Chức Năng Của Adn Sinh Học Lớp 9 / TOP #10 ❤️ Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 9/2022 ❣️ Top View | Phauthuatthankinh.edu.vn

Đề Kiểm Tra 1 Tiết Học Kì 1 Môn Sinh Học 9: Trình Bày Chức Năng Của Adn.

Lý Thuyết Sinh Học Lớp 9 Bài 16

Giáo Án Sinh Học Lớp 9

Cấu Trúc Và Chức Năng Của Arn Vận Chuyển

Bài 18 Prôtêin (Giải Bài 1,2,3,4 Sgk Trang 56 Sinh 9)

Protein Màng Là Gì? Cơ Chế Hoạt Động Và Chức Năng Của Protein Màng

Đề kiểm tra 1 tiết Học kì 1 môn Sinh học 9. Ở người gen A qui định tóc xoăn, a- tóc thẳng; B-mắt đen, b-mắt xanh. Hai cặp gen phân ly độc lập. Người tóc xoăn, mắt xanh có thể có kiểu gen nào ?

I. Trắc nghiệm: (3đ)

Câu 1 . Hãy chọn phương án trả lời đúng nhất:

A. Duy trì sự phân bào liên tục

B. Duy trì sự ổn định của bộ NST đặc trưng của loài qua các thế hệ tế bào.

C. Duy trì sự phân li của NST qua các thế hệ

D. Khôi phục lại bộ NST của cơ thể.

2. Ở người gen A qui định tóc xoăn, a- tóc thẳng; B-mắt đen, b-mắt xanh. Hai cặp gen phân ly độc lập. Người tóc xoăn, mắt xanh có thể có kiểu gen:

A. AABB và AaBB B. aaBb và aaBB

C. Aabb và AAbb D. Câu A và C đúng.

. Ghi đúng (Đ) hoặc sai (S) vào trước chữ cái ở các câu sau:

A. ARN gồm 4 loại đơn phân A, T, G, X

B. Cơ sở vật chất của hiện tượng di truyền ở cấp độ tế bào là NST.

C. Cơ sở vật chất di truyền ở cấp độ phân tử là ADN

D. Đơn phân của protein là nuclêôtit.

Câu 3 . Sắp xếp các cặp ý tương ứng đúng với nhau trong bảng tóm tắt sau rồi ghi vào phần trả lời ở bên dưới:

a. Vận chuyển axit amin tương ứng tới nơi tổng hợp protein

b. Truyền đạt thông tin qui định cấu trúc của protein

c. Tham gia vào cấu trúc, hoạt động sinh lý, biểu hiện thành tính trạng.

d. Mang thông tin qui định cấu trúc của protein.

e. Là thành phần cấu tạo ribôxôm.

II. Tự luận: (7đ)

Câu 1 . Trình bày chức năng của ADN.

. a. Mạch 1 của đoạn gen có trình tự nuclêôtit là:

– A-A-A-T -G – G – G – X – X – A –

Hãy viết trình tự nuclêôtit của phân tử mARN đựơc tổng hợp từ gen trên (biết rằng mạch 2 của gen là mạch làm khuôn),

b. Một đoạn mạch ADN có cấu trúc như sau:

Mạch 1: – X-X-X-A-A-T-T-G-G-G –

Mạch 2: – G-G-G-T-T-A-A-X-X-X-

Kết thúc quá trình tự sao, phân tử ADN con có cấu trúc ra sao ?

Câu 3 . Nêu cấu tạo hoá học của protein. Vì sao protein có tính đa dạng và đặc thù ?

. Ở cá kiếm gen D qui định tính trạng mắt đen là trội hoàn toàn so với gen d qui định tính trạng mắt đỏ. Cho giống cá thuần chủng măt đen lai với cá măt đỏ thu được F 1, tiếp tục cho cá F 1 lai với nhau. Xác định tỉ lệ kiểu gen, kiểu hình ở F 2.

I. Trắc nghiệm: (3đ)

Câu 1 .

2. .

3. .

II. Tự luận: (7đ)

Câu 1 . Chức năng của ADN:

– ADN tham gia cấu tạo NST

– ADN tham gia cấu tạo một số bào quan

– ADN có khả năng tự nhân đôi (tự sao)

– ADN có khả năng sao mã (tổng hợp ARN)

– ADN tham gia vào quá trình sinh tổng hợp protein

→ ADN là nơi lưu giữ và truyền đạt thông tin di truyền.

Câu 2 .a. MARN: – U- U- U- A- X- X- X- G- G- U-

b. ADN con 1:

Mạch 1 (ADN mẹ): – X- X- X- A – A-T-T-G-G-G-

Mạch mới tổng hợp.- G-G-G-T-T-A-A-X-X-X-

ADN con 2:

Mạch mới tổng hợp: – X-X-X- A- A-T-T-G-G – G-

Mạch 2 (ADN mẹ): – G-G-G-T-T-A- A-X- X- X-

Câu 3 . * Nêu cấu tạo hoá học của protein.

– Protein là hợp chất hữu cơ gồm 4 nguyên tố chính: C, H, O, N.

– Thuộc loại đại phân tử, có khối lượng và kích thước lớn.

– Cấu trúc theo nguyên tắc đa phân, gồm hàng trăm đơn phân.

– Đơn phân là axit amin, có hơn 20 loại khác nhau.

* Vì sao protein có tính đa dạng, tính đặc thù?

Đơn phân cấu tạo nên protein là axit amin, có hơn 20 loại axit amin khác nhau. Các loại axit amin sắp xếp khác nhau tạo nên tính đa dạng và tính đặc thù của protein.

– Tính đa dạng của protein do sự sắp xếp khác nhau của hơn 20 loại axit amin.

– Tính đặc thù: là do số lượng, thành phần và trình tự sắp xếp khác nhau của các axit amin.

Tính đa dạng và đặc thù của protein còn được biểu hiện ở các dạng cấu trúc không gian, số chuỗi axit amin

4. Qui ước gen: D: mắt đen

d: mắt đỏ

P(tc) DD (mắt đen) × dd (mắt đỏ)

G : D d

F 1: Dd (100% mắt đen)

F 1 × F 1 Dd × Dd

G: D, d D, d

F 2: Kiểu gen: 1DD: 2Dd:1dd

Kiểu hình: 3 mắt đen : 1 mắt đỏ

Sự Khác Biệt Giữa Dna Polymerase 1 2 Và 3

Dna Polymerase Các Loại, Chức Năng Và Cấu Trúc / Sinh Học

Quá Trình Tự Nhân Đôi Adn

Adn Là Gì? Mô Tả Cấu Trúc Không Gian Của Adn Và Arn

So Sánh Adn Và Arn Về Cấu Trúc Và Chức Năng Câu Hỏi 105300

Lý Thuyết Sinh Học Lớp 9 Bài 16

Giáo Án Sinh Học Lớp 9

Cấu Trúc Và Chức Năng Của Arn Vận Chuyển

Bài 18 Prôtêin (Giải Bài 1,2,3,4 Sgk Trang 56 Sinh 9)

Protein Màng Là Gì? Cơ Chế Hoạt Động Và Chức Năng Của Protein Màng

Cấu Tạo Và Chức Năng Của Màng Tế Bào

I. SỰ TỰ NHÂN ĐÔI ADN

– ADN tự nhân đôi (tự sao) tại nhân tế bào, ở kì trung gian trong chu kỳ của tế bào.

– Có sự tham gia của enzim và các yếu tố tháo xoắn, tách mạch mạch ở trạng thái duỗi, liên kết các nuclêôtit với nhau.

1. Diễn biến quá trình nhân đôi

+ ADN tháo xoắn, enzym xúc tác làm 2 mạch đơn tách nhau ra.

+ Các nuclêôtit tự do của môi trường liên kết với các nuclêôtit trên mỗi mạch của ADN mẹ theo nguyên tắc bổ sung hình thành mạch polinuclêôtit mới.

+ Kết thúc: 2 phân tử con được hình thành giống nhau và giống ADN mẹ. Chúng đóng xoắn và được phân chia cho 2 tế bào con trong quá trình phân bào.

2. Nguyên tắc của quá trình nhân đôi ADN

– Quá trình nhân đôi ADN tuân theo 2 nguyên tắc:

+ Nguyên tắc bổ sung (NTBS): Mạch mới của ADN con được tổng hợp dựa trên mạch khuôn của ADN mẹ. Các nuclêôtit tự do của môi trường liên kết với nuclêôtit của mạch khuôn theo NSTBS: A liên kết với T, G liên kết với X và ngược lại.

+ Nguyên tắc bán bảo toàn (giữ lại một nửa): trong mỗi ADN con có 1 mạch cũ của ADN mẹ, mạch còn lại được tổng hợp mới.

3. Ý nghĩa sự nhân đôi ADN

– Nhân đôi ADN làm cho thông tin di truyền của ADN nhân lên tạo cơ sở cho sự nhân đôi của NST.

– Nhân đôi ADN và NST kết hợp với cơ chế phân li của chúng trong nguyên phân giúp tạo ra sự ổn định di truyền qua các thể hệ tế bào.

– Nhân đôi ADN và NST cùng sự phân li của chúng trong giảm phân và tái tổ hợp trong thụ tinh, tạo ra sự ổn định của ADN và nhiễm sắc thể qua các thế hệ của loài.

II. BẢN CHẤT CỦA GEN

– Gen là một đoạn của phân tử ADN có chức năng di truyền xác định.

– Gen cấu trúc thường mang thông tin quy định cấu trúc của một loại prôtêin.

III. CHỨC NĂNG CỦA ADN

ADN có các chức năng chủ yếu sau:

+ Mang thông tin di truyền là số lượng, thành phần, trình tự các nuclêôtit trên ADN.

+ Bảo quản thông tin di truyền: mọi sai sót trên phân tử ADN hầu hết đều được các hệ thống enzim sửa sai trong tế bào sửa chữa, các đoạn gen cấu trúc được các cơ chế trong tế bào bảo vệ, giữ được tính ổn định trong đời sống cá thể.

+ Truyền đạt thông tin di truyền (qua nhân đôi ADN) qua các thế hệ tế bào và cơ thể.

Đề Kiểm Tra 1 Tiết Học Kì 1 Môn Sinh Học 9: Trình Bày Chức Năng Của Adn.

Sự Khác Biệt Giữa Dna Polymerase 1 2 Và 3

Dna Polymerase Các Loại, Chức Năng Và Cấu Trúc / Sinh Học

Quá Trình Tự Nhân Đôi Adn

Adn Là Gì? Mô Tả Cấu Trúc Không Gian Của Adn Và Arn

Axit Đêôxiribônuclêic Sinh 10: Cấu Trúc, Chức Năng Của Adn

Lý Thuyết Quá Trình Nhân Đôi Adn Sinh 12

So Sánh Adn Arn Và Protein Giống Nhau Khác Nhau Ở Điểm Nào

Câu Hỏi Trắc Nghiệm Adn

Bài 16. Adn Và Bản Chất Của Gen

Sh 9. Tiết 16. Adn Và Bản Chất Của Gen

ADN cấu tạo theo nguyên tắc đa phân. Mỗi đơn phân là một nuclêôtit. Mỗi nuclêôtit lại có cấu tạo gồm 3 thành phần là đường pentôzơ (đường 5 cacbon), nhóm phôtphat và bazơ nitơ. Có 4 loại nuclêôtit là A, T, G, X. Các loại nuclêôtit chỉ khác biệt nhau về bazơ nitơ nên người ta gọi tên của các nuclêôtit theo tên của các bazơ nitơ (A = Ađênin, T = Timin, G = Guanin, X = Xitôzin). Các nuclêôtit liên kết ới nhau theo một chiều xác định tạo nên một chuỗi pôlinuclêôtit. Mỗi trình tự xác định của các nuclêôtit trên phân tử ADN mã hóa cho một sản phẩm nhất định (prôtêin hay ARN) được gọi là một gen. Một phân tử ADN thường có kích thước rất lớn và chứa rất nhiều gen.

Mỗi phân tử ADN gồm 2 chuỗi (mạch) pôlinuclêôtit liên kết với nhau bằng các liên kết hiđrô giữa các bazơ nitơ của các nuclêôtit. Sự liên kết này là rất đặc thù, A liên kết với T bằng 2 liên kết hiđrô và G liên kết với X bằng 3 liên kết hiđrô (kiểu liên kết như vậy được gọi là liên kết bổ sung). Mặc dù, các liên kết hiđrô là các liên kết yếu nhưng phân tử ADN gồm rất nhiều đơn phân nên số lượng liên kết hiđrô là cực lớn làm cho ADN vừa khá bền vững vừa rất linh hoạt (2 mạch dễ dàng tách nhau ra trong quá trình nhân đôi và phiên mã).

Hai chuỗi pôlinuclêôtit của phân tử ADN không chỉ liên kết với nhau bằng liên kết hiđrô mà chúng còn xoắn lại quanh một trục tưởng tượng tạo nên một xoắn kép đều đặn giống như một cầu thang xoắn. Trong đó, các bậc thang là các bazơ nitơ còn thành và tay vịn là các phân tử đường và các nhóm phôtphat (hình 6.1).

ở các tế bào nhân sơ, phân tử ADN thường có cấu trúc dạng mạch vòng, ở các tế bào nhân thực, phân tử ADN có cấu trúc dạng mạch thẳng.

Sinh Học 10 Bài 6: Axit Nuclêic

So Sánh Adn Và Arn, Mối Liên Hệ Giữa Adn, Arn Trong Sự Sống

Mô Tả Cấu Trúc Không Gian Của Adn Và Arn

1/ So Sánh Cấu Tạo Chức Năng Adn Và Arn 2/ Phân Biệt Cấu Tạo Chức Năng Của Marn , Rarn , Tarn Câu Hỏi 22345

Bài Tập Sinh Học Lớp 10: So Sánh Adn Và Arn Về Cấu Tạo, Cấu Trúc Và Chức Năng

Luận Văn: Kỹ Năng Giao Tiếp Của Học Sinh Trung Học, Hay, 9Đ

Vai Trò Của Giao Tiếp Trong Kinh Doanh

Giao Tiếp Và Vai Trò Của Giao Tiếp Trong Quản Trị Kinh Doanh. Ứng Dụng Trong Thực Tê

8 Dạng Bài Trong Đề Thi Tiếng Anh Thpt Quốc Gia

Tổng Quan Về Ngôn Ngữ Và Ngôn Ngữ Học

Phong Cách Chức Năng Ngôn Ngữ

, ZALO 0932091562 at BÁO GIÁ DV VIẾT BÀI TẠI: chúng tôi

Published on

Download luận văn thạc sĩ ngành tâm lí học với đề tài: Thực trạng kỹ năng giao tiếp bạn bè của học sinh lứa tuổi trung học cơ sở trường Vừa học- Vừa làm 15-5 Thành phố Hồ Chí Minh

1. BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Nguyễn Thu Hà LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC Thành phố Hồ Chí Minh- 2012

2. BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Nguyễn Thu Hà Chuyên ngành : Tâm lý học Mã số : 60 31 80 LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC TS. ĐỖ HẠNH NGA Thành phố Hồ Chí Minh- 2012

3. LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu do chính tôi thực hiện. Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong một công trình nào khác. Tác giả Nguyễn Thu Hà

4. LỜI CẢM ƠN Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc đến TS Đỗ Hạnh Nga, người đã nhiệt tình động viên, khuyến khích, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện Luận văn. Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô ở trường Đại học Sư phạm, Khoa Tâm lý- Giáo dục đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho chúng tôi được học tập và thực hiện Luận văn. Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, các thầy cô trường Vừa học vừa làm 15-5 đã giúp đỡ nhiệt tình trong suốt quá trình chúng tôi thực hiện nghiên cứu tại quý Trường. Nguyễn Thu Hà

6. Chương 3: THỬ NGHIỆM MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM NÂNG CAO KỸ NĂNG LẮNG NGHE CỦA HỌC SINH LỨA TUỔI TRUNG HỌC CƠ SỞ TRƯỜNG VỪA HỌC VỪA LÀM 15-5 TPHCM …………………………………………79 3.1. Mục đích thử nghiệm ……………………………………………………………………………..79 3.2. Khách thể thử nghiệm …………………………………………………………………………….79 3.3. Nội dung thử nghiệm ……………………………………………………………………………..79 3.4. Tổ chức thử nghiệm ……………………………………………………………………………….83 3.5. Phân tích kết quả nghiên cứu thử nghiệm………………………………………………….84 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ……………………………………………………………………..97 TÀI LIỆU THAM KHẢO …………………………………………………………………………100

7. DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT ĐLC : Độ lệch tiêu chuẩn ĐTB : Điểm trunh bình KNGT : Kỹ năng giao tiếp KNLQ : Kỹ năng làm quen KNLN : Kỹ năng lắng nghe KNGQXĐ : Kỹ năng giải quyết xung đột TPHCM : Thành phố Hồ Chí Minh THCS : Trung học cơ sở VHVL : Vừa học vừa làm

8. DANH MỤC BẢNG SỐ LIỆU Bảng 2.1a. Phân bố về giới tính, thời gian học tập ……………………………………………47 Bảng 2.1b. Phân bố về kết quả học tập ……………………………………………………………48 Bảng 2.2. Hoàn cảnh gia đình của học sinh lứa tuổi THCS trường Vừa học-vừa làm 15-5…………………………………………………………………………………….48 Bảng 2.3a. Mức độ hiểu biết của học sinh lứa tuổi THCS trường VHVL 15-5 về KNGT bạn bè …………………………………………………………………………….49 Bảng 2.3b. Mức độ hiểu biết của học sinh lứa tuổi THCS trường VHVL 15-5 về KNGT bạn bè …………………………………………………………………………….50 Bảng 2.4a. Mức độ hiểu biết của HS lứa tuổi THCS trường VHVL 15-5 đối với các kỹ năng bộ phận của KNGT …………………………………………………..51 Bảng 2.4b. Mức độ hiểu biết của HS lứa tuổi THCS trường VHVL 15-5 đối với các kỹ năng của KNGT ………………………………………………………………52 Bảng 2.5a. Mức độ đánh giá của học sinh lứa tuổi THCS trường VHVL 15-5 về vai trò của KNGT bạn bè……………………………………………………………..54 Bảng 2.5b. Mức độ đánh giá của HS lứa tuổi THCS trường VHVL 15-5 về vai trò của KNGT ở những nội dung cụ thể ……………………………………………..55 Bảng 2.6. Mức độ quan tâm rèn luyện của HS lứa tuổi THCS trường VHVL 15-5 đối với KNGT…………………………………………………………………………….56 Bảng 2.7. Mức độ hiểu biết của học sinh đối với các kỹ năng bộ phận KNGT bạn bè theo giới tính………………………………………………………………………….57 Bảng 2.8. Tự đánh giá của học sinh lứa tuổi THCS trường VHVL 15-5 về các kỹ năng bộ phận KNGT bạn bè…………………………………………………………58 Bảng 2.9. Biểu hiện KNLQ của học sinh lứa tuổi THCS Trường VHVL 15-5 ….59 Bảng 2.10. Cách ứng xử trong tình huống cụ thể của KNLQ của học sinh lứa tuổi THCS trường VHVL 15-5……………………………………………………………61 Bảng 2.11. Biểu hiện KNLN của học sinh lứa tuổi THCS trường VHVL 15-5…..62 Bảng 2.12. Cách ứng xử trong tình huống cụ thể của KNLN của học sinh THCS trường VHVL 15-5……………………………………………………………………..64

9. Bảng 2.13. Biểu hiện KNGQXĐ của thiếu niên Trường VHVL 15-5 ………………..66 Bảng 2.14. Cách ứng xử trong tình huống cụ thể của KNGQXĐ của học sinh lứa tuổi THCS trường VHVL 15-5 …………………………………………………….68 Bảng 2.15. Sự khác biệt mức độ biểu hiện các kỹ năng bộ phận của KNGT bạn bè của học sinh lứa tuổi THCS trường VHVL 15-5 theo giới tính…………69 Bảng 2.16. Những khó khăn của các em học sinh lứa tuổi THCS trường VHVL 15- 5 trong quá trình rèn luyện KNGT bạn bè………………………………………70 Bảng 2.17. Các nhóm nguyên nhân ảnh hưởng đến kết quả rèn luyện KNGT bạn bè của HS lứa tuổi THCS trường VHVL 15-5…………………………………….71 Bảng 2.18. Các yếu tố thuộc nhà trường ảnh hưởng đến KNGT bạn bè của học sinh lứa tuổi THCS trường VHVL 15-5 ……………………………………………….72 Bảng 2.19. Các yếu tố thuộc về giáo viên ảnh hưởng đến KNGT bạn bè của học sinh lứa tuổi THCS trường VHVL 15-5…………………………………………73 Bảng 2.20. Các yếu tố thuộc về học sinh ảnh hưởng đến KNGT bạn bè của học sinh lứa tuổi THCS trường VHVL 15-5…………………………………………74 Bảng 2.21. Biện pháp nâng cao kỹ năng giao tiếp bạn bè cho học sinh lứa tuổi THCS trường VHVL 15-5……………………………………………………………75 Bảng 3.1. So sánh mức độ nhận thức về KNLN của nhóm đối chứng và nhóm thử nghiệm trước thử nghiệm …………………………………………………………….84 Bảng 3.2. So sánh mức độ biểu hiện KNLN của học sinh lứa tuổi THCS trường VHVL 15-5 giữa nhóm đối chứng và nhóm thử nghiệm trước thử nghiệm ………………………………………………………………………………………85 Bảng 3.3. So sánh mức độ biểu hiện KNLN của học sinh lứa tuổi THCS trường VHVL 15-5 giữa nhóm đối chứng và nhóm thử nghiệm trước thử nghiệm ở từng biểu hiện cụ thể …………………………………………………….86 Bảng 3.4. So sánh mức độ nhận thức KNLN của học sinh ở nhóm đối chứng trước và sau thử nghiệm ………………………………………………………………87 Bảng 3.5. So sánh mức độ biểu hiện KNLN của học sinh ở nhóm đối chứng trước và sau thử nghiệm……………………………………………………………………….88

10. Bảng 3.6. So sánh mức độ biểu hiện KNLN của học sinh ở nhóm đối chứng trước và sau thử nghiệm ở từng biểu hiện cụ thể……………………………………..88 Bảng 3.7. So sánh mức độ nhận thức KNLN của học sinh ở nhóm thử nghiệm trước và sau thử nghiệm ………………………………………………………………89 Bảng 3.8. So sánh mức độ biểu hiện KNLN của học sinh ở nhóm thử nghiệm trước và sau thử nghiệm ………………………………………………………………90 Bảng 3.9. So sánh mức độ biểu hiện KNLN của học sinh ở nhóm thử nghiệm trước và sau thử nghiệm ở từng biểu hiện cụ thể …………………………….91 Bảng 3.10. So sánh mức độ nhận thức KNLN của nhóm đối chứng và nhóm thử nghiệm sau thử nghiệm ……………………………………………………………….92 Bảng 3.11. So sánh mức độ biểu hiện KNLN của nhóm đối chứng và nhóm thử nghiệm sau thử nghiệm ……………………………………………………………….92 Bảng 3.12. So sánh mức độ biểu hiện KNLN của nhóm đối chứng và nhóm thử nghiệm sau thử nghiệm ở từng biểu hiện cụ thể ……………………………..93

11. DANH MỤC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 2.1. Mức độ hiểu biết của học sinh đối với các kỹ năng bộ phận KNGT bạn bè ……………………………………………………………………………………51 Biểu đồ 2.2. Tự đánh giá của học sinh lứa tuổi THCS trường VHVL 15-5 về các kỹ năng của KNGT bạn bè……………………………………………………….59 Biểu đồ 3.1. Mức độ KNLN của học sinh lứa tuổi THCS trường VHVL 15-5 giữa nhóm đối chứng và nhóm thử nghiệm trước thử nghiệm ………87 Biểu đồ 3.2. Mức độ KNLN của học sinh lứa tuổi THCS trường VHVL 15-5 giữa nhóm đối chứng và nhóm thử nghiệm sau thử nghiệm………….94

12. 1 MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Giáo dục trong nhà trường có vai trò quan trọng không những trong việc cung cấp tri thức cần thiết mà còn hình thành các kỹ năng nhất định cho người học. Điều 2, Luật Giáo dục Việt Nam 2005 nêu rõ: “Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp”1 . Như vậy, hình thành nhân cách, giáo dục kỹ năng sống cho học sinh là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của ngành giáo dục. Bạo lực học đường đang bùng phát và gia tăng đến mức báo động. Mức độ nghiêm trọng của nó khiến dư luận xã hội phải nhìn nhận bạo lực học đường như là một vấn nạn cần chung tay phòng chống. Chuyện bạo lực trong trường học làm bộc lộ ra nhiều lỗ hỗng trong công tác giáo dục kỹ năng sống, kỹ năng giao tiếp cho các em học sinh trong nhà trường.2 Xung đột, mâu thuẫn nảy sinh trong nhóm bạn bè nếu không được giải quyết thỏa đáng sẽ là nguồn gốc nảy sinh bạo lực. Do đó, hình thành kỹ năng giao tiếp bạn bè cho học sinh trở thành nhiệm vụ cấp thiết của ngành giáo dục và toàn xã hội. Học sinh lứa tuổi THCS là lứa tuổi có nhiều biến động về tâm sinh lý với hoạt động chủ đạo là giao tiếp bạn bè. Đối với học sinh lứa tuổi trung học cơ sở ở trường 15-5, kỹ năng giao tiếp tốt sẽ giúp các em chung sống, học tập cùng bạn bè. Hơn nữa, giao tiếp tốt sẽ tạo ra động lực bên trong cho sự phát triển tâm lý, nhân cách cho các em. Trường Vừa học-Vừa làm 15-5 là nơi nuôi dưỡng và giáo dục trẻ em hoàn cảnh gia đình khó khăn và các em không có người nuôi dưỡng. Tâm lý trẻ sống tại trường 15-5 có nhiều điểm khác biệt so với trẻ sống tại gia đình, đặc biệt là cách cư xử với bạn bè và những người xung quanh. Các em lứa tuổi trung học cơ sở ở trường Vừa học- Vừa làm 15-5 là những em cùng chung sống, học tập với nhau nên 1 Luật Giáo dục Việt Nam năm 2005 2 www.phapluattp.vn

13. 2 giao tiếp bạn bè là hoạt động thường xuyên trong đời sống của các em. Trong khi đó thầy cô không thể thay thế hoàn toàn bố mẹ để uốn nắn các em. Vì thế, nghiên cứu kỹ năng giao tiếp bạn bè của các em và đề xuất những biện pháp giáo dục giúp các em phát triển tâm lý bình thường và hòa nhập tốt với xã hội là cần thiết và có ý nghĩa. Mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu về kỹ năng sống, kỹ năng giao tiếp của học sinh, xung đột tâm lý trong giao tiếp bạn bè lứa tuổi trung học cơ sở nhưng các công trình chưa đi sâu tìm hiểu kỹ năng giao tiếp bạn bè của học sinh trung học cơ sở trong các trường chuyên biệt. Xuất phát từ những lý do trên, đề tài: ‘Thực trạng kỹ năng giao tiếp bạn bè của học sinh lứa tuổi trung học cơ sở trường Vừa học- Vừa làm 15-5 Thành phố Hồ Chí Minh” được thực hiện. 2. Mục đích nghiên cứu Xác định thực trạng kỹ năng giao tiếp bạn bè của học sinh lứa tuổi trung học cơ sở Trường VHVL 15-5 chúng tôi và tìm hiểu một số nguyên nhân của thực trạng trên. Từ đó xây dựng và thử nghiệm một số biện pháp tác động nhằm nâng cao kỹ năng lắng nghe cho học sinh lứa tuổi THCS trường VHVL 15-5. 3. Đối tượng và khách thể nghiên cứu 3.1. Đối tượng nghiên cứu Kỹ năng giao tiếp bạn bè của học sinh lứa tuổi trung học cơ sở. 3.2. Khách thể nghiên cứu – Khách thể nghiên cứu chính là học sinh lứa tuổi trung học cơ sở Trường VHVL 15-5 chúng tôi – Khách thể nghiên cứu bổ trợ là cán bộ quản lý, giáo viên (những người trực tiếp nuôi dưỡng và giáo dục các em) trường VHVL 15-5 chúng tôi 4. Giả thuyết khoa học Kỹ năng giao tiếp bạn bè của học sinh lứa tuổi THCS trường VHVL 15-5 TPHCM đạt mức độ chưa cao, đặc biệt là kỹ năng lắng nghe. Nếu tìm ra biện pháp tác động phù hợp thì có thể nâng cao kỹ năng lắng nghe vì thế có thể sẽ nâng cao KNGT bạn bè cho các em.

14. 3 5. Nhiệm vụ nghiên cứu – Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận về kỹ năng, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng giao tiếp bạn bè lứa tuổi trung học cơ sở. – Khảo sát thực trạng kỹ năng giao tiếp bạn bè của học sinh lứa tuổi trung học cơ sở Trường VHVL 15-5 chúng tôi – Đề xuất một số biện pháp và thử nghiệm nhằm nâng cao kỹ năng lắng nghe cho học sinh lứa tuổi THCS trường VHVL 15-5. 6. Phạm vi nghiên cứu 6.1. Phạm vi về mặt nội dung – Nghiên cứu một số kỹ năng giao tiếp bạn bè của học sinh như: kỹ năng làm quen, kỹ năng lắng nghe, kỹ năng giải quyết xung đột. – Nghiên cứu kỹ năng giao tiếp bạn bè trong hoạt động học tập, và trong môi trường sống tại khuôn viên Trường VHVL 15-5 chúng tôi 6.2. Phạm vi về mặt khách thể Trong đề tài này, khách thể nghiên cứu là 100 học sinh Trường VHVL 15-5 TPHCM lứa tuổi trung học cơ sở. 7. Phương pháp nghiên cứu 7.1. Các phương pháp nghiên cứu lý luận Tiến hành phân tích các đề tài nghiên cứu lý luận, nghiên cứu thực tiễn trong và ngoài nước về kỹ năng, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng giao tiếp bạn bè. Hệ thống hóa các lý thuyết nói trên để xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài. 7.2. Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn 7.2.1. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi Đây là phương pháp nghiên cứu chính của đề tài. Sử dụng bảng hỏi nhằm: – Tìm hiểu nhận thức của học sinh trung học cơ sở trường VHVL 15-5 về kỹ năng giao tiếp bạn bè. – Tìm hiểu tự đánh giá của học sinh lứa tuổi trung học cơ sở Trường VHVL 15-5 về kỹ năng giao tiếp bạn bè.

16. 5 Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề Giao tiếp là một phạm trù trong khoa học nghiên cứu về tâm lý con người. Giao tiếp đóng vai trò quan trọng trong sự hình thành và phát triển nhân cách của mỗi con người. Do đó, giao tiếp và kỹ năng giao tiếp từ trước đến nay được sự quan tâm nghiên cứu của nhiều tác giả. Nghiên cứu giao tiếp đã đạt được những thành tựu nhất định. Có thể điểm qua một vài nghiên cứu như sau: 1.1.1. Ngoài nước Những nghiên cứu của S.Freud về sự đồng nhất hóa để lý giải, phân tích các giấc mơ và một số quá trình ở trẻ em như sự bắt chước các khuôn mẫu của “những người quan trọng khác”, sự hình thành cái “siêu tôi”, tiếp nhận vai trò nam, nữ…đã cho thấy cơ chế đồng nhất hóa đảm bảo mối lien hệ qua lại giữa các chủ thể trong nhóm xã hội, từ đó tạo ra sự đồng nhất cảm xúc, thấu cảm, tiếp thu tình cảm của người khác. Trong giao tiếp, sự đồng nhất này là vô cùng quan trọng vì nó cho phép cá nhân hiểu được tâm lý của một người xa lạ với cái tôi của cá nhân. Theo Freud, trong một số trường hợp thì sự đồng nhất cảm xúc mang tính chất “truyền nhiễm tâm lý” và rất đặc trưng cho đám đông hợp quần. Ngành Tâm lý học của Liên Xô (cũ) cũng nghiên cứu vấn đề giao tiếp nhưng theo nhiều hướng tiếp cận khác nhau: Hướng thứ nhất: Nghiên cứu lý luận chung về giao tiếp như bản chất, cấu trúc, cơ chế giao tiếp, phương pháp luận nghiên cứu giao tiếp, mối quan hệ giữa giao tiếp và hoạt động….Hướng nghiên cứu này thể hiện trong nhiều công trình

17. 6 nghiên cứu của các nhà tâm lý học Liên Xô (cũ) như “Về bản chất giao tiếp người” (1973) của Xacopnhin, “Tâm lý học về các mối quan hệ qua lại trong nhóm nhỏ” (1976) của I.L.Kolominxki, “Tâm lý học giao tiếp” (1978) của A.N.Leoncheiv, “Giao tiếp trong tâm lý học” (1981) của K.Platonov, “Phạm trù giao tiếp và hoạt động trong tâm lý học” của B.P.Lomov. Hướng nghiên cứu này tồn tại hai luồng quan điểm khác nhau: – Quan điểm thứ nhất cho rằng giao tiếp có thể là một dạng hoạt động hoặc có thể là một phương thức, điều kiện của hoạt động. Đại diện cho quan điểm theo xu hướng này là A.N.Leonchiev. – Quan điểm thứ hai cho rằng hoạt động và giao tiếp là những phạm trù tương đối độc lập trong quá trình thống nhất của đời sống con người. Phạm trù “hoạt động” phản ánh mối quan hệ giữa chủ thể- khách thể, phạm trù “giao tiếp” phản ánh mối quan hệ chủ thể- chủ thể.. Học thuyết giao tiếp liên nhân cách cho rằng giao tiếp là sự trao đổi thông tin về những quan điểm, ý kiến, cảm xúc và ngay cả những “cái tôi” của chính bản thân. Mức độ hiểu biết về bản thân, về người trong giao tiếp là yếu tố quan trọng giúp giao tiếp thành công. Sự hiểu biết người khác và hiểu biết về chính bản thân của chủ thể giao tiếp được minh họa bằng bốn khu vực khác nhau trong quan hệ giữa việc tự nhận thức về mình và nhận thức về người khác. Khoảng không nhận

18. 7 thức về mình rõ ràng và những khoảng không người khác hiểu về mình sẽ tạo ra hiệu ứng tương tác tâm lý tích cực trong giao tiếp. Thông qua trao đổi thông tin với nhau, các cá nhân trong giao tiếp mới có thể hiểu biết về bản thân mình và người khác. Điều này được xây dựng trên cơ sở lòng tin trong giao tiếp giữa các chủ thể. Học thuyết giao tiếp xã hội bắt nguồn từ tâm lý ngôn ngữ học, xã hội học và tâm lý học hiện sinh, nhấn mạnh vai trò của các năng lực giao tiếp, năng lực và cái tôi của cá nhân trong mối quan hệ giữa xã hội và cá nhân trong quá trình xã hội hóa- quá trình hình thành cá thể người với tư cách là một cơ cấu sinh học mang tính người thích nghi với cuộc sống xã hội; qua đó, hấp thụ và phát triển những năng lực người đặc trưng trưởng thành như một nhân cách xã hội duy nhất không lặp lại. Dale Carnegie trong cuốn “Đắc nhân tâm” (2002) đã trình bày những nghệ thuật, những bí quyết trong quan hệ giao tiếp giữa con người với con người. Theo ông, để thu hút được đối tượng giao tiếp, con người phải có nghệ thuật và KNGT nhất định như kỹ năng thể hiện sự quan tâm, kỹ năng biểu hiện cảm xúc, kỹ năng lắng nghe… Giáo trình “Những cơ sở khoa học của quản lý kinh tế” (1985) của Mai Hữu Khuê đã nêu ra những kỹ năng mà người lãnh đạo cần có là kỹ năng hiểu nhu cầu lo lắng của đối tượng, kỹ năng thể hiện sự quan tâm với cấp dưới, kỹ năng lắng nghe, kỹ năng nghiên cứu con người. Luận án Tiến sĩ “Khó khăn tâm lý của học sinh đầu lớp 1” (2009) của Vũ Ngọc Hà (Viện Tâm lý học) đã chỉ ra thực trạng các khó khăn tâm lý mà học sinh gặp phải khi vào lớp 1, trong đó có khó khăn về sự thiết lập quan hệ giao tiếp với bạn xuất phát chủ yếu từ sự thiếu hụt KNGT.

20. 9 Luận án phó tiến sỹ của Nguyễn Thị Thanh Bình ” Nghiên cứu một số trở ngại tâm lý trong giao tiếp của sinh viên với học sinh khi thực tập tốt nghiệp” (Hà Nội, 1996) Luận văn thạc sỹ Tâm lý học “Tự đánh giá về KNGT của thiếu niên trong giao tiếp với bạn” (2005) của Vũ Thị Lý nghiên cứu về thực trạng tự đánh giá về KNGT của thiếu niên trong giao tiếp với bạn. Từ đó đề xuất một số biện pháp tác động nhằm nâng cao kỹ năng tự đánh giá của thiếu niên trong giao tiếp với bạn. Kết quả nghiên cứu của Hà Thị Thư (Trường Đại học Lao động- xã hội) về “Các kỹ năng cơ bản trong hoạt động nghề nghiệp của cán bộ xã hội” (tạp chí Tâm lý học số 4-2008) nghiên cứu các kỹ năng cơ bản cần thiết cho hoạt động nghề nghiệp của người cán bộ xã hội trong đó đề cập đến các kỹ năng cần thiết của người cán bộ xã hội như kỹ năng lắng nghe, kỹ năng quan sát, … Nội dung tập trung vào đối tượng giao tiếp của học sinh, sinh viên; phạm vi, nội dung, nhu cầu giao tiếp; một số trở ngại tâm lý khi giao tiếp; một số kỹ năng giao tiếp của cá nhân. Luận văn Thạc sĩ “Đặc điểm giao tiếp của học sinh trung học cơ sở trường phổ thông dân tộc nội trú huyện Mai Sơn tỉnh Sơn La” (2001) của Nguyễn Quang Sáng nghiên cứu lý luận cơ bản về giao tiếp như khái niệm, bản chất, vai trò của giao tiếp đối với sự hình thành và phát triển nhân cách, trên cơ sở đó tìm hiểu đặc điểm giao tiếp của thiếu niên phổ thông dân tộc nội trú. Đồng thời tác giả thử nghiệm một số biện pháp sư phạm nhằm mở rộng phạm vi, đối tượng giao tiếp của học sinh. Bài viết “Một số biểu hiện của tình trạng thiếu kỹ năng sống của trẻ em hiện nay” (Tạp chí Tâm lý học số 8-2010) của Nguyễn Thị Hoa (Viện Tâm lý học) đề cập đến sự yếu kém về KNGT của trẻ em hiện nay thể hiện qua việc chưa biết lắng nghe tích cực, chưa biết trình bày ý kiến của mình một cách hợp lý, ít có khả năng thấu cảm, cảm thông và chia sẻ với người khác. Luận văn Thạc sĩ Tâm lý học (2005) của Vũ Thị Lý “Tự đánh giá về kỹ năng giao tiếp của thiếu niên trong giao tiếp với bạn”. Luận văn nghiên cứu thực trạng tự đánh giá về khả năng giao tiếp của thiếu niên trong giao tiếp với bạn bè và

21. 10 các yếu tố ảnh hưởng đến tự đánh giá của thiếu niên trong giao tiếp với bạn. Từ đó đề xuất một số biện pháp tác động nhằm nâng cao kỹ năng tự đánh giá của thiếu niên trong giao tiếp với bạn. Các giáo trình Tâm lý học lứa tuổi của Lê Văn Hồng (1996), Vũ Thị Nho (1999) đều có đề cập đến một số đặc điểm giao tiếp của thiếu niên như nhu cầu giao tiếp, đối tượng giao tiếp, nội dung giao tiếp. Do hoạt động chủ đạo của lứa tuổi này là giao tiếp với bạn bè cùng tuổi nên các tác giả chỉ tập trung khai thác mặt lý luận của các đặc điểm này xung quanh đối tượng giao tiếp là bạn bè. Như vậy, có rất nhiều công trình nghiên cứu về giao tiếp và KNGT trên nhiều lĩnh vực xã hội, khẳng định sự cần thiết của KNGT đối với đời sống. KNGT đóng vai trò quan trọng đối với sự thành công của mỗi con người, do đó việc nghiên cứu KNGT là cần thiết. Những nghiên cứu trên đã góp phần định hướng cho nghiên cứu này. Qua tìm hiểu của tác giả thì hiện nay những nghiên cứu về đặc điểm tâm lý của trẻ lang thang, mồ côi chủ yếu tập trung ở lĩnh vực xã hội học, công tác xã hội. Trong đó, các tác giả tập trung thống kê số lượng trẻ mồ côi, lang thang, đặc điểm của trẻ từ đó đề xuất một số biện pháp cho các Mái ấm, nhà mở, giáo dục viên chăm sóc và giáo dục trẻ tốt hơn. Các nghiên cứu về đặc điểm giao tiếp của trẻ lang thang, mồ côi sống tại các trung tâm còn rất ít. Các nghiên cứu về đặc điểm tâm lý, đặc điểm giao tiếp của trẻ mồ côi, lang thang trong lĩnh vực tâm lý học còn rất hạn chế. Có thể điểm qua một vài nghiên cứu sau: Nguyễn Quang Uẩn (2000)- “Trẻ lang thang và nhu cầu tâm lý của các em” cho rằng trẻ em lang thang có nhu cầu giao lưu rất lớn. Nhưng các em có những quan hệ giao lưu phức tạp trên đường phố dễ dàng bắt chước những hành vi trái quy tắc xã hội. Vì thế việc giao lưu của trẻ lang thang đường phố dễ dàng đem lại những suy thoái, biến chất trong tâm hồn trẻ.

23. 12 việc tiếp xúc thân thể của con người trong quá trình tác động qua lại về mặt vật lý và chuyển dịch không gian Giao tiếp có mặt trong mọi hoạt động của con người. Trong hoạt động người ta hình thành động cơ, mục đích, hứng thú, nguyện vọng, say mê, tình cảm…Chính vì thế, trong hoạt động, con người đã xác lập được các quan hệ giữa người này với người khác, giữa nhóm này với nhóm khác, giữa thế hệ trước với thế hệ sau, từ đó nảy sinh, phát triển tâm lý người. Vì vậy, giao tiếp là điều kiện tất yếu của sự tồn tại, sự hình thành và phát triển tâm lý người. Từ đây, A.N.Leonchiev đưa ra định nghĩa giao tiếp như sau: “Đó là một hệ thống những quá trình có mục đích và động cơ trong hoạt động tập thể, thực hiện các quan hệ xã hội và nhân cách, các quan hệ tâm lý và sử dụng những phương tiện đặc thù, mà trước hết là ngôn ngữ.” Ở góc độ nhận thức, L.X.Vugotxki cho rằng giao tiếp là quá trình chuyển giao tư duy và cảm xúc Xem xét giao tiếp là sự thể hiện mối quan hệ giữa con người với con người hay giữa nhân cách này với nhân cách khác trong mối quan hệ liên nhân cách, B.Ph.Lomov cho rằng: “Giao tiếp là mối quan hệ tác động qua lại giữa con người với tư cách chủ thể”. K.Berlo (1960) định nghĩa: “Giao tiếp của con người là một quá trình có chủ định hay không có chủ định, có ý thức hay không có ý thức mà trong đó các cảm xúc và tư tưởng được diễn đạt trong các thông điệp bằng ngôn ngữ hoặc phi ngôn ngữ. Giao tiếp của con người diễn ra ở các mức độ: trong con người, giữa con người với con người và công cộng. Giao tiếp của con người là một quá trình năng động, bất thuận nghịch, tác động qua lại và có tính chất ngữ cảnh”. Theo tác giả Nguyễn Ngọc Bích: “Giao tiếp của con người là một quá trình chủ đích hay không có chủ đích, có ý thức hay không có ý thức trong đó các cảm xúc và tư tưởng được diễn đạt trong các thông điệp bằng ngôn ngữ hoặc phi ngôn ngữ”. Tác giả Nguyễn Quang Uẩn cho rằng: “Giao tiếp là sự tiếp xúc tâm lý giữa người với người, thông qua đó con người trao đổi với nhau về thông tin, về cảm xúc, tri giác lẫn nhau, ảnh hưởng tác động qua lại với nhau. Hay nói cách khác, giao tiếp xác lập và vận hành các quan hệ người- người, hiện thực hóa các quan hệ xã hội giữa chủ thể này với chủ thể khác”. Tác giả Vũ Dũng cho rằng: “Giao tiếp là quá trình hình thành và phát triển sự tiếp xúc giữa người với người được phát sinh từ nhu cầu trong hoạt động chung, bao gồm sự trao đổi thông tin, xây dựng chiến lược tương tác thống nhất tri giác và tìm hiểu người khác” hay “Giao tiếp là sự tác động tương hỗ của các chủ thể phát sinh từ nhu cầu hoạt động chung được thực hiện bằng những công cụ quen thuộc và hướng đến những thay đổi có ý nghĩa trong trạng thái, hành vi và cấu trúc ý – cá nhân của đối tác” Trong quản trị và kinh doanh, giao tiếp được hiểu là hoạt động xác lập và vận hành các quan hệ giữa người và người, hoặc giữa người và các yếu tố xã hội nhằm thỏa mãn những nhu cầu nhất định. Theo tiêu chí mục tiêu, L.A.Karpenco cho rằng giao tiếp có 8 chức năng: – Chức năng tiếp xúc – mục tiêu: việc tiếp xúc như là trạng thái chuẩn bị chung để tiếp nhận và truyền đạt thông báo, củng cố quan hệ ở hình thức định hướng lẫn nhau thường xuyên. – Chức năng thông tin – mục đích: trao đổi các thông báo. – Chức năng kích thích – mục đích: kích thích tích cực đối tác giao tiếp, hướng họ thực hiện hành động nhất định. – Chức năng định vị – mục đích: định hướng và thống nhất hành động trong hoạt động chung. – Chức năng hiểu biết – mục đích: hiểu biết nội dung thông báo và hiểu biết lẫn nhau giữa các chủ thể giao tiếp. – Chức năng tạo động cơ – mục đích: khơi dậy ở đối tác những trãi nghiệm tình cảm cần thiết đồng thời qua sự giúp đỡ của họ thay đổi trải nghiệm, trạng thái của chính chủ thể. – Chức năng hình thành các mối quan hệ – mục đích: nhận thức và xác định vị trí bản thân trong hệ thống vai, vị thế, quan hệ. – Chức năng gây ảnh hưởng – mục đích: thay đổi trạng thái, hành vi, cấu trúc ý hướng cá nhân của đối tác. Theo A.A.Pruzin giao tiếp có các chức năng sau: – Chức năng công cụ của giao tiếp cần thiết cho sự trao đổi thông tin trong quá trình điều hành và trong quá trình lao động chung. – Chức năng nghiệp đoàn thể hiện ở việc đoàn kết nhóm lớn và nhóm nhỏ có ý nghĩa quan trọng trong giáo dục và truyền đạt kiến thức, phương thức hoạt động và tiêu chuẩn đánh giá. – Chức năng tự thể hiện hướng đến việc tìm kiếm và đạt được sự hiểu biết lẫn nhau. Tác giả Nguyễn Quang Uẩn chia các chức năng giao tiếp: – Chức năng thông tin hai chiều (chức năng nhận thức). – Chức năng thể hiện và đánh giá thái độ xúc cảm. – Chức năng liên kết, phối hợp hoạt động. – Chức năng đồng nhất hóa: tạo ra sự hiểu biết lẫn nhau, thông cảm, đồng cảm chung giữa cá nhân với cá nhân, giữa cá nhân với nhóm, nhóm này với nhóm khác. – Chức năng giáo dục. Theo tác giả Huỳnh Văn Sơn, giao tiếp có các chức năng như sau: – Chức năng thỏa mãn nhu cầu của con người. Đây là chức năng quan trọng nhất của giao tiếp và cũng là chức năng mà con người sử dụng sớm nhất trong giao tiếp. Giao tiếp là điều kiện cần thiết để con người tồn tại và phát triển. – Chức năng thông tin hai chiều giữa các chủ thể tham gia giao tiếp. Đây là chức năng có vai trò quan trọng thứ hai sau chức năng thỏa mãn nhu cầu của giao tiếp. Mỗi cá nhân trong giao tiếp vừa là nguồn phát thông tin vừa là nguồn thu thông tin. – Chức năng tổ chức, điều khiển, phối hợp hành động của một nhóm người trong cùng một hoạt động cùng nhau. Đây là chức năng dựa trên cơ sở xã hội. Nhờ chức năng này, con người có thể phối hợp cùng nhau để giải quyết một nhiệm vụ nhất định đạt tới mục tiêu đề ra trong quá trình giao tiếp. – Chức năng điều khiển, điều chỉnh hành vi. Chức năng này thể hiện ở sự tác động, ảnh hưởng lẫn nhau trong giao tiếp. Trong giao tiếp, cá nhân có thể tác động đến động cơ, mục đích, quá trình ra quyết định và hành động của người khác. – Chức năng xúc cảm. Chức năng này giúp con người thỏa mãn những nhu cầu xúc cảm, tình cảm. – Chức năng nhận thức và đánh giá lẫn nhau. Trong quá trình giao tiếp, các chủ thể luôn diễn ra quá trình nhận thức tri thức về tự nhiên, xã hội, nhận thức bản thân và nhận thức về người khác nhằm hướng tới những mục đích khác nhau trong giao tiếp.

29. 18 – Chức năng giáo dục và phát triển nhân cách. Giao tiếp giúp con người tiếp nhận những kinh nghiệm và những chuẩn mực thông qua đó có sự hình thành và phát triển nhân cách một cách toàn diện trên bình diện con người – cá nhân. Ngôn ngữ đặc trưng cho từng người. Sự khác biệt cá nhân về ngôn ngữ được thể hiện ở cách phát âm, sử dụng cấu trúc của câu, sự lựa chọn và sử dụng từ ngữ. Tùy tác dụng và biểu hiện, ngôn ngữ chia thành hai loại: ngôn ngữ bên ngoài và ngôn ngữ bên trong. a. Ngôn ngữ bên ngoài Ngôn ngữ bên ngoài là dạng ngôn ngữ được thể hiện tường minh ra bên ngoài bằng âm thanh hoặc chữ viết để tiến hành giao tiếp giữa các chủ thể. Ngôn ngữ bên ngoài là ngôn ngữ hướng vào người khác và được dùng để truyền đạt và tiếp thu tư tưởng. Ngôn ngữ bên ngoài được chia thành: ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết. Ngôn ngữ nói là ngôn ngữ hướng vào người khác, biểu hiện bằng âm thanh và được tiếp nhận bằng thính giác. Ngôn ngữ nói gồm ngôn ngữ độc thoại và ngôn ngữ đối thoại. Ngôn ngữ đối thoại là ngôn ngữ diễn ra ở một người hay một số người, trong đó khi người này nói thì người khác nghe và ngược lại, đối thoại thường được thể hiện qua các hình thức như nói chuyện, tâm sự, giao lưu, đàm thoại, hội họp, tranh luận….

30. 19 Ngôn ngữ độc thoại là ngôn ngữ mà người nói nói cho một hay số đông người nghe mà không có chiều ngược lại một cách trực tiếp, độc thoại có người nghe được gọi là thuyết trình. Ngôn ngữ viết ra đời muộn hơn ngôn ngữ nói, biểu hiện bằng chữ viết và được thu thập bằng thị giác. Ngôn ngữ viết cho phép con người tiếp xúc với nhau một cách gián tiếp trong những khoảng không gian và thời gian rộng lớn. Ngôn ngữ viết có đặc điểm riêng là ngoài yêu cầu chặt chẽ về ngữ pháp còn cả yêu cầu về chính tả. Nó cũng chia thành ngôn ngữ đối thoại và ngôn ngữ độc thoại (đọc sách, báo). b. Ngôn ngữ bên trong Ngôn ngữ bên trong là dạng đặc biệt của ngôn ngữ, là loại ngôn ngữ chưa bộc lộ ra ngoài bằng các phương tiện vật chất. Ngôn ngữ bên trong không phát ra âm thanh, bao giờ cũng được rút gọn và cơ động cũng như tồn tại dưới cảm giác vận động và do cơ chế đặc biệt chi phối. Nó đóng vai trò rất quan trọng, là phương tiện của hoạt động nhận thức, phương tiện điều chỉnh tình cảm và ý chí của con người, đồng thời cũng là phương tiện để tự giáo dục. 1.2.1.4. Giao tiếp phi ngôn ngữ Giao tiếp phi ngôn ngữ là giao tiếp không dùng ngôn ngữ. Đó là các kích thích bên ngoài nhưng không phải là lời nói và chữ viết mà bao gồm tất cả những yếu tố thuộc về cử chỉ điệu bộ và những chuyển động biểu cảm khác. Loại giao tiếp này còn gọi là giao tiếp bằng ngôn ngữ tứ chi, là điệu bộ, cử chỉ, tư thế, hành vi, ánh mắt, nụ cười…đóng vai trò chủ yếu không chỉ trong việc truyền đạt thông tin mà còn biểu hiện tâm trạng, xúc cảm, tình cảm, thái độ…của chủ thể giao tiếp. Phương tiện phi ngôn ngữ trong giao tiếp có thể phân chia theo hệ thống: nét mặt, cử chỉ, điệu bộ hành vi. a. Giao tiếp qua nét mặt Nét mặt biểu lộ cảm xúc của con người. Theo các nhà tâm lý học thì nét mặt có thể biểu lộ sáu cảm xúc như vui, buồn, ngạc nhiên, tức giận, sợ hãi và ghê tởm. Trong giao tiếp nét mặt là yếu tố thường được chú ý. Nét mặt góp phần quan trọng tạo nên hình ảnh cá nhân trong mắt người khác. Trong giao tiếp thường nhật hoặc

31. 20 giao tiếp văn phòng, nét mặt thân thiện được khuyến khích sử dụng. Đó là nét mặt nhẹ nhõm, dễ gần khi có thể nhẹ nhàng nở nụ cười tươi với sự chuyển động tổng hợp của cơ mặt…Qua thực nghiệm khoa học và quan sát trong đời sống thực tế, người ta nhận thấy: thầy cô có nét mặt dịu hiền, cởi mở, vui tươi thường đem lại bầu không khí tốt, tạo cảm giác an toàn cho học sinh. Ngược lại, giáo viên có nét mặt buồn rầu, căng thẳng, bực tức, tạo ra bầu không khí nặng nề cho đối tượng giao tiếp. Sự biểu lộ trạng thái tâm lý trên nét mặt con người rất phức tạp, phụ thuộc vào độ tuổi, giới tính, nghề nghiệp, cá tính của mỗi người, phong tục, tập quán…Năng lực biểu cảm qua nét mặt giúp cho tiến trình giao tiếp ngày càng nhạy cảm, tinh tế và sâu sắc hơn. b. Giao tiếp qua ánh mắt Nhà tâm lý học Nga X.R.Tankelevich đã tìm thấy trong tác phẩm của đại văn hào L.Tonxtoi có tới 85 ánh mắt phản ánh các nội dung tâm lý khác nhau. Đôi mắt là cửa sổ của tâm hồn. Năm 1975, Hetxo bằng thực nghiệm của mình đã nhận xét: khi người ta vui thì con ngươi mở rộng, khi giận dữ thì con ngươi thu hẹp lại. Ánh mắt còn biểu hiện nét tính cách của con người. Ánh mắt thể hiện cách thức giao tiếp: tín hiệu về sự đồng ý hay không đồng ý; tín hiệu về tình cảm (yêu, thích hoặc ghét, chê); tín hiệu về mức độ nhận thức; tín hiệu về nhu cầu, lòng ham muốn; tín hiệu về điều chỉnh hành vi, thái độ của hai bên. Kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học thừa nhận rằng: trong số các giác quan của con người, đôi mắt có thể chuyển tải lượng thông tin nhiều nhất (trên 80%) và có một sức chuyển tải lớn nhất. Ánh mắt còn là nơi tiếp nhận các thông tin cảm tính từ môi trường bên ngoài. Do vậy, biết giao tiếp bằng ánh mắt sẽ đem lại nhiều hiệu quả trong quá trình giao tiếp. c. Giao tiếp bằng nụ cười Trong giao tiếp người ta có thể dùng nụ cười để biểu lộ tình cảm, thái độ của mình. Con người có bao nhiêu kiểu cười thì có bấy nhiêu cá tính. Nụ cười cũng biểu lộ một phần tâm trạng và tính cách của người đang cười và đôi khi cười cũng còn được sử dụng như một tín hiệu âm thanh lấp đầy trong quá trình giao tiếp. Để diễn giải đúng ý nghĩa của nụ cười thì cần chú ý kết hợp quan sát cả đôi mắt và khóe

32. 21 miệng của người đang cười. Nụ cười đóng vai trò quan trọng trong việc dẫn đến thành công giao tiếp. Một người không giỏi giao tiếp, tự ti về khả năng giao tiếp của mình nhưng lại sở hữu một thái độ thân thiện trong giao tiếp, luôn nở một nụ cười tươi thân thiện ngay cả khi không hài lòng thì người đó vẫn có thể có những cuộc giao tiếp thành công như bất kì một người giỏi giao tiếp nào. Những thực nghiệm tâm lý đã chứng minh rằng khi con người nở nụ cười với một đối tượng thì chắc chắn rằng phản ứng mà chúng ta nhận được đó chính là một nụ cười rất tươi. Tuy nhiên, trong từng tình huống khác nhau, nụ cười cũng phải phù hợp với thực tế giao tiếp. d. Dáng vẻ bề ngoài Dáng vẻ bề ngoài được xem là một dạng phương tiện đặc biệt trong giao tiếp phi ngôn ngữ. Dáng vẻ bề ngoài gồm hình dáng thân thể, cung cách đi đứng, trang phục và cung cách ứng xử. Hình dáng thân thể thường có sự tác động mạnh đến người tri giác trong giao tiếp trong đó yếu tố chiều cao được cho là yếu tố có tác động mạnh nhất. Cung cách đi đứng của một người cũng nói lên nhiều điều về họ như vị thế, tâm trạng, văn hóa, chủng tộc, cũng như sự nhận thức về bản thân. Trang phục bổ sung diện mạo cho con người bao gồm sự phối hợp các kiểu quần áo, màu sắc vải, trang sức…Trang phục là một phần của định hướng giao tiếp và góp phần giúp giao tiếp thành công. e. Cử chỉ trong giao tiếp Cử chỉ là sự vận động của tay chân và thân thể. Cử chỉ thường được dùng để minh họa, nhấn mạnh, bổ sung cho những gì đang nói hoặc thậm chí có thể thay thế lời nói thông qua các dấu hiệu trong cử chỉ. Cử chỉ cũng được con người dùng để biểu lộ cảm xúc và thái độ. f. Tiếp xúc thân thể Tiếp xúc thân thể thể hiện qua nhiều hình thức như bắt tay, ôm, vỗ vai, hôn má, đẩy…cũng phụ thuộc rất nhiều vào đặc trưng của các nền văn hóa. Cái bắt tay là hành động mang tính xã giao không lời hết sức phổ biến, ngoài ra ôm hôn xã giao, cung cách đi đứng…cũng biểu hiện nhiều ý nghĩa trong giao tiếp.

33. 22 g. Khoảng cách giữa các bên trong giao tiếp Khoảng cách giữa các bên trong giao tiếp nói lên mối quan hệ khá đặc biệt trong giao tiếp. Khoảng cách trong giao tiếp với người khác có một ý nghĩa nhất định. – Khoảng cách công cộng (trên 3,5m) phù hợp với tiếp xúc ở đám đông tụ tập theo nhóm. – Khoảng cách xã hội (1,2m – 3,5m) trong tiếp xúc với người lạ. – Khoảng cách cá nhân (0,45m – 1,2m) thường trong các bữa tiệc, giao tiếp ở cơ quan, với bạn bè. – Khoảng cách thân mật (0m – 0,45m) trong quan hệ thân mật, gần gũi như người thân trong gia đình, người yêu. h. Vị trí giao tiếp Vị trí chỗ ngồi của cá nhân trong giao tiếp cũng biểu hiện một ý nghĩa rất lớn trong giao tiếp – Vị trí góc: các cá nhân ngồi ở hai cạnh của một góc bàn phù hợp với câu chuyện tế nhị, lịch sự giữa hai người cũng như trong trường hợp hai người không hoàn toàn thoải mái về nhau. – Vị trí hợp tác thể hiện hai người ngồi cạnh nhau cùng nhìn về một hướng hoặc ngồi đối diện nhưng chiếc bàn có tác dụng như chỗ để giấy tờ mang tính tạm thời. – Vị trí cạnh tranh với hai người ngồi đối diện nhau và chiếc bàn đóng vai trò như là chiến tuyến. – Vị trí độc lập là cách sắp xếp không phải để đối thoại mà thể hiện vị trí của người không muốn bị ai quấy rầy hoặc không muốn bắt chuyện. Vị trí này thường trong thư viện hoặc trong quán ăn với những người không quen biết. 1.2.2. Kỹ năng 1.2.2.1. Khái niệm kỹ năng Kỹ năng là khái niệm được nhiều nhà nghiên cứu định nghĩa ở nhiều góc độ khác nhau.

34. 23 Kỹ năng là khả năng vận dụng kiến thức thu nhận được trong một lĩnh vực nào đó vào thực tiễn. (Từ điển Tiếng Việt, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội,1988) Kỹ năng là khả năng thực hiện đúng hành động, hoạt động phù hợp với những mục tiêu và điều kiện cụ thể tiến hành hoạt động đó cho dù đó là hành động cụ thể hay hoạt động trí tuệ. (Từ điển Giáo dục học, NXB Từ điển Bách khoa Hà Nội, 2000) Kỹ năng là khả năng vận dụng tri thức khoa học vào thực tiễn, trong đó khả năng được hiểu là “sức đã có” về mặt nào đó, để có thể làm tốt một việc gì. (Từ điển Giáo dục Hà Nội 1992) Một số tác giả xem xét kỹ năng nghiêng về mặt kỹ thuật của hành động, coi kỹ năng như là một phương tiện thực hiện hành động phù hợp với mục đích và điều kiện hành động mà con người đã nắm vững. Tác giả Trần Trọng Thủy quan niệm rằng kỹ năng là mặt kỹ thuật của hành động, con người nắm được cách hành động tức là có kỹ thuật hành động, có kỹ năng. Theo tác giả thì kỹ năng được hình thành bằng con đường luyện tập, kỹ năng tạo cho con người khả năng thực hiện hành động trong những điều kiện khác nhau. Ph.N.Gonobolin (1973): Kỹ năng là những phương thức tương đối hoàn chỉnh của việc thực hiện những hành động bất kì nào đó. Các hành động này được hình thành trên cơ sở các tri thức và kỹ xảo – những cái được con người lĩnh hội trong quá trình hoạt động”. Một số tác giả thì xem xét kỹ năng nghiêng về mặt năng lực của con người. Họ coi kỹ năng là năng lực thực hiện một công việc có kết quả với chất lượng cần thiết

35. 24 trong một thời gian nhất định, trong điều kiện mới; coi kỹ năng là một biểu hiện năng lực con người chứ không phải đơn thuần là mặt kỹ thuật của hành động, họ chú ý đến kết quả hành động. N.D.Levitov: “Kỹ năng là sự thực hiện có kết quả một động tác nào đó hay một hành động phức tạp bằng cách lựa chọn và áp dụng những cách thức đúng đắn có tính đến những điều kiện nhất định. Theo các tác giả kỹ năng được hình thành trên nền kiến thức. Lê Văn Hồng (1995): “Kỹ năng là khả năng vận dụng kiến thức (khái niệm, cách thức, phương pháp…) để giải quyết một nhiệm vụ mới”. Điểm chung của các định nghĩa nêu trên: kỹ năng là khả năng hành động có hiệu quả, kỹ năng có được nhờ luyện tập tạo thành thói quen, kỹ năng là kiến thức trong hoạt động. Từ những định nghĩa về kỹ năng của các tác giả, chúng tôi quan niệm rằng kỹ năng là năng lực vận dụng những tri thức, những kinh nghiệm đã có để thực hiện có kết quả một hành động nào đó. Kỹ năng là tiêu chuẩn để đánh giá năng lực hoạt động của con người, hình thành kỹ năng là hình thành năng lực hoạt động thực tiễn của con người tạo điều kiện cho mỗi cá nhân được thực hành vận dụng các kiến thức. Các tác giả cho rằng tri thức và kinh nghiệm đã có do thực hiện các hành động trước đó mang lại chính là điều kiện để hình thành kỹ năng. Vì vậy, muốn hình thành kỹ năng trong lĩnh vực hoạt động nào đó trước hết phải cung cấp các tri thức

36. 25 về hành động đó cho người học đồng thời tổ chức các hoạt động cho người học vận dụng các tri thức đã học vào thực hành. Thông qua rèn luyện và bằng luyện tập để hình thành kỹ năng cho người học. Cho nên, trong quá trình học tập ở trường, học sinh cần phải rèn luyện, tập luyện hệ thống kỹ năng giao tiếp. Mà để rèn luyện thành công thì ngoài hệ thống tri thức và kinh nghiệm đúng và đủ, ngoài ý chí kiên trì, bền bỉ còn cần có một thái độ mạnh mẽ, tích cực nữa. Nghĩa là cần có xúc cảm – tình cảm. Vậy, theo chúng tôi, kỹ năng là tổ hợp bởi 3 thành phần cơ bản Nhận thức đủ (LÝ) CHÂN Thái độ đúng (TÌNH) THIỆN Ý chí -hành động vững (CHÍ) MỸ 1.2.2.2. Các mức độ và giai đoạn hình thành kỹ năng Theo K.K.Platonov và G.G.Glubev có 5 mức độ hình thành kỹ năng, đó là: – Mức 1: Có kỹ năng sơ đẳng, hành động được thực hiện theo cách thử và sai, dựa trên vốn hiểu biết và kinh nghiệm. – Mức 2: Biết cách thực hiện hành động nhưng không đầy đủ. – Mức 3: Có kỹ năng chung nhưng còn mang tính rời rạc, riêng lẻ. – Mức 4: có những kỹ năng chuyên biệt để hành động. – Mức 5: Vận dụng sáng tạo những kỹ năng đó trong các tình huống khác nhau. Vấn đề hình thành kỹ năng được sự quan tâm của rất nhiều tác giả trong và ngoài nước. Mỗi tác giả có quan điểm khác nhau nhưng nhìn chung đều thống nhất kỹ năng được hình thành trong hành động. Như vậy, quá trình hình thành kỹ năng là quá trình tiến hành hành động và luyện tập hành động trong thực tiễn đa dạng. 1.2.3. Kỹ năng giao tiếp 1.2.3.1. Khái niệm kỹ năng giao tiếp Kỹ năng giao tiếp là cơ sở cho việc giao tiếp hiệu quả. Có nhiều tác giả đưa ra những cách tiếp cận khác nhau về kỹ năng giao tiếp, cụ thể có thể kể đến: Tiếp cận ở khía cạnh kỹ năng xã hội, các tác giả Michelson, Sugai, Wood và Kazdin (1983) chỉ ra sáu yếu tố chính là trung tâm của khái niệm về kỹ năng xã hội là: – Được học hỏi. – Bao gồm các ứng xử cụ thể bằng lời và không lời. – Đòi hỏi sự bắt đầu và phản hồi thích hợp. – Tối đa hóa sự tưởng thưởng có giá trị từ những người khác. – Đòi hỏi thời điểm thích hợp và kiểm soát các hành vi cụ thể. – Bị ảnh hưởng bởi các yếu tố ngữ cảnh. Do đó, kỹ năng giao tiếp, theo nhóm tác giả trên, có thể hiểu đó là kỹ năng được hình thành qua giáo dục, rèn luyện bao gồm các hành vi ứng xử thích hợp bằng lời và không lời trong những tình huống, hoàn cảnh cụ thể nhằm đạt hiệu quả cao trong giao tiếp với người khác. Theo tác giả Nguyễn Văn Đồng thì kỹ năng giao tiếp là năng lực vận dụng có hiệu quả những tri thức về quá trình giao tiếp, về những yếu tố tham gia và tác động tới quá trình này cũng như sử dụng có hiệu quả và phối hợp hài hòa các phương tiện giao tiếp ngôn ngữ, phi ngôn ngữ và phương tiện kỹ thuật để đạt mục đích đã định trong giao tiếp.

39. 28 Theo tác giả Nguyễn Ngọc Lâm thì KNGT là khả năng nhận biết nhanh chóng những biểu hiện bên ngoài và đoán biết diễn biến tâm lý bên trong của con người (với tư cách là đối tượng giao tiếp) trong quá trình giao tiếp, đồng thời biết sử dụng ngôn ngữ có lời và không lời, biết cách định hướng để điều chỉnh và điều khiển quá trình giao tiếp nhằm đạt mục đích đã định. Theo tác giả Nguyễn Văn Đồng, KNGT có thể phân loại thành KNGT ngôn ngữ, KNGT phi ngôn ngữ và KNGT liên nhân cách. KNGT ngôn ngữ chia thành KNGT nói với KNLN, kỹ năng diễn đạt và KNGT bằng văn bản với kỹ năng phân tích tình huống, kỹ năng tổ chức thông tin và kỹ năng trình bày văn bản. Kỹ năng phi ngôn ngữ bao gồm kỹ năng ăn mặc, kỹ năng kiểm soát tư thế, cử chỉ, kỹ năng kiểm soát biểu hiện nét mặt và cái nhìn, kỹ năng kiểm soát lĩnh vực phi ngôn ngữ của lời nói. Kỹ năng liên nhân cách bao gồm hai nhóm là nhóm kỹ năng điều chỉnh

40. 29 sự phù hợp, cân bằng trong giao tiếp gồm sự nhạy cảm trong giao tiếp, kỹ năng tạo dựng quan hệ, kỹ năng cân bằng nhu cầu của bản thân và của đối tượng giao tiếp, kỹ năng linh hoạt, mềm dẻo trong giao tiếp và kỹ năng tự chủ cảm xúc, hành vi. Nhóm kỹ năng đóng vai trò tích cực, chủ động trong giao tiếp gồm kỹ năng chủ động điều khiển quá trình giao tiếp, kỹ năng thuyết phục đối tượng giao tiếp và kỹ năng kiềm chế, kiểm tra người khác. [10, tr.63] Đề tài sử dụng cách phân loại KNGT thành ba nhóm KNGT: – Nhóm kỹ năng định hướng – Nhóm kỹ năng định vị – Nhóm kỹ năng điều chỉnh, điều khiển. a. Nhóm kỹ năng định hướng Nhóm kỹ năng này được biểu hiện ở khả năng dựa vào sự biểu cảm, ngữ điệu, thanh điệu của ngôn ngữ, cử chỉ, động tác, thời điểm và không gian giao tiếp để phán đoán chính xác về nhân cách cũng như mối quan hệ giữa chủ thể và đối tượng giao tiếp. Người có kỹ năng tri giác tốt có thể dễ dàng phát hiện sự không ăn khớp giữa lời nói và ngôn ngữ của thân thể. Nhóm kỹ năng này bao gồm các kỹ năng: – Kỹ năng đọc trên nét mặt, cử chỉ, hành vi, lời nói. Nhờ tri giác tinh tế và nhạy bén các trạng thái tâm lý qua nét mặt, cử chỉ, ngữ điệu, âm điệu của lời nói mà chủ thể giao tiếp phát hiện chính xác và đầy đủ thái độ của đối tượng. Ngôn ngữ diễn tả tình cảm hay còn gọi là ngôn ngữ biểu cảm rất phong phú. Nó thể hiện tính cách, trí tuệ, tình cảm,…Do vậy, có thể dựa vào đó để nhận xét, đánh giá và phán đoán đúng nội tâm của đối tượng giao tiếp. – Kỹ năng chuyển từ tri giác bên ngoài vào nhận biết bản chất bên trong của nhân cách. Sự biểu hiện các trạng thái tâm lý của con người qua ngôn ngữ và điệu bộ là rất phức tạp, vì cùng một trạng thái cảm xúc lại có thể biểu lộ ra bằng ngôn ngữ và điệu bộ khác nhau và ngược lại, sự biểu hiện ở bên ngoài như nhau có thể lại là biểu hiện cảm xúc tâm trạng khác nhau. Do vậy, kỹ năng này có thể giúp chúng ta thông qua những biểu hiện chung nhất bên ngoài mà phán đoán đúng các trạng thái, đặc điểm tâm lý của đối tượng.

42. 31 phù hợp với đối tượng giao tiếp, với hoàn cảnh, mục đích, nội dung, nhiệm vụ giao tiếp… Kỹ năng sử dụng phương tiện giao tiếp. Phương tiện giao tiếp đặc trưng của con người là ngôn ngữ và phi ngôn ngữ. Từ ngôn ngữ và ngữ điệu có tác động mạnh mẽ đến tình cảm của con người. Trong giao tiếp, chủ thể cần phải làm chủ các phương tiện giao tiếp của mình thì mới thu được hiệu quả trong giao tiếp. 1.2.3.3. Một số kỹ năng giao tiếp cơ bản KNGT gồm một số các KNGT cơ bản như: Kỹ năng làm quen, kỹ năng lắng nghe, kỹ năng đặt câu hỏi, KNGT qua điện thoại, KNGT bằng thư tín, kỹ năng kiềm chế cảm xúc, kỹ năng thuyết phục, kỹ năng giải quyết xung đột, kỹ năng thiết lập quan hệ xã hội, kỹ năng thuyết trình. Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, tác giả tập trung nghiên cứu kỹ năng làm quen, kỹ năng lắng nghe và kỹ năng giải quyết xung đột. a. Kỹ năng làm quen – Sự cần thiết của việc làm quen Trong cuộc sống cũng như trong công việc, con người thường xuyên phải tiếp xúc với những cá nhân, cộng đồng trong xã hội. Để thiết lập, duy trì và củng cố những mối quan hệ trong xã hội đòi hỏi cá nhân phải có kỹ năng làm quen để bắt đầu các mối quan hệ. Làm quen có ảnh hưởng rất nhiều đến mối quan hệ sau này của các đối tượng giao tiếp. Nếu không có sự làm quen thì con người không thể bắt đầu các mối quan hệ, sự tiếp xúc về mặt tâm lý, tư tưởng, tình cảm khi làm quen là cơ sở để con người có thể hiểu nhau hơn. Thông qua làm quen các đối tượng giao tiếp sẽ bộc lộ những đặc điểm tâm lý, tính cách của mình nhờ vậy mà người đối diện có thể đối xử phù hợp trong quá trình giao tiếp. Từ những thiện cảm ban đầu khi làm quen sẽ dẫn đến một mối quan hệ tốt đẹp sau này. – Các kiểu làm quen Xét trên cơ sở tính chủ đích khi làm quen, người ta chia thành hai loại: làm quen có chủ đích và làm quen không có chủ đích. Làm quen có chủ đích là làm quen với ai đó theo một mục đích đã đề ra, trong những trường hợp này thì chủ thể

43. 32 giao tiếp thường tìm hiểu trước những thông tin về đối tượng giao tiếp để việc làm quen đem lại hiệu quả cao. Làm quen không có chủ đích là con người làm quen mà không theo mục đích đã có từ trước, chủ thể giao tiếp thường rơi vào thế bị động. Xét trên phương diện mong muốn duy trì mối quan hệ chia thành hai loại: làm quen hướng tới mục đích lâu dài và làm quen xã giao. Làm quen hướng tới mục đích lâu dài trong trường hợp người trong cuộc mong muốn duy trì mối quan hệ lâu dài nhằm mục đích nào đó, chủ thể giao tiếp có sự chuẩn chị từ trước và rất thận trọng trong quá trình làm quen. Làm quen xã giao thường mang tính hời hợt trong tình huống chúng ta gặp một ai đó đòi hỏi phải diễn ra hoạt động giao tiếp giữa ta với đối tượng ngay lúc đó. Xét theo phương diện làm quen chia thành hai loại: làm quen trực tiếp và làm quen gián tiếp. Làm quen trực tiếp là kiểu làm quen không thông qua sự giới thiệu hay yếu tố trung gian nào, tính chủ động của người làm quen rất cao và có những yêu cầu riêng. Làm quen gián tiếp là hình thức mà cá nhân này quen với cá nhân khác thông qua sự giới thiệu của một người thứ ba hoặc phương tiện trung gian. – Các bước làm quen Nếu xét làm quen theo một tiến trình về thời gian thì có thể chia làm bốn bước, đó là: tìm hiểu đối tượng, chuẩn bị tâm thế, bắt đầu làm quen và hoàn tất quá trình làm quen. Tìm hiểu đối tượng là tìm hiểu về đặc điểm nhân thân, thông tin cá nhân, nghề nghiệp, chức vụ, sở thích, tính cách…, cần lưu ý đến lĩnh vực quan tâm hay sở thích của họ, cần phải có sự chọn lọc và khái quát hóa. Sau khi có những thông tin về đối tượng muốn làm quen, việc tiếp theo là chuẩn bị cho mình tâm thế sẵn sàng để làm quen với đối tượng để thể hiện được thiện chí, mong muốn được làm quen của chủ thể giao tiếp. Bắt đầu làm quen gồm các bước: chào hỏi, tự giới thiệu về mình, bày tỏ sự hân hạnh khi được làm quen, trao đổi một vài vấn đề chung, hỏi thăm thông tin của người muốn làm quen, lưu giữ thông tin cá nhân. Hoàn tất quá trình làm quen, kết thúc quá trình làm quen các đối tượng giao tiếp đã có được những thông tin cần thiết.

44. 33 b. Kỹ năng lắng nghe Kỹ năng lắng nghe là khả năng hiểu được nội dung lời nói, nhận biết được tâm trạng, cảm xúc và nhu cầu của người nói. Cần chú ý một số kỹ năng sau đây để có thể nâng cao hiệu quả của việc lắng nghe: Kỹ năng gợi mở. Để cho người đối thoạii tự nhiên và mạnh dạn chia sẻ những nội dung khó nói hoặc tế nhị, chúng ta cần tỏ ra am hiểu vấn đề và đồng cảm về cảm xúc cùng với những yếu tố giao tiếp phi ngôn ngữ để người nói cảm nhận được rằng mình đang quan tâm và hưởng ứng những gì họ nói. Có sự phản hồi thích hợp với những nội dung mà người nói chia sẻ. Đặt câu hỏi để làm rõ hơn vấn đề và cũng để thể hiện sự quan tâm đến nội dung đối thoại. Giữ im lặng những lúc cần thiết. Kỹ năng bộc lộ sự quan tâm. Khi lắng nghe, nên ngồi hướng về phía người đối thoại và thể hiện sự quan sát. Có sự tiếp xúc bằng mắt một cách hợp lý. Có những động tác, cử chỉ đáp ứng lại người nói như: gật đầu, mỉm cười… Kỹ năng tạo lập không khí giao tiếp thoải mái, bình đẳng. Tùy thuộc vào mức độ mối quan hệ mà cần giữ khoảng cách giao tiếp phù hợp. Khi một người đứng thì người kia cũng nên đứng và khi người kia ngồi thì người nghe cũng nên ngồi trong quá trình tương tác. Kỹ năng phản ánh lại. Người nghe sẽ diễn đạt lại ý của người nói theo cách hiểu của mình, giúp bạn xác định lại nhận thức của bản thân có đúng với những gì người đối thoại muốn chuyển tải không, vừa thể hiện sự quan tâm của bạn đối với người nói. c. Kỹ năng giải quyết xung đột Xung đột là sự va chạm của những xu hướng đối lập, mâu thuẫn nảy sinh trong bản thân cá nhân, trong quan hệ liên nhân cách hay liên nhóm kèm theo những chấn động về mặt tình cảm. Để xử lý xung đột cần quan tâm đến hai mức độ của nó. Với những xung đột mang tính đơn giản trong giao tiếp, có thể gọi là mâu thuẫn thì cần được xử lý sao cho nhẹ nhàng và ít thương tổn. Nếu xung đột cần được giải quyết triệt để chúng ta nên lựa chọn chiến lược giải quyết.

Những Hình Thức Căn Bản Của Truyền Thông Giao Tiếp

Trung Tâm Phát Triển Giáo Dục Và Truyền Thông

Tiểu Luận Hv Báo Chí Và Tuyên Truyền Đề Tài Chức Năng Xã Hội Của Báo Chí

50 Câu Học Tiếng Anh Giao Tiếp Cơ Bản Thông Dụng Hàng Ngày Bạn Nên Biết

Trắc Nghiệm Tiếng Anh Giao Tiếp Đáp Án Dịch Nghĩa Chi Tiết

🌟 Home
🌟 Top