Cấu Trúc Và Chức Năng Của Gen

Chúng ta có thể điểm qua những mốc chính trong lịch sử nghiên cứu về gen như sau: Mendel (1865) là người đầu tiên đưa ra khái niệm nhân tố di truyền. Johansen (1909) đã đề xuất thuật ngữ gen (từ genos, nghĩa là sản sinh, nguồn gốc) để chỉ nhân tố di truyền xác định một tính trạng nào đó. Sau đó, Morgan trong những năm 1920 đã cụ thể hóa khái niệm về gen, khẳng định nó nằm trên nhiễm sắc thể và chiếm một locus nhất định, gen là đơn vị chức năng xác định một tính trạng.

Vào những năm 1940, Beadle và Tatum đã chứng minh gen kiểm tra các phản ứng hóa sinh và nêu giả thuyết một gen-một enzyme. Tuy nhiên, trường hợp hemoglobin là một protein nhưng lại gồm hai chuỗi polypeptide do hai gen xác định, do đó giả thuyết trên buộc phải điều chỉnh lại là một gen-một polypeptide.

Vào những năm 1950, DNA (deoxyribonucleic acid) được chứng minh là vật chất di truyền. Mô hình cấu trúc DNA của Watson và Crick được đưa ra và lý thuyết trung tâm (central dogma) ra đời. Gen được xem là một đoạn DNA trên nhiễm sắc thể mã hóa cho một polypeptide hay RNA.

Cuối những năm 1970, việc phát hiện ra gen gián đoạn ở sinh vật eukaryote cho thấy có những đoạn DNA không mã hóa cho các amino acid trên phân tử protein. Vì thế, khái niệm về gen lại được chỉnh lý một lần nữa: Gen là một đoạn DNA đảm bảo cho việc tạo ra một polypeptide, nó bao gồm cả phần phía trước là vùng 5′ không dịch mã (5′ untranslation) hay còn gọi là vùng ngược hướng (upstream) và phía sau là vùng 3′ không dịch mã (3′ untranslation) hay còn gọi là vùng cùng hướng (downstream) của vùng mã hóa cho protein, và bao gồm cả những đoạn không mã hóa (intron) xen giữa các đoạn mã hóa (exon).

Hiện nay, có thể định nghĩa gen một cách tổng quát như sau: Gen là đơn vị chức năng cơ sở của bộ máy di truyền chiếm một locus nhất định trên nhiễm sắc thể và xác định một tính trạng nhất định. Các gen là những đoạn vật chất di truyền mã hóa cho những sản phẩm riêng lẻ như các mRNA được sử dụng trực tiếp cho tổng hợp các enzyme, các protein cấu trúc hay các chuỗi polypeptide để gắn lại tạo ra protein có hoạt tính sinh học. Ngoài ra, gen còn mã hóa cho các tRNA, rRNA và snRNA…

Cấu trúc không gian của chuỗi polypeptide được xác định bởi trình tự sắp xếp của các amino acid tức cấu trúc bậc một. Như vậy, mặc dù có nhiều mức độ cấu trúc không gian khác nhau, nhưng cấu trúc bậc một tức trình tự sắp xếp các amino acid chi phối toàn bộ các mức độ cấu trúc khác. Việc xác định di truyền phân tử protein ở trạng thái tự nhiên có đầy đủ hoạt tính sinh học chỉ quy tụ lại chủ yếu ở xác định cấu trúc bậc một là đủ.

2. Các enzyme mất hoạt tính do đột biến

Nhiều nghiên cứu cho thấy, việc mất hoạt tính enzyme nhiều khi không phải do vắng mặt của enzyme, mà chỉ do các biến đổi trên phân tử (modification). Có trường hợp đột biến dẫn đến những thay đổi tinh vi, enzyme vẫn có hoạt tính nhưng sẽ biểu hiện khác nếu thay đổi điều kiện. Chẳng hạn:

Ở nấm mốc Neurospora crassa, enzyme tyrosinase do gen T xác định, xúc tác cho phản ứng chuyển hóa tyrosine thành dihydroxyphenylalanine. Alelle T+ của dòng hoang dại sản xuất tyrosinase có hoạt tính ở nhiệt độ bình thường và cả ở 60oC. Một đột biến TS sản xuất tyrosine có hoạt tính ở nhiệt độ bình thường, nhưng lại mất hoạt tính ở 60oC

Như vậy, trong đa số trường hợp, đột biến của một gen không làm biến mất enzyme mà chỉ biến đổi cấu trúc dẫn đến thay đổi hoạt tính. Các đột biến của cùng một gen có thể gây ra những biến đổi khác nhau trên enzyme. Các hiện tượng đó chứng tỏ rằng cấu trúc của enzyme chịu sự kiểm soát trực tiếp của gen.

3. Bản chất các biến đổi di truyền của protein

Bản chất đó chính là quan hệ một gen-một polypeptide. Như đã nêu trên, người ta khám phá ở người có những gen tạo ra hemoglobin (Hb) khi biến dị sẽ tạo ra những hemoglobin bất thường do sai hỏng ở các chuỗi polypeptide α hoặc β (Bảng 3.2 và 3.3) và gây ra các bệnh di truyền.

Đột biến được biểu hiện bởi sự thay thế vị trí của một amino acid này bằng một amino acid khác.

4. Sự tương quan đồng tuyến tính gen-polypeptide 4.1. Đột biến tryptophan synthetase-sự đồng tuyến tính giữa gen và chuỗi polypeptide

Nghiên cứu trên enzyme tryptophan synthetase xúc tác cho phản ứng tổng hợp tryptophan của E. coli người ta nhận thấy có nhiều đột biến xảy ra trên cùng một gen mã hóa cho tryptophan synthetase.

Thực hiện tái tổ hợp trong gen (nguyên tắc là gen ở các vị trí càng xa nhau trên nhiễm sắc thể càng dễ tái tổ hợp), người ta đã nhận được các dạng biến dị có tính chất khác nhau, và tính được khoảng cách tương đối giữa những điểm khác nhau của đột biến đã được xác định. Vị trí biến dị trên thể nhiễm sắc tương ứng với vị trí của amino acid trên chuỗi polypeptide. Như vậy, có thể cho rằng có sự đồng tuyến tính giữa gen và chuỗi polypeptide (Hình 3.1).

Nhiều dạng đột biến của tryptophan synthethase đã được tạo ra. Bằng cơ chế tái tổ hợp, những khoảng cách tương đối giữa những điểm khác nhau của đột biến đã được xác định. Sản phẩm protein của mỗi dạng đột biến đã được phân tích, và những thay đổi các amino acid khác cũng được xác định. Người ta đã tìm thấy mối tương quan hoàn toàn giữa những khoảng cách của các đột biến được tìm thấy trên gen với khoảng cách của amino acid bị thay đổi trong phân tử protein.

4.2. Đột biến 4.2.1. Khái niệm

Một gen (DNA) có 4 loại base và một phân tử protein có 20 loại amino acid1, nhưng giữa chúng có mối tương quan như thế nào. Đầu tiên, người ta cho rằng một base qui định một amino acid, nhưng những tính toán cho thấy không hợp lý. Vì chỉ có 4 base trong DNA và 20 amino acid trong protein, cho nên mỗi codon phải chứa ít nhất 3 base. Hai base cũng không thể làm thành một codon bởi vì chỉ có 42 = 16 cặp hợp lý của 4 base. Nhưng 3 base thì có thể bởi vì sẽ có 43 = 64 bộ ba hợp lý. Vì số lượng bộ ba hợp lý lớn hơn 20, cho nên sẽ có trường hợp một vài codon chỉ định cùng một amino acid. Ví dụ: UCU, UCC, UCA, UCG, AGU và AGC đều cùng mã hóa cho serine. Từ đó, người ta đưa ra khái niệm mã di truyền (tín hiệu di truyền). Mã di truyền cho phép đọc thứ tự trên DNA để biết thứ tự trên chuỗi polypeptide. Mã di truyền không mơ hồ, có nghĩa với một trình tự chẳng hạn ATA ta biết nó ghi mã cho một amino acid gì, và cũng thấy rằng có nhiều mã di truyền xác định cho một amino acid (Bảng 3.4).

4.2.2. Đột biến điểm

Là đột biến chỉ tác động một vị trí, nói rõ hơn đó là một base. Khi thay đổi một base trên DNA sẽ tạo ra sự thay đổi một amino acid (Hình 3.2). Đột biến dĩ nhiên xảy ra trên DNA và được sao lại trên mRNA trong phiên mã, rồi trên protein trong dịch mã.

Bảng 3.4. Mã di truyền chung

Những đơn vị mã (codon) được đọc theo chiều 5’→3′.

STOP: codon kết thúc (còn gọi là vô nghĩa).

Đột biến điểm có các dạng sau:

– Đột biến sai nghĩa. Thay đổi một amino acid trong protein, có thể dẫn đến một trong ba kết quả sau:

+ Không hậu quả nào cả, vì amino acid không nằm trong vị trí hoạt động hoặc không có vai trò trong cấu trúc enzyme

+ Có biến đổi nhẹ ở chuỗi polypeptide sẽ tạo ra tính mẫn cảm yếu với nhiệt, làm giảm sự ổn định chuỗi polypeptide

+ Mất hẳn hoạt tính enzyme nếu đúng ngay vị trí hoạt động của enzyme đó.

– Đột biến vô nghĩa. Thay đổi một base. Nếu đó là một codon vô nghĩa sẽ làm ngừng kéo dài (tổng hợp) chuỗi polypeptide ở vị trí amino acid này. Tức là nếu codon này nằm ở đầu sẽ không có chuỗi polypeptide hoạt động.

– Đột biến acridine hoặc đột biến dịch khung. Đột biến này do chất acridine màu da cam tạo ra (hoặc còn gọi là đột biến dịch khung, frameshift, do thêm vào hoặc bớt đi một base) (Hình 3.2 E và D). Như vậy, một đột biến trên khung đọc khi thêm vào (C) hoặc mất đi (A) thường sẽ dẫn đến xuất hiện một codon stop làm ngừng chuỗi polypeptide và enzyme sẽ không có hoạt tính.

4.2.3. Đột biến kìm hãm

Đến nay, người ta nhận thấy mọi sai lệch trong việc tổng hợp protein nếu có đều xảy ra từ DNA, còn quá trình diễn ra từ RNA đến polypeptide luôn luôn đúng. Nghiên cứu một vài kiểu protein đột biến ta thấy:

– Đột biến sai nghĩa. Làm xuất hiện một bất thường trong trình tự amino acid. Kết quả protein mất hoạt tính. Hoạt tính này có thể được phục hồi, hoặc do một đột biến ngược để cho lại protein cấu trúc ban đầu.

– Đột biến vô nghĩa. Làm mất đi một phần chuỗi polypeptide, phần còn lại không có hoạt tính, và hoạt tính này có thể có lại được nhờ đột biến trong một codon đã bị đột biến.

Thông thường, những gen kìm hãm đột biến vô nghĩa không nằm ở gần vị trí của đột biến ấy. Đó là những gen làm biến đổi hệ thống dịch mã khi tổng hợp protein.

5. Lý thuyết trung tâm của sinh học phân tử

Tổng hợp protein trong tế bào có các đặc điểm sau:

– Các phân tử thông tin như nucleic acid và protein được tổng hợp theo khuôn. Tổng hợp theo khuôn vừa chính xác vừa ít tốn enzyme. Tuy nhiên, căn cứ vào hàng loạt tính chất hóa học các protein không thể làm khuôn mẫu cho sự tổng hợp của chính chúng. Vì vậy, khuôn mẫu để tổng hợp nên protein không phải là protein.

– Sinh tổng hợp protein tách rời về không gian với chỗ chứa DNA. Nhiều nghiên cứu cho thấy tổng hợp protein có thể xảy ra khi không có mặt DNA. Sự kiện này thể hiện rõ ràng nhất ở những tế bào eukaryote. Trong những tế bào này, hầu như toàn bộ DNA tập trung ở nhiễm sắc thể trong nhân, còn tổng hợp protein chủ yếu diễn ra ở tế bào chất. Tảo xanh đơn bào Acetabularia khi bị cắt mất phần chứa nhân vẫn tổng hợp được protein và sống vài tháng nhưng mất khả năng sinh sản. Rõ ràng, nơi chứa DNA mang thông tin di truyền và chỗ sinh tổng hợp protein tách rời nhau về không gian.

Hình 3.2. Các dạng đột biến điểm

– DNA không phải là khuôn mẫu trực tiếp để tổng hợp protein, do đó phải có chất trung gian chuyển thông tin từ DNA ra tế bào chất và làm khuôn để tổng hợp protein. Chất đó phải có cả trong nhân và tế bào chất với số lượng phụ thuộc vào mức độ tổng hợp protein.

– Chất trung gian đó được xem chính là RNA nhờ các đặc điểm sau:

+ RNA được tổng hợp ngay ở trong nhân có chứa DNA, sau đó nó đi vào tế bào chất cho tổng hợp protein.

+ Những tế bào giàu RNA tổng hợp protein nhiều hơn.

+ Về phương diện hóa học RNA gần giống DNA: chuỗi polyribo-nucleotide thẳng cũng chứa 4 loại ribonucleotide A, G, C và uracil (U). Nó có thể nhận được thông tin từ DNA qua bắt cặp bổ sung. Nói chung, trong tế bào không thể tìm thấy chất nào khác ngoài RNA có thể đóng vai trò trung gian cho tổng hợp protein. Mối quan hệ này chính là thông tin di truyền đi từ DNA qua RNA rồi đến protein và được biểu diễn ở hình 3.3. Mối quan hệ này còn được gọi là lý thuyết trung tâm (central dogma), được Crick đưa ra từ 1956 đến nay về căn bản vẫn đúng.

Vào những năm 1970, người ta đã phát hiện quá trình phiên mã ngược từ RNA tổng hợp nên DNA nhờ enzyme reverse transcriptase. Đến nay, việc sao chép (tổng hợp) RNA trên khuôn mẫu RNA cũng đã được chứng minh ở nhiều loại virus. Ngoài ra, thông tin từ protein cũng có thể được truyền sang protein (prion của bệnh bò điên). Riêng dòng thông tin từ protein ngược về mRNA/DNA thì chưa được tìm thấy (Hình 3.4).

6. DNA và mã di truyền

Vấn đề tiếp theo là xác định chính xác các codon nào mã hóa cho từng amino acid. Nirenberg và Matthaei đã sử dụng enzyme để tổng hợp nhân tạo RNA. Khi dùng chỉ một loại nucleotide là U sẽ nhận được RNA là poly(U), nếu chỉ dùng A sẽ nhận được poly(A).

Năm 1961, Nirenberg và Matthaei đã dùng poly(U) thay cho khuôn mẫu mRNA để tổng hợp protein trong hệ thống vô bào (có amino acid, enzyme tổng hợp protein, nhưng không có DNA…), sản phẩm thu được là chuỗi polypeptide polyphenylalanine chỉ chứa một loại amino acid là phenylalanine. Điều đó chứng tỏ codon UUU mã hóa cho phenylalanine. Đây là codon đầu tiên được xác định. Sau đó, họ cũng chứng minh được rằng AAA mã hóa cho lysine, GGG cho glycine và CCC cho proline.

Hình 3.4. Những bổ sung mới vào lý thuyết trung tâm của Crick

Bảng mã di truyền (Bảng 3.4) cho thấy trong 64 codon, có 3 codon UAA, UAG, UGA không mã hóa cho amino acid được gọi là vô nghĩa (non-sense), đồng thời là codon kết thúc (termination) tức dấu chấm câu, chấm dứt chuỗi polypeptide.

Mã di truyền có tính suy biến (degeneration) tức một amino acid có nhiều codon mã hóa, chỉ trừ methionine và tryptophane chỉ có một codon (tương ứng là ATG và TGG). Các codon đồng nghĩa tức mã hóa cho cùng một amino acid thường có hai base đầu tiên giống nhau, nhưng khác nhau ở cái thứ ba. Ví dụ: CCU, CCC, CCA và CCG tất cả đều mã hóa cho proline. Trên thực tế, U và C luôn luôn tương đương nhau ở vị trí thứ ba, còn A và G tương đương nhau trong 14 trên 16 trường hợp.

Trừ một số ngoại lệ, mã di truyền có tính phổ biến (universal) tức toàn bộ thế giới sinh vật có chung bộ mã di truyền.

Khi nghiên cứu các quy luật di truyền Mendel và học thuyết di truyền nhiễm sắc thể, gen được quan niệm như một điểm trên nhiễm sắc thể, vừa là đơn vị chức năng xác định một tính trạng, vừa là đơn vị đột biến, vừa là đơn vị tái tổ hợp. Cùng với sự phát triển của di truyền học, khái niệm về gen được cụ thể hóa thêm, cấu trúc và chức năng của gen được hiểu chi tiết hơn.

1. Cấu trúc gen

Hoạt động của một gen được đánh giá thông qua quá trình phiên mã (tổng hợp mRNA) và quá trình dịch mã (tổng hợp protein). Hoạt động này được kiểm soát rất chặt chẽ bằng các cơ chế khác nhau ở mọi giai đoạn, như bắt đầu và kết thúc phiên mã, quá trình biến đổi mRNA, quyết định tính bền vững và kiểm tra lại thông tin di truyền trên các phân tử này… Do cấu trúc sắp xếp các gen prokaryote khác với gen eukaryote nên sự phối hợp giữa các cơ chế điều khiển mang tính chất riêng biệt cho từng loại genome.

Các gen prokaryote thường sắp xếp nằm gần nhau và chịu sự điều khiển chung của một promoter, tức là chúng được phiên mã sang cùng một phân tử mRNA. Cấu trúc này được gọi là operon. Như vậy, một operon gồm hai hay nhiều gen nằm cạnh nhau trên một nhiễm sắc thể. Thông thường, đó là các gen cùng tham gia vào một con đường chuyển hóa, ví dụ như các gen mã hóa cho các enzyme cần thiết cho quá trình chuyển hóa glucose.

Do có chung promoter điều khiển cho mọi gen nằm trong một operon cho nên chỉ có một loại phân tử mRNA được tổng hợp từ một operon (mang thông tin di truyền của tất cả các gen nằm trong đó). Nói cách khác, quá trình phiên mã của các gen trong một operon xảy ra đồng thời và phân tử mRNA đặc trưng cho operon được gọi là mRNApolycistron.

Tuy nhiên, điều cần ghi nhớ là quá trình dịch mã trên các phân tử mRNApolycistron xảy ra hoàn toàn độc lập với nhau. Mỗi đoạn tương ứng với một gen trên phân tử này đều có vị trí bám của ribosome, có mã bắt đầu và kết thúc tổng hợp chuỗi polypeptide riêng biệt. Do đó, tốc độ tổng hợp các protein trên các phân tử mRNApolycistron hoàn toàn khác nhau (Hình 3.6).

Khái niệm locus được đưa ra để chỉ vị trí của gen trên nhiễm sắc thể, là vị trí của tất cả các allele của dãy đa allele. Bản thân hiện tượng đa allele cho thấy gen có cấu tạo phức tạp, sự biến đổi của gen có thể dẫn đến nhiều trạng thái allele khác nhau.

2.1. Hiện tượng allele giả

Theo quan niệm cổ điển gen là đơn vị tái tổ hợp. Nếu cá thể mang hai allele lặn a1/a2 của một dãy đa allele sẽ tạo thành hai loại giao tử là a1 và a2, lai phân tích với bố mẹ đồng hợp tử lặn sẽ chỉ cho kiểu hình đột biến a1 và a2 mà không có dạng tái tổ hợp hoang dại. Ví dụ:

Hình 3.6. Cấu trúc operon trong genome vi khuẩn. Một operon là một đơn vị phiên mã đơn bao gồm một chuỗi các gen cấu trúc (structural genes), một promoter và một operator.

Ví dụ: Trường hợp locus mắt quả trám ở ruồi giấm, có 18 allele. Khi tăng số cá thể nghiên cứu lên nhiều lần, người ta phát hiện các allele xếp thành 3 nhóm A, B và C. Các allele của cùng một nhóm, khi lai lẫn nhau, không cho kiểu hình tái tổ hợp hoang dại mắt bình thường, mà chỉ có kiểu hình mắt quả trám. Nhưng lai allele của nhóm này với allele của nhóm khác sẽ có xuất hiện kiểu hình hoang dại do tái tổ hợp. Hiện tượng này được gọi là allele giả.

Hiện tượng allele giả cho thấy gen phân chia nhỏ về mặt tái tổ hợp, có thể xảy ra tái tổ hợp giữa các phần trong gen. Lúc đầu, hiện tượng allele giả được coi là trường hợp ngoại lệ, nhưng khi tăng số cá thể nghiên cứu lên nhiều lần thì rõ ràng đó là hiện tượng phổ biến. Nó được tìm thấy ở nhiều đối tượng khác nhau như nấm men S. cerevisiae, ngô, bồ câu, chuột, bacteriophage

2.2. Locus rII của bacteriophage T4

Nghiên cứu chi tiết về các đột biến rII của bacteriophage T4 đã làm sáng tỏ hơn về cấu trúc gen. Bacteriophage T4 ở dạng hoang dại r+ có khả năng xâm nhiễm đồng thời hai chủng E. coli B và K, trong khi các đột biến rII chỉ xâm nhiễm chủng B mà không xâm nhiễm chủng K (Hình 3.7).

Trước thí nghiệm của ông, rII được coi là một locus. Tuy nhiên, thí nghiệm của ông đã cho thấy các đột biến xếp thành hai nhóm rIIA và rIIB. Lai các đột biến rIIA × rIIB sẽ có r+, nhưng lai rIIA × rIIA và rIIB × rIIB thì kiểu hình đột biến là r.

Cho đến nay, chúng ta định nghĩa một gen là nhờ dựa trên kiểu hình đột biến và vị trí trên bản đồ của nó. Bacteriophage là một mô hình di truyền đơn giản (genome của E. coli dài khoảng 4.600.000 bp, trong khi bacteriophage T4 là 165.000 bp và bacteriophage λ khoảng 46.500 bp), chúng có thể sinh sản một số lượng lớn rất nhanh (1010 hoặc hơn thế) và dễ dàng phân tích. Các thí nghiệm thực hiện với đột biến rII của T4 được thiết lập dựa trên cơ sở sau:

– Các gen có một phạm vi và ranh giới hạn chế.

– Các gen có thể chia được, có thể có sự tái tổ hợp giữa hai allele trong một gen đơn.

– Hoạt động của gen có thể được phân tích bởi sự phân tích bổ sung.

Kết quả thí nghiệm cho thấy, gen có thể phân chia nhỏ về mặt đột biến. Các đoạn rIIA và rIIB được gọi là cistron, đơn vị chức năng nhỏ nhất đảm bảo khả năng xâm nhiễm chủng K. Thuật ngữ cistron thực chất là gen, ngày nay nó chỉ có tính chất lịch sử, ít được sử dụng. Theo quan niệm hiện nay, rIIA và rIIB là hai locus. Hai khái niệm mới được đưa ra là muton-đơn vị đột biến và recon-đơn vị tái tổ hợp.

Benzer đã tìm thấy 2.000 điểm đột biến trên đoạn gen được nghiên cứu, chúng phân bố không đều nhau, có những điểm tập trung nhiều đột biến hơn. Chiều dài gen khoảng 900 nucleotide. Đơn vị đột biến muton ở đây tương ứng với 900/2.000. Số đột biến ghi nhận có thể thấp hơn so với thực tế nên muton có thể tương ứng với một cặp nucleotide. Giống như vậy recon có thể tương ứng với một cặp nucleotide.

Tóm lại, gen là đơn vị chức năng, có thể chia nhỏ bởi các đơn vị đột biến tái tổ hợp.

Hình 3.7. Kiểu hình của các đột biến rII của phage T4

3. Thử nghiệm chức năng allele

Muốn nghiên cứu cấu trúc bên trong một gen, phải tìm hiểu nhiều allele của gen đó. Nhiều đột biến có kiểu hình giống nhau nhưng không allele với nhau. Thử nghiệm chức năng allele được sử dụng để xác định xem hai đột biến có allele với nhau không. Đây chính là thử nghiệm mà Benzer dùng để lập bản đồ locus rII.

Thử nghiệm này còn được gọi là thử nghiệm bổ sung (complementary test) vì nó cho biết sai hỏng chức năng ở hai đột biến có bổ sung tức bù trừ cho nhau được không.

Phương pháp thử này cũng được gọi là thử nghiệm đều-lệch (cis-trans test). Sở dĩ như vậy là vì phép thử nghiệm này so sánh hiệu quả kiểu hình của các gen đột biến ở hai vị trí khác nhau trên nhiễm sắc thể tương đồng. Ở vị trí lệch (trans) các đột biến nằm trên hai nhiễm sắc thể, còn ở vị trí đều (cis) các đột biến nằm trên cùng một nhiễm sắc thể. Trường hợp sai hỏng ở hai gen khác nhau nên có thể bổ sung được, còn trường hợp sai hỏng ở cùng một gen không bù đắp được sẽ dẫn đến kiểu hình đột biến.

Thử nghiệm chức năng allele có thể được thực hiện dễ dàng trên các đối tượng vi sinh vật với các đột biến hóa sinh, thường là các đột biến khuyết dưỡng (auxotroph mutant: mất khả năng tổng hợp một chất nào đó). Ví dụ: Ở nấm mốc Neurospora crassa có nhiều đột biến mất khả năng tổng hợp adenine (Ade-). Các đột biến này dễ phát hiện vì có khuẩn lạc màu đỏ. Có hai dạng đột biến Adex và Adey, nếu dị hợp tử Adex/Adey có kiểu hình đột biến tức là cho khuẩn lạc màu đỏ, thì Adex và Adey là hai allele của một gen. Thử nghiệm chức năng allele cho thấy các đột biến Ade ở N. crassa tạo thành 9 nhóm. Điều đó chứng tỏ có 9 gen tổng hợp adenine ở loài nấm này: ade1, ade2, ade3… trong đó ade3 có hai locus nằm kề sát nhau là ade3A và ade3B (Hình 3.9).

Hình 3.8. Thử nghiệm chức năng allele. I: có kiểu hình đột biến do sai hỏng cùng một gen nên không bù đắp được. II: có kiểu hình hoang dại do sai hỏng khác gen nên bù trừ được cho nhau. Hình 3.9. Vị trí các gen ade trên các nhiễm sắc thể của nấm mốc Neurospora crassa Nguồn: Giáo trình Sinh học phân tử – Nguyễn Hoàng lộc (chủ biên)

Gen X Là Sản Phẩm Gì ? Sử Dụng Gen X Có Tốt Hay Không ?

Gen X là sản phẩm tăng cường sinh lý phái mạnh, giúp nam giới giải tỏa cảm giác áp lực, tự ti khi quan hệ. Đồng thời, sản phẩm cũng có tác dụng phục hồi sức khỏe phái mạnh toàn diện, cải thiện các bệnh lý về xương khớp và chức năng nội tạng. Vậy, thật sự sản phẩm Gen X có tốt không, giá cả bao nhiêu? . Để giải đáp những câu hỏi trên bạn có thể tham khảo nội dung qua bài viết bên dưới.

Thông tin cần biết về viên uống Gen X

Các thông tin cần thiết sẽ giúp đấng mày râu hiểu biết đầy đủ về sản phẩm. Từ đó có thể sử dụng đúng cách, đúng liều lượng, giúp thuốc phát huy hiệu quả tốt nhất.

Gen X là sản phẩm gì?

Gen X là thực phẩm chức năng được sản xuất từ nguồn thảo dược thiên nhiên. Tác dụng của sản phẩm là cải thiện sức khỏe và khả năng hoạt động tình dục ở phái mạnh. Nhờ đó giúp phái mạnh tự tin hơn trong sinh hoạt vợ chồng.

Sản phẩm được sản xuất bởi công ty Cổ phần Công nghệ cao Gob Quốc tế, Việt Nam, có trụ sở tại Hà Nội, chuyên cung cấp các thực phẩm chức năng chất lượng cao. Sản phẩm này đã được cấp phép lưu hành trên thị trường bởi Bộ y tế.

Thành phần của sản phẩm Gen X

Được điều chế từ những thành phần thiên nhiên có tác dụng làm tăng cường sinh lý ở nam giới. Gen X là thực phẩm chức năng được biết đến với các thành phần như:

Gen X được làm từ nguyên liệu thiên nhiên

Gen X được làm từ những nguyên liệu thiên nhiên

Gen X được điều chế theo dạng viên nén bên ngoài là lớp vỏ bên trong là thuốc được tán mịn để dễ dàng trong việc sử dụng và hấp thụ thuốc.

Công dụng của Gen X

Sản phẩm Gen X tăng cường sinh lý mang đến nhiều tác dụng cho nam giới. Khi sử dụng thực phẩm chức năng này người dùng sẽ cảm nhận thấy sự thay đổi của cơ thể nhờ những tác dụng của Gen X như:

Gen X giúp tăng cường sinh lý nam hiệu quả

Giúp điều trị xuất tinh sớm ở nam giới.

Giúp kéo dài thời gian quan hệ.

Không còn mệt mỏi, đau lưng sau mỗi lần lâm trận.

Giúp bổ thận, tráng dương.

Kích thích sự phát triển của testosterone trong cơ thể.

Kích thích sự ham muốn tình dục, nâng cao đời sống tình cảm vợ chồng.

Giúp cơ thể khỏe mạnh, giảm thiểu những căng thẳng, stress trong công việc.

Làm tăng kích thước cậu nhỏ, giúp cậu nhỏ cương cứng hơn, quan hệ mãnh liệt hơn.

Giúp tinh trùng khỏe mạnh hơn, tăng khả năng thụ thai sau mỗi lần xuất tinh.

Hướng dẫn sử dụng sản phẩm Gen X

Để đạt được hiệu quả tối đa trong việc cải thiện chức năng sinh lý, phái mạnh nên sử dụng Gen X theo đúng chỉ dẫn của bác sĩ hoặc hướng dẫn in trên bao bì.

Nam giới trên 18 tuổi.

Nam giới bị suy giảm nội tiết tố nam và có biểu hiện của tình trạng mãn dục sớm.

Người bệnh bị suy giảm ham muốn.

Nam giới có nhu cầu kéo dài cuộc yêu.

Liều lượng

Theo khuyến cáo của nhà sản xuất, nam giới nên sử dụng sản phẩm mỗi ngày 1 lần. Mỗi lần sử dụng từ 2 – 3 viên với nước khoáng.

Lưu ý khi sử dụng Gen X

Phái mạnh nên dùng thuốc tăng cường sinh lý theo đúng khuyến cáo của nhà sản xuất. Khuyến cáo và đầy đủ thông tin hướng dẫn này được ghi trên bao bì hoặc được ghi đầy đủ thông tin trong tờ hướng dẫn.

Gen X chỉ là thực phẩm chức năng, không phải là thuốc nhưng cũng có thể sử dụng kèm với một số thuốc điều trị khác. Vì vậy trường hợp này nên tham khảo và tuân thủ nghiêm ngặt hướng dẫn của bác sĩ.

Nên uống thuốc khi đói, tốt nhất nên uống trước khi ăn khoảng 30 phút, chú ý uống từng viên cùng với nước.

Hãy bảo quản thuốc tại nơi khô ráo. Luôn luôn đậy nắp kín sau khi sử dụng, tránh hiện tượng hút ẩm ảnh hưởng tới chất lượng thuốc.

Không sử dụng thuốc khi hết hạn sử dụng. Trường hợp có thể quan sát thấy tình trạng viên thuốc bị đổi màu, ẩm mốc, biến chất, thuốc có vị khác lạ.

Nên duy trì sử dụng Gen X từ 4 – 5 tháng để đạt hiệu quả tốt nhất.

Trong quá trình sử dụng nếu có bất kỳ sự thay đổi khác thường nào thì người bệnh nên tới bệnh viện để được hỗ trợ.

Sản phẩm gen X giá bao nhiêu?

Trước khi tiến hành mua sản phẩm Gen X plus bạn cần phải tìm hiểu Gen X giá bao nhiêu để cân đối về chi phí, tài chính của bản thân. Trên thị trường hiện nay giá 1 hộp Gen X được bán khoảng 1 triệu đồng cho một hộp 24 viên. Mỗi một hộp như vậy người dùng có thể sử dụng trong 24 ngày, mỗi ngày dùng 1 viên.

Gen X được bán lẻ khoảng 1 triệu đồng/hộp

Với việc mua lẻ từng hộp một thì tương đương mỗi ngày sẽ phải chi trả hơn 4.000 đồng cho việc sử dụng thuốc Gen X. Một liệu trình điều trị thông thường sẽ phải uống từ 2 – 3 hộp và khi mua từ 2 – 3 hộp giá sẽ được chiết khấu rất nhiều vậy nên hãy cân nhắc về số lượng mua sản phẩm để được giá tốt nhất.

Mua Gen X ở đâu đảm bảo uy tín chất lượng?

Gen X là một loại thực phẩm chức năng có tác dụng tốt cho sinh lý của nam giới. Chính vì thế, mà sản phẩm được rất nhiều nam giới lựa chọn dùng. Tuy nhiên, trên thị trường lại có quá nhiều đơn vị phân phối sản phẩm và không phải đơn vị nào cũng uy tín và chất lượng. Để có thể biết được Gen X mua ở đâu uy tín và chất lượng nhất mời bạn tham khảo các tiêu chí sau:

Dựa vào độ uy tín, kinh nghiệm của đơn vị phân phối

Để mua được Gen X tăng cường sinh lý nam giới chính hãng thì điều đầu tiên bạn cần phải chú ý đến đó chính là thương hiệu và kinh nghiệm của đơn vị đó. Bạn biết đó, thị trường cung cấp sản phẩm này là rất lớn một đơn vị mà không có được thương hiệu riêng, thời gian hoạt động ít thì khó có thể đứng vững trên được thị trường đầy cạnh tranh và khốc liệt như thế này.

Và ngược lại một đơn vị cung cấp sản phẩm chính hãng được khách hàng đến mua hàng thường xuyên thì sẽ nhanh chóng tìm được chỗ đứng cho mình và sẽ ngày càng phát triển hơn nữa. Vì vậy, khi lựa chọn đơn vị cung cấp sản phẩm đảm bảo chính hãng bạn hãy cứ chọn những đơn vị có uy tín mà nhiều khách hàng biết đến hay những đơn vị với nhiều năm kinh nghiệm trong phân phối sản phẩm.

Những thông tin về đơn vị đó bạn có thể tham khảo và tìm hiểu qua các phương tiện truyền thông hoặc có thể tìm hiểu qua những người thân bạn bè biết về đơn vị đó.

Gen X mua ở đâu? Bạn có thể mua ở đơn vị có thương hiệu uy tín

Dựa vào giá thành của sản phẩm

Tiếp theo, khi mua sản phẩm Gen X chính hãng các bạn có thể dựa vào giá thành sản phẩm đơn vị đó bán. Và một điều các bạn cần nhớ khi mua hàng đó chính là chất lượng đi đôi với giá cả. Nếu một đơn vị bán sản phẩm rẻ hơn rất nhiều so với ngoài thị trường thì bạn cần cân nhắc chưa chắc sản phẩm đó chính hãng.

Còn nếu mà bán sản phẩm đắt quá thì bạn có thể tham khảo giá và thỏa thuận giá với đơn vị đó. Tuy nhiên, khi đi mua sản phẩm để tránh mua phải hàng không chính hãng thì bạn cần phải xem xét kỹ lưỡng phía trong, phía ngoài của sản phẩm. Một sản phẩm chính hãng luôn được sản xuất rất chặt chẽ và mọi thông tin trên sản phẩm đều rõ ràng. Ngoài ra, bạn có thể check mã vạch để biết sản phẩm đó có tốt hay không?

Dựa vào chế độ chăm sóc khách hàng của đơn vị đó

Có thể khẳng định rằng một đơn vị uy tín họ luôn đầu tư bài bản mọi vấn đề từ nhân viên rồi đến cách chăm sóc khách hàng như thế nào cho tốt nhất. Nếu bạn lựa chọn đơn vị uy tín thì bạn sẽ thấy nhân viên của họ rất am hiểu về sản phẩm giải đáp mọi thắc mắc của khách hàng một cách chi tiết và dễ hiểu hiểu.

Để mua được sản phẩm Gen X chính hãng bạn có thể dựa vào chế độ chăm sóc khách hàng của đơn vị đó

Bên cạnh đó thì chế độ chăm sóc khách hàng rất chu đáo như họ luôn cam kết bán các sản phẩm chính hãng nếu khách hàng phát hiện ra hàng không chuẩn sẽ được đền bù thỏa đáng. Hay có thể họ đưa ra nhiều chương trình giảm giá, tri ân các khách hàng, hay họ miễn phí ship sản phẩm cho khách hàng khi mua online…

Gen X có tác dụng phụ hay không?

Hiện tại theo thống kê y tế, chưa có bất cứ trường hợp nào gặp tác dụng phụ sau khi sử dụng sản phẩm. Đồng thời, cũng chưa có bất kỳ khuyến cáo nào về tác dụng phụ của thực phẩm chức năng này. Tuy nhiên trong quá trình sử dụng nếu thấy cơ thể có những thay đổi bất thường như cảm thấy buồn nôn, chóng mặt, đau đầu, nổi mề đay, mẩn ngứa thì nên ngưng thuốc và tới cơ sở y tế nam khoa thăm khám. Bởi đây có thể là dấu hiệu cảnh báo bạn bị dị ứng với thuốc hoặc thành phần của thuốc.

Những đối tượng nào không nên sử dụng Gen X

Một số đối tượng được khuyến cáo không nên sử dụng thực phẩm chức năng Gen X như sau:

Trẻ em dưới 18 tuổi.

Phụ nữ.

Người bị dị ứng với thành phần của thuốc.

Những thông tin trong bài viết trên đã cung cấp cho đấng mày râu những thông tin chi tiết và chính xác nhất về Gen X. Hy vọng thông qua bài viết này, phái mạnh sẽ biết cách lựa chọn và sử dụng sản phẩm để đạt hiệu quả điều trị tốt nhất.

hộp gen x là gì chức năng của gen x

Ram Là Gì? Chức Năng Của Ram Là Gì?

RAM là gì?

RAM (Random Access Memory) được định nghĩa một cách ngắn gọn là một bộ nhớ tạm của máy tính giúp lưu trữ thông tin hiện hành để CPU có thể truy xuất và xử lý. RAM không thể lưu trữ được dữ liệu khi ngừng cung cấp nguồn cho nó. Nếu như máy tính bị mất nguồn, tắt máy thì dữ liệu trên Ram sẽ bị xóa sạch.

Dữ liệu trên RAM được lưu trên từng ô nhớ và mỗi ô nhớ đều có địa chỉ khác nhau và tốc độ đọc và ghi dữ liệu trên từng ô nhớ là bằng nhau. Nếu RAM càng lớn thì lượng công việc nó giải quyết được càng nhiều, chính vì vậy bộ nhớ RAM lớn có tốc xử lý cao hơn.

Một máy tính mà có bộ nhớ RAM lớn thì có thể xử lý nhiều công việc khác nhau mà không gây nên tình trạng bị giật lag. Hiện nay có nhiều loại RAM có cấu tạo và dung lượng khác nhau.

Như định nghĩ phía trên thì bộ nhớ ram càng lớn thì khả năng xử lý đa nhiệm, ram là một trong những yếu tố quyết định đến sức mạnh của một chiếc máy tính. Vậy các loại RAM phổ biến hiện nay là gì? Đây là phần tiếp theo mà chúng tôi muốn chia sẻ đến cho các bạn.

Về cấu tạo, thì RAM được chia làm 2 loại chính, cụ thể là:

RAM tĩnh: Còn gọi là SRAM (Static Random Access Memory) sản xuất theo công nghệ điện hóa phát quang ECL. SRAM là nơi lưu trữ dữ liệu để khởi động laptop, SRAM là bộ nhớ nhanh và không bị mất nội dung sau khi được nạp. Có nghĩa là SRAM là một nơi lưu trữ các tập tin của CMOS dùng cho việc khởi động máy.

RAM động: Còn gọi là DRAM (Dynamic Random Access Memory) khác với RAM tĩnh thì những dữ liệu của DRAM sẽ bị mất sau và phải nạp lại dữ liệu theo chu kỳ. Vì việc ghi nhớ dữ liệu dựa vào việc duy trì điện tích nạp vào tụ điện và như vậy việc đọc một bit nhớ làm nội dung bit này bị hủy. Đây cũng là điều mà giải thích vì sao mỗi khi tắt nguồn máy tính là bộ nhớ RAM bị xóa sạch. Vậy mỗi lần đọc và ghi thì bộ nhớ này phải viết lại nội dung ở ô nhớ đó.

Có nhiều thế hệ RAM phổ biến trên Laptop, chúng được thiết kế dành cho Laptop và được phân loại như sau:

SDR là chuẩn RAM đầu tiên xuất hiện trên những chiếc máy tính khoảng vào những năm cuối thế kỷ 20. Nhược điểm của loại RAM này là tốc độ truy xuất khá chậm, và dung lượng bộ nhớ tích hợp nhỏ. Chuẩn RAM SDR ngày nay không còn được sử dụng nữa và được thay bởi các chuẩn RAM mới có tốc độ truy xuất tối ưu và dung lượng bộ nhớ ram lớn hơn.

DDR2 là phiên bản nâng cấp của DDR, nên DDR2 có khả năng xử lý và dung lượng bộ nhớ tích hợp cao hơn nhiều. Ngoài ra DDR2 còn giúp tiết kiệm một lượng điện năng tiêu thụ đáng kể. Có nghĩa là mọi nhược điểm của DDR đều được DDR2 khắc phục. Loại RAM này xuất hiện thay thế vào những năm 2003-2009.

DDR3 xuất hiện vào năm 2010, mặc dù chuẩn RAM này đã được nghiên cứu từ năm 2007. Đây là chuẩn RAM nâng cấp và cải thiện từ DDR2 và đã cho tốc độ truy xuất nhanh hơn, dung lượng bộ nhớ lớn hơn, tiết kiệm năng lượng hơn 30% so với chuẩn DDR2 trước đây. Điều này đã làm cho DDR3 trở nên phổ biến và sử dụng rộng rãi cho đến nay.

Vào năm 2024 thì chuẩn RAM DDR4 xuất hiện. Đây là chuẩn RAM mạnh mẽ nhất cho đến nay. Với xung nhịp hơn hơn nên cho tốc độ xử lý vượt trội. Dung lượng RAM có thể tích hợp lên đến 512GB. DDR4 hỗ trợ các chuẩn bao gồm 1600MHz, 1866MHz, 2133 MHz, 2400 MHz, 2666 MHz, 3200 MHz và cuối cùng là 4266 MHz.

Tại sao bạn có thể tăng bộ nhớ RAM trên Windows 10?

ReadyBoost là một trong những tính năng mới đã được giới thiệu trong phiên bản Windows Vista. Nhờ có tính năng này mà người dùng có thể tăng bộ nhớ RAM lên. Tính năng này đã được rất nhiều người quan tâm, cho phép sử dụng một ổ đĩa flash (USB) thành RAM ảo để giúp cải thiện tốc độ và hiệu suất cho máy tính. Đây là điều đã được chứng thực, kiểm nghiệm và để thực hiện được điều này thì cần có các yếu tố sau:

Như đã nói thì tính năng ReadyBoost sẽ giúp cải thiện tốc độ và hiệu suất máy. Vậy sau đây là các bước có thể kích hoạt ReadyBoost nhanh nhất.

Bước 1: Kết nối thiết bị USB hoặc thẻ nhớ vào máy tính

Bước 2: Ngay lúc đó sẽ có bảng AutoPlay xuất hiện, bạn hãy nhấn vài tùy chọn Speed up my system. Hoặc không thì bạn cần phải nhấn chuột phải vào tên USB, chọn Properties và nhấn vào tab ReadyBoost.

Hướng dẫn vô hiệu hóa tính năng ReadyBoost

Bước 1: Kết nối thiết bị USB hoặc thẻ nhớ vào máy tính

Bước 2: Nhấn chuột phải vào tên USB và chọn Format

Như vậy bạn sẽ vô hiệu hóa tính năng ReadyBoost một cách đơn giản nhất.

Cấu Tạo Và Chức Năng Của Adn Và Gen

ADN là đại phân tử hữu cơ cấu tạo theo nguyên tắc đa phân , các đơn phân là các chúng tôi gồm hai chuỗi polinucleotit liên kết với với nhau theo nguyên tắc bổ sung Chức năng của ADN là mang , bảo quản và truyền đạt thông tin di truyền

ADN là đại phân tử cấu tạo theo nguyên tắc đa phân, đơn phân là các nucleotit. Mỗi nucleotit cấu tạo gồm 3 thành phần :

Các loại nucleotit chỉ khác nhau ở bazo nito nên người ta đặt tên các loại nucleotit theo tên của bazo nito.

Nucleotit liền nhau liên kết với nhau bằng liên kết hóa trị (phospho dieste) để tạo nên chuỗi polinucleotit.

Liên kết hóa trị là liên kết giữa gốc đường đêoxiribôzơ ((C_5H_{10}O_{4})) của nucleotit này với gốc axit photphoric ((H_{3}PO_{4})) của nucleotit khác .

Hình 1 : Cấu tạo của một chuỗi polinucleotit

2. Cấu trúc không gian của phân tử ADN

Mỗi phân tử ADN gồm có hai chuỗi polinucleotit song song ngược chiều nhau( chiều 3′(rightarrow)5′ và chiều 5′(rightarrow)3′) . Các nucleotit của hai mạch liên kết với nhau theo nguyên tắc bổ sung.

– A – T liên kết với nhau bằng 2 liên kết H

– G – X liên kết với nhau bằng 3 liên kết H

Từ hệ quả của nguyên tắc bổ sung thì ta có thể suy ra được số lượng nucleotit và thành phần của nucleotit ở mạch còn lại.

Hình 2 : Cấu tạo hóa học và cấu trúc không gian của phân tử ADN

Khoảng cách giữa hai cặp bazo là 3,4A 0

Một chu kì vòng xoắn có 10 cặp nucleotit ( 20 nucleotit)

Đường kính của vòng xoắn là 20 A 0

3. Chức năng của phân tử ADN

ADN có chức năng lưu giữ truyền đạt và bảo quản thông tin di truyền giữa các thế hệ.

Gen là một đoạn phân tử ADN mang thông tin mã hóa cho một chuỗi pôlipeptit hay ARN.

Từ định nghĩa gen ta thấy :

Gen có bản chất là ADN, trên một phân tử ADN chứa rất nhiều gen ,

Nhưng điều kiện đủ để 1 đoạn ADN dược gọi là một gen khi nó mang thông tin mã hóa cho một sản phẩm nhất định .

Gen cấu trúc mang thông tin mã hoá cho các sản phẩm tạo nên thành phần cấu trúc hay chức năng của tế bào.

Gen điều hoà :mang thông tin tạo ra sản phẩm kiểm soát hoạt động các gen khác.

2. Cấu trúc chung của gen cấu trúc

Mỗi gen có hai mạch polinucleotit , nhưng chỉ có mạch gốc ( 3 ‘(rightarrow)5’)mang thông tin mã hóa cho các axit amin, mạch còn lại được gọi là mạch bổ sung

Mỗi gen mã hóa prôtêin gồm 3 vùng trình tự nuclêôtit

Hình 3 : Cấu trúc chung của một gen điển hình

Vùng điều hòa Nằm ở đầu 3’của gen,mang tín hiệu đặc biệt giúp ARN polimeraza nhận biết và liên kết để khởi động quá trình phiên mã và chứa trình tự nucleotit điều hòa quá trình phiên mã.

Vùng kết thúc nằm ở đầu 5 ‘ của mạch mã gốc mang tín hiệu kết thúc phiên mã.

3.Phân biệt gen ở sinh vật nhân sơ và sinh vật nhân thực .

Hình 4: Sự khác nhau của vùng mã hóa của SV nhân sơ và SV nhân thực

Gen ở SVNS và SVNT đều có cấu tạo 3 phần như nhau nhưng chúng phân biệt với nhau bởi cấu tạo vùng mã hóa :

Vùng mã hóa liên tục mã hóa axit amin có ở sinh vật nhân sơ nên được gọi là gen không phân mảnh.

Vùng mã hóa không liên thục có ở sinh vật nhân thực . Phần lớn các gen của sinh vật nhân thực có vùng mã hóa không liên tục , các đoạn mã hóa axit amin(exon) và không mã hóa axit amin (intron) xen kẽ nhau nên được gọi là gen phân mảnh.

III. CÁC CÔNG THỨC LIÊN QUAN ĐẾN CẤU TẠO CỦA ADN.

Tính số lượng các loại nucleotit trong phân tử ADN.

Theo nguyên tắc boror sung ta có : A liên kết với T bằng 2 liên kết hidro và G liên kết với X bằng 3 liên kết H

Tính số liên kết hiđrô của gen: H = 2A + 3G ( lk)

Tính số liên kết phôtphođieste .

Trong phân tử ADN : liên kết PHOTPHODIESTE gồm có liên kết giữa các gốc đường và gốc axit của cùng một nucleotit và liên kết cộng hóa trị giữa hai nucleotit.

+ Số lượng liên kết HÓA TR Ị giữa các nucleotit: HT = N – 2.

+ Số lượng liên kết giữa các gốc đường và gốc axit trong mỗi nucleotit = N

Ví dụ 1 : Một gen có chiều dài là 5100 A 0, số nuclêôtit loại Adenin chiếm 20%. Hãy xác định:

1. Số lượng từng loại nuclêôtit trên gen.

2. Số liên kết hydro của gen

3. Số chu kỳ xoắn của gen.

4. Số liên kết photphodieste trên mỗi mạch và trên phân tử ADN.

1.Số nuclêôtit của gen (N) N = (frac{L}{3,4})×2 = ( (frac{5100}{3,4}) )×2 = 3000 (nu)

Số nuclêôtit từng loại (A, T, G, X)

→ G = X = %G × N = 3000 × 30% = 900 (nu)

2. Số liên kết hyđrô trên gen

H = 2A + 3G = (2A + 2 G) + G = Nu + G = 3000 + 600 = 3600

3. Số chu kỳ xoắn = (frac{N}{20}) = (frac{3000}{2}) = 1500.

4. Số liên kết photphodieste

Trên mỗi mạch = N – 1 = 2999.

Trên phân tử ADN = 2N-2 = 5998.

Bài 1. Một gen có chiều dài là 4080 A 0, số nuclêôtit loại Adenin chiếm 20%.

1. Xác định số lượng từng loại nuclêôtit trên gen.

2. Xác định số liên kết hydro của gen

3. Xác định số ribonucleotit trên mARN do gen phiên mã

4. Xác định số chu kỳ xoắn của gen.

5. Xác định số liên kết photphodieste trên mỗi mạch và trên phân tử ADN.

ĐA :

1 . A = T = 480 ; G = X = 720

2. 3120 liên kết H

3. 1200 ribonucleotit

4. 120 chu kì xoắn

Bài 2. Một gen có 3120 liên kết hiđrô và có 480 Adenin.

1. Tính số lượng và tỷ lệ nuclêôtit của mỗi loại của gen.

2. Xác định chiều dài gen.

3. Xác định số liên kết hóa trị giữa các nucleotit .

ĐA :

1. G = X = 720; 30% và A = T = 480 ; 20% .

3. 2398 liên kết

Bixby Là Gì? Chức Năng Của Samsung Bixby Là Gì?

Trong những năm vừa qua, người dùng đã quá quen thuộc với các trợ lý ảo như Siri, Cortana, Google Assistant,…Vào năm 2024, hãng Samsung cuối cùng cũng đã phát hành trợ lý ảo riêng cho các sản phẩm của mình có tên gọi là Bixby.

Bixby là một trợ lý ảo được phát triển bởi Samsung Electronics. Tương tự như Apple Siri hay Cortana của Microsoft, tính năng này được tích hợp sẵn trong hệ điều hành Android cảu máy.

Bixby này khá thông minh, khi nó sở hữu các tính năng đặc biệt như: Điều khiển bằng giọng nói, sử dụng Camera để quét thông tin sản phẩm, ngoài ra Bixby còn có thể ghi nhớ và nhắc nhở người dùng những thông tin được ra lệnh.

Chức năng của Bixby là gì?

Samsung bixby thực tế là một trợ lý ảo giúp làm thay bạn một số tác vụ trên Smartphone của bạn mà không cần phải thao tác chạm trên màn hình.

Ví dụng như: Bạn tạo một báo thức, thay vì sẽ phải tìm đến ứng dụng đồng hồ, sau đó chọn vào Tab báo thức rồi cài đặt giờ báo thì với Bixby bạn hoàn toàn có thể ra lệnh bằng giọng nói với Bixby để thực hiện các tác vụ này một cách rất đơn giản.

Tuy nhiên, hiện nay không nhiều ứng dụng hỗ trợ tính năng Bixby. Tuy nhiên, Samsung cho biết trong tương lai sẽ thúc đẩy và hỗ trợ các nhà lập trình viên tạo ra ứng dụng, hay bổ sung Bixby vào trong ứng dụng.

Các tính năng trên Samsung Bixby

Bixby Home là trang chính của Bixby, nơi mà nó học các thói quen của người dùng và gợi ý ra các nội dung phù hợp trong các tình huống khác nhau, đảm bảo công dụng tiện lợi.

Chức năng chính của Bixby Home:

Cung cấp đường dẫn nhanh và dễ dàng đi đến các ứng dụng/chức năng/dịch vụ bằng cách phân tích thói quen của người dùng.

Thể hiện các hoạt động khác nhau từ các trang mạng xã hội trong 1 thẻ riêng.

Cho phép cá ứng dụng bên thứ 3 mà bạn thích hiển thị.

Cho phép bạn thao tác một số thứ trên thẻ.

Bixby Routines là một phần bổ trợ mới nhất của Samsung vào bộ kỹ năng của Bixby. Tĩnh năng này giúp việc sử dụng các dịch vụ trở nên thuận tiện hơn, giảm bớt thời gian bạn phải tương tác với Bixby. Nếu bạn đã từng sử dụng Google Assistant Routines hoặc IFTTT, thì bạn sẽ nhanh chóng học được cách dùng Bixby Routines.

Với Bixby Routines, Bixby sẽ tự động kích hoạt vào những thời điểm nhất định trong lịch trình hàng ngày của bạn. Giả sử bạn luôn kết nối điện thoại của mình với Bluetooth và sử dụng Google Maps khi vào xe. Khi bật Bixby Routines, bạn có thể “dạy” Bixby kích hoạt Google Maps, mỗi lần bạn kết nối điện thoại với Bluetooth của xe.

Bixby Voice là tính năng cho phép bạn điều khiển điện thoại và các ứng dụng bằng giọng nói.

Để mở Bixby Voice, bạn có thể giữ nút Bixby ở bên cạnh điện thoại của mình hoặc chỉ cần nói là “Hi Bixby”.

Trước khi thử kích hoạt Bixby Voice bằng cách đánh thức nó với giọng nói của bạn, hãy đảm bảo rằng bạn đã đăng ký giọng nói của mình. Lần đầu tiên bạn nhấn nút Bixby, Bixby sẽ nhắc bạn nói “Hi Bixby” nhiều lần để nó có thể quen với giọng nói của bạn.

Khi bạn muốn bắt đầu sử dụng Bixby Vision, bạn hãy mở ứng dụng Camera và chọn Bixiby Vision ở góc trên cùng bên trái của màn hình. Với Bixby Vision, bạn không còn phải vật lộn để tìm ra danh tính của một vật thể hay động vật. Bixby có một cơ sở dữ liệu cực khổng lồ có thể đưa ra kết quả tìm kiếm phù hợp với hình ảnh của hầu hết mọi thứ.

Danh sách thiết bị hỗ trợ tính năng Bixby:

Điện thoại thông minh và máy tính bảng cao cấp: Galaxy Fold Galaxy S

Samsung Galaxy S8 (và S8+)

Samsung Galaxy S9 (và S9+)

Samsung Galaxy S10 Series

Samsung Galaxy S20 Series

Galaxy Note

Samsung Galaxy Note FE

Samsung Galaxy Note 8

Samsung Galaxy Note 9

Samsung Galaxy Note 10 (và 10+)

Samsung Smart Watch

Samsung Galaxy Watch 42mm,46mm

Samsung Galaxy Watch Active.

Điện thoại thông minh và máy tính bảng trung cấp: Galaxy A (2024)

Galaxy A10

Galaxy A10s

Galaxy A20

Galaxy A20e

Galaxy A20s

Galaxy A30

Galaxy A40

Galaxy A50

Galaxy A50s

Galaxy A60 (chỉ dành cho người dùng Trung Quốc)

Galaxy A70

Galaxy A80

Galaxy A90 5G

Galaxy A (2024) Galaxy A

Samsung Galaxy A7 (2024) (chỉ dành cho người dùng Hàn Quốc; không có nút Bixby)[31]

Samsung Galaxy A8 Star

Samsung Galaxy Tab A 8.0 (2024) (không có nút Bixby)[32]

Samsung Galaxy A9 (2024)

Galaxy J

Samsung Galaxy J7+ (2024) (chỉ có Bixby Home và Reminder)

Samsung Galaxy J6 (2024) (chỉ có Bixby Home và Reminder)

Samsung Galaxy J4 (2024) (chỉ có Bixby Home và Reminder)

Samsung Galaxy J6+ (2024) (chỉ có Bixby Home và Reminder)

Samsung Galaxy J4+ (2024) (chỉ có Bixby Home và Reminder)