công hóa học, chức năng hô hấp sẽ giảm nhưng thường vẫn đủ để hoạt động. Các cơ hô hấp, như tất cả các cơ vân, sẽ yếu dần theo độ tuổi (tập thể lực, ngay cả chỉ với việc đi bộ nhanh, giúp duy trì được sức mạnh của các cơ hô hấp). Nhu mô phổi giảm tính đàn hồi và mất dần các phế nang do tổn thương thành. Tất cả các gậy quả này dẫn đến giảm thông khí phổi và dung tích phổi, nhưng lượng khí cặn còn lại thường vẫn đủ để suy trì các hoạt động cơ bản nhất. Tế bào lông chuyển trên niêm mạc đường hô hấp cũng thoái triển theo tuổi và các đại thực bào phế nang hoạt động kém hiệu quả, khiến cho người già dễ mắc viêm phổi hơn, hay các bệnh nhiễm khuẩn đường hô hấp trầm trọng khác. Giảm oxy phế nang mạn tính do các bệnh như khí phế thũng hoặc viêm phế quản mạn tính có thể dẫn đến tăng áp lực phổi, làm tăng gánh nặng thất phải. Tăng áp lực hệ thống thường làm suy yếu thất trái, dẫn đến suy tim sung huyết và phù phổi, hậu quả phế nang chứa nhiều dịch, giảm diện tích trao đổi khí. Mặc dù đúng với mọi lứa tuổi, sự phụ thuộc vào nhau giữa hệ hô hấp và hệ tuần hoàn lại dặc biệt rõ ràng ở những người cao tuổi.V. TỔNG KẾT:

Nguồn: Essentials of Anatomy and Physiology – Vietnamese Version.

Sinh Lý Bệnh Hệ Hô Hấp

SINH LÝ BỆNH ĐẠI CƯƠNG CHỨC NĂNG HÔ HẤPBS.Trịnh Thị Hồng Của MỤC TIÊU BÀI GIẢNG Sau khi học xong bài này, sinh viên có khả năng:1. Trình bày được 04 rối loạn của quá trình hô hấp2. Giải thích được cơ chế bệnh sinh của 04 rối loạn hô hấp3. Biết cách đánh giá chức năng hô hấp trong suy hô hấp4. Trình bày được khả năng thích nghi của cơ thể trong suy hô hấp ĐẠI CƯƠNG VỀ BỘ MÁY HÔ HẤP 1. Sơ lược cấu trúc bộ máy hô hấpLồng ngực:hình chóp,cột sống,cơ hô hấpĐường dẫn khí:sụn và màngNhu mô phổi:phế nang

2. Chức năng bộ máy hô hấp2.1.Giai đoạn thông khí: Đảm bảo sự trao đổi khí O2 và CO2 giữa phế nang với môi trường ngoài Khí trời

O2 CO2

2. Chức năng bộ máy hô hấp2.2.Giai đoạn khuếch tán: sự lưu thông khí thụ động qua lại màng phế nang và mao mạch phổi Vách phế nang-O2

Màng mao mạch-CO22. Chức năng bộ máy hô hấp2.3.Giai đoạn vận chuyển oxy: Là quá trình đưa O2 từ phế nang đến các tế bào và đem CO2 từ tế bào đến phế nang theo chiều ngược lại Mao mạch phổi-O2

Các tế bào-CO22. Chức năng bộ máy hô hấp2.4. Giai đoạn hô hấp tế bàoTế bào sử dụng O2 để chuyển hóa các chất tạo ATP và CO2 Hô hấp ngoài:thông khí và khuếch tánHô hấp trong:vận chuyển và hô hấp tế bào3. Điều hòa hoạt động hô hấp Trung tâm điều hòa hô hấp nằm ở hành tủy và chia thành 2 trung tâm. mỗi trung tâm gồm 3 phần:hít vào ở phía trước,thở ra ở phía sau,điều hòa chung cả hít vào và thở ra ở phía trên. Có tính tự động cao, rất nhạy cảm với sự thay đổi của nồng độ O2, CO2, pH và nhiệt độ của máu qua não 4. RỐI LOẠN CHỨC NĂNG HÔ HẤP NGOÀI RỐI LOẠN THÔNG KHÍRỐI LOẠN KHUẾCH TÁN 4.1.RỐI LOẠN THÔNG KHÍ

Rối loạn thông khí hạn chế Rối loạn thông khí tắc nghẽn 4.1.1.Rối loạn thông khí hạn chếDo số lượng phế nang bị giảm thật sự về mặt giải phẫu: cắt phổi, teo phổi người già,xẹp phổi(khối u,thiếu chất Surfactan-thay đổi sức căng bề mặt bên trong phế nang→phổi không bị xẹp trong quá trình hô hấp) Do giảm chức năng phế nang:chấn thương lồng ngực, viêm phổi, cổ chướng→hạn chế cử động của lồng ngực và các cơ hô hấp→khả năng dãn nở của phổi ↓→ giảm thông khí 4.1.2.Rối loạn thông khí tắc nghẽn Rối loạn xảy ra khi có sự chít hẹp đường dẫn khí. Gồm có– Tắc nghẽn đường dẫn khí cao (thanh, khí quản):Phù thanh quản – Tắc nghẽn đường dẫn khí sụn (phế quản):khối u, dị vật – Tắc nghẽn đường hô hấp màng (tiểu phế quản tận):co thắt cơ Ressesel 4.1.3.Một số bệnh lý gây rối loạn thông khí thường gặp Bệnh núi cao thực nghiệm:thành phần không khí không thay đổi nhưng áp suất không khí thay đổi→pO2 ↓ Các chấn thương lồng ngực:hạn chế cử động của lồng ngực trong khi hô hấp, gây rối loạn thông khí (mãng sườn di động→hô hấp đảo ngược→ suy hô hấp)Hen phế quản (Histamin), viêm phế quản mạn tínhNgạtNgạtĐịnh nghĩa: Ngạt là tình trạng bệnh lý do thiếu O2 và tăng CO2 trong thành phần không khí thở Diễn tiến:03 giai đoạnGiai đoạn hưng phấn Giai đoạn ức chế Giai đoạn suy sụp toàn thân Giai đoạn hưng phấnBiểu hiện-Hô hấp:tăng hít vào→ tăng cả hít vào và thở ra-Huyết áp tăng-Thần kinh:kích thích, hốt hoảngCơ chế:thiếu O2, tăng CO2 nên-trung tâm hô hấp (+)-trung tâm vận mạch(+)Giai đoạn ức chếBiểu hiện:Hô hấp giảm dần, huyết áp ↓, nằm yên, tiêu tiểu không tự chủ, da và niêm mạc tím tái Cơ chế:(-)trung tâm hô hấp,(-) não  giảm hoạt động các cơ quan  huyết áp ↓, giãn cơ vòng hậu môn, bàng quang ↓ tiêu tiểu không tự chủ. Giai đoạn suy sụpBiểu hiện:ngừng thở hoàn toàn, thỉnh thoảng thở ngáp cá, HA = 0 Cơ chế: não bị ức chế hoàn toàn KHUYẾN TÁN CỦA MỘT CHẤT KHÍ QUA MÀNGMàng khuếch tán là khoảng cách từ vách phế nang đến vách mao mạch. Sự khuyến tán khí phụ thuộc vào: – Hiệu số áp lực khí ở 2 bên màng, sự chênh lệch càng lớn thì lưu lượng khuếch tán khí càng lớn – Diện tích màng khuếch tán càng lớn, lưu lượng khuếch tán càng lớn– Độ dày màng khuếch tán, độ dày càng mỏng thì lưu lượng khuếch tán càng lớn – Lượng máu đến phế nang phải được cung cấp đầy đủ và cũng phải luôn đổi mới

4.2.RỐI LOẠN KHUẾCH TÁN Rối loạn khuếch tán do giảm diện tích màng khuếch tán Rối loạn khuếch tán do mất cân bằng giữa thông khí và tưới máu Rối loạn khuếch tán do rối loạn màng khuếch tánRối loạn khuếch tán do giảm hiệu số khuếch tán 4.2.1.Rối loạn khuếch tán do giảm diện tích màng KTGiảm khối nhu mô phổi:do cắt một phần phổi, viêm phổi thùy Giảm thông khí phế nang Giảm tưới máu phế nang:giảm lưu lượng tuần hoàn…4.2.2.Rối loạn khuếch tán do mất cân bằng giữa thông khí và tưới máuthể tích khí lưu thông ở phế nang /thể tích máu tưới cho phế nang=1(tối ưu cho sự khuếch tán máu).

4.2.3.Rối loạn khuếch tán do rối loạn màng khuếch tánMàng khuếch tán là màng phế nang – mao mạch, gồm 8 lớp: Lớp dịch lót phế nang (chất surfactant), biểu bì phế nang, màng căn bản của phế nang, khoảng kẽ, thành mao mạch, lớp tế bào nội mạc, huyết tương, màng hồng cầu Bất kỳ lớp nào bị dày lên cũng làm tăng khoảng cách phải di chuyển của phân tử khí 4.2.4. Rối loạn khuếch tán do giảm hiệu số khuếch tán Hiệu số khuếch tán là khuynh áp (độ chênh lệch phân áp) của chất khí giữa phế nang và mao mạch Các yếu tố làm ảnh hưởng đến hiệu số khuếch tán:Thay đổi thành phần không khí thở, áp lực không khí thở, tuổi tác…4.2.5.Một số bệnh lý gây rối loạn khuếch tán thường gặp Khí phế thũng Viêm phổi Phù phổi cấp 1. Phế nang bình thường, 2. Phế nang bị khí thủng Khí phế thũngbệnh xảy ra thứ phát sau một số bệnh lý mạn tính của đường hô hấp phế nang căng to, dãn rộng, tế bào vách phế nang bị phá hủy  nhiều phế nang thông với nhau, tiết nhiều chất nhầy, tổ chức xơ phát triển→hẹp tắc lòng phế quản tận và giảm khả năng đàn hồi nhu mô phổi.Viêm phổi do Streptococcus pneumoniae Phù phổi cấp (OAP)

Là sự tràn ngập dịch trong đường hô hấpCơ chế: tổn thương và huyết độngHậu quả:giảm diện khuếch tán, dầy màng khuếch tán, hiệu số phân áp giảm5.RỐI LOẠN QUÁ TRÌNH VẬN CHUYỂN OXY Sau khi khuếch tán qua màng, O2 được vận chuyển đến các mô nhờ vào hệ tuần hoàn và máu (Hb trong hồng cầu) Do bệnh lý của hệ tuần hoàn:tốc độ tuần hoàn ↓,mạch tắt động-tĩnh mạch Do bệnh lý của máu (thiếu máu về số lượng và chất lượng)6.RỐI LOẠN QUÁ TRÌNH HÔ HẤP TẾ BÀO Là tình trạng rối loạn chuyển hóa bên trong tế bào do không sử dụng được lượng O2 đưa đếnNguyên nhân– Thiếu cơ chất – Thiếu men hô hấp:coenzyme – Nhiễm độc men hô hấp:thuốc ngủ… 7.THIỂU NANG HÔ HẤP (SUY HÔ HẤP) Định nghĩa: Suy hô hấp là tình trạng cơ quan hô hấp ngoài mất khả năng đáp ứng nhu cầu O2của cơ thể→ thiếu O2 máu và thiếu O2 tổ chức

7.1.Một số nghiệm pháp thăm dò chức năng hô hấp ngoàiThăm dò khả năng thông khíThăm dò khả năng khuếch tán7.1.1.Thăm dò khả năng thông khíDung tích sống(VC):lượng khí tối đa mà phổi có thể trao đổi với bên ngoài trong 1 nhịp thở→số lượng phế nang đang hoạt động→rối loạn thông khí hạn chế Thể tích tối đa/giây(FEV1 hay VEMS):lượng khí tối đa có thể thở ra được trong giây đầu tiên→sự thông thoáng của đường dẫn khí hay rối loạn thông khí do tắc nghẽn đường dẫn khí Chỉ số Tiffeneau:tỷ lệ FEV1 (VEMS)/ VC→trong 1 giây có thể thở ra được từ 3/4 đến 4/5 lượng khí đã hít vào. 7.1.2.Thăm dò khả năngkhuếch tán– Gián tiếp: pCO2, pO2 đánh giá khả năng khuếch tán CO2 và O2 qua màng khuếch tán – Trực tiếp: đo độ khuếch tán CO nồng độ thấp (DLCO) từ phế nang vào máu→sự khuếch tán O2 (hệ số khuếch tán của CO gấp 1,23 lần so với O2). 7.2.Phân loại suy hô hấpTheo lâm sàng: 3 mức độĐộ 1:lao động nhiều mới cảm thấy mệt, khó thở. Thăm dò chức năng hô hấp bình thường Độ 2:Hoạt động nhẹ cũng cảm thấy khó thở, các chỉ tiêu hô hấp bắt đầu có thay đổi.Độ 3:Cảm giác khó thở thường xuyên, ngay cả khi nằm, ngồi nghĩ.Theo phân áp khí trong máu: pCO2, pO2 -Suy hô hấp có pCO2 tăng (pCO2 tăng, pO2 giảm):Bệnh lồng ngực, thần kinh, cơ, hen PQ…-Suy hô hấp có pCO2 bình thường (pCO2 bình thường hoặc giảm nhẹ, pO2 giảm):viêm phổi, phù phổi… Theo cơ chế bệnh sinh: do rối loạn hô hấp ngoài và do rối loạn ở hệ tuần hoàn (tim)

7.3.Biểu hiện của suy hô hấpKhó thở: pCO2 và pO2 Xanh tím: ở niêm mạc, môi và đầu chi do lượng Hb khử (Hb không bảo hòa O2) tăng cao trong mao mạch Nguyên nhân:+ kém đào thải CO2: phổi + ứ trệ tuần hoàn:suy tim+ trộn lẫn máu động – tĩnh mạch:tim bẩm sinh + do đa hồng cầu, do nhiễm độc Hb 7.4.Sự thích nghi của cơ thể trong suy hô hấp

Thích nghi của hô hấp (phổi):(+)TTHH→tăng nhịp thở, thở nhanh và sâu Thích nghi của tuần hoàn (tim):(+) hóa cảm thụ quan→ tăng nhịp tim Thích nghi của máu:erythropoietine tủy xương tăng sinh hồng cầu để vận chuyển oxy, tái phân bố lại máu  tập trung máu nuôi các cơ quan quan trọng (não, tim).Thích nghi của tổ chức (mô):tăng các men,tăng chuyển hóa→ sử dụng oxy ở các mô