Chức Năng Của Chỉ Số Thị Trường Chứng Khoán / TOP #10 ❤️ Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 10/2022 ❣️ Top View | Phauthuatthankinh.edu.vn

Chức Năng Của Thị Trường Chứng Khoán

Bản Chất Và Chức Năng Của Thị Trường Chứng Khoán

Thị Trường Chứng Khoán (Stock Market) Là Gì? Chức Năng Và Phân Loại

Vai Trò Và Chức Năng Của Công Ty Chứng Khoán

Đặc Khu Kinh Tế Là Gì?

Chức Năng, Nhiệm Vụ Ban Quản Lý Khu Kinh Tế Tỉnh Hà Tĩnh

Huy động vốn đầu tư cho nền kinh tế

Khi các nhà đầu tư mua chứng khoán do các công ty phát hành, số tiền tạm thời nhàn rỗi của họ được đưa vào hoạt động sản xuất kinh doanh và qua đó, góp phần mở rộng sản xuất xã hội. Bằng cách hỗ trợ các hoạt động đầu tư của công ty, thị trường chứng khoán đã có những tác động quan trọng đối với sự phát triển của nền kinh tế quốc dân. Thông qua thị trường chứng khoán, chính phủ và chính quyền ở các địa phương cũng huy động được các nguồn vốn cho mục đích sử dụng và đầu tư phát triển hạ tầng kinh tế, phục vụ cho các nhu cầu chung của xã hội.

Cung cấp môi trường đầu tư cho công chúng

Thị trường chứng khoán cung cấp cho công chúng một môi trường đầu tư lành mạnh với các cơ hội lựa chọn phong phú. Có nhiều loại chứng khoán trên thị trường với các mức độ rủi ro khác nhau, để các nhà đầu tư có thể chọn lựa cho phù hợp với khả năng và sở thích của mình. Chính vì vậy, thị trường chứng khoán góp phần đáng kể làm tăng mức tiết kiệm quốc gia.

Cung cấp khả năng thanh khoản cho các chứng khoản

Nhờ có thị trường chứng khoán các nhà đầu tư có thể chuyển đổi các chứng khoán mà họ đang sở hữu thành tiền mặt, hoặc các loại chứng khoán khác khi họ muốn. Khả năng thanh khoản (khả năng chuyển đổi thành tiền mặt) là một trong những đặc tính hấp dẫn của chứng khoán đối với người đầu tư. Đây là yếu tố cho thấy tính linh hoạt, an toàn của vốn dầu tư. Chức năng cung cấp thanh khoản cho các chứng khoán là chức năng quan trọng, đảm bảo cho thị trường chứng khoán hoạt động một cách năng động và có hiệu quả.

Đánh giá giá trị của doanh nghiệp và của nền kinh tế

Thị trường chứng khoán là nơi đánh giá của doanh nghiệp và của cả nền kinh tế một cách tổng hợp và chính xác (kể cả giá trị hữu hình và vô hình) thông qua chỉ sổ giá chứng khoán trên thị trường. Từ đó tạo ra một môi trường cạnh tranh lành mạnh nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, kích thích áp dụng công nghệ mái, cải tiến sản phẩm.

Tạo môi trường giúp chính phủ thực hiện các chính sách kỉnh tế vĩ mô

Thị trường chứng khoán là nơi cung và cầu vốn dài hạn gặp nhau. Trên thị trường chứng khoán giá cả các chứng khoán phản ánh sự phát triển của các doanh nghiệp nói riêng và các ngành kinh tế nói chung, giá các chứng khoán tăng lên cho thấy đầu tư dang mở rộng, nền kinh tế tăng trưởng, và ngược lại giá chứng khoán sẽ giảm cho thấy các dấu hiệu tiêu cực của nền kinh tế. Thị trường chứng khoán được gọi là phong vũ biểu của nền kinh tế, và là một công cụ quan trọng giúp Chính phủ thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô. Thông qua thị trường chứng khoán, Chính phủ có thể mua và bán trái phiếu Chính phủ để tạo ra nguồn thu, bù đắp thâm hụt ngân sách và kiểm soát lạm phát. Ngoài ra, Chính phủ cũng có thể sử dụng một sô chính sách, biện pháp tác động vào thị trường chứng khoán nhằm định hướng đầu tư, đảm bảo cho sự phát triển cân đối của nền kinh tế.

Vai Trò Và Chức Năng Của Thị Trường Chứng Khoán

Chính Sách Tiền Tệ Trong Nền Kinh Tế Vĩ Mô

Tài Liệu Kinh Tế Vi Mô

Đề Cương Môn Học Kinh Tế Vi Mô 2

Hn; Stgt Kinh Tế Hàng Hóa, Ql Cạnh Tranh

Vai Trò Và Chức Năng Của Thị Trường Chứng Khoán

Chức Năng Của Thị Trường Chứng Khoán

Bản Chất Và Chức Năng Của Thị Trường Chứng Khoán

Thị Trường Chứng Khoán (Stock Market) Là Gì? Chức Năng Và Phân Loại

Vai Trò Và Chức Năng Của Công Ty Chứng Khoán

Đặc Khu Kinh Tế Là Gì?

Chức năng thu hút vốn nhàn rỗi vào đầu tư phát triển

Ta biết muốn đầu tư phát triển thì phải tự tích luỹ hoặc huy động từ bên ngoài.

Vốn huy động từ bên ngoài bao gồm vốn vay tín dụng của các tổ chức tài chính và phát hành cổ phiêú, trái phiếu.

Ưu điểm của phát hành trái phiêú, cổ phiếu đối với dân chúng là họ dễ dàng đầu tư vào bất cứ DN nào họ muốn hoặc mua bán kiếm lợi. Còn đối với các DN là họ không phải trả lãi suất hàng tháng và không phải trả nợ gốc khi bị thua kỗ.

Do tính chất của chu kỳ kinh doanh nên vốn tạm thời nhàn rỗi trong các DN là rất lớn, bên cạnh, còn có một lượng vốn lớn nằm rải rác trong dân chưa được huy động. Tất cả những tiềm năng này sẽ được phát huy hiệu quả nếu có thị trường chứng khoán .Vì thị trường chứng khoán với cơ sở pháp lý hoàn chỉnh và bộ má quản lý hữu hiệu, với sự phổ biến và hướng dẫn rộng rãi , người dân sẽ dễ dàng sử dụng nguồn tiết kiệm của họ hơn. Đây là tác nhân kích thích ý thức tiết kiệm và tạo thói quen đầu tư trong công chúng.

Ngoài ra, trong xã hội cồn có các khoản tiền tạm thời nhàn rỗi như: quỹ bảo hiểm, quỹ phúc lợi tập thể…một phần vốn của quỹ này được gửi vào Nhân hàng để thực hiện vệc thanh toán, phần còn lại, những người quản lý quỹ luôn tự hỏi làm thế nào cho vốn của họ có khả năng sinh lãi nhiều nhất và vừa an toàn vừa có tính tạm thời…và thị trường chứng khoán có khả năng đáp ứng yêu cầu này.

Tóm lại,thị trường chứng khoán có chức năng thu hút mọi nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội để đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh, mở rộng quy mô doanh nghiệp góp phần giải quyết việc làm, giảm thất nghiệp.

Chức năng điều tiết các nguồn vốn

Phải thừa nhận rằng, một DN không phải lúc nào cũng thiếu hoặc thừa vốn. Thừa hay thiếu là phụ thuộc vào tính chất của chu kỳ kinh chúng tôi cần đầu tư mua nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ, các khoản phải thu lớn, thì đây là lúc mà DN đang thiếu vốn. Khi quá trình sản xuất kết thúc, sản phẩm được bán ra và thu vốn về, các khoản phải thu được thu về, lúc này DN lại tạm thời thừa vốn.

Trên thị trường vốn, luôn luôn có sự điều tiết vốn từ nơi thừa sang nơi thiếu. Ở đây thị trường chứng khoán đóng vai trò rất quan trọng.

Chức năng hoà nhập nền kinh tế thế giới

Một DN có thể thu hút vốn bất vứ nơi nào và bằng con đường nào mà họ có thể thu hút một cách dễ dàng thông qua thị trường chứng khoán. Nhờ vào hệ thống máy tính mà thị trường chứng khoán cho phép bất cứ ai, ở nơi nào trên thế giới và mua một loại cổ phiếu của bất kỳ một công ty nào mà họ thích. Từ đó hình thành mối liên hệ tiền tệ quốc tế, đẩy nhanh tốc độ chu chuyển nguồn vốn giữa các nước, thực hiện quan hệ vay mượn lâu dài trên thế giới tạo điều kiện cho việc hoà nhập nền kinh tế thế giới.

Chức năng điều tiết vĩ mô

Thị trường chứng khoán là công cụ của Nhà nước thông qua Uỷ ban chứng khoán nhà nước, và Ngân hàng trung ương.

Nghiệp vụ chủ yếu là thắt chặt hay nới lỏng sự đầu tư trên thị trường. Khi sản xuất sa sút, thiếu vốn, Nhà nước tung tiền ra mở rộng cho vay để khuyến khích sản xuất thông qua việc mua vào những lô chứng khoán có giá trị lớn. Khi hiện tượng đầu tư quá mức, đầu cơ thịnh hành, thì bán chứng khoán nhằm thắt chặt tín dụng giảm bớt đầu tư kinh tế.Vậy thị trường chứng khoán là công cụ hữu hiệu để nhà nước kịp thời điều tiết nguồn vốn trên thị trường.

Các vai trò của thị trường chứng khoán rất đa dạng nhưng thông qua những chức năng của nó thì có những vai trò sau:

Tạo vốn cho nền kinh tế quốc dân

Do có thị trường chứng khoán nên việc đầu tư các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi dễ dàng hơn. Từ việc nguồn vốn bị ứng đọng từ nhiều nơi, không có khả năng sinh lời, cho đến khi có thị trường chứng khoán việc đầu tư, tích luỹ vốn sôi động và dồi dào hẳn lên. Thông qua đó nền kinh tế tăng trưởng mạnh mẽ, công ăn việc làm được giải quyết, thất nghiệp giảm. Bên cạnh, thị trường chứng khoán như một trung tâm thu gom mọi nguồn vốn từ dân chúng, như một nam châm cực mạnh hút các nguồn vốn từ nước ngoài. Ngoài ra còn giúp Nhà nước giải quyết vấn đề thiếu hụt ngân sách, có thêm vốn xây dựng hạ tầng cơ sở.

Tạo điều kiện cho các doanh nghiệp sử dụng vốn linh hoạt và có hiệu quả hơn

Thị trường chứng khoán là công cụ đánh gía DN, dự đoán tương lai

Ngoài ra, với phương pháp chỉ số hoá thị giá của các loại chứng khoán chủ yếu trong nền kinh tế và việc nghiên cưú phân tích một cách khoa học hệ thống chỉ số giá chứng khoán trên thị trường chứng khoán ở từng nước trong mối quan hệ với thị trường thế giới, đã dự đoán được trước sự biến động kinh tế của một hoặc hàng loạt các nước trên thế giới.

Chính Sách Tiền Tệ Trong Nền Kinh Tế Vĩ Mô

Tài Liệu Kinh Tế Vi Mô

Đề Cương Môn Học Kinh Tế Vi Mô 2

Hn; Stgt Kinh Tế Hàng Hóa, Ql Cạnh Tranh

Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa Ở Việt Nam

Kiến Thức Căn Bản Về Chứng Khoán Và Thị Trường Chứng Khoán

Đề Tài Duy Trì Và Mở Rộng Thị Trường Tiêu Thụ, Điểm Cao, Rất Hay

Phân Loại Và Phát Triển Thị Trường Tiêu Thụ Sản Phẩm

Đề Tài Chiến Lược Mở Rộng Thị Trường Tiêu Thụ Sản Phẩm, Rất Hay

Khái Quát Về Thị Trường Tiêu Thụ Và Phát Triển Thị Trường Tiêu Thụ Ở Các Công Ty Sản Xuất Kinh Doanh

Nghiên Cứu Thị Trường Thương Mại Điện Tử

I.Thị trường chứng khoán là gì?

Thị trường chứng khoán là một thị trường mà ở nơi đó người ta mua bán, chuyển nhượng, trao đổi chứng khoán nhằm mục đích kiếm lời. Tuy nhiên, đó có thể là TTCK tập trung hoặc phi tập trung. Tính tập trung ở đây là muốn nói đến việc các giao dịch được tổ chức tập trung theo một địa điểm vật chất.

Hình thái điển hình của TTCK tập trung là Sở giao dịch chứng khoán ( Stock exchange). Tại Sở giao dịch chứng khoán (SGDCK), các giao dịch được tập trung tại một địa điểm; các lệnh được chuyển tới sàn giao dịch và tham gia vào quá trình ghép lệnh để hình thành nên giá giao dịch.

TTCK phi tập trung còn gọi là thị trường OTC (over the counter). Trên thị trường OTC, các giao dịch được tiến hành qua mạng lưới các công ty chứng khoán phân tán trên khắp quốc gia và được nối với nhau bằng mạng điện tử. Giá trên thị trường này được hình thành theo phương thức thoả thuận.

II.Chức năng của TTCK

Huy động vốn đầu tư cho nền kinh tế:

Khi các nhà đầu tư mua chứng khoán do các công ty phát hành, số tiền nhàn rỗi của họ được đưa vào hoạt động sản xuất kinh doanh và qua đó góp phần mở rộng sản xuất xã hội. Thông qua TTCK, Chính phủ và chính quyền ở các địa phương cũng huy động được các nguồn vốn cho mục đích sử dụng và đầu tư phát triển hạ tầng kinh tế, phục vụ các nhu cầu chung của xã hội.

Cung cấp môi trường đầu tư cho công chúng

TTCK cung cấp cho công chúng một môi trường đầu tư lành mạnh với các cơ hội lựa chọn phong phú. Các loại chứng khoán trên thị trường rất khác nhau về tính chất, thời hạn và độ rủi ro, cho phép các nhà đầu tư có thể lựa chọn loại hàng hoá phù hợp với khả năng, mục tiêu và sở thích của mình.

Tạo tính thanh khoản cho các chứng khoán

Nhờ có TTCK các nhà đầu tư có thể chuyển đổi các chứng khoán họ sở hữu thành tiền mặt hoặc các loại chứng khoán khác khi họ muốn. Khả năng thanh khoản là một trong những đặc tính hấp dẫn của chứng khoán đối với người đầu tư. Đây là yếu tố cho thấy tính linh hoạt, an toàn của vốn đầu tư. TTCK hoạt động càng năng động và có hiệu quả thì tính thanh khoản của các chứng khoán giao dịch trên thị trường càng cao.

Đánh giá hoạt động của doanh nghiệp

Thông qua chứng khoán, hoạt động của các doanh nghiệp được phản ánh một cách tổng hợp và chính xác, giúp cho việc đánh giá và so sánh hoạt động của doanh nghiệp được nhanh chóng và thuận tiện, từ đó cũng tạo ra một môi trường cạnh tranh lành mạnh nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, kích thích áp dụng công nghệ mới, cải tiến sản phẩm.

Tạo môi trường giúp Chính phủ thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô

Các chỉ báo của TTCK phản ánh động thái của nền kinh tế một cách nhạy bén và chính xác. Giá các chứng khoán tăng lên cho thấy đầu tư đang mở rộng, nền kinh tế tăng trưởng; ngược lại giá chứng khoán giảm sẽ cho thấy các dấu hiệu tiêu cực của nền kinh tế. Vì thế, TTCK được gọi là phong vũ biểu của nền kinh tế và là một công cụ quan trọng giúp Chính phủ thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô. Thông qua TTCK, Chính phủ có thể mua và bán trái phiếu Chính phủ để tạo ra nguồn thu bù đắp thâm hụt ngân sách và quản lý lạm phát. Ngoài ra, Chính phủ cũng có thể sử dụng một số chính sách, biện pháp tác động vào TTCK nhằm định hướng đầu tư đảm bảo cho sự phát triển cân đối của nền kinh tế.

III. Cơ cấu TTCK: xét về sự lưu thông của chứng khoán trên thị trường, TTCK có hai loại:

Là thị trường mua bán các chứng khoán mới phát hành. Trên thị trường này, vốn từ nhà đầu tư sẽ được chuyển sang nhà phát hành thông qua việc nhà đầu tư mua các chứng khoán mới phát hành.

Là nơi giao dịch các chứng khoán đã được phát hành trên thị trường sơ cấp.Thị trường thứ cấp đảm bảo tính thanh khoản cho các chứng khoán đã phát hành.

Các nguyên tắc hoạt động của TTCK:

Nguyên tắc cạnh tranh:

Theo nguyên tắc này, giá cả trên TTCK phản ánh quan hệ cung cầu về chứng khoán và thể hiện tương quan cạnh tranh giữa các công ty. Trên thị trường sơ cấp, các nhà phát hành cạnh tranh với nhau để bán chứng khoán của mình cho các nhà đầu tư, các nhà đầu tư được tự do lựa chọn các chứng khoán theo các mục tiêu của mình. Trên thị trường thứ cấp, các nhà đầu tư cũng cạnh tranh tự do để tìm kiếm cho mình một lợi nhuận cao nhất, và giá cả được hình thành theo phương thức đấu giá.

Công bằng có nghĩa là mọi người tham gia thị trường đều phải tuân thủ những qui định chung, được bình đẳng trong việc chia sẻ thông tin và trong việc gánh chịu các hình thức xử phạt nếu vi phạm vào những qui định đó.

Nguyên tắc này có nghĩa là các giao dịch chứng khoán được thực hiện thông qua tổ chức trung gian là các công ty chứng khoán. Trên thị trường sơ cấp, các nhà đầu tư không mua trực tiếp của nhà phát hành mà mua từ các nhà bảo lãnh phát hành. Trên thị trường thứ cấp, thông qua các nghiệp vụ môi giới, kinh doanh, các công ty chứng khoán mua, bán chứng khoán giúp các khách hàng, hoặc kết nối các khách hàng với nhau qua việc thực hiện các giao dịch mua bán chứng khoán trên tài khoản của mình.

Các giao dịch chứng khoán chỉ diễn ra trên sở giao dịch và trên thị trường OTC dưới sự kiểm tra giám sát của cơ quan quản lý nhà nước và các tổ chức tự quản.

Là các tổ chức thực hiện huy động vốn thông qua TTCK dưới hình thức phát hành các chứng khoán.

Là những người thực sự mua và bán chứng khoán trên TTCK. Nhà đầu tư có thể được chia thành 2 loại:

– Nhà đầu tư cá nhân: là những người có vốn nhàn rỗi tạm thời, tham gia mua bán trên TTCK với mục đích kiếm lời.

– Nhà đầu tư có tổ chức: là các định chế đầu tư thường xuyên mua bán chứng khoán với số lượng lớn trên thị trường.

Các định chế này có thể tồn tại dưới các hình thức sau: công ty đầu tư, công ty bảo hiểm, Quỹ lương hưu, công ty tài chính, ngân hàng thương mại và các công ty chứng khoán.

Là những công ty hoạt động trong lĩnh vực chứng khoán, có thể đảm nhận một hoặc nhiều trong số các nghiệp vụ chính là môi giới, quản lý quỹ đầu tư, bảo lãnh phát hành, tư vấn đầu tư chứng khoán và tự doanh.

– Uỷ ban chứng khoán Nhà nước: là cơ quan thuộc Chính phủ thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với TTCK ở Việt nam.

– Sở giao dịch chứng khoán: là cơ quan thực hiện vận hành thị trường và ban hành những quyết định điều chỉnh các hoạt động giao dịch chứng khoán trên Sở phù hợp với các quy định của luật pháp và UBCK.

– Công ty dịch vụ máy tính chứng khoán: là tổ chức phụ trợ, phục vụ các giao dịch chứng khoán.

– Công ty đánh giá hệ số tín nhiệm: là công ty chuyên cung cấp dịch vụ đánh giá năng lực thanh toán các khoản vốn gốc và lãi đúng thời hạn và theo những điều khoản đã cam kết của công ty phát hành đối với một đợt phát hành cụ thể.

Bài 2: Giới thiệu về Cổ phiếu

Khi một công ty gọi vốn, số vốn cần gọi đó được chia thành nhiều phần nhỏ bằng nhau gọi là cổ phần. Người mua cổ phần gọi là cổ đông. Cổ đông được cấp một giấy chứng nhận sở hữu cổ phần gọi là cổ phiếu và chỉ có công ty cổ phần mới phát hành cổ phiếu. Như vậy, cổ phiếu chính là một chứng thư chứng minh quyền sở hữu của một cổ đông đối với một công ty cổ phần và cổ đông là người có cổ phần thể hiện bằng cổ phiếu.

Thông thường hiện nay các công ty cổ phần thường phát hành 02 dạng cổ phiếu: Cổ phiếu thường và cổ phiếu ưu đãi:

Các cổ đông sở hữu cổ phiếu thông thường có quyền hạn và trách nhiệm đối với công ty như: Được chia cổ tức theo kết quả kinh doanh; Được quyền bầu cử, ứng cử vào bộ máy quản trị và kiểm sóat công ty; Và phải chịu trách nhiệm về sự thua lỗ hoặc phá sản tương ứng với phần vốn góp của mình.

Các cổ đông sở hữu cổ phiếu ưu đãi cũng là hình thức đầu tư vốn cổ phần như cổ phiếu thông thường nhưng quyền hạn và trách nhiệm hạn chế như: lợi tức cố định; không có quyền bầu cử, ứng cử..v.v.

Đối với Công ty phát hành: Việc phát hành Cổ phiếu sẽ giúp cho Công ty có thể huy động vốn khi thành lập hoặc để mở rộng kinh doanh. Nguồn vốn huy động này không cấu thành một khoản nợ mà công ty phải có trách nhiệm hoàn trả cũng như áp lực về khả năng cân đối thanh khoản của công ty sẽ giảm rất nhiều, trong khi sử dụng các phương thức khác như phát hành trái phiếu công ty, vay nợ từ các tổ chức tín dụng …thì hoàn toàn ngược lại. Tuy nhiên, mỗi phương thức huy động đều có những ưu nhược điểm riêng và nhà quản lý công ty phải cân nhắc, lựa chọn tùy từng thời điểm và dựa trên những đặc thù cũng như chiến lược kinh doanh của công ty để quyết định phương thức áp dụng thích hợp.

Đối với nhà Đầu tư Cổ phiếu: Các nhà đầu tư trên thị trường sẵn sàng mua Cổ phiếu được công ty phát hành. Giấy chứng nhận sở hữu cổ phần được phát hành dưới dạng chứng thư có giá và được xác định thông qua việc chuyển dịch, mua bán chúng trên thị trường chứng khoán giữa các chủ thể đầu tư và được pháp luật bảo vệ. Mặt khác, người mua cổ phiếu nghĩ rằng đồng vốn họ đầu tư được các nhà quản lý công ty sử dụng có hiệu quả, tạo ra nhiều lợi nhuận hoặc đánh giá hoạt động cũng như tiềm năng phát triển, sinh lợi của công ty dự định đầu tư là cao, và đương nhiên họ sẽ được hưởng một phần từ những thành quả đó thông qua việc thanh toán cổ tức cho các cổ đông, đồng thời giá trị cổ phần sở hữu cũng sẽ gia tăng trên cơ sở thực tại và triển vọng phát triển của công ty mình đã chọn. Thông thường, khả năng sinh lợi, thu hồi vốn đầu tư cổ phiếu tỷ lệ thuận với giá cả giao dịch cổ phiếu trên thị trường

Bài 3: Giới thiệu trái phiếu

Trái phiếu là một loại chứng khoán quy định nghĩa vụ của người phát hành (người vay tiền) phải trả cho người nắm giữ chứng khoán (người cho vay) một khoản tiền xác định, thường là trong những khoảng thời gian cụ thể, và phải hoàn trả khoản cho vay ban đầu khi nó đáo hạn.

Đặc điểm:

Một trái phiếu thông thường có ba đặc trưng chính:

+ Mệnh giá.

+ Lãi suất định kỳ (coupon)

+ Thời hạn.

Trái phiếu thể hiện quan hệ chủ nợ – con nợ giữa người phát hành và người đầu tư .

Phát hành trái phiếu là đi vay vốn. Mua trái phiếu là cho người phát hành vay vốn và như vậy, trái chủ là chủ nợ của người phát hành. Là chủ nợ, người nắm giữ trái phiếu (trái chủ) có quyền đòi các khoản thanh toán theo cam kết về khối lượng và thời hạn, song không có quyền tham gia vào những vấn đề của bên phát hành.

Lãi suất của các trái phiếu rất khác nhau, được quy định bởi các yếu tố:

Mức rủi ro của mỗi nhà phát hành và của từng đợt phát hành. Cấu trúc rủi ro của lãi suất sẽ quy định lãi suất của mỗi trái phiếu. Rủi ro càng lớn, lãi suất càng cao.

Thời gian đáo hạn của trái phiếu. Nếu các trái phiếu có mức rủi ro như nhau, nhìn chung thời gian đáo hạn càng dài thì lãi suất càng cao.

3.1. Căn cứ vào việc có ghi danh hay không:

– Trái phiếu vô danh: là trái phiếu không mang tên trái chủ, cả trên chứng chỉ cũng như trên sổ sách của người phát hành. Những phiếu trả lãi đính theo tờ chứng chỉ, và khi đến hạn trả lãi, người giữ trái phiếu chỉ việc xé ra và mang tới ngân hàng nhận lãi. Khi trái phiếu đáo hạn, người nắm giữ nó mang chứng chỉ tới ngân hàng để nhận lại khoản cho vay.

– Trái phiếu ghi danh: là loại trái phiếu có ghi tên và địa chỉ của trái chủ, trên chứng chỉ và trên sổ của người phát hành. Hình thức ghi danh có thể chỉ thực hiện cho phần vốn gốc, cũng có thể là ghi danh toàn bộ, cả gốc lẫn lãi. Dạng ghi danh toàn bộ mà đang ngày càng phổ biến là hình thức ghi sổ. Trái phiếu ghi sổ hoàn toàn không có dạng vật chất, quyền sở hữu được xác nhận bằng việc lưu giữ tên và địa chỉ của chủ sở hữu trên máy tính.

3.2. Căn cứ vào đối tượng phát hành trái phiếu đó:

Trái phiếu chính phủ là loại chứng khoán không có rủi ro thanh toán và cũng là loại trái phiếu có tính thanh khoản cao. Do đặc điểm đó, lãi suất của trái phiếu chính phủ được xem là lãi suất chuẩn để làm căn cứ ấn định lãi suất của các công cụ nợ khác có cùng kỳ hạn.

Trái phiếu công trình: là loại trái phiếu được phát hành để huy động vốn cho những mục đích cụ thể, thường là để xây dung những công trình cơ sở hạ tầng hay công trình phúc lợi công cộng. Trái phiếu này có thể do chính phủ trung ương hoặc chính quyền địa phương phát hành.

Trái phiếu công ty: là các trái phiếu do các công ty phát hành để vay vốn dài hạn. Trái phiếu công ty có đặc điểm chung sau:

Trái chủ được trả lãi định kỳ và trả gốc khi đáo hạn, song không được tham dự vào các quyết định của công ty. Nhưng cũng có loại trái phiếu không được trả lãi định kỳ, người mua được mua dưới mệnh giá và khi đáo hạn được nhận lại mệnh giá.

Khi công ty giải thể hoặc thanh lý, trái phiếu được ưu tiên thanh toán trước các cổ phiếu.

Có những điều kiện cụ thể kèm theo, hoặc nhiều hình thức đảm bảo cho khoản vay.

Trái phiếu công ty bao gồm những loại sau:

Trái phiếu có đảm bảo: là trái phiếu được đảm bảo bằng những tài sản thế chấp cụ thể, thường là bất động sản và các thiết bị. Người nắm giữ trái phiếu này được bảo vệ ở một mức độ cao trong trường hợp công ty phá sản, vì họ có quyền đòi nợ đối với một tài sản cụ thể.

Trái phiếu không bảo đảm:

Trái phiếu tín chấp không được đảm bảo bằng tài sản mà được đảm bảo bằng tín chấp của công ty. Nếu công ty bị phá sản, những trái chủ của trái phiếu này được giải quyết quyền lợi sau các trái chủ có bảo đảm, nhưng trước cổ động.

Các trái phiếu tín chấp có thể chuyển đổi cho phép trái chủ được quyền chuyển trái phiếu thành cổ phiếu thường của công ty phát hành. Tuỳ theo quy định, việc chuyển đổi có thể được tiến hành vào bất cứ thời điểm nào, hoặc chỉ vào những thời điểm cụ thể xác định.

Ngoài những đặc điểm trên, mỗi đợt trái phiếu được phát hành có thể được gắn kèm theo những đặc tính riêng khác nữa nhằm đáp ứng nhu cầu cụ thể của một bên nào đó. Cụ thể là:

– Trái phiếu có thể mua lại cho phép người phát hành mua lại chứng khoán trước khi đáo hạn khi thấy cần thiết. Đặc tính này có lợi cho người phát hành song lại bất lợi cho người đầu tư, nên loại trái phiếu này có thể có lãi suất cao hơn so với những trái phiếu khác có cùng thời hạn.

– Trái phiếu có thể bán lại: cho phép người nắm giữ trái phiếu được quyền bán lại trái phiếu cho bên phát hành trước khi trái phiếu đáo hạn. Quyền chủ động trong trường hợp này thuộc về nhà đầu tư, do đó lãi suất của trái phiếu này có thể thấp hơn so với những trái phiếu khác có cùng thời hạn.

Lợi ích của đầu tư qua trái phiếu:

– Dù làm ăn thua lỗ, công ty vẫn phải trả đủ tiền lãi, không cắt giảm hoặc bỏ như cổ phiếu. Nếu công ty ngừng hoạt động, thanh lý tài sản, trái chủ được trả tiền trước người có cổ phần ưu đãi và cổ phần thông thường. Nhưng nếu công ty có lợi nhuận cao, công ty có thể chia thêm cổ tức cho người có cổ phần, thì trái chủ vẫn chỉ được hưởng ở mức đã định.

– Trái phiếu có loại được miễn thuế thu nhập (trái phiếu Chính phủ, trái phiếu chính quyền địa phương). Đối với những người có thu nhập cao, mua trái phiếu trên vẫn có lợi.

– Trái phiếu trên thị trường thứ cấp có giá lên xuống đối nghịch với lãi suất thị trường. Nếu biết tính toán phân tích để thực hiện mua bán thì vẫn có lợi.

Bất lợi khi đầu tư trái phiếu:

– Khi nhận được tiền lãi phải lo đầu tư số tiền đó vì rất ít công ty có chương trình tái đầu tư tiền lãi trái phiếu. Trong khi đó, nhiều công ty có chương trình tái đầu tư cổ tức. Cổ đông có thể mua thêm cổ phần được miễn sở phí, và có khi còn được mua cổ phần với giá rẻ hơn giá thị trường.

– Giá trái phiếu công ty cũng biến động khá mạnh trên thị trường: khi lãi suất thị trường lên cao hơn lãi suất trái phiếu thì giá trái phiếu sẽ hạ. Khi cơ quan đánh giá xếp loại doanh nghiệp, đánh giá công ty phát hành từ loại AAA(3A) xuống AA(2A) hoặc xuống BBB(3B) thì giá trái phiếu cũng sẽ bị hạ. Hoặc khi có sự mất mát thị trường, vỡ nợ… thì giá trái phiếu cũng sẽ bị hạ.Và giá trái phiếu cũng sẽ giảm đi khi có ít người mua.

Khi đầu tư trái phiếu cần chú ý gì?

Trước khi mua trái phiếu cần tìm hiểu hai điều: chiều hướng lên xuống của lãi suất và uy tín của công ty phát hành.

Nên mua trái phiếu lúc lãi suất đang ở thời điểm cao nhất và đang trên đà giảm dần. Và nên mua trái phiếu dài hạn để có thể được hưởng lãi suất cao trong một thời gian dài. Ngược lại, lúc lãi suất đang ở mức thấp nhất và bắt đầu tăng, nên bán trái phiếu dài hạn đi để mua vào trái phiếu trung hạn.

Bài 4: Chứng khoán có thể chuyển đổi

Chứng khoán có thể chuyển đổi là những chứng khoán cho phép người nắm giữ nó, tuỳ theo lựa chọn và trong những điều kiện nhất định có thể đổi nó thành một chứng khoán khác.

Những loại chứng khoán có thể chuyển đổi thành cổ phiếu thường phổ biến là:

– Cổ phiếu ưu đãi.

– Trái phiếu.

Mục đích của việc phát hành và đầu tư vào chứng khoán chuyển đổi:

Phát hành chứng khoán có thể chuyển đổi là nhằm huy động thêm vốn vào những thời điểm chưa thích hợp cho việc phát hành cổ phiếu thường. Việc phát hành chứng khoán có thể chuyển đổi cũng có thể nhằm mục đích tăng thêm tính hấp dẫn cho đợt phát hành, nhất là khi thị trường trái phiếu và cổ phiếu ưu đãi đang xuống giá.

Lợi ích của trái phiếu chuyển đổi:

* Đối với bên phát hành: do việc người đầu tư sẽ được hưởng quyền chuyển đổi trái phiếu này ra cổ phiếu thường khi đến hạn, nên:

+ Nếu là trái phiếu: bên phát hành sẽ bán trái phiếu ra với lãi suất thấp.

+ Nếu là cổ phiếu ưu đãi: bên phát hành sẽ chào bán với giá cao.

Khi các chứng khoán được chuyển đổi, nhà phát hành còn có lợi vì loại bỏ được các khoản cố định phải trả, đồng thời tăng thêm số lượng cổ đông của công ty, một chỉ báo có lợi cho danh tiếng của công ty.

* Đối với người đầu tư:

+ Chứng khoán có thể chuyển đổi có sức hấp dẫn ở chỗ chúng kết hợp được tính an toàn của trái phiếu (thu nhập cố định) với tính có thể đầu cơ của cổ phiếu thường.

+ Chứng khoán có thể chuyển đổi cho phép nhà đầu tư có thể được bảo hiểm trước tình trạng lạm phát.

Tuy nhiên, những lợi ích của việc thực hiện chuyển đổi tuỳ thuộc nhiều vào giá chuyển đổi, tỷ lệ chuyển đổi, và tương quan giá giữa công cụ có thể chuyển đổi với những công cụ mà chúng có thể chuyển đổi thành. Đó là những yếu tố thường không nằm trong tầm kiểm soát của người đầu tư.

Ví dụ 1: một trái phiếu có mệnh giá là 1.000.000 đồng; nếu cứ 50.000 đồng được đổi lấy một cổ phần của cổ phiếu thường, thì giá chuyển đổi là 50.000 đồng; hệ số chuyển đổi là 1.000.000 đồng: 50.000 đồng = 20 (cổ phần).

Ví dụ 2: Giả sử trái phiếu trên đang có giá là 1.045.000 đồng ; được chuyển thành 100 cổ phần của một cổ phiếu thường. Giá tương đương chuyển đổi là 1.045.000 đồng:100 = 10.450 đồng. Điều đó có nghĩa là giá trị trường của cổ phiếu ít nhất phải bằng 10.045 đồng thì việc nắm giữ trái phiếu và chuyển đổi nó thành cổ phiếu mới được coi là tương đương về mặt giá trị. Nếu giá thị trường của cổ phiếu cao hơn giá tương đương chuyển đổi thì việc chuyển đổi sẽ đem lại một phần lợi nhuận.

Trên thực tế rất có thể giá cổ phiếu không lên tới mức mà người nắm giữ trái phiếu có thể chuyển đổi trái phiếu để thu lợi nhuận.

Bán khống: cho phép nhà đầu tư bán chứng khoán mặc dù không sở hữu nó. Người bán khống phải mượn chứng khoán của người khác sau đó mua trả lại sau đó. Bán khống được thực hiện khi nhà đầu tư nhận thấy giá cổ phiếu sẽ sụt giảm. Bán khống k xấu. Nhờ bán khống mà thanh khoản thị trường sẽ tăng trưởng và cổ phiếu sớm đạt vị thế cân bằng về giá trên thị trường. Việt Nam hiện chưa cho phép bán khống cổ phiếu.

Cổ phiếu: Cổ phiếu là giấy chứng nhận số vốn nhà đầu tư đóng góp vào doanh nghiệp phát hành. Người nắm giữ cổ phiếu là cổ đông và có các quyền (nhận cổ tức, dự đại hội cổ đông). Cổ phiếu của các công tyniêm yết đủ nội lực được mua bán trên sàn giao dịch chứng khoán.

Dao động giá: Mức độ dao động giá của cổ phiếu sàn HOSE là +/- 7%, của cổ phiếu sàn HNX là +/- 10% so với mức giá tham chiếu. Giá tham chiếu là mức giá đóng cửa ngày hôm trước.Mức giá cao nhất (+7% sàn HOSE, +10% sàn HNX) được gọi là mức giá trần, ngược lại là mức giá sàn. Trên bảng giá chứng khoán, giá trần hiển thị bằng màu tím, giá sàn hiện thị bằng màu xanh lục. Giá tham chiếu hiển thị bằng màu vàng

Khối con số giao dịch: là số lượng cổ phiếu được giao dịch trong một khoảng thời gian nhất định, thông thường là một ngày. Cổ phiếu có số lượng giao dịch trung bình lớn được gọi là yes thanh khoản tốt.

Đầu tư giá trị và Đầu tư tăng trưởng trưởng: Các nhà đầu tư thành công đều có một phương pháp nhất định. Các mẹo đầu tư thể không giống nhau 100%, nhưng đa phần đều có thể được phân loại thành 2 trường phái: Đầu tư giá trị và đầu tư tăng trưởng.

EPS: Thu nhập trên mỗi cổ phiếu. EPS được tính bằng cách thức lấy tổng lợi nhuận chia cho tổng số cổ phiếu.

VD cổ phiếu GMD, lợi nhuận là 360 tỷ, tổng số cổ phiếu lưu hành là 180 triệu. Như vậy EPS = 360 tỷ /180 triệu = 2000 VND

EPS là chỉ số cần thiết vì nhà đầu tư không thể mua tất cả công ty mà mua một số lượng cổ phiếu nhất định. Nhà đầu tư cần biết cổ phiếu này có doanh số là bao nhiêu để có một mức định giá hợp lý.

P/E : là mức giá (Price – P) chia cho EPS. P/E giải thích cổ phiếu có giá gấp bao nhiêu lần doanh thu của nó. Thông qua P/E bạn đủ sức biết cổ phiếu đắt tốt rẻ một cách tương đối. P/E toàn phân khúc và các nhóm kênh ở VN tháng 11/2016. Không phải chỉ số yes P/E thấp là sẽ tăng mà chỉ số P/E cao là sẽ giảm. Các cổ phiếu của các công ty có lợi thế cạnh tranh, liên tục tăng lên thường P/E cao hơn đối với thị trường. Mặc dù vậy cổ phiếu của các doanh nghiệp nà y luôn luôn liên tục tăng. VNM (Vinamilk) chính là một ví dụrõ ràng nhất.

ROE: là tỷ số doanh số ròng trên vốn chủ sở hữu. ROE cao là một dấu hiệu cho thấy đây là một cổ phiếu tốt. Một số mốc ROE bạn nên quan tâm là 15%, 25%.

Lọc cổ phiếu: Bộ lọc cổ phiếu giúp bạn thể nhanh chóng tìm thấy các cổ phiếu đạt các tiêu hợp lý đầu tư thông qua bộ lôc cổ phiếu. Qua bước này, thông thường 80 – 90% cổ phiếu niêm yết sẽ bị loại. Mỗi trường phái đầu tư yes một bộ lọc không giống nhau. Các tiêu chí lọc phổ biến đủ sức nhắc đến như vốn hóa, thanh khoản, mức độ tăng trưởng (doanh thu, lợi nhuận), các mức biên lợi nhuận chúng tôi đổi các tiêu chí bộ lọc sẽ cho ra các kết quả cổ phiếu không giống nhau. Các cổ phiếu không được lọc vẫn có thể cho hiệu quả đầu tư tốt. Mặc dù vậy bạn không cần phải mua toàn bộ các cổ phiếu này. Đối với nhà đầu tư cá nhân k nên nắm giữ quá 3 cổ phiếu trong cùng một thời điểm.

Margin: Giao dịch ký quỹ. Là hình thức nhà đầu tư vay tiền của công ty chứng khoán để mua cổ phiếu. Để có thể giao dịch ký quỹ nhà đầu tư cần phải có một khoản tiền nhất định. Với các mã có thanh khoản tốt, tỷ lệ margin đủ nội lực lên tới 100%. Tức là nhà đầu tư có 100 triệu đủ sức vay thêm 100 triệu nữa để mua chứng khoán.

Nhà đầu tư nước ngoài: các nhà đầu tư nước ngoài vốn lớn đủ sức tạo hình hưởng lớn đến giá một cổ phiếu bằng cách liên tục mua vào/bán ra cổ phiếu này. Bạn có thể dễ dàng theo dõi con số giao dịch ròng trên các bảng giá chứng khoán phổ biến.

Online Trading: hình thức giao dịch trực tuyến. Trước kia nhà đầu tư muốn giao dịch chứng khoán phải ra quầy viết giấy đặt lệnh. Ngày nay chỉ với một chiếc điện thoại có liên kết internet, bạn đủ sức đặt lệnh thông qua công cụ giao dịch của các doanh nghiệp chứng khoán.

Phân loại các mã chứng khoán: Các cổ phiếu được chia thành 3 dòng là Bluechip, Midcap, và Penny. Trong đó, Bluechip là những mã yes vốn hóa đối tượng lớn. Midcaplà những mã vốn hóa phân khúc trung bình. Penny là những mã cổ phiếu yes vốn hóathị trường nhỏ.

Quỹ đầu tư: quỹ đầu tư thường huy động vốn từ nhà đầu tư để đầu tư vào các tài sản theo một trường phái đầu tư nhất định. Sự xuất hiện của quỹ đầu tư là một thành phần cho thấy chất lượng của công tyniêm yết. Một số giải pháp đầu tư gợi ý CANSLIM tập trung đến cổ phiếu có sự gia nhập của các quỹ đầu tư.

Sóng Elliott: là một công cụ phân tích kỹ thuật cao cấp giúp bạn dựng lại các nhịp của giá trong mỗi đợt tăng/giảm. Cha đẻ của phương pháp này là Ralph Nelson Elliott. Công việc của ông là kế toán.Sau khi nghiên cứu thị trường chứng khoán Mỹ trong hơn 50 năm, ông nhận ra thị trường chứng khoán không hề chuyển biến một phương thức hỗn loạn. Ông lý giải sự thay đổi về giá trong mỗi đợt tăng/giảm luôn gắn chặt với tâm lý nhà đầu tư trên đối tượng và theo một mô ảnh giống nhau. Mỗi đợt tăng sẽ bao gồm 5 nhịp sóng chính và 3 nhịp sóng điều chỉnh.

Sóng Elliott sử dụng kết quả nhất khi kết hợp với dãy tỷ lệ Fibonacci. Các nhịp sóng biên độ nhịp nhàng theo đúng % vàng. Sóng Elliott và Fibonacci là công cụ cực kỳ kết quả trong xác định các khoảng giá mục tiêu (target giá)

Sóng Elliott là một trong những kỹ thuật khó nhất trong phương pháp phân tích kỹ thuật.

Trường phái đầu tư: Một trường phái đầu tư yes sự hội tụ của 5 yếu tố:

Lựa chọn cổ phiếu

Lựa chọn điểm mua

Lựa chọn điểm bán

Quản lý vốn, quản lý rủi ro

Theo dõi đầu tư

Ứng trước tiền bán: Giao dịch trên phân khúc chứng khoán VN tuân theo T + 3, tức là khi mua, chứng khoán sẽ về sau 3 ngày làm việc. Khi bán, tiền cũng sẽ về sau 3 ngày sử dụng việc.

Ví dụ, nếu bạn mua chứng khoán vào ngày thứ 6, thì thứ 2 tuần sau là T + 1, thứ 3 tuần sau là T + 2. Chứng khoán/Tiền sẽ về lúc 16h ngày T + 3. Tuy nhiên, thị trường đóng cửa lúc 14h45, nên phải sang sáng T + 3, tức là thứ 4 bạn mới nhận được chứng khoán/tiền.Các công ty chứng khoán dịch vụ cho phép bạn nhận ứng trước tiền bán chứng khoán ngay khi lệnh bán được khớp. Mức lãi suất tương đương mức lãi margin.

Vượt đỉnh: là một kỹ thuật chọn điểm mua theo đó cổ phiếu vượt đỉnh cũ thường sẽ tăng rất mạnh. Đây là một phương pháp chọn điểm mua h iệu quả trong đầu tư tăng trưởng trưởng, nếu biết cách thức chọn đúng mã cổ phiếu và xu hướng thị trường thuận tiện thì xác suất thành đạt rất cao.

Xu hướng giá: Trên đối tượng chứng khoán cổ phiếu k biến động ngẫu nhiên. Có ba loại xu hướng trên thị trường là tăng, giảm và đi ngang.Nhờ xác định thiên hướng giá cổ phiếu mà nhà đầu tư sẽ hành động phù hợp. Nhà đầu tư mua khi cổ phiếu ở trong tăng, bán khi cổ phiếu đã ở thiên hướng giảm và không giao dịch khi cổ phiếu ở trong xu hướng đi ngang.

Yết giá: Theo quy định mới nhất từ ngày 12/9/2016, đơn vị yết giá với cổ phiếu thấp nhất là 10 đồng, cụ thể giống như sau:

Thay đổi bước giá ảnh hưởng không ít đến nhà đầu tư. Ví dụ trước đây nếu bạn không muốn mua cổ phiếu ở khoảng giá quá 150 thì bắt buộc phải mua ở giá 149, tức giá khác nhau gần 1%. Trong khi đó với bước giá 100đ bạn có thể mua ở các mức giá 149.5, 159.8 . Để nắm rõ phương thức chơi chứng khoán trực tuyến, bạn cần thuộc các bước giá vì phần mềm giao dịch sẽ không nhận lệnh với các khoảng giá sai.

Những Vấn Đề Lí Luận Cơ Bản Về Tiêu Thụ Sản Phẩm Của Doanh Nghiệp Trong Nền Kinh Tế Thị Trường

Hoạt Động Kinh Doanh Của Doanh Nghiệp Thương Mại Trong Nền Kinh Tế Thị Trường

Phát Triển Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xhcn: Sự Sáng Tạo Của Đảng Cộng Sản Việt Nam

Nêu Và Phân Tích Các Cách Thức Tổ Chức Của Một Nền Kinh Tế.so Sánh Và Phân Tích Vai Trò Của Thị Trường Và Chính Phủ Trong Việc Thực Hiện Các Chức Năng Cơ Bản Của Một Nền Kinh Tế

Thị Trường Và Vai Trò Của Thị Trường Hang Hóa

Thị Trường Chứng Khoán Phái Sinh Là Gì?

Góp Phần Vào Sự Tăng Trưởng Của Thị Trường Chứng Khoán Phái Sinh

Tiền Của Nhà Đầu Tư Sẽ “đổ” Vào Thị Trường Chứng Khoán Phái Sinh?

Tăng Nhà Đầu Tư Tổ Chức Cho Ttck Phái Sinh, Cách Nào?

Các Nhân Tố Ảnh Hưởng Đến Thị Trường Chứng Khoán Phái Sinh Việt Nam

Thị Trường Tài Chính Là Gì? Cấu Trúc Và Vai Trò Của Thị Trường Tài Chính

1. Thị trường chứng khoán phái sinh là gì

1.1 Khái niệm về thị trường chứng khoán phái sinh

Trong thị trường có các loại hàng hóa, dịch vụ được giao dịch hằng ngày, đó là hoạt động mua bán tài sản. Nhưng đối với thị trường chứng khoán phái sinh, thay vì mua bán tài sản thông thường, các nhà đầu tư sẽ giao thương các quyền, các hợp đồng, các nghĩa vụ được chuyển nhượng quyền sở hữu từ người này sang người khác.

Thị trường chứng khoán phái sinh là gì?

– Thị trường chứng khoán phái sinh là nơi dành cho các công cụ tài chính phái sinh. Là nơi sử dụng các công cụ mang tính hợp đồng hoặc tương tự như hợp đồng.

– Do vậy, chúng cần phải có sự thỏa thuận giữa hai bên mua và bán. Những hợp đồng này sẽ có mức giá, và người mua sẽ muốn mua với mức giá rẻ và người bán lại muốn bán với mức giá cao.

1.2 Ưu điểm của thị trường chứng khoán phái sinh là gì?

– Phòng hộ hoặc giảm nhẹ rủi ro trong các tài sản cơ sở. Bằng cách tham gia một hợp đồng phái sinh mà giá trị của nó di chuyển theo hướng ngược lại với vị thế tài sản cơ sở của nó và triệt tiêu một phần hoặc toàn bộ rủi ro này.

– Tạo khả năng tùy chọn trong đó giá trị của phái sinh liên kết với một điều kiện cụ thể.

– Có được sự tiếp xúc với tài sản cơ sở khi không thể trao đổi bằng dạng tài sản cơ sở đó.

– Cung cấp đòn bẩy tạo ra một sự khác biệt lớn trong giá trị của phái sinh.

– Thu lợi nhuận nếu giá trị của tài sản cơ sở di chuyển theo cách nhà đầu tư mong đợi.

– Chuyển phân bổ tài sản giữa các tài sản khác nhau, không làm ảnh hưởng đến tài sản cơ sở.

Một ưu điểm của chứng khoán phái sinh đó là giảm rủi ro cho các nhà đầu tư

1.3 Thị trường chứng khoán phái sinh dành cho ai?

Thị trường chứng khoán phái sinh dành cho các đối tượng sau:

– Các cá nhân/tổ chức tham gia mua và bán đồng thời một hoặc nhiều loại chứng khoán phái sinh. Mục đích của nhà đầu tư hạn chế chênh lệch giá là tận dụng sự chênh lệnh giá giữa các CKPS để thu về lợi nhuận phi rủi ro.

– Các cá nhân/tổ chức không có ý định giao dịch tài sản cơ sở nhưng lại muốn lợi tận dụng sự biến động về giá của tài sản cơ sở để thu về lợi nhuận ngắn hạn.

2. Các bước tham gia vào thị trường chứng khoán phái sinh

Bước 1: Mở tài khoản giao dịch CKPS

Bước đầu tiên khi muốn tham gia thị trường, nhà đầu tư cần mở tài khoản giao dịch chứng khoán phái sinh tại các công ty chứng khoán. Có thể mở nhiều tài khoản, tuy nhiên tại mỗi công ty chứng khoán chỉ được mở một tài khoản. Cần có tài khoản giao dịch chứng khoán cơ sở trước khi mở tài khoản giao dịch chứng khoán phái sinh.

Nhà đầu tư cần có tài khoản để tham gia vào thị trường chứng khoán phái sinh

Các cách mở tài khoản: Nhà đầu tư có thể lựa chọn một trong hai cách sau:

– Mở trực tiếp tại Phòng giao dịch của các công ty.

– Mở từ xa với sự hướng dẫn của công ty giao dịch.

Các công ty chứng khoán nhận mở tài khoản giao dịch chứng khoán phái sinh: BSC, HSC, MBS, KIS, SSI, VCSC, VNDS, VPBS, VCBS.

Bước 2: Nộp tiền ký quỹ ban đầu

Tiếp theo, nhà đầu tư sẽ nộp một số tiền ký quỹ ban đầu theo quy định của công ty.

– Trên thị trường chứng khoán phái sinh, nhà đầu tư chỉ cần ký quỹ một số tiền khá nhỏ so với giá trị hợp đồng.

– Nhà đầu tư có thể ký quỹ bằng tiền mặt hoặc bằng chứng khoán.

– Nếu ký quỹ bằng chứng khoán, nhà đầu tư cần đáp ứng tỷ lệ giá trị ký quỹ theo quy định của công ty chứng khoán.

Bước 3: Thực hiện giao dịch mua bán

Sau khi nộp đầy đủ số tiền ký quỹ, nhà đầu tư có thể tiến hành đặt lệnh giao dịch và thực hiện giao dịch mua bán chứng khoán phái sinh.

Sau khi đăng ký tài khoản và ký quỹ, nhà đầu tư đã có thể giao dịch chứng khoán phái sinh

– Nhà đầu tư cần đáp ứng yêu cầu về lệnh giao dịch, bao gồm số lượng ký quỹ ban đầu, giới hạn vị thế và khả năng giao dịch còn lại của tài khoản.

– Có thể giao dịch thông qua nhân viên môi giới hoặc qua phần mềm của công ty chứng khoán.

Bước 4: Bổ sung ký quỹ/ rút lãi

Dựa theo kết quả giao dịch và giá trị thanh toán hàng ngày, tài khoản nhà đầu tư sẽ được công ty chứng khoán hạch toán.

– Nếu tài khoản ký quỹ không đáp ứng đủ số dư quy định, nhà đầu tư sẽ cần phải bổ sung ký quỹ để tài khoản quy về mức ký quỹ ban đầu.

– Nếu tài khoản vượt giá trị ký quỹ yêu cầu, công ty chứng khoán sẽ thông báo để nhà đầu tư có thể rút lãi.

Tỷ lệ sử dụng tài sản ký quỹ được tính dựa trên ký quỹ yêu cầu/tài sản ký quỹ. Cần theo dõi tỷ lệ này thường xuyên nhằm có những hành động phù hợp, hạn chế các rủi ro.

Cần theo dõi sát sao để tránh các rủi ro đáng tiếc

3. Hướng dẫn mở tài khoản chứng khoán phái sinh tại BSC

3.1 Thủ tục để mở tài khoản chứng khoán phái sinh

Để tham gia giao dịch tại thị trường chứng khoán BSC, quý khách hàng cần thực hiện theo hướng dẫn sau:

Khách hàng cá nhân: Khách hàng chỉ cần mang theo giấy tờ cá nhân như chứng minh nhân dân, hộ chiếu còn hiệu lực tới điểm giao dịch là có thể mở tài khoản. Nếu muốn mở tài khoản từ xa, bạn có thể đăng ký tại chương trình Web Online Trading của BSC .

Khách hàng tổ chức: Khách hàng mang các giấy tờ đầy đủ theo yêu cầu đến các phòng giao dịch của BSC để mở tài khoản. Khách hàng tổ chức cần có các giấy tờ sau:

– Bản sao công chứng Giấy phép thành lập/ Giấy đăng ký kinh doanh.

– Quyết định bổ nhiệm người đại diện pháp luật, Kế toán trưởng (bản sao).

– Giấy uỷ quyền của chủ tài khoản cho người đại diện giao dịch (nếu có).

– Giấy cấp mã số thuế (bản sao, nếu có).

– Bản sao giấy đăng ký mẫu dấu.

– CMND còn hiệu lực của Người đại diện pháp luật, của người đại diện giao dịch (nếu có) và của kế toán trưởng (bản sao).

Mọi khách hàng các nhân và tổ chức đều có thể tham gia thị trường chứng khoán phái sinh

3.2 Các kênh giao dịch chứng khoán phái sinh tại BSC

Khách hàng có thể lựa chọn kênh giao dịch:

– Tại quầy giao dịch Hà Nội: Tầng 10, Tháp BIDV, 35 Hàng Vôi, Hoàng Kiếm, Hà Nội và tại Hồ Chí Minh: Lầu 9, 146 Nguyễn Công Trứ Quận 1, TP. HCM

– Tổng đài đặt lệnh tại Hà Nội: (024).3926.4660 và tại Hồ Chí Minh: (028).3821.8889

– Trực tiếp trên hệ thống BSC Traiding web.

Hy vọng qua bài viết trên, các nhà đầu tư đã hiểu thị trường chứng khoán phái sinh là gì. Cũng như biết được cách thức tham gia thị trường này ra sao. Từ đó có thể đưa ra những quyết định đầu tư chứng khoán đúng đắn. Mang về nhiều thắng lợi, niềm vui khi tham gia vào thị trường chứng khoán phái sinh.

Thị Trường Thứ Cấp (Secondary Market)

Thị Trường Sơ Cấp Và Thị Trường Thứ Cấp

Sơ Lược Về Thị Trường Sơ Cấp Và Thị Trường Thứ Cấp

Những Vấn Đề Cơ Bản Của Thị Trường Chứng Khoán

Vai Trò Của Thị Trường Tài Chính Đối Với Sự Phát Triển Của Nền Kinh Tế

🌟 Home
🌟 Top