Chức Năng Của Dư Luận Xã Hội / 2023 / Top 21 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 12/2022 # Top View | Phauthuatthankinh.edu.vn

Dư Luận Xã Hội Là Gì? Ảnh Hưởng Của Dư Luận Xã Hội / 2023

Dư luận xã hội là gì? Ảnh hưởng của dư luận xã hội. Phân tích những đặc điểm của dư luận xã hội, tính chất của dư luận xã hội và các phương pháp nắm bắt dư luận xã hội.

Dư luận xã hội là hiện tượng thuộc lĩnh vực tinh thần của đời sống xã hội. Dư luận xã hội đã xuất hiện và tồn tại rất lâu trong lịch sử, nó hình thành, tồn tại và phát triển cùng với quá trình vận động, phát triển của bản thân xã hội loài người. Dư luận xã hội không chỉ tác động đến đời sống của mỗi con người mà còn mạnh mẽ đến các quá trình chính trị – xã hội, đến việc lãnh đạo và quản lý xã hội, đặc biệt là ý thức pháp luật. Chính vì vậy, việc xem xét những yếu tố, những tính chất cơ bản của dư luận xã hội, là một vấn đề hết sức quan trọng. Để tìm hiểu sâu hơn về tính chất của dư luận xã hội và tác động của nó, em xin lựa chọn đề tài: “Phân tích các tính chất cơ bản của dư luận xã hội, cho ví dụ minh họa ở từng tính chất. Tác động của dư luận xã hội đối với ý thức pháp luật”.

Dư luận xã hội chỉ nảy sinh khi có những vấn đề có ý nghĩa xã hội đụng chạm đến lợi ích chung của cộng đồng xã hội, có tầm quan trọng và có tính cấp bách, đòi hỏi phải có ý kiến phán xét, đánh giá và đưa ra những phương hướng cụ thể. Đó có thể là vấn đề chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, hay đạo đức.

Chủ thể của dư luận xã hội là cộng đồng người hay nhóm người mang dư luận xã hội. Dư luận xã hội bao gồm mọi luồng ý kiến của đa số cũng như ý kiến của thiểu số. Chủ thể của dư luận xã hội có thể là tập hợp những người thuộc các giai cấp, tầng lớp khác nhau, thậm chí đối lập nhau về lợi ích mà nền tảng gắn kết họ lại với nhau lại là những đặc điểm tâm lí, nhận thức chung giữa họ.

Tin đồn cũng là một hiện tượng tâm lý xã hội. Nhưng tin đồn khác với dư luận xã hội ở chỗ tin đồn không phải là sản phẩm của tư duy phán xét của các nhân mang nó. Mà tin đồn “chỉ là tin tức về sự việc, sự kiện, hay hiện tượng có thể có thật, có thể không có thật hoặc chỉ có một phần sự thật được lan truyền từ người này sang người khác”.

Tin đồn là dạng thông tin không chính thức, chưa được kiểm chứng về sự trung thực và do đó chủ thể của tin đồn không được rõ ràng. Ngược lại, dư luận xã hội là sản phẩm của tư duy phán xét của cá nhân mang nó. Tin đồn có thể chuyển hóa thành dư luận xã hội khi trên cơ sở của tin đồn người ta đưa ra những phán xét bày tỏ thái độ của mình; khi thông tin được kiểm chứng và các nhóm xã hội có thể được tiếp cận với nguồn thông tin, trao đổi, bày tỏ ý kiến của mình thông qua con đường công khai.

Ví dụ từ tin đồn xã X chính quyềnnhận hối lộ phát triển lên thành dư luận xã hội. Nếu được giải quyết tốt thì kẻ nhận hối lộ bị nghiêm trị, tình hình ổn định và ngược lại nếu giải quyết không tốt sẽ làm tình hình lại càng trở nên phức tạp hơn.

Hình thức thể hiện chính của dư luận xã hội là sự phán xét, đánh giá, thẩm bình, kiến nghị. Khuynh hướng chung trong các ý kiến đánh giá và thái độ của công chúng đối với mỗi sự kiện, hiện tượng, quá trình xã hội bao gồm tán thành, phản đối hay lưỡng lự. Cũng có thể phân chia dư luận xã hội theo các khuynh hướng như tích cực, tiêu cực; tiến bộ hoặc lạc hậu… Ở mỗi khuynh hướng, thái độ tán thành hoặc phản đối lại có thể phân chia theo các mức độ cụ thể như rất tán thành, tán thành, lưỡng lự, phản đối, rất phản đối.

Năm 2011, dư luận xã hội xôn xao về vụ án cướp tiệm vàng ở Bắc Giang của Lê Văn Luyện và mức án phạt về ba tội danh: giết người, cướp tài sản, chiếm đoạt tài sản nhưng chỉ bị phạt tù 18 năm do Luyện chưa đến tuổi thành niên. Theo Điều 18 “Bộ luật dân sự năm 2015” qui định về Người thành niên, người chưa thành niên thì: “Người từ đủ mười tám tuổi trở lên là người thành niên. Người chưa đủ mười tám tuổi là người chưa thành niên”. Và Điều 68 Bộ luật hình sự qui định về chịu trách nhiệm hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội thì: “Người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự”.

Trong vụ án này, Lê Văn Luyện sinh ngày 16/10/1993 và ngày gây án là 24/8/2011. Vì vậy, Lê Văn Luyện chưa đủ 18 tuổi, thuộc trường hợp người chưa thành niên phạm tội. Căn cứ vào điều 69 Bộ luật hình sự thì: “Không xử phạt tù chung thân hoặc tử hình đối với người chưa thành niên phạm tội…” Bản án không mấy bất ngờ bởi nó phù hợp với quy định của pháp luật Việt Nam song cũng có rất nhiều ý kiến trái chiều về vấn đề này.

Nhiều ý kiến cho rằng bản án còn chưa thỏa đáng bởi giết người phải đền mạng. Lê Văn Luyện giết nhiều người, tội ác man rợ của Luyện phải trả giá bằng mức án cao nhất đó là tử hình. Những người như Luyện phải loại bỏ khỏi xã hội và nếu cứ đà xét xử tuổi vị thành niên phạm tôi đặc biệt nghiêm trọng mà không xử được tử hình hoặc chung thân thì xã hội sẽ còn nhiều kẻ xấu tuổi vị thành niên lợi dụng sự chính sách nhân đạo, khoan hồng của Nhà nước để gây ra những vụ thảm án dã man hơn, có thể sẽ có nhiều cái chết đau thương hơn.

Như vậy, ở vụ việc này, dư luận xã hội có hai khuynh hướng tán thành và phản đối. Đồ thị phân bố dư luận xã hội có dạng chữ U. Sự không thống nhất trong quan điểm, thái độ của dư luận xã hội về vấn đề nay là do tâm lý, hiểu biết xã hội, trình độ học vấn, hiểu biết, kiến thức pháp luật của mỗi người.

Gần đây một vấn đề được đông đảo dư luận xã hội quan tâm là Nghị định 71/2012/NĐ-CP sửa đổi Nghị định 34/2010/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ.Do không thống nhất được việc rút quy định xử phạt xe không chính chủ, Bộ Giao thông vận tải vừa đưa cả 2 luồng ý kiến khác nhau vào trong Dự thảo Nghị định xử phạt hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ trình Thủ tướng Chính phủ quyết địnhBan soạn thảo đã đưa ra 2 luồng ý kiến khác nhau.

Lợi ích tinh thần được đề cập khi các vấn đề, các sự kiện đang diễn ra đụng chạm đến hệ thống các giá trị, chuẩn mực xã hội, phong tục tập quán, khuôn mẫu hành vi ứng xử văn hóa của cộng đồng xã hội hoặc của cả dân tộc. Lợi ích là điều kiện cần để thúc đẩy việc tạo ra dư luận xã hội nhưng quan trọng chính là sự nhận thức của các nhóm xã hội về lợi ích của mình và mối quan hệ giữa chúng với các sự kiện, hiện tượng, quá trình xã hội đang diễn ra.

Chẳng hạn hiện nay, chương trình phát triển vũ khí hạt nhân của một số cường quốc trên thế giới như Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên đang gặp phải làn sóng phản đối mạnh mẽ của dư luận thế giới vì nhân loại nhận thức được mối nguy hiểm tiềm tàng, nguy cơ chiến tranh tiêu diệt loài người.

Dư luận xã hội được coi như biểu hiện của hành vi tập thể do đó cơ sở của nó là hiệu ứng phản xạ quay vòng, mà khởi điểm từ cá nhân hay nhóm xã hội nhỏ sẽ gây nên các chuỗi kích thích của các cá nhân khác, nhóm xã hội khác. Để duy trì chuỗi kích thích này luôn cần các nhân tố tác động lên cơ chế hoạt động tâm lý của các cá nhân hay nhóm xã hội. Đối với dư luận xã hội, các nhân tố tác động đó có thể được coi là các thông tin bằng hình ảnh, âm thanh sống động, trực tiếp và có tính thời sự. Dưới tác động của các luồng thông tin này, các nhóm công chúng khác nhau sẽ cùng được lôi cuốn vào quá trình bày tỏ quan tâm của mình thông qua hoạt động trao đổi bàn bạc, tìm kiếm thông tin, cùng chia sẻ trạng hái tâm lý của mình với người xung quanh.

Đầu năm 2012, làn sóng dư luận trong nước không ngừng bàn luận về vụ án cưỡng chế thu hồi đất ở Tiên Lãng, Hải Phòng. Đây là vụ án tranh chấp đất đai giữa ông Đoàn Văn Vươn ở Cống Rộc, Vĩnh Quang và UBND huyện Tiên Lãng, TP Hải Phòng, bộc lộ những hạn chế trong việc thực thi pháp luật ở các cấp địa phương, thu hút đông đảo dư luận trong nước. Kết quả của vụ án này là 4 chiến sĩ công an huyện và 2 chiến sĩ thuộc ban chỉ huy quân sư huyện Tiên Lãng bị thương, 6 người dân bị bắt và bị khởi tố, việc thu hồi đất bị hủy bỏ, một số cán bộ địa phương bị đình chỉ công tác và bị cách chức.

Vụ việc hàm chứa nhiều ý nghĩa chưa từng có tiền lệ ở Việt Nam, kéo theo phản ứng tức thời và sâu sắc của báo chí và người dân, người dân với báo chí. Vụ việc này đã khởi nguồn không chỉ từ những tờ báo in và báo điện tử chuyên về chính trị – xã hội, mà còn lan rộng ra cả nhiều tờ báo chuyên ngành về kinh tế, khoa học kỹ thuật, giáo dục và nông thôn. Có ý kiến cho rằng Đoàn Văn Vươn đã vi phạm pháp luật tội chống người thi hành công vụ, nhưng huyện Tiên Lãng đã sai về mặt pháp luật khi tiến hành cưỡng chế ở vụ án này. Nguyên Chủ tịch nước Lê Đức Anh nói, trong vụ cưỡng chế này, chính quyền huyện, xã đều sai và đây là bài học mà chính quyền cả nước phải rút kinh nghiệm. Ông cũng cho rằng “Thành ủy Hải Phòng và UBND TP Hải Phòng phải có trách nhiệm xử lý, làm sai chỗ nào thì phải nhận sai ở chỗ đó, không được trả lời loanh quanh và không được che giấu sai phạm.

Trả lời tiền hậu bất nhất là không thể được và sử dụng bộ đội để cưỡng chế với dân là tuyệt đối sai”. Theoông Vươn cho biết do “không còn con đường nào khác nên buộc phải chống lại. Anh em chúng tôi không muốn gây chết người tại mảnh đất của mình nên đã cảnh báo trước khi xảy ra vụ cưỡng chế”. Còn người dân Tiên Lãng đã không giấu nổi niềm vui. Theo họ, kết luận của Thủ tướng đã “phục hồi” niềm tin của dân vào chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước và sự công bằng đã được trả lại cho những người nông dân quanh năm chân lấm tay bùn.

Dư luận có tính bền vững tương đối lại vừa có tính dễ biến đổi, phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Đối với những sự kiện, hiện tượng hay quá trình quen thuộc, dư luận xã hội thường rất bền vững. Ví dụ cho tính chất này là con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta. Đã có thời kì, có nhiều ý kiến tranh luận về vấn đề này, nhưng đa số đều thống nhất con đường xã hội chủ nghĩa là duy nhất. Một số bộ phận phản động Việt quốc, Việt cách đã tìm cách tuyên truyền, thêm thắt, bịa đặt không tốt để chống phá cách mạng và con đường chủ nghĩa xã hội của ta.

Tính biến đổi của dư luận xã hội thường được xem xét trên hai phương diện sau:

Thứ nhất, biến đổi theo không gian và môi trường văn hóa. Hệ thống các giá trị, chuẩn mực xã hội đang tồn tại trong nền văn hóa của cộng đồng người quyết định sự phán xét, đánh giá của dư luận xã hội về các sự kiện, hiện tượng hay quá trình xã hội. Với cùng một sự việc, sự kiện xảy ra, dư luận xã hội ở các cộng đồng người khác nhau lại thể hiện sự phán xét đánh giá khác nhau. Ví dụ ở Việt Nam, bò được xem là một con vật nuôi, cung cấp sức kéo, lấy sữa, thịt bò là một món ăn được nhiều người ưa thích. Nhưng đối với người Ấn Độ theo đạo Hin đu thì bò là một loài vật thiêng, những tín đồ ăn thịt bò sẽ bị dư luận lên án một cách gay gắt.

Thứ hai, biến đổi theo thời gian: Cùng với sự phát triển của xã hội, nhiều giá trị văn hóa, chuẩn mực xã hội, phong tục tập quán có thể bị biến đổi ngay trong cùng một nền văn hóa-xã hội dẫn đến sự thay đổi trong cách nhìn nhận, đánh giá của dư luận xã hội. Chẳng hạn như thời phong kiến, chế độ đa thê-người đàn ông cùng lúc có thể có nhiều vợ được dư luận xã hội dễ dàng chấp nhận, nhưng thời đại ngày nay thì không. Hôn nhân hiện đại là chế độ một vợ một chồng, người đàn ông nào cùng lúc có nhiều vợ là vi phạm pháp luật và bị xã hội lên án.

Dư luận xã hội về những vấn đề của đời sống xã hội có thể ở trạng thái tiềm ẩn, không bộc lộ bằng lời (dư luận của đa số im lặng). Trong những xã hội thiếu dân chủ, dư luận xã hội đích thực thường tồn tại dưới dạng tiềm ẩn. Trong xã hôi cũng có những dư luận xã hội tiềm ẩn về những sự việc, sự kiện sắp tới chưa xảy ra. Ví dụ trong thời kì phong kiến, tầng nông dân luôn bị áp bức, bóc lột nhưng không ai dám lên tiếng. Người dân đều oán giận, căm ghét giai cấp đại chủ, vua chúa phong kiến nhưng không thể hiện ra ngoài.

Sự phản ánh của dư luận xã hội có thể đúng hoặc sai do đó không nên tuyệt đối hóa khả năng nhận thức từ dư luận xã hội. Chân lý của dư luận xã hội không phụ thuộc vào tính chất phổ biến của nó. Không phải lúc nào dư luận của đa số cũng đúng hơn của thiểu số. Cái mới lúc đầu thường chỉ có một số người nhận thấy, do đó dễ bị đa số phản đối. Đối với những vấn đề trừu tượng, phức tạp, dư luận của giới trí thức, của những người có trình độ học vấn cao thường chín chắn hơn so với những người có trình độ học vấn thấp.

Chẳng hạn khi nói về chế độ chính trị ở Việt Nam, một số bộ phận phản động đã tuyên truyền về việc ở Việt Nam chỉ có một chính Đảng lãnh đạo, điều đó sẽ tạo ra sự độc quyền, chuyên chế, hạn chế tính dân chủ. Những dư luận chúng tạo ra làm ảnh hưởng đến quốc gia, dân tộc và đi sai lệch định hướng của Đảng và Nhà nước. Nhưng một số ít công dân thiếu hiểu biết đã tin vào dư luận do bọn phản cách mạng tạo ra gây ảnh hưởng xấu đến xã hội, lan truyền những dư luận sai lệch. Như vậy, không phải thông tin nào của dư luận xã hội đều đúng tuyệt đối. Trình độ học vấn, hệ tư tưởng có ảnh hưởng lớn đến dư luận xã hội quyết định tính chất tốt xấu, lợi hại của dư luận xã hội.

Ý thức pháp luật là một hình thái của ý thức xã hội, là sự phản ánh tồn tại xã hội từ góc nhìn pháp luật, là toàn bộ các tư tưởng, quan điểm của một giai cấp về bản chất và vai trò của pháp luật, về quyền và nghĩa vụ của nhà nước, các tổ chức xã hội và công dân, về tính hợp pháp hay không hợp pháp của hành vi con người trong xã hội. Nhưng trước khi xuất hiện nhà nước, pháp luật và cùng với đó là ý thức pháp luật, những yếu tố tham gia định hướng và điều chỉnh ý thức, hành vi xã hội của con người lại chính là đạo đức, phong tục, tập quán, truyền thống, tôn giáo, tín ngưỡng… đặc biệt là dư luận xã hội. Dựa vào cấu trúc của ý thức pháp luật, ta có thể đứng trên nhiều góc độ khác nhau để phân tích sự tác động của dư luận xã hội đối với ý thức pháp luật. Trong phạm vi bài viết, em xin tập trung phân tích sự tác động của dư luận xã hội đối với hệ tư tưởng pháp luật và tâm lý pháp luật.

Hệ tư tưởng pháp luật là tổng hợp các tư tưởng, quan điểm, quan niệm có tính chất lý luận và khoa học về pháp luật, phản ánh về pháp luật và các hiện tượng pháp luật một cách sâu sắc, tự giác dưới dạng các khái niệm, các phạm trù khoa học. Hệ tư tưởng pháp luật phản ánh trình độ nhận thức cao, có văn trong xã hội.

Dư luận xã hội tác động trực tiếp và gián tiếp đến sự hình thành và phát triển của hệ tư tưởng pháp luật. Với tư cách một hiện tượng xã hội, dư luận xã hội phản ánh tồn tại xã hội nói chung, đồng thời phản ánh các sự kiện, hiện tượng pháp lí xảy ra trong đời sống xã hội. Sự bàn luận, trao đổi ý kiến giữa các thành viên trong xã hội về các sự kiện, hiện tượng pháp lý đưa tới kết quả là, họ đạt tới sự nhận thức chung, thống nhất trong các phán xét, đánh giá về sự việc, sự kiện pháp lý.

Dư luận xã hội lan truyền càng rộng thì càng có xu hướng thống nhất về nội dung các phán xét, đánh giá, càng làm cho mọi người trong xã hội nhận thức sâu sắc. Do đó, ảnh hưởng của dư luận xã hội đối với hệ tư tưởng pháp luật còn thể hiện ở chỗ dư luận xã hội tham gia vào việc phổ biến, tuyên truyền trong các tầng lớp xã hội những giá trị pháp luật, các tư tưởng, quan điểm pháp luật.

Hệ tư tưởng pháp luật chính thống của một xã hội nhất định bao giờ cũng là hệ tư tưởng của giai cấp thống trị. Do đó, trong mỗi học thuyết, quan điểm pháp lý đều chứa đựng những tư tưởng về quyền lợi kinh tế, chính trị, xã hội và ý chí của một giai cấp nhất định. Chúng nảy sinh, tồn tại phát triển hay bị thủ tiêu đều phụ thuộc vào những điều kiện, hoàn cảnh nhất định. Khi giai cấp thống trị là lực lượng tiến bộ trong xã hội, có lợi ích giai cấp phù hợp với lợi ích cơ bản của các lực lượng xã hội khác thì tính dân chủ, tính khoa học và tính xã hội của hệ tư tưởng pháp luật sẽ thể hiện nổi trội, rõ nét.

Trong điều kiện như vậy, nội dung của các nhận định, đánh giá về những sự kiện, hiện tượng pháp lý mà dư luận xã hội đưa ra sẽ tương ứng và phù hợp với các giá trị, chuẩn mực pháp luật của hệ tư tưởng pháp luật chính thống, nghĩa là ý chí của giai cấp cầm quyền có nhiều nét tương đồng với dư luận xã hội của các tầng lớp nhân dân. Qua đó, dư luận xã hội có tác động mạnh mẽ và tích cực tới sự hình thành, phát triển và phổ biến hệ tư tưởng pháp luật trong xã hội.

Đối với đại đa số quần chúng nhân dân, lợi ích quốc gia, dân tộc luôn có tầm quan trọng hàng đầu. Dư luận xã hội đóng vai trò bảo vệ những quyền lợi, các giá trị phổ biến của xã hội, cũng như các giá trị, lợi ích cá nhân chính đáng của con người. Mỗi khi quyền lợi, các giá trị của quốc gia, dân tộc bị xâm hại thì dư luận xã hội lập tức xuất hiện với thái độ lên án, phản đối gay gắt.

Ví dụ về việc tranh chấp chủ quyền biển Đông có nhiều ý kiến tranh luận, bàn bạc về vấn đề này thông qua các website, báo chí, truyền thông. Đa số mọi người đều cho rằng: Trường Sa, Hoàng Sa là của Việt Nam, thuộc chủ quyền lãnh thổ của người Việt Nam và được ghi nhận trên bản đồ thế giới. Hiện nay, trên các website, công dân yêu nước đã và đang lập các khẩu hiệu phản đối Trung Quốc như: “Trường Sa – Hoàng Sa là của Việt Nam” phản đối hành động xâm lược của Trung Quốc.

Tâm lý pháp luật hình thành một cách tự phát dưới dạng tình cảm, cảm xúc, tâm trạng của các cá nhân và các nhóm xã hội đối với pháp luật, cũng như những hiện tượng pháp lý diễn ra trong đời sống xã hội. Tâm lý pháp luật chỉ biểu hiện cấp độ nhận thức thông thường dựa trên cơ sở tình cảm pháp luật truyền thống, kinh nghiệm sống, tập quán và tâm lý xã hội.

Một là, dư luận xã hội có tác động mạnh mẽ tới tình cảm pháp luật. Tình cảm pháp luật là yếu tố cơ bản của tâm lý pháp luật, thường được hình thành một cách tự phát dưới ảnh hưởng của hoạt động giao tiếp hàng ngày của con người với môi trường pháp lý xung quanh. Và, do là yếu tố mang tính tự phát, chịu sự chi phối của phong tục, tập quán, kinh nghiệm sống và nếp sống của con người, nên tình cảm pháp luật có thể được bộc lộ dưới dạng các phản ứng tích cực, cũng như tiêu cực của mỗi người trước những sự kiện, hiện tượng pháp lý diễn ra trong thực tế.

Do vậy, tình cảm pháp luật có thể biểu hiện dưới dạng tích cực, như thái độ phản ứng lại các hành vi vi phạm pháp luật, yêu công lý, đề cao công bằng xã hội, đề cao trách nhiệm pháp lý… cũng có thể biểu hiện dưới dạng tiêu cực, như cổ vũ cho hành vi phạm pháp, chống đối người thi hành .công vụ, làm ngơ trước người bị hại… Tất cả những biểu hiện đó của tình cảm pháp luật đều là đối tượng phán xét, đánh giá của dư luận xã hội.

Do vậy, mỗi cá nhân đều mong muốn có thể kiểm soát, điều chỉnh tình cảm và hành vi của mình sao cho phù hợp với ý chí chung của cộng đồng xã hội. Với ý nghĩa đó, dư luận xã hội tác động mạnh mẽ tới tình cảm pháp luật, góp phần định hướng cho sự hình thành tình cảm pháp luật tích cực, đúng đắn của mỗi công dân.

Hai là, dư luận xã hội tác động tới tâm trạng của con người trước luật pháp. Tâm trạng của con người trước luật pháp là sự thể hiện trạng thái tâm lý của các cá nhân trước các sự kiện, hiện tượng pháp lý diễn ra trong đời sống xã hội thường ngày. Đây là yếu tố rất linh động, dễ thay đổi của tâm lý pháp luật. Do sự tác động, ảnh hưởng của các yếu tố, như điều kiện sống, lao động, sinh hoạt hàng ngày mà tâm trạng của con người thường được thể hiện ra ở các trạng thái đối lập: hưng phấn-ức chế, lạc quan-bi quan, hy vọng-thất vọng, quan tâm-thờ ơ, nhiệt tình-lãnh đạm… trước thực tiễn cuộc sống.

Tuỳ thuộc đang trong tâm trạng hưng phấn, nhiệt tình, người ta dễ có những phản ứng mạnh mẽ, tích cực trước các hành vi vi phạm pháp luật ở nơi công cộng, còn khi không tin tưởng vào sự công bằng, nghiêm minh của pháp luật, người ta thường thờ ơ trước các sự kiện pháp lý… Những tâm trạng đó được bộc lộ trong nội dung các phán xét, đánh giá của dư luận xã hội và qua đó, dư luận xã hội tác động tới tâm trạng của con người trước luật pháp.

Với tư cách là sự thể hiện ý chí chung của cộng đồng xã hội, dư luận xã hội có thể động viên, khích lệ, khơi gợi niềm tin của các thành viên trong xã hội đối với sự công bằng, nghiêm minh của pháp luật, đưa ra những lời khuyên, tư vấn về cách ứng xử trước một thực tiễn pháp luật nhất định.

Dư luận xã hội có thể tác động, làm nảy sinh trong mỗi người tâm trạng xúc động trước hành vi thể hiện ý thức tự giác chấp hành pháp luật. Đây là một biểu hiện cao của lương tâm con người, hướng con người tới ý muốn noi theo những người có thái độ tự giác chấp hành các nguyên tặc, quy định của pháp luật, tuân theo quy luật hướng thiện. Thông qua việc tạo ra những “khuôn mẫu tư duy”, “khuôn mẫu hành động” cho các thành viên trong xã hội, dư luận xã hội hướng con người theo gương người tết, việc tất trong lĩnh vực chấp hành pháp luật. Điều đó nói lên rằng, dư luận xã hội có ảnh hưởng tích cực tới tâm trạng của con người trước luật pháp.

Ba là, thông qua dư luận xã hội, các cá nhân tự đánh giá về hành vi ứng xử của mình trong phạm vi điều chỉnh của các quy phạm pháp luật hiện hành. Tâm lý pháp luật không chỉ biểu hiện ở tình cảm pháp luật, tâm trạng của con người trước luật pháp, mà nó còn được biểu hiện ra ở việc các cá nhân tự đánh giá về hành vi ứng xử của mình trong môi trường điều chỉnh của pháp luật.

Hành vi pháp luật của con người, trong chừng mực nhất định, chính là sự hiện thân của tình cảm pháp luật và tâm trạng trước luật pháp của họ. Cách thức mà mỗi cá nhân tự đánh giá về hành vi ứng xử của mình có thể biểu hiện dưới dạng cảm xúc, như tự hào, phấn khởi hay e ngại, xấu hổ, lo lắng… Những phán xét, đánh giá (khen-chê, biểu dương-lên án…) của dư luận xã hội đối với hành vi của các cá nhân, ở một mức độ nào đó, đều tham gia vào việc điều chỉnh hành vi pháp luật của cá nhân.

Nói cách khác, dư luận xã hội, trong trường hợp này, là “tấm gương” để mỗi cá nhân tự soi mình vào đó mà định hướng, điều chỉnh hành vi ứng xử của bản thân. Sức mạnh đặc trưng của dư luận xã hội khiến cho mỗi cá nhân luôn phải suy nghĩ, xem xét trước khi thực hiện một hành vi pháp luật nào đó: hành vi đó đúng hay sai? phù hợp hay không phù hợp với các quy định của pháp luật hiện hành? Nếu thực hiện một hành vi nào đó thì có bị dư luận xã hội lên án hoặc phải chịu sự xử lý theo các nguyên tắc luật định không? Điều đó cho thấy, dư luận xã hội luôn có tác động tới cách thức mà mỗi cá nhân tự đánh giá về hành vi ứng xử của mình.

Qua bài tiểu luận, ta có thể nắm được năm tính chất của dư luận xã hội: tính khuynh hướng, tính lợi ích, tính lan truyền, tính bền vững tương đối và dễ biến đổi, tính tương đối và tác dụng của nó tới lĩnh vực pháp luật để từ đó có cái nhìn khách quan về bản chất của dư luận xã hội. Bởi vậy cần phát huy tối đa các tác dụng tích cực của dư luận xã hội, nhằm xây dựng một xã hội dân chủ, văn minh. Đồng thời, với tư cách là một phương thức tồn tại đặc biệt của thức xã hội, dư luận xã hội có tác động mạnh mẽ đến ý thức pháp luật trên cả hai góc độ: hệ tư tưởng pháp luật và tâm lý pháp luật. Việc nghiên cứu, tìm hiểu về dư luận có ý nghĩa lớn về mặt vật chất và tinh thần của con người, là phương tiện quan trọng và mạnh mẽ để nhân dân phát huy quyền làm chủ và tính tích cực của công dân đối với đất nước.

Vai Trò Của Dư Luận Xã Hội Đối Với Việc Quản Lý Xã Hội / 2023

Vai trò của dư luận xã hội đối với việc quản lý xã hội

Ngày đăng:11-04-2016

Dư luận xã hội là gì?

Như vậy những ý kiến chung của công chúng trong dư luận xã hội có thể biểu thị 1 cách công khai hoặc lan truyền 1 cách ngấm ngầm, nhưng dù công khai hay ngấm ngầm dư luận xã hội luôn mang tính “nặc danh” chứ không gắn với cá nhân cụ thể. Hay nói cách khác chủ thể của dư luận xã hội bao giờ cũng là cộng đồng xã hội.

Khi tìm hiểu về dư luận xã hội, ta hay nhầm lẫn giữa dư luận xã hội và tin đồn. Vậy làm thế nào để phân biệt giữa dư luận xã hội và tin đồn? Dư luận xã hội xuất phát từ thực tế khách quan, dư luận xã hội có tính trách nhiệm xã hội (tức hàm chứa cách giải quyết vấn đề) còn tin đồn chỉ là một tin tức về một sự việc, hiện tượng nào đó mà thông tin chưa được xác minh, mang tính bịa đặt hoặc thổi phồng có tính chất chủ quan ly kỳ hấp dẫn và không có tính trách nhiệm. 

Bản chất của dư luận xã hội

Dư luận xã hội là hình thức biểu hiện đặc thù của ý thức xã hội thuộc về đời sống tinh thần của xã hội là một hiện tượng tâm lý rất phức tạp.

Dư luận xã hội mang tính tổng hợp của các hình thái ý thức xã hội, là kết quả của sự tác động qua lại giữa các hình thái ý thức xã hội như là tư tưởng triết học, tư tưởng pháp quyền, chính trị, tôn giáo, đạo đức…

Dư luận xã hội mang tính hiện thực tinh thần nhưng có tác động to lớn đối với tiễn. Bởi vì dư luận xã hội phản ánh tâm tư nguyện vọng, lợi ích, nhu cầu của công chúng. Dư luận xã hội không phải là cái tạo ra để làm phong phú đời sống tinh thần mà là để điều chỉnh tác động đế thực tiễn. Trong bản thân dư luận bao giờ cũng chứa đựng yếu tố nhận thức tư tưởng và xu hướng hành động. Dư luận xã hội là cầu nối giữa nhận thức và hành động thực tiễn.

Dư luận xã hội mang tính kinh nghiệm được hình thành dựa trên cơ sở của kinh nghiệm đời sống và trên những quan hệ trực tiếp chứ không phải tư duy phân tích logic. Nên dư luận xã hội vừa có tính thuyết phục cao nhưng cũng có khi dư luận không chính xác (lệch hướng).

Dư luận xã hội như là một cơ chế tâm lý xã hội. Nghĩa là có sức mạnh xã hội đối với hành động của con người. Đứng trước dư luận xã hội con người bắt buộc tuân theo.

Chức năng của dư luận xã hội

Chức năng đánh giá: dư luận xã hội đánh giá hành vi xã hội, các chuẩn mực xã hội, các quá trình xã hội. Dư luận xã hội đánh giá các hành vi đó đúng hay sai, tốt hay xấu. Những chuẩn mực xã hội mà dư luận dự vào để đánh giá có thể là những điều luật hoặc là chuẩn mực chung của đông đảo công chúng. Sự đánh giá này thường khác nhau trong các nhóm xã hội khác nhau cũng như trong những khoảng thời gian khác nhau.

Chức năng giáo dục: dư luận xã hội khi phán xét đánh giá (khen hoặc chê) nó có tác dụng khuyến khích cái tốt, ngăn ngừa cái xấu, giữ gìn và bảo vệ cái đúng, cái đẹp phê phán cái tiêu cực. 

Chức năng điều hòa: dư luận xã hội góp phần sắp xếp, điều chỉnh các quan hệ xã hội cho đúng mục đích và chuẩn mực. Trên cơ sở đánh giá các sự kiện, hiện tượng, dư luận xã hội nêu ra các chuẩn mực chỉ ra những việc nên làm hay nên tránh hoặc điều chỉnh hành vi cách cư xử của con người. Đặc biệt khi có những biến cố xã hội lớn đụng chạm trực tiếp và mạnh mẽ đến cộng đồng, dư luận xã hội hình thành nhanh chóng và rộng rãi, tạo ra sức mạnh lớn chỉ hướng cho hoạt động của quần chúng, cổ vũ cho những hành vi phù hợp với lợi ích chung lên án những hành vi không phù hợp.

Chức năng kiểm soát: dư luận xã hội còn có khả năng kiểm soát thông qua sự phán xét, đánh giá có tác dụng giám sát hoạt động của các tổ chức xã hội, các cơ quan nhà nước có phù hợp với lợi ích xã hội hay không. Mọi hoạt động của con người trong xã hội có sự đánh giá giám sát của xã hội cho nên buộc mọi người phải tuân theo chuẩn mực xã hội.

Chức năng tư vấn: thông qua nội dung của mình dư luận xã hội góp ý kiến kiến nghị và giải đáp những vấn đề mà dư luận xã hội quan tâm giúp cho các tổ chức Đảng cơ quan nhà nước giải quyết những vấn đề quan trọng trong xã hội vì vậy xã hội càng phát triển, trình độ văn hóa của nhân dân càng cao, dân chủ càng mở rộng thì sức mạnh của dư luận xã hội càng lớn có tác dụng đến xã hội và góp phần thúc đẩy xã hội phát triển.

Ý nghĩa nghiên cứu dư luận xã hội đối với quản lý

Nghiên cứu dư luận xã hội có ý nghĩa rất quan trọng đối với công tác lãnh đạo quản lý xã hội, đối với việc đề ra và triển khai thực hiện các chủ trương nhiệm vụ cụ thể trong từng thời điểm nhất định. Bởi vì: 

Trong quản lý xã hội đòi hỏi người quản lý phải hiểu biết sâu sắc nhu cầu và lợi ích của quần chúng trong sản xuất cũng như trong đời sống. Nghiên cứu dư luận xã hội là một trong những hình thức tốt nhất để thu thập những thông tin phản ánh tâm tư nguyện vọng cũng như suy nghĩ và cảm xúc của các tầng lớp xã hộ.

Dư luận xã hội giúp ta nắm bắt kịp thời thực trạng tư tưởng của các nhóm xã hội khác nhau, cũng như những diễn biến của thực trạng này trong từng thời kỳ. Đây cũng là những nguồn thông tin vô cùng quý giá giúp ta khắc phục bệnh quan liêu xa rời thực tiễn, xa rời quần chúng, khắc phục bệnh chủ quan duy ý chí trong lãnh đạo quản lý xã hội. Vì các thông tin này còn là những tín hiệu phản hồi từ phía xã hội, từ phía quần chúng đối với việc thực hiện các nhiệm vụ kinh tế – xã hội từ đó có cơ sở điều chỉnh, bổ sung các chủ trương biện pháp cho phù hợp hơn.

Hiện nay sự nghiệp đổi mới đất nước diễn ra càng nhanh, càng nhiều vấn đề mới nảy sinh vì vậy việc nghiên cứu, tìm hiểu và phân tích dư luận xã hội về các vấn đề mới đó càng giúp cho cơ quan lãnh đạo có thêm cơ sở để đề ra những quyết định đúng thúc đẩy sự nghiệp đổi mới đi đúng hướng và đem lại hiệu quả thiết thực.

Nghiên cứu dư luận xã hội một mặt góp phần nâng cao ý thức giác ngộ chính trị trong quần chúng, mở rộng dân chủ xã hội chủ nghĩa, động viên quần chúng tham gia vào việc quản lý nhà nước, quản lý xã hội. Mặt khác nó góp phần tăng cường mối liên hệ giữa Đảng, nhà nước với quần chúng nhân dân góp phần hoàn thiện công tác lãnh đạo quản lý xã hội trên cơ sở khoa học.

Nắm bắt dư luận xã hội giúp chúng ta có những thông tin đa chiều về các mặt hoạt động của các cơ quan nhà nước và giúp cho nhân dân nhận thức và thực hiện các chủ trương, chính sách, nghị quyết của Đảng, của các cơ quan nhà nước và các tổ chức xã hội tốt hơn. Những thông tin này là một trong những căn cứ quan trọng để Đảng và nhà nước kiểm tra hoạt động công tác của mình để có những chủ trương, quyết định cần thiết và phù hợp với thực tế.

Trong xã hội ta hiện nay việc tìm hiểu và nghiên cứu dư luận xã hội đã trở thành điều kiện quan trọng để đảm bảo công tác lãnh đạo và quản lý xã hội đạt được hiệu quả cao. Đảng, nhà nước ta hết sức coi trọng công tác nắm bắt dư luận xã hội vì mọi hoạt động của Đảng, nhà nước đều xuất phát từ lợi ích của nhân dân lao động và của cả dân tộc. Qua dư luận xã hội để nắm bắt được tâm trạng của nhân dân, hiểu được nguyện vọng và lợi ích của họ để đề ra chủ trương chính sách phù hợp, “giữ chặt mối liên hệ với dân chúng và luôn lắng nghe ý kiến dân chúng đó là nền tảng lực lượng của đoàn thể và nhờ đó mà đoàn thể thắng lợi” (lời: Hồ Chí Minh). 

Minh Nguyệt

Báo Chí Trong Vai Trò Định Hướng Dư Luận Xã Hội / 2023

Hiện nay, không thể phụ nhận vai trò, tác động mạnh mẽ của báo chí trong công tác định hướng dư  luận quần chúng nhân dân.

Ghi nhận và đánh giá cao những đóng góp tích cực của Hội Nhà báo Việt Nam trong những năm qua nhưng cũng phải thẳng thắn cho rằng, hoạt động báo chí và Hội Nhà báo vẫn còn những hạn chế nhất định như một số cơ quan báo chí đưa thông tin sai sự thật gây hậu quả nghiêm trọng bị xử phạt, thông tin không phù hợp với lợi ích của đất nước và nhân dân.

Tình trạng chạy theo yếu tố thương mại, lợi ích nhóm, lợi ích cá nhân, đưa tin một chiều, giật gân, câu khách… Một số nhà báo lợi dụng chức năng phản ánh của báo chí để yêu cầu cá nhân, tổ chức cung cấp tài liệu theo phản ánh của xã hội là không đúng quy định pháp luật, hay viết bài thiếu tính xây dựng, thể hiện quan điểm tiêu cực trên mạng xã hội, một số văn phòng đại diện, phóng viên, hội viên thường trú và đội ngũ cộng tác viên hoạt động không đúng chức năng, nhiệm vụ, gây tác động xấu đến dư luận xã hội.

Căn cứ quy định tại Khoản 8, Điều 9 Luật Báo chí 2016, đối với các hành vi báo chí thông tin sai sự thật thuộc một trong các hành vi bị nghiêm cấm trong hoạt động báo chí, cụ thể:

“Điều 9. Các hành vi bị nghiêm cấm

…9. Thông tin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của cơ quan, tổ chức, danh dự, nhân phẩm của cá nhân; quy kết tội danh khi chưa có bản án của Tòa án”.

Ngoài ra, với trường hợp thông tin sai sự thật làm ảnh hưởng đến danh dự, nhân phẩm của cá nhân còn vi phạm quy định tại Khoản 1, Điều 34 Bộ luật Dân sự 2015, theo đó, quyền được bảo vệ danh sự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân là bất khả xâm phạm và được pháp luật bảo vệ.

Về trách nhiệm pháp lý đối với hành vi thông tin sai sự thật, xúc phạm danh dự, nhân phẩm cá nhân, uy tín tổ chức được quy định cụ thể tại Điều 34 Bộ luật Dân sự 2015; Điều 25; Điều 42; Điều 43 Luật Báo chí 2016; Điều 8 Nghị định 159/2013/NĐ-CP; theo đó, Cơ quan báo chí, Nhà báo phải có trách nhiệm gỡ bỏ nội dung trên trang báo điện tử và phát lời cải chính, xin lỗi trên báo chí, trường hợp gây thiệt hại phải bồi thường; bị phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng trường hợp đăng, phát thông tin sai sự thật nhưng chưa gây ảnh hưởng nghiêm trọng; phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng nếu gây ảnh hưởng nghiêm trọng và phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng khi gây ảnh hưởng rất nghiêm trọng.

Đối với hành vi đăng, phát thông tin xuyên tạc, vu khống nhằm xúc phạm danh dự, nhân phẩm của cá nhân có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng.

Trên thực tế, báo chí là công việc đặc thù, có tính chuyên biệt, đặc biệt trong đó nổi lên một vấn đề quan trọng là người làm báo tiếp nhận sự thật như thế nào, phản ánh sự thật ra sao. Đây là điều không dễ giải quyết nếu người làm báo tác nghiệp theo cung cách nhìn gì biết đó, thấy gì ghi nấy, chỉ cần đơn thuần mô tả lại sự việc. Thực tế nghề nghiệp cho thấy sự thật được phản ánh trên báo chí không phải chỉ là những gì diễn ra trên bề mặt của vấn đề, sự kiện, hiện tượng. Muốn tiếp cận và phản ánh sự thật đó, người làm báo phải thâm nhập, tìm hiểu kỹ càng, sâu sắc, bằng nhãn quan, kỹ năng và kinh nghiệm của mình để tiếp cận, gạn lọc… từ đó mới có thể đưa thông tin đến bạn đọc một cách bản chất nhất, trung thực nhất. Vì vậy, bản chất của sự thật được làm rõ như thế nào phụ thuộc rất lớn vào Tâm và Tầm của mỗi người làm báo. Có thể thấy phần lớn các sai phạm dẫn đến việc phải xử phạt trong thời gian qua đều có nguyên nhân từ việc chủ quan, thiếu trách nhiệm hoặc không hội tụ đủ những yếu tố thuộc về phẩm chất nghề nghiệp làm báo. Thậm chí, vì năng lực nghiệp vụ yếu kém, vì suy thoái đạo đức nghề nghiệp, vì động cơ vụ lợi,… mà một số người làm báo tự hạ thấp nhân phẩm của mình bằng cách chạy theo thông tin giật gân, câu khách, bóp méo thông tin, đưa thông tin sai lệch… Chưa kể, một người làm báo, dù đạo đức nghề nghiệp tốt mà kém cỏi về năng lực nghiệp vụ thì vẫn có thể gây hậu quả khôn lường.

Việc xử phạt báo chí khi đưa tin sai sự thật là hết sức cần thiết, không phải chỉ xảy ra ở Việt Nam. Việc xử phạt hành vi tương tự đã được nhiều quốc gia trên thế giới tiến hành rất nghiêm khắc. Tại Đức, hành vi đăng tải trên báo chí hoặc in-tơ-nét nội dung sai sự thật, phỉ báng nhà nước, phỉ báng tôn giáo, kích động hận thù hoặc có tác động phá hoại trật tự công cộng,… đều bị coi là phạm tội hình sự. Ngày 13-11-2017, Liên hiệp châu Âu (EU) đã khởi động một cuộc tham vấn trên quy mô lớn với các nhóm đối tượng: người dân, các nền tảng mạng xã hội, các tổ chức báo chí,… về tin tức giả, từ đó đưa ra giải pháp xử lý tin tức giả trong tương lai. Đáng chú ý, mới đây, ngày 29-7-2018, Ủy ban truyền thông thuộc Hạ viện Vương quốc Anh đã chính thức công bố báo cáo đề nghị chính phủ có biện pháp quản lý chặt chẽ các trang mạng xã hội nhằm bảo vệ nền dân chủ trong kỷ nguyên công nghệ số. Chính vì thế, việc một số tổ chức, cá nhân trong nước và ngoài nước cho rằng, việc xử phạt sai phạm trong hoạt động báo chí ở Việt Nam vừa qua là “ngăn cản tự do ngôn luận”, “kết quả âm mưu của chính quyền” là không thể chấp nhận. Cần nhận rõ bản chất của các ý kiến loại này là xuyên tạc, lợi dụng sự kiện để vu cáo chính quyền. Bởi trên thế giới, không có thứ tự do ngôn luận nào đồng nghĩa với sự thật bị bóp méo, coi thường pháp luật, xúc phạm cộng đồng, coi thường độc giả. Tự do ngôn luận, tự do báo chí không phải là vô hạn. Quyền tự do đó phải được đặt trong khuôn khổ của pháp luật, phục vụ lợi ích quốc gia, dân tộc; không xâm phạm quyền lợi của tổ chức, cá nhân.

Tác giả: Ban Truyền thông

Chủ Tịch Ubnd Tỉnh Đinh Văn Thu: Báo Chí Phải Làm Tốt Chức Năng Định Hướng Dư Luận Xã Hội / 2023

Sáng 21.6, UBND tỉnh tổ chức kỷ niệm 94 năm Ngày Báo chí cách mạng Việt Nam (21.6.1925 – 21.6.2019), 20 năm thành lập Hội Nhà báo tỉnh (28.7.1999 – 28.7.2019) và tổng kết, trao thưởng Giải báo chí Huỳnh Thúc Kháng lần thứ XIII (2018 – 2019).

Các đồng chí Lê Văn Dũng – Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy; Đinh Văn Thu – Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh; Võ Xuân Ca – Chủ tịch Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh; Nguyễn Chín – Trưởng ban Tổ chức Tỉnh ủy; Nguyễn Ngọc Truyền – Trưởng ban Nội chính Tỉnh ủy; Nguyễn Hoàng Minh – Phó Chủ tịch HĐND tỉnh; Trần Văn Tân – Phó Chủ tịch UBND tỉnh, Trưởng ban Tổ chức Giải thưởng báo chí Huỳnh Thúc Kháng lần thứ XIII cùng lãnh đạo các sở, ban ngành và đông đảo người làm báo tham dự.

Công cụ tuyên truyền sắc bén

Thay mặt Tỉnh ủy, HĐND, UBND, Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh, Chủ tịch UBND tỉnh Đinh Văn Thu ghi nhận, đánh giá cao và nhiệt liệt biểu dương, chúc mừng những thành tích của các cơ quan báo chí, Hội Nhà báo tỉnh và đội ngũ những người làm báo trong thời gian qua. Đồng thời nhấn mạnh, trải qua 94 năm đồng hành với sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, báo chí cách mạng Việt Nam đã không ngừng lớn mạnh, thật sự trở thành lực lượng xung kích trên mặt trận tư tưởng văn hóa của Đảng, Nhà nước và nhân dân.

Theo Chủ tịch UBND tỉnh Đinh Văn Thu, báo chí là công cụ thông tin tuyên truyền sắc bén, góp phần quan trọng bảo vệ Đảng, Nhà nước và sự nghiệp cách mạng của dân tộc. Báo chí đã tuyên truyền kịp thời chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước. Phản ánh toàn diện mọi mặt của đời sống xã hội và tình hình quốc tế; phát hiện, tôn vinh những giá trị tốt đẹp, nhân tố mới, mô hình hiệu quả, cách làm hay, những tấm gương người tốt, việc tốt. “Lực lượng báo chí cũng tích cực đấu tranh với các thế lực thù địch, phê phán những biểu hiện tiêu cực trong đời sống xã hội. Bảo vệ, giữ gìn các trị văn hóa truyền thống của dân tộc, thúc đẩy công cuộc kiến thiết đất nước” – Chủ tịch UBND tỉnh Đinh Văn Thu khẳng định.

Cùng với báo chí cả nước, báo chí Quảng Nam trong gần một thế kỷ qua đã có những bước tiến dài, để lại dấu ấn quan trọng trong lịch sử phát triển của báo chí đất nước nói chung, báo chí cách mạng Việt Nam nói riêng với những tên tuổi lớn như: nhà báo – chí sĩ Huỳnh Thúc Kháng, nhà báo Lưu Quý Kỳ, Phan Thanh,… Đặc biệt, ngay sau ngày tái lập tỉnh năm 1997, cùng với việc xây dựng hệ thống chính trị, các cơ quan báo chí của tỉnh cũng đã nhanh chóng được thành lập và đi vào hoạt động. Vào tháng 7.1999, Hội Nhà báo tỉnh được thành lập với 15 hội viên.

Từ trong gian khó của những ngày đầu tái lập tỉnh, báo chí Quảng Nam đã từng bước trưởng thành và có bước phát triển toàn diện cả về đội ngũ, loại hình, số lượng và chất lượng các sản phẩm báo chí. Đội ngũ những người làm báo trong tỉnh đã luôn nỗ lực học tập, rèn luyện, ngày càng vững vàng về bản lĩnh chính trị và chuyên môn nghiệp vụ; tâm huyết với nghề nghiệp, không quản hiểm nguy, gian khổ, lăn lộn với thực tế cuộc sống, tuyên truyền có hiệu quả chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước. Phản ánh thực tiễn phong phú, đa dạng các mặt của đời sống xã hội, góp phần tạo sự đồng thuận của nhân dân, đóng góp tích cực vào công cuộc xây dựng và phát triển quê hương Quảng Nam.

“Sau 20 năm, chúng ta đã có đội ngũ đông đảo những người làm báo, góp phần cung cấp thông tin kịp thời, đa dạng, phong phú, phục vụ kịp thời sự lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của các cấp ủy đảng, chính quyền và nhu cầu thông tin của các tầng lớp nhân dân; giới thiệu, quảng bá hình ảnh và sự phát triển năng động của vùng đất và con người Quảng Nam đến với nhân dân trong nước và bạn bè quốc tế” – Chủ tịch UBND tỉnh Đinh Văn Thu đánh giá.

Đồng chí Đinh Văn Thu cho biết, lãnh đạo tỉnh và các địa phương luôn đồng hành, quan tâm hỗ trợ và tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của báo chí. Trong đó, Giải thưởng báo chí mang tên chí sĩ, nhà báo yêu nước Huỳnh Thúc Kháng đã trở thành sự kiện báo chí tiêu biểu hằng năm của tỉnh, thu hút sự quan tâm, hưởng ứng của đông đảo các cơ quan báo chí, người làm báo chuyên nghiệp và không chuyên trong cả nước. Giải thưởng báo chí Huỳnh Thúc Kháng đã thật sự trở thành ngày hội của những người làm báo, là sân chơi trí tuệ bổ ích góp phần cổ vũ, động viên, khuyến khích các cơ quan báo chí và những người làm báo nỗ lực phấn đấu vươn lên, đóng góp tích cực vào sự nghiệp phát triển báo chí của Quảng Nam và cả nước.

Cần có cái nhìn nhân văn với mọi vấn đề

Để báo chí phát triển mạnh mẽ hơn trong thời gian đến, Chủ tịch UBND tỉnh Đinh Văn Thu mong các cơ quan báo chí, Hội Nhà báo tỉnh và những người làm báo trong tỉnh tiếp tục phát huy truyền thống tốt đẹp của báo chí cách mạng, truyền thống của báo chí đất Quảng và những thành tựu đạt được trong hơn 22 năm qua để thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị. Trọng tâm là thông tin tuyên truyền phục vụ sự nghiệp cách mạng của Đảng, sự nghiệp đổi mới, hội nhập và phát triển của quê hương, đất nước.

Công tác tuyên truyền phải bảo đảm đúng chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và phản ánh trung thực, khách quan, đúng mức, đúng lúc các vấn đề của thực tiễn trên tinh thần xây dựng. Báo chí cần chú trọng tuyên truyền những mặt tốt, mặt tích cực, gương người tốt, việc tốt, điển hình tiên tiến, nhân rộng các phong trào thi đua yêu nước gắn với việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức phong cách Hồ Chí Minh để lan tỏa những giá trị tốt đẹp, tạo động lực tinh thần thúc đẩy công cuộc xây dựng, bảo vệ quê hương, đất nước.

Đồng thời cần có cái nhìn nhân văn với cuộc sống, kể cả khi phản ánh, biểu dương các mặt tích cực và phê phán các biểu hiện tiêu cực nhằm góp phần định hướng dư luận xã hội, bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm, lan tỏa và nhân lên niềm tin trong nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của chính quyền và sự phát triển của quê hương, đất nước.

Trong xu thế phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin và truyền thông, đòi hỏi các cơ quan báo chí của tỉnh và đội ngũ người làm báo phải nhanh chóng tiếp cận với công nghệ mới, phương pháp làm báo mới. Chú trọng cập nhật, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, mở rộng các hình thức, kênh tiếp cận công chúng, vừa kịp thời nắm bắt tình hình, vừa đưa tin và định hướng dư luận.

Chủ tịch UBND tỉnh Đinh Văn Thu yêu cầu, trong bối cảnh thông tin trên mạng ngày càng nhiều, có cả những thông tin tốt và thông tin xấu, độc, từng cơ quan báo chí và mỗi nhà báo phải đề cao trách nhiệm, chọn lọc thông tin, kiểm định tính xác thực; làm tốt chức năng định hướng dư luận xã hội, trách nhiệm xã hội và nghĩa vụ công dân của người làm báo. “Để thực hiện được mục tiêu trên, Hội Nhà báo tỉnh cần chú trọng hơn nữa công tác đào tạo, bồi dưỡng về chính trị, đạo đức nghề nghiệp, chuyên môn nghiệp vụ và phát triển hội viên, chuẩn bị chu đáo các điều kiện để tiến hành đại hội nhiệm kỳ mới vào năm 2020” – Chủ tịch UBND tỉnh Đinh Văn Thu đề nghị.

Đồng chí Đinh Văn Thu cũng đề nghị Sở TT-TT chủ động phối hợp chặt chẽ với Hội Nhà báo tỉnh, các cơ quan báo chí thực hiện tốt công tác quản lý nhà nước về báo chí. Nhất là triển khai thực hiện Quy hoạch phát triển và quản lý báo chí toàn quốc đến năm 2025 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, phù hợp với đặc điểm, tình hình của địa phương. Trong đó, chú trọng đầu tư đúng mức, tạo thuận lợi cho báo chí, nhất là các cơ quan báo chí của tỉnh phát triển toàn diện về mọi mặt, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.

Nguồn: chúng tôi