Chức Năng Dây Thần Kinh Số 2 / TOP #10 ❤️ Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 9/2022 ❣️ Top View | Phauthuatthankinh.edu.vn

Chức Năng Của Dây Thần Kinh Số 5

Bệnh Viêm Dây Thần Kinh Số 3

Dây Thần Kinh Là Gì? Vị Trí Của 12 Dây Thần Kinh Sọ Não Số 7, 5, 10, 3, 6

Liệt Dây Thần Kinh Số 3 Có Nguy Hiểm Không? Điều Trị Ra Sao?

12 Đôi Dây Thần Kinh Sọ

Quản Lý Hàng Hóa Bằng Data Validation Trong Excel Cực Hay

Khuôn mặt của chúng ta bị chi phối khá nhiều bởi dây thần kinh số 5. Chức năng của dây thần kinh số 5, hay còn gọi là dây thần kinh tam thoa (sinh ba) là rất quan trọng, và khi dây thần kinh số 5 gặp vấn đề, nó cũng gây nên rất nhiều bất tiện cho người bệnh, tùy theo nhánh thần kinh bị tổn thương.

Cấu tạo và cụ thể chức năng dây thần kinh số 5

Dây thần kinh số 5 bao gồm hai cặp, phân bố đối xứng chi phối ở hai nửa bên mặt. Đây là một trong 12 cặp dây thần kinh có xuất phát từ cầu não và hướng ra các bộ phận mà chúng có chức năng quản lý. Chức năng của dây thần kinh số 5 được phân chia qua 3 nhánh, bao gồm chức năng cảm giác và chức năng vận động.

Cụ thể:

Nhánh V1 (nhánh mắt): phân bố và chi phối tại vùng da đầu phía trước, trán và mắt.

Nhánh V2 (nhánh hàm trên): phân bố và chi phối từ vùng dưới mi, khu vực má, môi trên và hàm trên.

Nhánh V3 (nhánh hàm dưới): phân bố và chi phối từ môi dưới và hàm dưới.

Trong đó, chức năng dây thần kinh số 5 được phân chia cụ thể như sau:

Nhánh V1 và V2 có chức năng cảm giác tại các vùng da đầu, trán, mí trên mí dưới, mắt, má, hốc mũi, môi trên, hàm răng trên và các tuyến hạnh nhân.

Nhánh V3 có chức năng cảm giác với 2/3 trước lưỡi, tuyến nước bọt, môi dưới và hàm răng dưới.

Chức năng vận động của sợi vận động sẽ chi phối cơ thái dương hàm, cơ châm bướm trong, cơ nhai, khiến cho hàm răng có thể chuyển động nhai thức ăn và thực hiện những biểu hiện khuôn mặt.

Bộ dây bên phải sẽ chi phối cảm giác và vận động của nửa mặt bên trái và tương tự với bên trái. Vì thế, nếu có vấn đề với dây thần kinh số 5, ít khi có tình trạng đau đồng đều ở cả hai bên mà thường chỉ biểu hiện ở một bên mặt.

Thế nào là đau dây thần kinh số 5 ?

Dây thần kinh số 5 có thể bị ảnh hưởng hay tổn thương bởi những nguyên nhân không xác định rõ ràng (ví dụ như chấn thương ngoài, nhiễm lạnh…) hoặc có thể là biến chứng, biểu hiện từ các dạng bệnh lý khác như viêm tại nền sọ não, zona thần kinh, khối u chèn ép, mạch máu tắc nghẽn chèn ép…). Khi đó từng phần hoặc cả ba nhánh (hiếm gặp) sẽ bị ảnh hưởng, gây nên những cơn đau.

Đau dây thần kinh số 5 thường khu trú giới hạn tại một trong ba nhánh của một bên dây thần kinh, chứ hiếm khi xuất hiện đồng thời ở cả ba nhánh hay cả hai bên khuôn mặt.

Đặc điểm những cơn đau dây thần kinh số 5 có thể được nhận biết: đau âm ỉ hoặc đau dữ dội một bên mặt. Tùy vào nhánh thần kinh bị tổn thương mà vị trí biểu hiện sẽ tương ứng. Đôi khi cơn đau giống như bị điện giật, bị bỏng hay dao đâm. Đau xuất hiện bất ngờ hoặc khi chạm vào, khi nhiễm nóng lạnh, khi vận động cơ mặt (nhai, cười)… Mỗi cơn đau kéo dài từ vài giây đến vài phút, kèm theo những triệu chứng chảy nước mắt hay nước miếng, người bệnh khó có thể tiếp tục những hoạt động của mình vì đau.

Đau dây thần kinh số 5, đặc biệt là khi nhánh thần kinh V2 hay V3 bị tổn thương sẽ dễ bị nhầm lẫn với đau dây thần kinh ở răng, khiến cho nhiều trường hợp bệnh nhân chưa xác định rõ ràng nguyên nhân đã đi nhổ răng để mong giảm đau, nhưng nhổ tới khi gần hết hàm mà cơn đau vẫn tiếp diễn không ngừng.

Điều trị chứng đau dây thần kinh số 5

Những cơn đau dây thần kinh số 5 gây nên nhiều bất tiện trong cuộc sống của người bệnh. Để điều trị bệnh, bệnh nhân có thể được bác sĩ chỉ định và kết hợp các biện pháp sau đây:

Các loại thuốc giảm đau, chống viêm không steroide, thuốc an thần… Tuy nhiên các loại thuốc này có khá nhiều tác dụng phụ, đặc biệt lưu ý khi dùng cho các bệnh nhân có vấn đề với gan, dạ dày, đồng thời không được lạm dụng trong thời gian dài mà phải đi kèm kết hợp các biện pháp điều trị tích cực khác.

Vật lý trị liệu:

Châm cứu, bấm huyệt, xung điện cũng là biện pháp hiệu quả để giảm đau, lưu thông mạch máu, giải phóng sự chèn ép.

Thuốc Đông y:

Sử dụng lâu dài, tác dụng điều trị và ngăn chặn nguy cơ tái phát bệnh, nên được áp dụng đồng thời xuyên suốt quá trình điều trị, nhiều trường hợp có thể thay thế thuốc Tây y có cùng mục đích.

Điều trị ngoại khoa với các thủ thuật và phẫu thuật:

Trong trường hợp điều trị nội khoa thất bại, bệnh diễn biến nguy hiểm, bệnh nhân sẽ được chỉ định áp dụng một trong số các phương pháp sau tùy theo tình trạng bệnh:

Đông nhiệt dây thần kinh số 5.

Tiêm Glycerol.

Chèn ép hạch Gasser qua da bằng bóng.

Vi phẫu thuật giải phóng vi mạch.

Chức năng của dây thần kinh số 5 trên tổng thể khuôn mặt là khá toàn diện và quan trọng. Đa phần các trường hợp cơn đau khiến cho bệnh nhân không dám cử động khuôn mặt, không dám nhai thức ăn, gây nên tình trạng mệt mỏi, sụt cân… Vì thế bệnh cần được xác định sớm và chính xác để có biện pháp can thiệp phù hợp.

Bệnh Đau Dây Thần Kinh Số 3

Phân Tích Đặc Điểm Cấu Tạo Và Chức Năng Của Tủy Sống

Đo Tốc Độ Dẫn Truyền Vận Động Và Cảm Giác Của Dây Thần Kinh Ngoại Biên Chi Trên

Các Chức Năng Cảm Giác

Dây Thần Kinh Dẫn Truyền Cảm Giác Và Vận Động Thế Nào?

Phục Hồi Chức Năng Đau Dây Thần Kinh Số V

U Dây Thần Kinh Số 8: Nguyên Nhân Và Cách Điều Trị

Bệnh U Dây Thần Kinh Số 8

Bệnh U Dây Thần Kinh Sọ Số 8

U Dây Thần Kinh Sô 8

Bệnh Đau Dây Thần Kinh Số 10

PHỤC HỒI CHỨC NĂNG ĐAU DÂY THẦN KINH V

– Đau dây thần kinh số V là một tình trạng bệnh lý gây đau những vùng do dây thần kinh V chi phối. Đau thần kinh V là tình trạng bệnh lý hay gặp gây đau đớn khó chịu cho người bệnh. Người bệnh đau không thể ăn ngủ được luôn lo lắng, chất lượng cuộc sống giảm

– Đau dây thần kinh số V là một loại đau rất đặc thù, trong cơn đau thường rất nặng, xảy ra đột ngột, thường kéo dài vài giây đến vài phút. Đau này thường là tự phát hoặc xuất phát từ một điểm đau.

1.Các công việc của chẩn đoán

1.1. Hỏi bệnh: hoàn cảnh xuất hiện đau, vị trí đau, đau nửa đầu hay đau cả hai bên, thời gian kéo dài bao lâu. Có ba kiểu đau chính cần phân biệt:

– Đau dây V vô căn hay còn gọi là cơn đau đặc hiệu của dây V

– Đau dây V triệu chứng

– Đau mặt nhưng không điển hình của đau dây V

1.2. Khám và lượng giá chức năng: Khám thần kinh số V rất cẩn thận để xác định đau dây V hay đau triệu chứng do các tổn thương khác.

2.Chẩn đoán xác định dựa trên bệnh sử của đau, đau theo vùng chi phối của dây V. Chẩn đoán xác định sau khi loại trừ đau do các nguyên nhân khác.

3.Chẩn đoán phân biệt

– Phân biệt với triệu chứng đau khác ở mặt như đau dây IX, đau dây thần kinh sau Herpes, hội chứng Reader, hội chứng Sluder, đau thần kinh thể gối, đau khớp thái dương hàm, đau đầu Cluster, đau thần kinh sau chấn thương, đau do bệnh về răng, hốc mắt hoặc xương.

– Phân biệt với u góc cầu – tiểu não, u màng não, u nang thượng bì, u dây thần kinh VIII…

4.Chẩn đoán nguyên nhân

– Có thể di nhiễm trùng virus tại hạch Gasser hoặc các nhánh của dây V ngoại biên.

– Các tổn thương ngoài vùng răng miệng như: u góc cầu – tiểu não, u màng não, u nang thượng bì, u dây thần kinh VIII.

III. PHỤC HỒI CHỨC NĂNG VÀ ĐIỀU TRỊ

1.Nguyên tắc phục hồi chức năng và điều trị

– Phát hiện sớm và can thiệp sớm đau dây thần kinh số V

– Áp dụng các phương pháp vật lý trị liệu kết hợp với các thuốc giảm đau và y học cổ truyền.

2.Các phương pháp và kỹ thuật phục hồi chức năng

Sử dụng các phương pháp vật lý trị liệu:

– Nhiệt nóng trị liệu: tia hồng ngoại liều ấm, chườm nóng

– Siêu âm trị liệu

– Điện xung, dòng giao thoa, điện kích thích cơ thần kinh qua da (TENS).

Điều trị thuốc: Sử dụng các thuốc chống co giật như Phenytoin (Dilantin, Di-hydan) và Carbamazepine (Tegretol). Carbamazepine là thuốc hàng đầu dùng điều trị để kiểm soát đau dây V. Liều bắt đầu thấp sau đó tăng dần cho đến 1200mg/ngày.

Các phương pháp điều trị ngoại khoa: Chỉ định khi điều trị nội khoa kéo dài bằng 2 loại thuốc trên với liều cao mà không còn hiệu quả. Các phương pháp điều trị ngoại khoa bao gồm;

4.1. Nhóm phương pháp làm tổn thương dây V

– Phương pháp tiêm cồn dọc theo đường đi của dây thần kinh V như dây thần kinh trên hốc m ắt, dây thần kinh dưới h ốc mắt, nhánh V2 hoặc nhánh V3. Tuy nhiên bất lợi c ủa phương pháp này là làm m ất c ảm giác tạm thời ho ặc gây dị cảm.

– Cắt dây thần kinh V ngoại biên

– Cắt dây thần kinh số V sau hạch Gasser qua đường vào cực thái dương.

– Cắt dây thần kinh gần cầu não

– Phương pháp mở thông dây V

– Nhiệt đông dây V tại hạch qua da bằng sóng radio

4.2. Nhóm phương pháp không làm tổn thương dây V

– Phương pháp giải áp vi mạch (Microvascular decompssion): đây là một phương pháp áp dụng phổ biến tại các trung tâm phẫu thuật thần kinh trên thế giới và là phương pháp đưa lại hiệu quả nhất.

– Theo dõi sự tiến triển của bệnh tại các cơ sở y tế khu vực

– Theo giỏi kết quả vật lý trị liệu, phục hồi chức năng và tái khám tại các khoa PHCN hoặc Bệnh viện PHCN tỉnh

Trích: Hướng dẫn chẩn đoán, điều trị của chuyên ngành Phục hồi chức năng 2014 của Bộ y tế: Số 3109/QĐ-BYT

Vai Trò, Vị Trí & Chức Năng Của Dãy Thần Kinh Số 8 Chi Tiết Nhất

Dây Thần Kinh Sọ Não Gồm Những Loại Nào?

Bệnh Liệt Dây Thần Kinh Số 4

Dây Thần Kinh Tủy Là Gì? Cấu Tạo Và Chức Năng Của Dây Thần Kinh Tủy

Sự Trao Đổi Di Truyền Ở Vi Khuẩn:

U Dây Thần Kinh Số Viii

U Dây Thần Kinh Số Viii: Phát Hiện Sớm Và Điều Trị

Đau Dây Thần Kinh Số 5 Có Nguy Hiểm Không? 3 Triệu Chứng Thường Gặp

Đau Dây Thần Kinh Số 5

Sống Khoẻ Cùng Bvxa –Kỳ 37: Liệt Dây Thần Kinh Số 7 – Căn Bệnh Làm Thay Đổi Diện Mạo Con Người

2 Cách Tạo Lựa Chọn Trong Google Sheet

1.  ĐẠI C­ƯƠNG

1.1  Cấu trúc

U xuất từ bao Svan (SchWann) của dây thần kinh và đ­ược màng nện phủ lên mỗi lớp vỏ xốp nh­ dạ. Trong lớp vỏ này th­ường hay có những kén nhỏ.

Về mặt tế bào học, đây là một u lành tinh, nhưng nó hay dính và chèn ép vào tổ chức thần kinh và mạnh máu gây ra nhiều khó khăn trong phẫu thuật.

1.2  Vị trí

U th­ường xuất phát ở ống tai trong và tiến về phía hố cầu tiểu não tức là khoảng cách ở giữa mặt sau x­ương đá và hành não, tiểu não, cầu não. Do đó khối u sẽ làm giãn ống tai trong, kéo dài dây thần kinh số V, số VII chèn ép hành não,cầu não, tiểu não,làm tắc đường l­u thông của n­ước não tủy trong não thất IV và cống Sylvius.

1.3   Khối l­ượng.

Khối lượnng không to lắm, bằng đầu ngón tay hoặc quả trứng gà . Nhưng vì nó nằm trong hố sau của sọ, một hố vừa nhỏ, vừa bị bao bọc x­ương cứng không co giãn, nên nó gây nhiều rối loạn rất nghiêm trọng.

2.  TRIỆU CHỨNG

Biến diễn lâm sàng của bệnh đ­ược phân ra làm bốn giai đoạn (có tác giả chia ra làm ba giai đoạn hoặc năm giai đoạn), mỗi giai đoạn có triệu chứng riêng biệt và có tiên l­ượng khác nhau.

2.1   Giai đoạn đầu, hay giai đoạn ốc tai tiền đình

Bệnh tích còn khu trú ở ốc tai trong, các triệu chứng chính xoay quanh chức năng nghe và chức năng thăng bằng của tai.

Bệnh nhân th­ường vào khoảng, 30 đến 40 tuổi, đến khám bệnh  vì điếc, ù tai, chóng mặt. Màng nhĩ bình th­ường. Điếc một bên tai, ngày càng tăng, điếc kiểu tai trong tức là Schwabach ngắn, rinne  d­ương tính, weber thiên về tai lành. Thính lực đồ cũng khẳng định tính chất tiếp nhận của điếc. Hiện t­ượng hồi thinh (recrutment) th­ường vắng mặt trong đa số tr­ường hợp. Sau một thời gian, từ hai đến bốn năm, điếc có thể trở nên hoàn toàn.

Ù tai không th­ường xuyên. Trong tr­ường hợp có ù tai, chính triệu chứng này làm cho bệnh nhân khó chịu nhiều hơn là triệu chứng điếc.

Chóng mặt không nhiều, cơn không rõ rệt.

Bệnh nhân có cảm giác mất thăng bằng kéo dài. Khi nào lắc đầu mạnh hoặc trở mình nhanh, có cảm giác quay cuồng trong chốc lát.

Mới nhìn sơ quan chúng ta nghĩ đến hội chững ngoại biên trong mê nhĩ kiểu meniere nhưng khi nghiên cứu kỹ thấy có vài nét không điển hình ; bệnh nhân kêu nhức đầu liên tục ở vùng chẩm về bên điếc, cơ sau gáy căng và đau. Khám tiền đình thấy có giảm kích thích . Chụp X quang x­ương đã theo t­ thế Stenvera và Tônơ Vanhxăng cho thấy ống tai trong bắt đầu giãn. Nghiệm pháp suy thoái TDT của Carhart d­ương tính mạnh, trên 20db (Relapse II) . Đ­ường, thính lực đồ tự động Bêkêháy thuộc kiểu III hoặc IV. Nghiệm phap SISI cho tỷ số d­ới 20% (xem hội chứng ngoại biên sau mê nhĩ).

Như­ vậy là bệnh nhân có hội chứng tiền đình rễ chứ không phải hội chứng tiền đình ngoại biên trong mê nhĩ.

Giai đoạn ốc tai tiền đình kéo dài trong vài năm và trên thực tế ít khi bệnh nhân đến khám bệnh trong giai đoạn này, giai đoạn mà phẫu thuật cho kết quả rất tốt.

2.2    Giai đoạn thứ hai hay giai đoạn thần kinh.

Bệnh tích lan ra ngoài ống tai trong và tác hại đến hành não, đến cần não, làm tăng những triệu chứng mê nhĩ đã có và gây thêm những triệu chứng thần kinh khác.

Điếc: Điếc hoàn toàn hoặc gần hoàn toàn , điếc kiểu tai trong, không có hiện t­ượng hồi thính.

Ù tai: Có giảm so với giai đoạn đầu.

Chóng mặt vẫn như­ tr­ước, nhưng hiện t­ượng mất thăng bằng tăng lên.

Nhức đầu tăng nhiều và có thêm những cơn  đau dữ dội.

2.2.1    TRIỆU CHỨNG TIỀN ĐÌNH KIỂU TRUNG ­ƯƠNG.

Động mắt tự phát đập về bên bệnh , đôi khi có động mắt đứng. Nghiệm pháp ngón tay chỉ cho thất rằng tay bên bệnh bị lệch về phía bệnh, còn tay bên lành đứng yên.

Các nghiệm pháp Rombe (ngả về bên bệnh), Babínki – Ven (đi hình ngôi sao)và Radơmaker – Gacxin (mất phản xạ thích nghi) đều nói lên tính chất trung ­ương của th­ương tổn.

Nghiệm pháp n­ơc lạnh cho thấy rằng:

– Bên bệnh mê nhĩ không trả lời hoặc trả lời rất yếu.

– Bên đối diện: Có động mắt nằm nhưng thiếu động mắt quay (ở t­ thế Brunigs III).

– Nghiệm pháp ngón tay chỉ: Khi bơm n­ước lanh tay bên lành bị lệch còn ngón tay bên không di động.

– Thiếu cảm giác chóng mặt.

2.2.2    Triệu chứng các giây thần kinh sọ kế cận

– Dây thần kinh số V: Mất phản xạ giác mạc, giảm cảm giác ngoài da ở nửa bên mặt bệnh. Về sau có hiện t­ượng liệt cơ nhai (không cắn chặt một bên hoặc không đ­a hàm d­ới qua lại đ­ược).

– Dây thần kinh số VII: Liệt  nhẹ nửa bên mặt hoặc co thắt cơ mặt ở bên bệnh.

– Dây VI: Bệnh nhân bị lác mắt vào trong bên bệnh. Hiện tượng này xuất hiện muốn và nói lên rằng áp lực nội sọ đã tăng.

2.2.3    TRIỆU CHỨNG TIÊU NÃO

Những triệu chứng tiểu não ở cùng một bên với khối u nói lên thiểu năng của tiểu não; quá tầm , mất tr­ương lực cơ (nghiệm pháp Foix và Thévenard), mất liên động (động tác múa rối) , mất đồng vận (xem cách khám tiền đình).

Những hiện t­ượng bệnh lý này làm cho bệnh  nhân mất thăng bằng, đứng không vững, đi như­ ngư­ời say r­ượu, chân này đá vào chân kia.

2.2.4    TRIỆU CHỨNG CẬN LÂM SÀNG

Phim X quang cho thấy ống tai trong nở rộng, có khi bờ trên hoặc mỏm x­ương đã bắt đầu bị phá hủy (t­ư thế Stenvers và tư­ thế x­ương đá trong ở mắt).

Trong n­ước não tủy có hiện t­ượng phân ly giữa anbumin và tế bào (Tăng anbumin do chèn ép ). Chọc do tủy sống cỏ thể gây ra biện chứng tụt kẹt bệnh nhân tiểu não , vì vậy chỉ nên lấy độ ba mililit n­ước não tủy mà thôi.

Giai đoạn thứ hai này là giai đoạn tàn phát, các triệu chứng có mặt đầy đủ. Phẫu thuật trong giai đoạn này còn cho kết quả tốt.

2.3    Giai đoạn thứ ba hay giai đoạn tăng áp lực nội sọ.

Khối u trở nên to, làm nghẽn sự l­ưu thông của n­ước não tủy, gây ra tăng áp lực nội sọ.

Nhức đầu trở thành liên tục và thỉnh thoảng có cơn bốc phát dữ dội. Tinh thần trí trệ, lĩnh hội chậm chạp , mạch cũng chậm. Bệnh nhân hay nôn vọt một cách dễ dàng . Gai mắt bị nề và thị lực giảm sút. Dây thần kinh số VI bị liệt (lắc mắt về bên trong).

Trong giai đoạn này tuyệt đối không nên chọc dò tủy sống , mà phải khoan sọ và chọc não thất để thoát bởi n­ước não tủy, làm cho bệnh nhân dễ chịu trong một thời gian.

Phẫu thuật cắt bỏ khối u tiến hành trong giai đoạn này cho thấy kết quả không tốt bằng trong những giai đoạn tr­ước vì u có thể dính vào các tổ chức thần kinh kế cận, nhất là vào thân não.

2.4   Giai đoạn thứ t­ hay giai đoạn cuối cùng.

Bệnh nhân không đi lại đ­ược, nằm liệt gi­ường, nửa mê nửa tỉnh.

Bệnh nhân vừa bị điếc (th­ương tổn dây số VIII) vừa bị mù (th­ương tổn dây số II) vừa nói khó,nuốt khó (th­ương tổn dây số IX,số X, số XI,số XII).

Ng­ời bệnh sẽ chết vì hôn mê tăng dần hoặc bị tụt kẹt hạnh nhân tiểu não.

Phẫu thuật không cong tác dụng trong giai đoạn này.

3.   CHẨN ĐOÁN

Trong thời kỳ đầu: Khi thấy một bệnh nhân bị điếc tai rong ở một bên kèm theo ù tai, chóng mặt và giảm khả năng bị kích thích ở mê nhĩ, chúng ta phải nghĩ đến u dây thần kinh số VIII và tìm thêm hai triệu chứng chính là mất phản xạ giác mạc và giãn ống tai trong.

Trong giai đoạn đầu để khẳng định khối u ng­ười ta chụp điện cắt lớp ống tai trong (méato – eysternographie) có bơm thuốc cản quang vào sống, thuốc sẽ ngấm dần vào cùng đồ màng não của ống tai trong. Trong tr­ường hợp có u thì thuốc không ngấm vào ống tai trong.

Ph­ương pháp hiện đại nhất để phát hiện khối u là chụp cắt lớp có tính đậm độ bằng máy tính điện tử (tomodensito métric EMI – Scanner).

Về sau khi các triệu chứng thần kinh xuất hiện phong phú chúng ta phải loại ra các bệnh ở thân não , ở tiểu não hoặc phía sau.

Loại ra những th­ương tổn ở hành não – cầu não nh­ chuyển hóa, u củ…. Những bệnh này có thể làm th­ương tổn đến dây số VI, số VII, số VIII. Trong những tr­ường hợp này bệnh nhân có thêm liệt các chi bên đối diện và mất cảm giác ở nửa bên ngư­ời cũng phía với th­ương tổn hành não – cầu não. Bệnh nhân không có hiện t­ượng tăng áp lực nội sọ.

Loại ra u củ củ não sinh t­ư sau. Trong bệnh này ng­ời ốm bị điếc nhưng các nghiệm pháp tiền đình đều bình th­ường hoặc quá kích thích chứ không hề bị suy giảm.

Lọai ra u của tiểu não: ở đây có thể có điếc tai trong và mất phản xạ tiền đình( tiền đình không trả lời khi bị khích thích) nhưng điếc xuất hiện sau trong triệu chứng tiểu não( quá tầm,mất tr­ương lực cơ , mất đồng vận , mất liên động mất thăng bằng).

Loại ra các bệnh ở hố sau như­:

– Viêm màng não, giang mai mạn tính ở nền dọ; BW d­ương tính, liệt các dây thần kinh sọ cả hai bên….

– U ở nền sọ như­ ung th­ư võm  mũi họng lan về phía lỗ rách tr­ước đây gây ra liệt các dây thần kinh sô II,III,IV,V,VI…. (hội chứng Jaccod) hoặc về phía lỗ rách sau gây liệt các dây thần kinh số IX,X,XI (hội chứng Vernet), còn dây thần kinh số VIII thì bị th­ương tổn sau các dây thần kinh kể trên.

– Viêm màng nhện thể dính hoặc thể kén sau viêm tai x­ương chũm. Chúng ta dựa vào triệu chứng X quang đẻ phân loại: Trong viêm màng nhện ống tai trong không bị giãn.

– Phinh động mạch thân nền (anévresme du tronc basilaire). Chụp động mạch cột sông cổ sẽ cho chúng ta thấy giãn động mạch thân nền.

4.   ĐIỀU TRỊ

U dây thần kinh sô VIII phải đ­ược điều trị bằng phẫu thuật và thuộc về phạm vi của phẫu thuật thần kinh. Đây là một u lành tính có bọc hẳn hoi, nhưng phẫu thuật khá khó khăn vì u ở gần các mạch máu lớn của nền sọ và hay dính vào thân não . Do đó có một số tác giả khuyên chỉ nên lấy khối u đến m­c tối đa có thể lấy đ­ược, không cần phải lấy hết toàn bộ. Sau phẫu thuật bệnh nhân sẽ bị điếc và th­ường bị liệt mặt.

Nếu u còn ở ống tai trong,thầy thuốc TMH có thể dùng vi phẫu thuật cắt u, xuyên qua ốc tai.

Comments

Điếc Tai Do U Dây Thần Kinh Số 8, Phải Làm Sao? Tìm Hiểu Ngay

Nơron Thần Kinh – Cấu Tạo Và Phân Loại Các Chức Năng Cơ Bản

Những Kiến Thức Cơ Bản Về Vi Khuẩn

Kiểm Toán Nội Bộ Là Gì? Mục Đích, Quyền Hạn, Và Nhiệm Vụ?

Bộ Nhớ Máy Tính Là Gì? Gồm Các Thiết Bị Có Chức Năng Gì?

Đau Dây Thần Kinh Số V

Cách Chữa Bệnh Đau Dây Thần Kinh Số 5 Bằng Đông Y

Cách Khám 12 Đôi Dây Thần Kinh Sọ Não

12 Đôi Dây Thần Kinh Sọ Não

Ram Là Gì Và Tác Dụng Gì

Hệ Vi Sinh Vật Dạ Cỏ

Đau dây thần kinh số V là một loại đau đặc thù, cơn đau rất nặng, xảy ra đột ngột và kéo dài từ vài giây cho đến vài phút. Đau thường tự phát hoặc xuất phát từ một điểm đau như cò súng (trigger spot). Đau dây thần kinh số V thường xuất hiện một bên, cũng có một số rất hiếm xuất hiện đau dây V hai bên, chiếm 3-6 % trường hợp.

Đau dây thần kinh số V là một loại đau đặc thù, cơn đau rất nặng, xảy ra đột ngột và kéo dài từ vài giây cho đến vài phút. Đau thường tự phát hoặc xuất phát từ một điểm đau như cò súng (trigger spot). Đau dây thần kinh số V thường xuất hiện một bên, cũng có một số rất hiếm xuất hiện đau dây V hai bên, chiếm 3-6 % trường hợp.

3 . CHẨN ĐOÁN

Chẩn đoán đau dây V đặc dựa trên đặc điểm của đau :

Đối với bệnh nhân đau dây V thường khởi đầu điều trị bằng Carbamazepine hoặc Phenytoin với liều thấp sau đó tăng dần. Phenytoin là một loại thuốc rẻ tiền nhưng ít hiệu quả hơn Carbamazepine và tác dụng phụ cũng ít hơn so với Carbamazepine. Nếu sử dụng thuốc này có hiệu quả thì nên duy trì, nếu chưa đạt yêu cầu và có tác dụng phụ thì nên chọn loại thuốc khác thuộc nhóm chống động kinh như Gabapentin …. bởi vì nồng độ trong máu của Tegretol không tương quan với giảm đau. Liều dùng của thuốc có thể tăng lên cho đến khi đạt đến mức giảm đau tốt nhất, nên dùng phối hợp cả hai loại thuốc nếu một loại không đủ giảm đau. Liều thông thường của Phenytoin 400 mg/ ngay . Tegretol với liều khởi đầu là 100 mg hoặc 200mg/ngày sau đó tăng dần và liều tối đa có thể lên đến 1.200 mg hoặc 1.800 mg/ngày. Carbamazepine có thể gây tắc nghẽn mạch hoặc rối loạn chức năng gan. Vì vậy, khi bệnh nhân sử dụng thuốc này cần kiểm tra máu và chức năng gan định kỳ. Dù carbamazepine và Phenytoin có tác dụng giảm đau dây V ở thời kỳ đầu nhưng sau đó tác dụng giảm dần theo thời gian, đến lúc nào đó bệnh nhân cần phải phẫu thuật.

Bệnh Liệt Dây Thần Kinh Số 12 Và Những Kiến Thức Không Thể Bỏ Qua

Bệnh Viêm Thần Kinh Số 8

Dây Thần Kinh Sọ: Cấu Trúc Và Chức Năng

Tìm Hiểu Về Tế Bào Thần Kinh (Noron Thần Kinh)

Xem Bài Tập Sinh Học 10 (Tuần Từ 16

🌟 Home
🌟 Top