Chức Năng Của Ngành Kiểm Sát / Top 8 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 2/2023 # Top View | Phauthuatthankinh.edu.vn

Chức Năng Nhiệm Vụ Của Ngành Kiểm Sát

Thứ ba – 26/08/2014 17:27

THEO TINH THẦN CẢI CÁCH TƯ PHÁP

Cải cách tư pháp là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta. Các văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, VII, VIII, IX và X của Đảng; đặc biệt Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới và Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã thể hiện rõ quyết tâm của Đảng và Nhà nước ta đối với nhiệm vụ cải cách tư pháp, tạo bước chuyển mới trong nhận thức và hành động của các cơ quan tư pháp. Một trong những nội dung trọng tâm của công cuộc cải cách tư pháp ở nước ta là cải cách hệ thống cơ quan Viện kiểm sát nhân dân. Do vậy, vấn đề cải cách hay bàn về tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân thời gian qua đã thu hút được sự quan tâm nghiên cứu và trao đổi của nhiều nhà khoa học và chỉ đạo thực tiễn trong và ngoài ngành Kiểm sát.

Riêng về chức năng, nhiệm vụ của ngành Kiểm sát nhân dân hiện nay cũng còn có những ý kiến khác nhau. Có ý kiến cho rằng, Viện kiểm sát chỉ tập trung thực hiện tốt chức năng công tố; ý kiến khác cho rằng, Viện kiểm sát giữ nguyên chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp như hiện nay; nhưng có ý kiến lại cho rằng, phải mở rộng nhiệm vụ của Viện kiểm sát hơn nữa, ngoài thực hành quyền công tố phải mở rộng chức năng, nhiệm vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật như ngành Kiểm sát đã thực hiện từ những năm 1960 đến 2002. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi xin nêu lên một số suy nghĩ của cá nhân về chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát theo tinh thần cải cách tư pháp như sau:

Mỗi cơ quan Nhà nước cần phải có một chức năng, nhiệm vụ riêng. Sự phân công càng rành mạch, cụ thể thì hiệu quả quản lý Nhà nước sẽ đạt kết quả càng cao và phát huy cao độ vai trò của cơ quan đó ở từng lĩnh vực, từng ngành, từng cấp. Nếu không sẽ xảy ra tình trạng là ở một lĩnh vực nào đó có nhiều cơ quan cùng làm dẫn đến sự chồng chéo, hoặc là có lĩnh vực bị bỏ trống, hoặc bị buông lỏng sự quản lý của Nhà nước dẫn đến tình trạng “kỷ cương phép nước” không nghiêm, pháp luật bị vi phạm, sự thống nhất trong quản lý Nhà nước bị phá vỡ… mà không có một cơ quan nào chịu trách nhiệm. Do vậy, việc làm rõ chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát theo tinh thần cải cách tư pháp có ý nghĩa rất quan trọng.

1. Về chức năng thực hành quyền công tố

Các nhà khoa học về lịch sử Nhà nước và pháp luật đã chỉ ra rằng, chế định công tố được hình thành và hoàn thiện dần cùng với sự hoàn thiện và phát triển của tố tụng hình sự. Lúc đầu, trong Nhà nước Hy Lạp và La Mã cổ đại, người bị hại là người buộc tội và có nghĩa vụ chứng minh lời buộc tội của mình, nhưng do hoạt động của họ rất khó khăn, nên sau này việc truy cứu trách nhiệm hình sự được chuyển cho Nhà nước, do các viên chức của nhà Vua tiến hành. Viện công tố đầu tiên xuất hiện ở Pháp (năm 1302) với tư cách là cơ quan đại diện của nhà Vua, có nhiệm vụ phát hiện và đưa các vụ việc vi phạm pháp luật của nhà Vua đến Toà án để xử lý và tác động sao cho quyết định của Toà án có lợi cho Nhà nước. Cho đến nay, ở hầu hết các quốc gia, dù với tên là Viện công tố hay Viện kiểm sát, hoặc được bổ sung thêm chức năng, nhiệm vụ tham gia hoạt động ở mức độ nhất định trên lĩnh vực dân sự, hành chính, thương mại, thi hành án và giam giữ cải tạo; nhưng hầu hết các nước trên thế giới đều giao cho cơ quan này là cơ quan đại diện của Nhà nước thực hiện nhiệm vụ buộc tội trong tố tụng hình sự. Do vậy, có ý kiến cho rằng chức năng buộc tội trong tố tụng hình sự – chức năng thực hành quyền công tố là chức năng vốn có của Viện công tố(1).

Ở Việt Nam, từ thời Pháp thuộc, Viện công tố đã được thành lập, mô hình này tiếp tục tồn tại sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 trong cơ cấu hệ thống tổ chức của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà. Hiến pháp năm 1946 tuy không đề cập đến Viện công tố nhưng trong cơ cấu của Toà án có các Công tố viên làm nhiệm vụ buộc tội nhân danh Nhà nước trước phiên toà trong các vụ án hình sự. Sau ngày hoà bình lập lại ở miền Bắc, từ năm 1958, Viện công tố được tách ra khỏi Toà án nhưng trực thuộc Chính phủ và hình thành một hệ thống cơ quan Nhà nước độc lập với Toà án từ Trung ương tới địa phương. Hoạt động chủ yếu của Viện công tố vẫn là hoạt động công tố trước Toà án. Sau này, do yêu cầu của công cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc là pháp luật phải được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất, nên theo quy định của Hiến pháp năm 1959 một loại hình cơ quan Nhà nước mới trong bộ máy Nhà nước được hình thành. Đó là hệ thống cơ quan Viện kiểm sát ngoài chức năng công tố, Viện kiểm sát các cấp còn thực hiện một chức năng thứ hai là kiểm sát việc tuân theo pháp luật. Hiến pháp năm 1980, Hiến pháp năm 1992 tuy có sửa đổi một số quy định về tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát, nhưng chức năng công tố, vẫn giao cho Viện kiểm sát đảm nhiệm. Đặc biệt, Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2002) quy định cụ thể Viện kiểm sát “thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp”. Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 vẫn khẳng định: “Viện kiểm sát nhân dân giữ nguyên chức năng như hiện nay là thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp”. Như vậy, ở Việt Nam chức năng thực hành quyền công tố từ trước đến nay vẫn luôn được giao cho Viện kiểm sát thực hiện.

2. Về chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp

Các nhà khoa học về lịch sử Nhà nước và pháp luật cũng chỉ ra rằng, hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật không phải chỉ xuất hiện sau Cách mạng tháng Mười Nga (1917) khi Lênin xây dựng Nhà nước Xô Viết – một Nhà nước kiểu mới, mà đã có từ thời Vua Pier Đệ nhất (1772), khi yêu cầu củng cố quyền lực của nhà Vua, nhu cầu cần có sự quản lý Nhà nước mạnh mẽ. Viện công tố với chức năng giám sát, có nhiệm vụ kháng nghị các quyết định và hành vi trái pháp luật của bất kỳ cơ quan và quan chức nào, thông báo cho nhà Vua về những vi phạm pháp luật được phát hiện. Viện công tố ở Nga được nhìn nhận không chỉ là một cấu trúc quản lý thuận tiện, hợp lý mà trước hết là sức mạnh gắn kết Nhà nước, là nền tảng cho pháp chế thống nhất, là trật tự pháp luật. Hoạt động chủ yếu của Viện công tố Nga lúc này là giám sát sự tuân thủ pháp luật trong Nhà nước, còn hoạt động buộc tội trước Toà án chỉ là một trong những chức năng của Viện công tố.

Sau Cách mạng Tháng Mười Nga thành công, khi thấy được vai trò to lớn của pháp luật và pháp chế đối với sự tồn tại, củng cố và lớn mạnh của chính quyền Xô Viết thì vấn đề tuân thủ pháp luật của Nhà nước Trung ương được đặt ra một cách thiết thực và gay gắt. V.I. Lênin tiếp thu, phát triển từ mô hình Viện công tố Nga trước đây khi mở rộng phạm vi hoạt động kiểm sát tuân theo pháp luật và lập nên mô hình Viện kiểm sát, coi hoạt động kiểm sát tuân theo pháp luật như là chức năng thuộc tính của Viện kiểm sát. Trải qua thực tiễn, mô hình Viện kiểm sát ở Liên Xô (cũ) đã phát huy tác dụng rất lớn. Hầu hết các nước khu vực Đông Âu và các nước khác khi xây dựng Nhà nước kiểu mới cũng lấy mô hình Viện kiểm sát – với đặc thù là cơ quan bảo đảm pháp chế thống nhất trong phạm vi cả nước – để tổ chức bộ máy các cơ quan Nhà nước của mình.

Sau khi Liên Xô (cũ) sụp đổ, mô hình Viện kiểm sát của V.I. Lênin đã phải đương đầu với nhiều thách thức, nhưng đến nay, về cơ bản mô hình Viện kiểm sát vẫn tồn tại ở nước Nga và một số nước khác. Các chức năng kiểm sát của Viện kiểm sát vẫn được duy trì. Hiến pháp Thổ Nhĩ Kỳ ghi nhận: Viện công tố có quyền khởi tố vụ án, quyền bảo đảm sự tuân thủ pháp luật trong hoạt động của các cơ quan Nhà nước và công dân, về sự phù hợp của các điều ước quốc tế với luật pháp quốc gia, kháng nghị với bất kỳ bản án trái pháp luật nào của Toà án, kiểm sát hoạt động của Cảnh sát tư pháp, soạn thảo chính sách hình sự và phòng ngừa tội phạm. Hiến pháp của Brazin năm 1988 đã sửa theo hướng khẳng định vai trò của Viện công tố, nó không chỉ có thẩm quyền buộc tội nhân danh Nhà nước mà còn giám sát hành chính, bảo đảm tuân thủ quyền tự do của công dân, bảo vệ lợi ích xã hội. ở nhiều nước châu Âu, ngoài việc phát hiện vi phạm pháp luật, tội phạm thì Viện công tố còn có một số chức năng giám sát tuân theo pháp luật và chức năng này đang có xu hướng mở rộng. Hội thảo “Viện công tố ở châu Âu trong thế kỷ 21” đã kết luận: “Nếu chỉ có lĩnh vực hình sự thì quá hạn chế do vậy nên nhìn nhận vai trò của Viện công tố trong lĩnh vực pháp luật dân sự, thương mại và xã hội. Hơn nữa, với mục đích bảo đảm sự phản ứng hiệu quả trước hiện tượng tội phạm cần nghiên cứu khả năng hoạt động của Viện công tố trong lĩnh vực thuế, tài chính, hành chính và các lĩnh vực khác…”(2).

Ở Việt Nam, theo Hiến pháp năm 1959 và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1960, Viện kiểm sát chính thức được thành lập, cơ quan Viện kiểm sát đã ra đời thay thế cho mô hình Viện công tố, ngoài chức năng thực hành quyền công tố, Viện kiểm sát còn có chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các bộ, cơ quan ngang bộ, các cơ quan khác thuộc Chính phủ, cơ quan chính quyền địa phương, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang và công dân.

Hiến pháp năm 1980, Hiến pháp năm 1992 vẫn khẳng định Viện kiểm sát là cơ quan “bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất”, nhưng phạm vi hoạt động đã có sự thu hẹp. Từ chỗ là nhân tố chính “bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất”, thì nay hoạt động của Viện kiểm sát chỉ là “góp phần” cho quá trình đó mà thôi và mô hình tổ chức cũng có sự thay đổi. Theo Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) thì phạm vi hoạt động của Viện kiểm sát chỉ còn “thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp”.

Thực hiện Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 và để có cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc quyết định về chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát, theo chúng tôi, ngoài việc nâng cao chất lượng công tác thực hành quyền công tố, ngành Kiểm sát phải làm tốt nhiệm vụ kiểm sát các hoạt động tư pháp. Trong đó, tập trung vào kiểm sát chặt chẽ việc tiếp nhận, giải quyết các tin báo, tố giác về tội phạm và kiến nghị khởi tố; tăng cường kiểm sát các hoạt động tư pháp trong việc giải quyết các vụ, việc dân sự, kinh doanh, thương mại, lao động, các vụ án hành chính và các việc khác theo quy định của pháp luật; đổi mới, nâng cao chất lượng công tác kiểm sát thi hành án. Đồng thời phải xây dựng được mô hình tổ chức bộ máy gọn nhẹ, nhưng tinh nhuệ; trong đó tập trung vào củng cố đội ngũ cán bộ của cơ quan Viện kiểm sát nhân dân tối cao, làm cho đội ngũ cán bộ này có đủ “tầm” để hướng dẫn chỉ đạo hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát các địa phương. Mặt khác, theo định hướng tăng thẩm quyền cho cấp huyện thì phải tập trung lực lượng cho Viện kiểm sát cấp huyện để đủ sức xử lý những công việc trực tiếp thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp.

Hiện nay, nhiệm vụ kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong lĩnh vực quản lý Nhà nước về kinh tế – hành chính không giao cho Viện kiểm sát đảm nhiệm, nhưng theo chúng tôi, muốn giữ gìn kỷ cương phép nước tốt, làm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh thì cần phải có một lực lượng làm nhiệm vụ giám sát việc tuân theo pháp luật của các cá nhân, cơ quan, tổ chức; nhất là trong giai đoạn hiện nay chúng ta đang thực hiện nhiệm vụ xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, thực hiện nhiệm vụ đấu tranh phòng, chống vi phạm và tội phạm, nhất là cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tạo môi trường tốt cho hoạt động đầu tư nước ngoài. Mặt khác, một đất nước muốn phát triển mạnh mẽ, hùng cường thì trước hết chính quyền Trung ương phải mạnh, đủ sức để lãnh đạo, chỉ đạo thống nhất, không để tình trạng manh mún, địa phương hoạt động không nằm trong quỹ đạo chung của đất nước. Do vậy, vẫn cần phải đẩy mạnh hoạt động giám sát việc tuân theo pháp luật của tất cả các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội và mọi công dân.

Vậy, cơ quan nào có thể thực hiện được nhiệm vụ này? Chúng tôi đồng tình với quan điểm cho rằng cần giao cho Viện kiểm sát thực hiện chứng năng này như đã từng thực hiện từ khi thành lập (1960) đến năm 2002(3). Việc giao như vậy sẽ có một số lợi thế:

+ Viện kiểm sát là một hệ thống cơ quan Nhà nước độc lập với các cơ quan hành pháp, tư pháp. Viện kiểm sát các cấp chịu sự lãnh đạo chỉ đạo thống nhất của Viện trưởng Viện kiểm sát tối cao, nên có khả năng rất cao trong việc loại trừ sự lạm dụng quyền hạn hành chính, kép kín, cục bộ địa phương…

+ Chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật đã được Nhà nước ta giao cho Viện kiểm sát từ năm 1960 đến năm 2002. Viện kiểm sát các cấp đã trải qua nhiều năm tổ chức, hoạt động và có đội ngũ cán bộ Kiểm sát viên có bề dày kinh nghiệm về lĩnh vực này.

+ Chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật có mối quan hệ khăng khít, hỗ trợ lẫn nhau. Hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong lĩnh vực quản lý Nhà nước về kinh tế – hành chính có tính phòng ngừa, ngăn chặn, răn đe tội phạm rất cao và có mối quan hệ trực tiếp đến hiệu quả đấu tranh chống tội phạm vì khả năng phát hiện tội phạm rất lớn và loại bỏ những hành vi buông lỏng kỷ cương phép nước, nhất là khi những hành vi có dấu hiệu tội phạm nhưng chỉ bị xử lý nội bộ, xử lý hành chính… Kết quả hoạt động kiểm sát trong lĩnh vực quản lý Nhà nước về kinh tế, hành chính là một kênh thông tin vô cùng quan trọng cho Viện kiểm sát chủ động thực hiện chức năng thực hành quyền công tố, như quyết định khởi tố vụ án, truy cứu trách nhiệm hình sự của những người phạm tội, ngăn chặn hậu quả của tội phạm một cách kịp thời, chủ động trong đấu tranh phòng, chống tội phạm; không phải là tình trạng thụ động chờ để “tiếp nhận tin báo, tố giác tội phạm do cá nhân, cơ quan, tổ chức và kiến nghị khởi tố do cơ quan Nhà nước chuyển đến và có trách nhiệm chuyển ngay các thông tin, tài liệu đã tiếp nhận cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền”(4). Chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật và nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát đã tạo cho Viện kiểm sát có những lợi thế hơn hẳn bất kỳ cơ quan Nhà nước nào trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng.

Qua nghiên cứu tham khảo về tổ chức và hoạt động của Viện công tố một số nước trên thế giới và qua thực tiễn xây dựng và phát triển ngành Kiểm sát thời gian qua, chúng tôi đề nghị Đảng và Nhà nước ngoài việc tiếp tục giao cho Viện kiểm sát chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp, cần tiếp tục nghiên cứu để tiến tới có thể giao lại nhiệm vụ kiểm sát việc tuân theo pháp luật cho Viện kiểm sát./.

Công Tác Của Ngành Kiểm Sát Quân Sự Trong Giai Đoạn Mới

Trần Phước Tới

                                            Phó Viện trưởng VKSND tối cao

                                          Viện trưởng VKS Quân sự Trung ương

I. KHÁI QUÁT VỀ TỔ CHỨC, HOẠT ĐỘNG CỦA NGÀNH KIỂM SÁT QUÂN SỰ THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH.

Thực hiện Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1960 và Quyết nghị của Thường trực Quân uỷ Trung ương, ngày 12 tháng 5 năm 1961 hệ thống Viện kiểm sát quân sự được thành lập theo Thông tri số 06-TT-H của Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam, với 18 Viện kiểm sát quân sự, được tổ chức theo hai cấp: Viện kiểm sát quân sự Trung ương và 17 Viện kiểm sát quân sự cơ sở; đội ngũ cán bộ phần lớn được chuyển từ cán bộ chính trị, quân sự, chưa qua đào tạo chuyên môn nghiệp vụ kiểm sát; trụ sở của Viện kiểm sát quân sự được bố trí trong doanh trại cùng các cơ quan đơn vị khác, hoạt động nghiệp vụ dựa vào nguồn ngân sách Quốc phòng.

 Sau khi có Pháp lệnh tổ chức Viện kiểm sát quân sự 1985, hệ thống Viện kiểm sát quân sự được tổ chức theo 3 cấp, đồng bộ với hệ thống Viện kiểm sát nhân dân, gồm Viện kiểm sát quân sự Trung ương, các Viện kiểm sát quân sự quân khu và tương đương, các Viện kiểm sát quân sự khu vực. Về chuyên môn, Viện kiểm sát quân sự được tổ chức, hoạt động theo nguyên tắc tập trung thống nhất, lãnh đạo theo ngành: Viện kiểm sát quân sự do Viện trưởng lãnh đạo; Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự cấp dưới chịu sự lãnh đạo của Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự cấp trên; Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự các cấp chịu sự lãnh đạo thống nhất của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Về hành chính quân sự, Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự Trung ương chịu sự lãnh đạo, chỉ đạo điều hành của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị; Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự các cấp chịu sự chỉ huy của người chỉ huy đơn vị nơi Viện kiểm sát quân sự đặt trụ sở. Về công tác Đảng, ngành Kiểm sát quân sự chịu sự lãnh đạo trực tiếp về mọi mặt của Quân uỷ Trung ương; Đảng bộ Viện kiểm sát quân sự Trung ương thuộc Đảng bộ Tổng cục Chính trị; Đảng bộ Viện kiểm sát quân sự quân khu và tương đương gồm có chi bộ Viện kiểm sát quân sự quân khu (và tương đương), các chi bộ Viện kiểm sát quân sự Khu vực thuộc đảng bộ Cục chính trị quân khu và tương đương.

 Đến nay, toàn ngành Kiểm sát quân sự có 51 Viện kiểm sát, gồm Viện kiểm sát quân sự Trung ương, 16 Viện kiểm sát quân sự quân khu và tương đương, 34 Viện kiểm sát quân sự khu vực. Đội ngũ cán bộ Kiểm sát viên Viện kiểm sát quân sự theo biên chế là 528 quân nhân, hiện có 471, thiếu 57; có 99,17% trình độ Cử nhân luật trở lên, trong đó 8,35% trình độ Thạc sỹ luật (Viện kiểm sát quân sự Trung ương có 30% trình độ Thạc sỹ luật). Cơ sở vật chất, kinh phí bảo đảm cho hoạt động kiểm sát ngày càng được nâng lên. Về cơ bản các Viện kiểm sát quân sự đều có trụ sở độc lập (riêng các Viện kiểm sát quân sự khu vực của quân đoàn do quân số ít, đóng quân cùng địa điểm với Viện Kiểm cấp thứ hai nên không xây trụ sở riêng).

Thực hiện Nghị quyết 08-NQ/TW, Nghị quyết 49-NQ/TW của Bộ Chính trị và các Nghị quyết của Đảng uỷ quân sự Trung ương; Chỉ thị, Kế hoạch của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Quốc phòng về cải cách tư pháp, hàng năm ngành Kiểm sát quân sự đều xây dựng Chương trình hành động với các nội dung, biện pháp cụ thể để nâng cao chất lượng công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp, nâng cao chất lượng công tác nghiên cứu khoa học, chất lượng đội ngũ cán bộ, kiểm sát viên. Nhờ áp dụng tổng hợp các biện pháp nên chất lượng các mặt công tác của các Viện kiểm sát quân sự ngày càng được nâng cao, không để xảy ra oan sai phải bồi thường theo Nghị quyết 388 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội và Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước. Thực hiện Nghị quyết của Quốc hội về tăng thẩm quyền cho cấp khu vực, từ 01/7/2004, ngành Kiểm sát quân sự đã thực hiện thẩm quyền mới cho 100% các Viện kiểm sát quân sự khu vực. Đến nay các Viện kiểm sát quân sự khu vực đều thực hiện tốt thẩm quyền mới, hằng năm giải quyết gần 90% án sơ thẩm, từ đó các Viện kiểm sát quân sự quân khu và tương đương, các Phòng nghiệp vụ của Viện kiểm sát quân sự Trung ương có nhiều thời gian, điều kiện nghiên cứu, hướng dẫn, chỉ đạo nâng cao nghiệp vụ cho các Viện cấp dưới. Công tác nghiên cứu, ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ nhiệm vụ chuyên môn, đáp ứng yêu cầu về cải cách tư pháp được ngành Kiểm sát quân sự hết sức quan tâm. Trong những năm qua, nhiều đề tài, đề án đã được nghiên cứu, triển khai thực hiện như: Đề tài “Đổi mới tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát quân sự các cấp đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp”; “Nâng cao chất lượng công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp của các Viện kiểm sát quân sự đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp”, “Đề án Mô hình tổ chức, biên chế các Viện kiểm sát quân sự”, “Đề án bồi dưỡng, huấn luyện kỹ năng nghiệp vụ cho cán bộ kiểm sát quân sự giai đoạn 2011 – 2020” và đặc biệt, Viện kiểm sát quân sự Trung ương đã triển khai xây dựng Trung tâm huấn luyện nghiệp vụ ngành kiểm sát quân sự, dự kiến, sau năm 2012 sẽ đưa vào hoạt động để triển khai thực hiện các nội dung của Đề án bồi dưỡng, huấn luyện kỹ năng nghiệp vụ cho cán bộ kiểm sát quân sự giai đoạn 2011 – 2020.

II. TỔ CHỨC, HOẠT ĐỘNG CỦA VIỆN KIỂM SÁT QUÂN SỰ TRONG GIAI ĐOẠN MỚI

Tiếp tục quán triệt, thực hiện nội dung các Nghị quyết, Chỉ thị của Bộ Chính trị về cải cách tư pháp, về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác điều tra, xử lý các vụ án; công tác đấu tranh phòng chống tội phạm và các Quyết định, Kế hoạch, Chương trình của Chính phủ, của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Quốc phòng mà gần đây nhất là các Kế hoạch số 04-KH/BCS ngày 30/8/2010 của Ban cán sự đảng Viện kiểm sát nhân dân tối cao thực hiện Kết luận 79-KL/TW; Kế hoạch công tác kiểm sát thực hiện Chương trình quốc gia phòng, chống tội phạm số 11/KH-VKSTC-VP ngày 10/3/2011 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao; Kế hoạch số 332/KH-CCTP ngày 14/02/2011 của Bộ Quốc phòng thực hiện Nghị quyết 67/NQ-ĐUQSTƯ về thực hiện chiến lược cải cách tư pháp trong quân đội đến năm 2020 (giai đoạn 2011-2015); ý kiến của Quân uỷ Trung ương về triển khai các Đề án đổi mới về tổ chức và hoạt động của các Cơ quan tư pháp trong quân đội cũng như căn cứ vào tổ chức quân đội, nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, tổ chức, hoạt động và công tác của Viện Kiểm sát quân sự  giai đoạn mới như sau:

2.1. Dự kiến mô hình tổ chức, biên chế, hoạt động của Viện kiểm sát quân sự các cấp trong giai đoạn mới.

2.1.1. Dự kiến mô hình tổ chức, biên chế của Viện kiểm sát quân sự các cấp.

Trên cơ sở các quy định về cải cách tư pháp và đặc điểm tổ chức quân đội trong giai đoạn mới, hệ thống Viện kiểm sát quân sự giai đoạn 2011-2015 dự kiến được tổ chức 3 cấp, theo định hướng: Các Viện kiểm sát quân sự chủ yếu được tổ chức tại các Quân khu (phù hợp với tổ chức của Toà án quân sự và nguyên tắc xét xử theo địa bàn quản hạt) và một số đơn vị có tính chất đặc biệt như các Quân chủng và Bội đội biên phòng.

Sau 2015 dự kiến chỉ tổ chức các Viện kiểm sát theo địa bàn các Quân khu, khu vực.

2.1.2. Về hoạt động của Viện kiểm sát quân sự trong giai đoạn mới.

Trên cơ sở Kết luận 79-KL/TW của Bộ Chính trị, các cơ quan có thẩm quyền sẽ xây dựng các dự án Luật, Pháp lệnh điều chỉnh hoạt động của các Viện kiểm sát quân sự. Tuy nhiên, theo tinh thần đổi mới về tổ chức và hoạt động các cơ quan tư pháp của Kết luận 79-KL/TW Bộ Chính trị thì hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát quân sự như sau:

– Các Viện kiểm sát quân sự khu vực sẽ thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp hầu hết các vụ án hình sự.

– Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu và tương đương thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp đối với các vụ án thuộc thẩm quyền xét xử của Toà án quân sự cấp quân khu; thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm các bản án, quyết định sơ thẩm của Toà án quân sự Khu vực; không thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp giai đoạn giám đốc thẩm, tái thẩm.

– Viện kiểm sát quân sự Trung ương thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm các bản án, quyết định sơ thẩm của Toà án quân sự cấp quân khu; thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp giai đoạn giám đốc thẩm, tái thẩm các bản án, quyết định của Toà án quân sự cấp quân khu và khu vực đã có hiệu lực pháp luật nhưng lại có kháng nghị. 

2.2. Những yêu cầu đặt ra đối với các mặt công tác của Viện kiểm sát quân sự trong giai đoạn mới.

2.2.1. Công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp.

– Công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử:

Phối hợp với các cơ quan tư pháp và cấp uỷ, chỉ huy các đơn vị đấu tranh ngăn chặn, làm giảm tình hình tội phạm trong quân đội, nhất là các loại tội nghiêm trọng, tội phạm mới như tội phạm xâm phạm an ninh Quốc gia, tội phạm có yếu tố nước ngoài, tội xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm con người, tội phạm về ma tuý, tham nhũng, tội phạm có tổ chức, có sử dụng công nghệ cao.

Tăng cường trách nhiệm của công tố trong hoạt động điều tra. Kiểm sát chặt chẽ công tác tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm. Tăng cường trách nhiệm trong việc xem xét, phê chuẩn các quyết định của Cơ quan điều tra, trong việc áp dụng, huỷ bỏ các biện pháp ngăn chặn, trong việc quyết định truy tố. Hạn chế đến mức thấp nhất tỷ lệ bắt, tạm giữ sau phải chuyển xử lý hành chính, tỷ lệ đình chỉ vụ án do miễn trách nhiệm hình sự, tỷ lệ án phải trả hồ sơ để điều tra bổ sung. Không để xảy ra việc đình chỉ do bị can không phạm tội; không để xảy ra việc Viện kiểm sát truy tố, Toà án xét xử tuyên bị cáo không phạm tội. Tăng cường hoạt động kiểm sát điều tra, đảm bảo hoạt động của Cơ quan điều tra và của những người tham gia tố tụng đúng quy định của pháp luật.

Nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên toà của Kiểm sát viên. Làm tốt công tác chuẩn bị xét xử, dự kiến các tình huống có thể phát sinh tại phiên toà. Chủ động tham gia xét hỏi, tranh luận tại phiên toà; kiểm sát chặt chẽ hoạt động xét xử của Toà án và những người tham gia tố tụng, đảm bảo việc xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; tăng cường kiểm sát bản án, quyết định của Toà án Quân sự. Nâng cao chất lượng kháng nghị. Chú trọng công tác tổ chức rút kinh nghiệm xét xử nhằm nâng cao các kỹ năng xét hỏi, luận tội, tranh luận của Kiểm sát viên.

Quá trình tiến hành tố tụng đối với các vụ án có người phạm tội, bị can, bị cáo là cán bộ đảng viên cần thực hiện nghiêm túc các quy định của Chỉ thị 15-CT/TW của Bộ Chính trị, nhất là các quy định về bắt, khám xét, khởi tố, truy tố. Phối hợp chặt chẽ với Cơ quan điều tra, Toà án quân sự giải quyết đúng đắn kịp thời các vụ án phức tạp, nghiêm trọng gây nhiều bức xúc cho xã hội. 

– Kiểm sát thi hành án; kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam, quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù.

Làm tốt công tác kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong công tác tổ chức quản lý việc tạm giữ, tạm giam và chấp hành án phạt tù tại các nhà tạm giữ, trại tạm giam và trại giam quân sự, đảm bảo việc giam giữ đúng thủ tục chế độ, chính sách, không để xảy ra việc quá hạn tạm giữ, tạm giam; giam chung các đối tượng không đúng quy định.

Công tác kiểm sát thi hành án hình sự: Kiểm sát chặt chẽ việc ra quyết định thi hành các quyết định, bản án của Toà án. Chú trọng kiểm sát các quyết định hoãn, tạm đình chỉ, miễn, giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù; việc lập hồ sơ xét đề nghị đặc xá. Tăng cường kiểm sát trực tiếp việc thi hành án treo tại các Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn và các đơn vị trong, ngoài quân đội.

Công tác kiểm sát thi hành án dân sự: Kiểm sát chặt chẽ việc phân loại, xác minh điều kiện thi hành án, yêu cầu Cơ quan thi hành án áp dụng kịp thời các biện pháp thi hánh án giải quyết dứt điểm những việc có điều kiện thi hành; kiểm sát chặt chẽ việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế, miễn, giảm thi hành án; chú trọng kiểm sát việc trả lại đơn yêu cầu thi hành án.   

– Tổ chức tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp.

Đổi mới và nâng cao hiệu quả công tác giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền, đảm bảo việc tiếp nhận, giải quyết khiếu nại, tố cáo theo đúng quy định của pháp luật; thực hiện nghiêm các quy định về tiếp công dân đến Viện KSQS khiếu nại, tố cáo; tăng cường kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư­­­ pháp của các cơ quan tư pháp quân đội.

2.2.2. Công tác điều tra của Cơ quan điều tra VKSQS Trung ương.

Hoàn thiện Quy chế hoạt động của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát quân sự Trung ương; chủ động phối hợp chặt chẽ với các Viện kiểm sát quân sự, các Phòng nghiệp vụ nắm và quản lý đầy đủ tin báo, tố giác tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp thuộc thẩm quyền. Nâng cao chất lượng hoạt động xác minh, điều tra các vụ án xâm phạm hoạt động tư pháp thuộc thẩm quyền.

2.2.3. Công tác nghiên cứu và thống kê tội phạm:

– Viện kiểm sát quân sự các cấp nêu cao trách nhiệm trong việc tham gia vào dự thảo xây dựng các dự án Luật, các văn bản quy phạm pháp luật khác theo yêu cầu của cấp trên. Tiếp tục  nghiên cứu, đề xuất sửa đổi Quy chế về sự lãnh đạo của Đảng uỷ các cấp đối với ngành Kiểm sát quân sự; tiếp tục triển khai nghiên cứu các đề tài khoa học làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quá trình đổi mới tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát quân sự các cấp đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp và hội nhập quốc tế như: Những đặc điểm về tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát quân sự các cấp; mối quan hệ giữa các cơ quan tiến hành tố tụng trong quân đội; cơ chế quản lý hành chính và cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với các Viện kiểm sát quân sự;  những nội dung, yêu cầu đặt ra đối với sự phát triển của ngành kiểm sát quân sự trong giai đoạn mới. Trước mắt cần có một số đề tài nghiên cứu phục vụ cho việc sửa đổi Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân và Pháp lệnh tổ chức Viện kiểm sát quân sự. Triển khai nghiên cứu xây dựng các Chương trình, giáo án để thực hiện đề án bồi dưỡng, huấn luyện kỹ năng nghiệp vụ cho cán bộ, kiểm sát viên Viện kiểm sát quân sự các cấp.

– Nâng cao hơn nữa chất lượng thống kê nghiệp vụ; thống kê hình sự, thống kê tội phạm liên ngành trong quân đội theo quy định. Phối hợp chặt chẽ với các cơ quan tư pháp trong quân đội thực hiện nghiêm túc công tác tiếp ký thống kê hình sự, thống kê tội phạm liên ngành, phục vụ có hiệu quả công tác quản lý, chỉ đạo và điều hành của Lãnh đạo Viện kiểm sát quân sự các cấp. Tổng hợp những vướng mắc, khó khăn trong việc áp dụng các sổ, mẫu biểu thống kê kiến nghị cấp có thẩm quyền nghiên cứu sửa đổi cho phù hợp.

– Chú trọng nâng cao chất lượng việc ứng dụng công nghệ thông tin. Phối hợp với các cơ quan của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ quốc phòng nghiên cứu tạo bước đột phá về ứng dụng công nghệ thông tin trong toàn ngành Kiểm sát quân sự phục vụ việc lưu trữ, tra cứu thông tin, nghiệp vụ, và công tác quản lý, chỉ đạo điều hành trong toàn ngành Kiểm sát quân sự.

2.2.4. Công tác xây dựng Ngành.

– Công tác tổ chức cán bộ:

 Tiếp tục giáo dục, quản lý chặt chẽ đội ngũ cán bộ kiểm sát quân sự theo lời Bác: Công minh, chính trực, khách quan, thận trọng, khiêm tốn. Hoàn chỉnh để báo cáo Ban chỉ đạo cải cách tư pháp TW và Viện trưởng VKSND tối cao, báo cáo Quân uỷ Trung ương, Thủ trưởng Bộ Quốc phòng các Đề án tổ chức, biên chế hệ thống Viện kiểm sát quân sự, các Quyết định, Quy chế về đào tạo, bồi dưỡng, tuyển dụng và sử dụng cán bộ VKSQS, tiêu chuẩn, chức danh cán bộ ngành Kiểm sát quân sự. Phối hợp làm tốt công tác quy hoạch, phát hiện, xây dựng nguồn, xây dựng đội ngũ cán bộ 5 năm (2011 – 2015). Triển khai thực hiện Pháp lệnh Kiểm sát viên (sửa đổi) trong toàn Ngành.

Phối hợp với các cơ quan của Bộ Quốc phòng, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an, Toà án nhân dân, Toà án quân sự, Cục điều tra hình sự, các trường, trung tâm đào tạo, chuẩn bị các bước để thực hiện “Đề án bồi dưỡng, huấn luyện kỹ năng nghiệp vụ cho cán bộ kiểm sát quân sự giai đoạn 2011 – 2020” như: Xây dựng chương trình và tuyển chọn đội ngũ cán bộ, giảng viên có chất lựơng cao chuẩn bị thực hiện một số nội dung: bồi dưỡng kiến thức chuyên sâu về quản lý, chỉ đạo, điều hành đối với Viện kiểm sát quân sự; bồi dưỡng kỹ năng chuyên sâu phục vụ các mặt công tác kiểm sát như tổ chức khám nghiệm hiện trường, pháp y, xét hỏi, luận tội, tranh luận tại phiên toà..; bồi dưỡng các kiến thức bổ trợ về quân sự, quốc phòng, an ninh; bồi dưỡng cán bộ kiểm sát quân sự Lào và Căm phu chia.

– Công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành:

Tiếp tục đổi mới và nâng cao chất lượng công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành. Thực hiện nghiêm nguyên tắc lãnh đạo tập trung, thống nhất trong ngành đồng thời thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở. Các VKSQS xây dựng kế hoạch công tác kiểm sát quân sự khoa học, cụ thể, sát thực tế hoạt động của từng đơn vị. Viện KSQS cấp trên quản lý và nắm chắc tình hình các mặt hoạt động của Viện cấp dưới, tăng cường công tác kiểm tra chuyên khâu, kiểm tra toàn diện đối với Viện cấp dư­­­ới; làm tốt công tác tổng kết rút kinh nghiệm về nghiệp vụ và công tác xây dựng ngành. Thực hiện đầy đủ, nghiêm túc các Quy chế về thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp; Quy chế về thông tin, báo cáo, quản lý công tác trong Ngành kiểm sát. Thực hiện đúng các quy định về công tác văn thư, lưu trữ.

– Công tác bảo đảm:

 Viện kiểm sát quân sự các cấp nêu cao trách nhiệm trong việc quản lý, sử dụng tài sản, phương tiện kỹ thuật quân sự; thực hiện công khai, dân chủ, minh bạch và hiệu quả trong phân bổ, sử dụng kinh phí phục vụ tốt cho thực hiện chức năng, nhiệm vụ. Tiếp tục thực hiện nghiêm Luật thực hành tiết kiệm, chống tham nhũng, lãng phí và các quy định của cấp trên về áp dụng các giải pháp kiềm chế lạm phát, ổn định đời sống, bảo đảm an sinh xã hội theo Nghị quyết 11 của Chính phủ. Tăng cường phối hợp với các cơ quan chức năng để triển khai xây dựng các dự án, đề án công tác bảo đảm của Ngành kiểm sát quân sự theo yêu cầu cải cách tư pháp. Trước mắt, tập trung vào việc đề nghị mở mới dự án xây dựng trụ sở Viện kiểm sát quân sự Trung ương, một số Viện Khu vực đã được cấp đất; sửa chữa những trụ sở xuống cấp nghiêm trọng; từng bước thay thế những ô tô quá cũ./.

                        Nguồn: Kỷ yếu Hội nghị cán bộ ngành Kiểm sát năm 2011

Chức Năng Pháp Lý Của Kiểm Sát Viên Chưa Phù Hợp

Điều 12 Pháp lệnh quy định: KSV thực hiện nhiệm vụ thực hành quyền công tố, kiểm sát các hoạt động tư pháp thuộc thẩm quyền VKS cấp mình theo phân công của Viện trưởng và chịu trách nhiệm trước Viện trưởng. Nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của KSV khi thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp do pháp luật quy định. Ngoài ra, Bộ luật Tố tụng hình sự, Bộ luật Tố tụng dân sự và Luật Tố tụng hành chính đều quy định: KSV có nhiệm vụ thực hành quyền công tố trong tố tụng hình sự, tham gia giải quyết các vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại, lao động (gọi chung là các vụ việc dân sự), vụ án hành chính. Các đạo luật nêu trên không phân biệt ngạch KSV sơ cấp ở VKSND cấp tỉnh, hoặc KSV trung cấp, KSV sơ cấp ở VKSNDTC không được thực hành quyền công tố xét xử các vụ án hình sự, hoặc tham gia giải quyết các vụ việc dân sự, vụ án hành chính. Miễn là KSV được Nhà nước công nhận thì phải thực hiện chức năng pháp lý trong tố tụng hình sự, dân sự, hành chính.

Thực tiễn cho thấy, thời gian qua KSV trung cấp, KSV sơ cấp ở VKSNDTC; KSV sơ cấp ở VKSND cấp tỉnh được phân công nghiên cứu hồ sơ các vụ án hình sự, dân sự, hành chính; hoặc thực hiện nhiệm vụ tại các phòng nghiệp vụ khác như kiểm tra viên, chuyên viên mới vào ngành. KSV trung cấp, KSV sơ cấp ở VKSNDTC; KSV sơ cấp ở VKSND cấp tỉnh không có quyền ký và đóng dấu một số văn bản tố tụng thuộc thẩm quyền như: giấy triệu tập bị can, bị hại trong vụ án hình sự; giấy mời các đương sự có khiếu nại trong các vụ án dân sự, hành chính đến làm việc; không có quyền tham gia khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi và ký các biên bản này; không có quyền thực hành quyền công tố xét xử các vụ án hình sự, hoặc tham gia giải quyết các vụ việc dân sự, vụ án hành chính. Như vậy, vô hình trung KSV trung cấp, KSV sơ cấp ở hai cấp Kiểm sát nêu trên không có điều kiện để phát huy chức năng pháp lý được giao và nhiệm vụ, quyền hạn của họ trở nên mờ nhạt, “hữu danh vô thực”.

Bổ nhiệm và phân cấp KSV chưa hợp lý

Pháp lệnh quy định các điều kiện để tuyển chọn và bổ nhiệm KSV theo ngạch: KSV cao cấp, KSV trung cấp và KSV sơ cấp. Tuy nhiên, tiêu chuẩn để bổ nhiệm lại bao gồm: Có khả năng hướng dẫn nghiệp vụ kiểm sát đối với KSV sơ cấp, thì có thể tuyển chọn và bổ nhiệm KSV trung cấp của VKSND… và Có khả năng hướng dẫn nghiệp vụ kiểm sát đối với KSV sơ cấp, KSV trung cấp, thì có thể tuyển chọn và bổ nhiệm KSV VKSNDTC. Quy định này đã bộc lộ nhiều mặt hạn chế đối với KSV. Cụ thể, đối với lãnh đạo VKSND cấp huyện là những người quản lý điều hành bộ máy làm việc, chỉ đạo nghiệp vụ của đơn vị mình, lãnh đạo VKSND cấp tỉnh là người quản lý chỉ đạo và hướng dẫn nghiệp vụ, điều hành các mặt công tác cho toàn ngành trong phạm vi cả tỉnh, nhưng mấy khi lãnh đạo VKSND ở hai cấp Kiểm sát được bổ nhiệm KSV trung cấp, KSV cao cấp.

Ngoài ra, đối với KSV trung cấp đang giữ các chức vụ Trưởng, Phó trưởng phòng nghiệp vụ ở VKSND cấp tỉnh, thường xuyên chỉ đạo công tác nghiệp vụ cho các bộ phận nghiệp vụ của VKSND cấp huyện; quản lý chỉ đạo nghiệp vụ cho KSV trung cấp, KSV sơ cấp thuộc quyền quản lý của mình và trực tiếp nghiên cứu các hồ sơ vụ án và thực hành quyền công tố, tham gia giải quyết các vụ việc dân sự, vụ án hành chính, nhưng bao giờ được bổ nhiệm KSV cao cấp. Trừ trường hợp điều động từ cấp dưới lên cấp trên để bổ nhiệm KSV ở cấp Kiểm sát đó.

Thực tiễn, ngạch KSV ở 3 cấp Kiểm sát khác nhau, hiển nhiên hệ số lương khởi điểm của KSV cũng khác nhau. Nếu sau khi được đào tạo và được biên chế công tác ở VKSND cấp huyện, rồi được bổ nhiệm KSV sơ cấp có hệ số lương khởi điểm 2,34; bổ nhiệm các chức danh lãnh đạo Viện cho đến khi nghỉ hưu, thì hệ số lương cao nhất chỉ dừng lại ở mức 4,98 và được hưởng thâm niên vượt khung mỗi năm 1%. Nhưng nếu được biên chế ở VKSND cấp tỉnh, khi được bổ nhiệm KSV trung cấp thì hệ số lương khởi điểm đã là 4,40 và hệ số lương tột khung 6,78. Vừa được chức danh pháp lý KSV trung cấp, vừa có hệ số lương tột khung khi nghỉ hưu cao hơn 1,8. Do đó, KSV sơ cấp, KSV trung cấp có xu hướng công tác ở Viện kiểm sát nhân dân cấp cao hơn để có lợi nhiều mặt khi nghỉ hưu.

Từ thực tế này, đề nghị UBTVQH sửa đổi, bổ sung Pháp lệnh này theo hướng: hai chức danh KSV trung cấp, KSV sơ cấp dù công tác ở cấp kiểm sát nào cũng phải thực hiện chức năng pháp lý được Nhà nước công nhận trong tố tụng hình sự; dân sự; hành chính, nhằm tạo điều kiện cho các ngạch KSV này cọ xát với thực tiễn, nâng cao kỹ năng nghiệp vụ. Đồng thời, bổ nhiệm KSV trung cấp cho lãnh đạo VKSND cấp huyện; bổ nhiệm KSV cao cấp cho lãnh đạo các phòng nghiệp vụ, lãnh đạo VKSND cấp tỉnh. Như vậy, mới phát huy tính năng động, sáng tạo, động viên KSV sơ cấp ở VKSND cấp tỉnh; KSV trung cấp, KSV sơ cấp ở VKSNDTC.

Đề Tài: Chức Năng Thực Hành Quyền Công Tố Của Viện Kiểm Sát

1. Tính cấp thiết của đề tài Cải cách tổ chức và nâng cao chất lượng hoạt động của các cơ quan tư pháp trong đó có Viện kiểm sát nhân dân(VKSNDND) là một đòi hỏi cấp bách của Đảng, Nhà nước ta trong giai đoạn hiện nay. Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã chỉ rõ: “Viện kiểm sát nhân dân tập trung làm tốt chức năng công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp”. Yêu cầu trên đã được thể chế hóa trong Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi năm 2001) và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002, BLTTHS năm 2003, cũng như Hiến pháp năm 2013 và luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014. Yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm trong tình hình hiện nay đòi hỏi phải nâng cao chất lượng hoạt động của các cơ quan bảo vệ pháp luật. Trong đó việc tăng cường chất lượng công tố của VKSND nhằm chống bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội, là một nội dung quan trọng được thể hiện trong nhiều nghị quyết của Đảng về cải cách tư pháp. Nghị quyết 08/NQ- TW ngày 02/01/2002 của Bộ chính trị “Về một số nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp trong thời gian tới” đã chỉ rõ: Chất lượng công tác tư pháp nói chung chưa ngang tầm với nhu cầu và đòi hỏi của nhân dân; còn nhiều trường hợp bỏ lọt tội phạm, làm oan người vô tội; vi phạm các quyền tự do, dân chủ của công dân, làm giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và với các cơ quan tư pháp [11]. Cụ thể về công tố, Nghị quyết 08 đã có ý kiến chỉ đạo: Viện kiểm sát nhân dân các cấp thực hiện tốt chức năng công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tư pháp. Hoạt động công tố phải được thực hiện ngay từ khi khởi tố vụ án và trong 8. 2 suốt quá trình tố tụng nhằm bảo đảm không bỏ lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội… Nâng cao chất lượng công tố của Kiểm sát viên tại phiên tòa, bảo đảm tranh tụng với Luật sư, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác… [11]. Ngày 24/5/2005, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 48/NQ-TW “Về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020”, trong đó có nội dung: “Hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát theo hướng bảo đảm thực hiện tốt chức năng công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp. Nghiên cứu hướng tới chuyển thành Viện công tố” [12]. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục ghi nhận các nội dung: Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; hoàn thiện hệ thống pháp luật; xây dựng hệ thống cơ quan tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh; đẩy mạnh việc thực hiện chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020; lấy cải cách hoạt động xét xử làm trọng tâm; thực hiện cơ chế công tố gắn với hoạt động điều tra

MÃ TÀI LIỆU: 19411

PHÍ TÀI LIỆU: 50.000

ĐỊNH DẠNG: WORD+PDF

THANH TOÁN QUA MOMO, CHUYỂN KHOẢN, THẺ CÀO ĐIỆN THOẠI (X2)

NỘI DUNG: MÃ TÀI LIỆU – EMAIL NHẬN ( VÍ DỤ: 0324 – trinhnam34gmailcom) có thể bỏ chữ @ mới gửi được)

CHECK EMAIL (1-15 PHÚT)

Đăng nhập MOMO

Quét mã QR

Nhập số tiền

Nội dung: Mã Tài liệu – Email

Check mail (1-15p)

Mua thẻ cào chỉ Viettel, Vinaphone

Mệnh giá gấp 2 phí tài liệu (vì phí nhà mạng 50%)

Add Zalo 0932091562

Nhận file qua zalo, email

Đăng nhập Internet Mobile

Chuyển tiền

Nhập số tiền

Nội dung: Mã Tài liệu – Email

Check mail (1-15p)

NẾU CHỜ QUÁ 15 PHÚT CHƯA THẤY MAIL VUI LÒNG NHẮN ZALO: 0932091562

NHẬP TÀI LIỆU BẠN CẦN TÌM VÀO ĐÂY