Chính Sách Và Giải Pháp Phát Triển Giáo Dục Phổ Thông Hiện Nay / TOP #10 ❤️ Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 10/2022 ❣️ Top View | Phauthuatthankinh.edu.vn

Một Số Giải Pháp Phát Triển Năng Lực Nhà Giáo Để Thực Hiện Tốt Chương Trình Giáo Dục Phổ Thông Mới

Những Khó Khăn, Thách Thức Đối Với Đội Ngũ Giáo Viên Trung Học Phổ Thông Hiện Nay Khi Triển Khai Chương Trình Giáo Dục Phổ Thông Mới Và Giải Pháp Khắc Phục

Định Hướng Mục Tiêu Và Giải Pháp Cho Giáo Dục Phổ Thông Giai Đoạn 2022

Công Đoàn Giáo Dục Bình Định

Nhà Trường Thân Thiện Và Giải Pháp Đổi Mới Quản Lý Giáo Dục

Phương Pháp Giáo Dục Stem

Để khắc phục những yếu kém đang tồn tại ở bậc giáo dục phổ thông; để theo kịp, hội nhập với xu hướng phát triển chung của thế giới thì giáo dục phổ thông phải không ngừng cải cách, đổi mới. Cả nước đang quyết liệt thực hiện chủ trương đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục, xem đó chính là điểm hội tụ của những đổi mới trên tất cả các lĩnh vực, là điều tất yếu khách quan, là chìa khóa để phát triển xã hội. Công việc chuẩn bị cho công tác triển khai chương trình giáo dục phổ thông mới và thay sách giáo khoa đang được gấp rút thực hiện trong toàn ngành giáo dục. Tuy nhiên chương trình giáo dục phổ thông mới có đi vào cuộc sống một cách hiệu quả nhất hay không phụ thuộc rất lớn vào năng lực của đội ngũ nhà giáo – những người được xem là linh hồn của ngành giáo dục.

THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CỦA ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN PHỔ THÔNG HIỆN NAY TRƯỚC YÊU CẦU ĐỔI MỚI GIÁO DỤC

Theo báo cáo của Bộ Giáo dục và Đào tạo, về cơ bản, đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục ở tất cả các cấp học đã đạt chuẩn và trên chuẩn trình độ đào tạo, cụ thể: cấp mầm non là 96,6%, cấp tiểu học là 99,7%, cấp trung học cơ sở là 99,0%, cấp trung học phổ thông là 99,6% và đại học là 82,7% .

Thí sinh làm hồ sơ xét tuyển vào Đại học Bách khoa Hà Nội. (Ảnh: PM/Vietnam+)

Bên cạnh những kết quả đã đạt được, thì thực trạng đội ngũ giáo viên vẫn còn tồn tại một số những hạn chế cần được khắc phục. Trên thực tế vẫn còn một bộ giáo viên thiếu tâm huyết với nghề, không tuân thủ những quy chuẩn của đạo đức nghề nghiệp, làm suy thoái danh dự, lương tâm nhà giáo. Trong công tác chuyên môn, không ít giáo viên có biểu hiện sa sút về ý chí, sức chiến đấu, chưa thực sự công tâm, chưa đánh giá đúng thực chất kết quả học tập của học sinh; còn nhiều tiêu cực, bệnh thành tích, làm giảm uy tín, ảnh hưởng đến niềm tin của học sinh, phụ huynh và cộng đồng xã hội đối với đội ngũ nhà giáo. “Một bộ phận không nhỏ thiếu động lực tự học và đổi mới, chưa bắt kịp yêu cầu về đổi mới quản lý, chương trình, phương pháp giáo dục, sử dụng công nghệ thông tin và ngoại ngữ”. Thêm vào đó, năng lực thực hành, kỹ năng tổ chức hoạt động giáo dục, đạo đức nghề nghiệp của một bộ phận giáo viên còn hạn chế đã ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục và uy tín đội ngũ nhà giáo.

Thực tế trên đặt ra yêu cầu là phải đổi mới từ đội ngũ giáo viên hiện nay của chúng ta thông qua con đường đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn để nâng cao năng lực cho giáo viên. Đứng trước yêu cầu của việc thực hiện chương trình giáo dục phổ thông mới, cần phát triển năng lực nghề nghiệp cho giáo viên ở những nội dung quan trọng sau:

Thứ nhất, nâng cao năng lực giảng dạy, truyền thụ kiến thức cho học sinh.

Đối với mỗi giáo viên, quan trọng nhất là năng lực giảng dạy, truyền thụ kiến thức. Từ trường mầm non các bé bước vào bậc phổ thông là bắt đầu hành trình học con chữ, học cộng trừ nhân chia, học tiếng nước ngoài, lớn hơn các em được học về địa lý, lịch sử, tin học….Các em có nắm được tất cả các kiến thức, các kỹ năng phổ thông hay không phụ thuộc trực tiếp vào năng lực giảng dạy của giáo viên. Muốn trở thành một giáo viên có năng lực dạy học thì thầy, cô chắc chắn phải nắm vững kiến thức, kỹ năng về môn học được phân công dạy; biết lập các loại kế hoạch dạy học; biết sử dụng hiệu quả thiết bị dạy học, đặc biệt trong thời đại bùng nổ cách mạng 4.0 thì công nghệ thông tin và truyền thông chính là công cụ hỗ trợ đắc lực để giáo viên có những bài giảng lý thú, cuốn hút; biết vận dụng các phương pháp, hình thức tổ chức dạy học hợp lý theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo, phát triển kỹ năng cho học sinh.

Một trong những điểm mới của các môn học trong chương trình giáo dục phổ thông tổng thể là việc tích hợp liên môn để giúp học sinh giảm tải. Vì vậy khi thực hiện sách giáo khoa phổ thông mới đòi hỏi giáo viên phải có năng lực hiểu sâu và rộng mọi lĩnh vực, phải huy động tối đa nguồn tri thức xã hội của bản thân, vận dụng vào trong bài giảng mới có thể trở thành người “khai sáng” cho học sinh, đáp ứng yêu cầu của chương trình mới.

Thứ hai, bồi dưỡng năng lực tổ chức kiểm tra, đánh giá học sinh.

Kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh là thước đo giúp xác định thành tích học tập, mức độ chiếm lĩnh kiến thức, kỹ năng của các em. Từ đó giáo viên sẽ điều chỉnh quá trình dạy học của mình theo hướng phát triển năng lực và các kỹ năng cho học sinh. Nếu giáo viên biết đánh giá một cách chính xác, khách quan thì sẽ khích lệ, động viên những em giỏi càng phấn đấu vươn lên để đạt thành tích cao hơn, những em yếu kém sẽ tìm cách nổ lực để cải thiện vị trí.

Đối với chương trình mới, để đánh giá chính xác về học sinh, giáo viên cần có kỹ năng thiết kế các công cụ đánh giá kết quả giáo dục thể hiện ở mức độ đạt được các năng lực cần hình thành và phát triển ở học sinh; cần biết sử dụng các phần mềm hỗ trợ đánh giá; cần có kiến thức, kỹ năng về kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh.

Thứ ba, rèn luyện năng lực thấu cảm học sinh.

Thấu cảm là khả năng hiểu được cảm xúc, tâm trạng, đặc điểm, mong muốn, hoàn cảnh…của mỗi học sinh, đó chính là chìa khóa để đi được vào lòng học sinh, để học sinh dễ dàng mở lòng với giáo viên, có như vậy sự hợp tác giữa thầy và trò mới suôn sẽ, chất lượng giáo dục mới nâng cao.

Trong một lớp học thường sẽ có nhiều đối tượng học sinh khác nhau: có em rất giỏi nhưng cũng có em rất yếu. Có lẽ bất cứ thầy cô giáo nào cũng đều có chung mong muốn rằng không học sinh nào cảm thấy bị “bỏ rơi” trong lớp học. Người thầy thấu cảm là người nổ lực để biên soạn, chuẩn bị bộ tài liệu tự học cho học sinh với nội dung ở nhiều cấp độ từ dễ đến khó. Với những học sinh yếu, chỉ đặt ra yêu cầu ở mức độ vừa phải với khả năng của học sinh đó. Với những học sinh học tốt, yêu cầu học sinh hoàn thành các mức độ cơ bản, sau đó, chủ động dành thời gian để tiếp cận các yêu cầu ở mức độ khó hơn. Người thầy thấu cảm sẽ phân chia thời gian trong giờ học dành cho từng đối tượng một cách hợp lý. Đặc biệt, sẵn sàng dành thời gian ngoài giờ để hỗ trợ, phụ đạo thêm cho những học sinh có lực học chưa cao. Người thầy thấu cảm sẽ hiểu từng hoàn cảnh, đặc điểm tâm sinh lý của từng em học sinh để trở thành “chiếc la bàn” điều chỉnh, dẫn lối cho các em học sinh để không bao giờ các em vấp ngã hoặc có vấp ngã cũng sẽ biết cách đứng lên.

Người giáo viên là người cần rất nhiều kỹ năng nhưng thiết nghĩ những kỹ năng trên là vô cùng quan trọng đối với đội ngũ giáo viên khi thực hiện chương trình giáo dục phổ thông mới. Để năng lực đội ngũ nhà giáo ngày càng tiếp tục phát triển cần tập trung thực hiện tốt một số giải pháp sau:

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN Thứ nhất, đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên.

Đào tạo, bồi dưỡng nhà giáo là nhiệm vụ chiến lược trong việc nâng cao chất lượng đội ngũ, bù đắp những thiếu hụt khi chuyển sang thực hiện chương trình, sách giáo khoa mới. Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, vai trò và yêu cầu về năng lực của đội ngũ nhà giáo càng được nâng cao thì công tác đào tạo, bồi dưỡng càng nâng tầm quan trọng.

Trong công tác đào tạo, bồi dưỡng, trước hết phải đổi mới công tác tuyển sinh để thí sinh vào sư phạm thực sự là những người xuất sắc, có năng lực dạy học tốt. Một người thầy kém sẽ làm hỏng tương lai nhiều thế hệ học sinh, ảnh hưởng đến sự phát triển đất nước nên việc lựa chọn người sẽ trở thành giáo viên không thể chọn đại trà, dễ dãi được. Khi đã lựa chọn được những sinh viên giỏi thì bắt đầu tiến hành đào tạo, bồi dưỡng.

Để đào tạo, bồi dưỡng đạt kết quả cao cần quy hoạch lại mạng lưới các trường đào tạo ngành sư phạm, khoa sư phạm và các cơ sở đào tạo bồi dưỡng nhà giáo đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục. Tăng cường liên kết, phối hợp đào tạo giữa các trường sư phạm, các khoa sư phạm và các cơ sở đào tạo bồi dưỡng nhà giáo với các đơn vị, tổ chức trong và ngoài nhà nước nhằm nâng cao chất lượng đào tạo.

Xây dựng mô hình bồi dưỡng và đào tạo lại nghề nghiệp cho giáo viên độc lập với trường sư phạm. Có kế hoạch bồi dưỡng thường xuyên, định kì theo hình thức tập trung, tại chức…; cần kết hợp đào tạo bồi dưỡng những kiến thức mang tính hàn lâm với tham quan học tập các mô hình, học tập kinh nghiệm ở các địa phương trong nước và quốc tế để tăng cường kiến thức thực tiễn và kỹ năng dạy học; có chính sách hỗ trợ cho nhà giáo được đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn, học vấn, trình độ chính trị.

Thứ hai, tự đào tạo là yếu tố đặc biệt quan trọng để phát triển năng lực giáo viên.

Trong quá trình dạy học thì việc tự bồi dưỡng là điều kiện tốt nhất để nâng cao phẩm chất, năng lực, trình độ chuyên môn và nghiệp vụ tương xứng với vị trí việc làm, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục. Mỗi người giáo viên trong quá trình dạy sẽ biết rõ nhất mình có những ưu thế gì, còn những hạn chế gì; biết điểm mạnh và yếu của bản thân; biết chất lượng giảng dạy của mình đến đâu từ đó sẽ có cách tự bồi dưỡng để hoàn thiện mình. Tự bồi dưỡng là con đường tích lũy kiến thức, gọt sắc tư duy, là sự trăn trở, thử nghiệm để tìm ra những hình thức, biện pháp thích hợp truyền đạt tri thức tới người học. Trong thời buổi bùng nổ công nghệ thông tin như hiện nay việc tự đào tạo, bồi dưỡng quả là gặp rất nhiều thuận lợi. Chỉ cần thầy cô của chúng ta cầu toàn, nổ lực, nghiêm khắc với bản thân và có phương pháp học tập thì việc nâng cao năng lực của bản thân không phải là việc quá khó. Có rất nhiều tấm gương về dạy giỏi; có rất nhiều cách làm hay, sáng tạo mà thầy cô ở nơi này, nơi khác đã áp dụng và mang lại kết quả đáng ghi nhận; có những chương trình ý nghĩa như “thầy cô chúng ta đã thay đổi” để thầy cô có thể tham gia, có thể học hỏi…để tự hoàn thiện mình.

Thứ ba, đổi mới công tác tự đánh giá, đánh giá đội ngũ nhà giáo.

Đánh giá không đúng, không chính xác sẽ làm cho giáo viên không biết được chất lượng giảng dạy của mình như thế nào, mình cần phát huy gì và cần khắc phục điều gì ở bản thân. Đánh giá không đúng, không chính xác sẽ làm mất đi động lực phấn đấu của từng cá nhân, có khi làm xáo trộn tâm lí của cả một tập thể, gây nên sự trầm lắng, trì trệ trong công việc.

Đối với ngành Giáo dục thực hiện đánh giá giáo viên theo Thông tư 20/2018/TT-BGDĐT ngày 22/8/2018 của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành quy định chuẩn nghề nghiệp giáo viên cơ sở giáo dục phổ thông. Đây là cơ sở vững chắc để soi vào đó, đưa ra được sự đánh giá tương đối khách quan và chính xác đối với năng lực của giáo viên, tạo ra động lực để giáo viên cống hiến sức lực, tâm trí hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Ngoài ra cần xây dựng khung năng lực nhà giáo tương lai theo chuẩn nghề nghiệp trong giai đoạn tới để làm thước đo cho các nhà giáo nỗ lực vươn lên.

Thứ tư, cải thiện các chính sách cho đội ngũ giáo viên.

Đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý cơ sở giáo dục công lập hiện nay được hưởng chế độ theo các quy định về chế độ tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang tại Nghị định số 204/2004/NĐ-CP ngày 14/12/2004 của Chính phủ. Ngoài lương được hưởng theo quy định trên, nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục còn được hưởng thêm 2 loại phụ cấp, đó là: phụ cấp ưu đãi (với các mức từ 25% đến 70%); phụ cấp thâm niên (được tính gia tăng theo thời gian công tác). Tùy theo điều kiện cụ thể, ở các địa phương khác nhau cũng có chính sách riêng đối với nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục công tác tại vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn, biên giới, hải đảo.

Tuy nhiên, với mức lương như hiện nay vẫn khiến họ chưa yên tâm công hiến và tâm huyết ngành. Bên cạnh đó, chính sách tiền lương còn nhiều bất cập dẫn đến khó duy trì nghiêm được tính kỷ luật, thứ bậc và không tạo được tính cạnh tranh trong đội ngũ cán bộ, nhà giáo.

Việc đãi ngộ về tiền lương, về các quyền lợi vật chất là điều rất quan trọng và cần thiết nhưng chưa đủ để đội ngũ nhà giáo phát triển hết khả năng đóng góp của họ. Cần tạo điều kiện để ghi nhận thành tích của họ; lắng nghe và sử dụng những ý kiến đóng góp, xây dựng một môi trường làm việc đầy cảm hứng, khích lệ sự đóng góp của họ vào công việc phục vụ nhà trường, phục vụ cộng đồng chính là động lực giúp đội ngũ giáo viên phát triển tình cảm nghề nghiệp, củng cố mối hệ gắn bó giữa giáo viên với học sinh, với đồng nghiệp và nhà trường. Và như thế, khi môi trường sư phạm mẫu mực được xây dựng trong các nhà trường, người giáo viên được tôn vinh thì việc lựa chọn ngành sư phạm để trở thành các nhà giáo trong tương lai được nhiều học sinh xuất sắc lựa chọn. Với đối tượng tuyển sinh tốt, môi trường đào tạo tốt, chắc chắn chất lượng đào tạo giáo viên trong tương lai sẽ được cải thiện.

Ngoài những giải pháp trên thì đầu tư kinh phí, trang bị các phương tiện, điều kiện làm việc cho đội ngũ nhà giáo theo hướng hiện đại hoá đáp ứng với yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông hiện nay là điều kiện quan trọng để giáo viên nâng cao chất lượng giảng dạy.

Ths. Đoàn Thị Phượng – Trường Chính trị Quảng Bình

. TS. Nguyễn Hữu Độ (2019), Nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục ở Việt Nam, Tạp chí Tổ chức nhà nước, http://tcnn.vn/news/detail/42508/Nang-cao-chat-luong-doi-ngu-giao-vien-dap-ung-yeu-cau-doi-moi-giao-duc-o-Viet-Nam.html

. Báo Giáo dục Việt Nam (2017), Những kết quả “biết nói” về giáo dục mầm non những năm qua, https://giaoduc.net.vn/giao-duc-24h/nhung-con-so-biet-noi-ve-giao-duc-mam-non-nhung-nam-qua-post179115.gd

7 Nhiệm Vụ, Giải Pháp Cần Thực Hiện Để Phát Triển Giáo Dục Đến Năm 2022

Giai Phap Chien Luoc Phat Trien Giao Duc Vn Den Nam 2022 Ngay13 Thang 8

Chiến Lược Tổng Thể Phát Triển Giáo Dục Đại Học Việt Nam

5 Năm Đổi Mới Căn Bản Và Toàn Diện Giáo Dục Phổ Thông

Thực Trạng Giáo Dục Tiểu Học Và Giải Pháp Triển Khai Chương Trình Giáo Dục Phổ Thông Mới

Chất Lượng Nhà Giáo Là Gốc, Là Giải Pháp Đột Phá Trong Chiến Lược Phát Triển Giáo Dục Phổ Thông

Đổi Mới Căn Bản Toàn Diện Giáo Dục Và Đào Tạo

Giải Pháp Đột Phá Phát Triển Giáo Dục

7 Giải Pháp Đột Phá Phát Triển Giáo Dục Giai Đoạn 2011

Giải Pháp Đột Phá Để Phát Triển Giáo Dục Đbscl

Giải Pháp Đột Phá Phát Triển Giáo Dục Vùng Dân Tộc

Đây là ý kiến của Thứ trưởng Bộ GDĐT Nguyễn Hữu Độ tại phiên họp về “Định hướng mục tiêu và giải pháp cho giáo dục phổ thông trong chiến lược giáo dục giai đoạn 2022-2030 và tầm nhìn 2045”.

GS.TS Phạm Hồng Quang, Giám đốc Đại học Thái Nguyên cho rằng, mục tiêu của Chiến lược phải tương đồng với Luật Giáo dục 2022.

Theo đó, mục tiêu của giáo dục được chuyển từ “đào tạo con người toàn diện” (theo Luật Giáo dục 2005) sang “phát triển toàn diện con người Việt Nam”.

Để hoàn thành mục tiêu này, ngoài ngành GDĐT, còn có trách nhiệm lớn của các địa phương trong đầu tư, quan tâm đến giáo dục đào tạo, trách nhiệm của gia đinh và toàn xã hội.

GS. Phạm Hồng Quang và nhiều Hiệu trưởng trường phổ thông tham dự phiên họp đề xuất việc đẩy mạnh giao quyền tự chủ cho cơ sở giáo dục, coi đây là giải pháp đột phá để thực hiện mục tiêu của chiến lược phát triển giáo dục phổ thông giai đoạn 2022-2030, tầm nhìn 2045.

“Tự chủ mới ra được chất lượng. Ở môi trường tự chủ, nhà trường sẽ làm được nhiều giá trị cho học sinh”, bà Nguyễn Thị Nhiếp- thành viên Tổ tư vấn của Ủy ban quốc gia đổi mới giáo dục nói.

Ngoài đề xuất thí điểm cho một số trường thực hiện tự chủ rồi lâu dài sẽ áp dụng đại trà, bà Nhiếp cho rằng, cần đẩy mạnh việc đổi mới phương pháp giáo dục, xây dựng kế hoạch giáo dục nhà trường, đổi mới thi cử đáp ứng mục tiêu giáo dục phát triển toàn diện phẩm chất, năng lực của học sinh.

TS. Nguyễn Tùng Lâm, Chủ tịch Hội đồng giáo dục trường THPT Đinh Tiên Hoàng (Hà Nội) bổ sung giải pháp đổi mới việc đào tạo cán bộ quản lý giáo dục để khắc phục tình trạng hiện nay phần lớn lãnh đạo trường phổ thông đi lên từ giáo viên và thực hiện việc quản lý, quản trị nhà trường theo kinh nghiệm.

Tại phiên họp, Thứ trưởng Nguyễn Hữu Độ cho biết, định hướng mục tiêu, giải pháp cho giáo dục phổ thông giai đoạn 2022-2030, tầm nhìn 2045 là “mảnh ghép” quan trọng trong chiến lược phát triển giáo dục Việt Nam, nhằm thực hiện các nhiệm vụ về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục phổ thông, đổi mới chương trình sách giáo khoa giáo dục phổ thông, đáp ứng Luật Giáo dục 2022 và các yêu cầu mới.

Ghi nhận ý kiến góp ý của các đại biểu tham dự phiên họp, Thứ trưởng giao các đơn vị chuyên môn của Bộ GDĐT tổng hợp và hoàn thiện định hướng phát triển giáo dục phổ thông 2022-2030 với mục tiêu tổng quát tương đồng với Luật giáo dục 2022, thống nhất 9 nhiệm vụ và giải pháp – đáp ứng yêu cầu của Nghị quyết 29.

Theo đó, ngành Giáo dục sẽ rà soát, quy hoạch, phát triển mạng lưới cơ sở giáo dục phổ thông trong cả nước; nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục các cấp; triển khai thực hiện chương trình giáo dục giáo dục phổ thông mới, đẩy mạnh định hướng nghề nghiệp và phân luồng trong giáo dục phổ thông.

Đồng thời nâng cao chất lượng dạy học ngoại ngữ, đặc biệt là tiếng Anh; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học và quản lý giáo dục; hội nhập quốc tế trong giáo dục và đào tạo; tăng cường cơ sở vật chất đảm bảo chất lượng giáo dục; phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao.

Thứ trưởng Độ nhấn mạnh, “Giải pháp đẩy mạnh giao quyền tự chủ đối với các cơ sở giáo dục phổ thông có thể xác định là “điểm nhấn”. Tuy nhiên, trong mọi trường hợp vẫn phải lấy chất lượng nhà giáo là gốc, là giải pháp đột phá trong chiến lược phát triển giáo dục phổ thông”.

Thứ trưởng yêu cầu, song song với việc đưa ra bộ chỉ số phát triển giáo dục phổ thông trong giai đoạn mới đảm bảo đúng hướng, đúng mục tiêu, đúng chỉ đạo, phù hợp với hội nhập quốc tế, phải đưa ra chỉ số đột phá để thấy sự khác biệt của giáo dục Việt Nam so với thế giới.

“bài Toán” Chiến Lược Phát Triển Giáo Dục Nghề Nghiệp Giai Đoạn 2022

4 Nguyên Tắc Và 8 Giải Pháp Tinh Giản Biên Chế Giáo Dục

Chiến Lược Phát Triển Giáo Dục 2011

Định Hướng Mục Tiêu Và Giải Pháp Cho Giáo Dục Phổ Thông

Giải Pháp Cho Giáo Dục Phổ Thông Giai Đoạn 2022

Thực Trạng Và Giải Pháp Công Tác Phát Triển Giáo Dục Ở Vùng Dân Tộc Thiểu Số Hiện Nay

Hiến Kế Phát Triển Giáo Dục Vùng Dân Tộc Thiểu Số Và Miền Núi

Giáo Viên Vùng Cao Chia Sẻ Thực Trạng Công Tác Giáo Dục Vùng Dân Tộc Thiểu Số

Phát Triển Giáo Dục Vùng Dân Tộc Thiểu Số

Chương 3 Đề Xuất Một Số Giải Pháp Phát Triển Giáo Dục Song Ngữ Vùng Dân Tộc Thiểu Số Tỉnh Quảng Bình

Bàn Về Giải Pháp Đẩy Mạnh Phát Triển Kinh Tế

Những thành tựu bước đầu trong công tác phát triển giáo dục ở vùng dân tộc thiểu số hiện nay

Nhờ có chủ trương, chính sách đúng đắn và phù hợp của Đảng, Nhà nước, đến nay đã có nhiều mô hình trường học dành cho con em đồng bào các dân tộc, như: Trường thanh niên dân tộc, trường vừa học vừa làm, trường phổ thông dân tộc nội trú và bán trú, trường dự bị đại học dân tộc, trường thiếu sinh quân… Hệ thống giáo dục từ mầm non đến trung học phổ thông được củng cố và phát triển, bước đầu đáp ứng nhu cầu học tập của con em đồng bào các dân tộc.

Theo kết quả điều tra về tình hình kinh tế – xã hội 53 dân tộc thiểu số của Tổng cục Thống kê và Ủy ban Dân tộc, tính đến ngày 1/8/2015: số lượng người dân tộc thiểu số từ 15 tuổi trở lên biết đọc, biết viết là 7.465.062 người (đạt 79,8%); số lượng người dân tộc thiểu số từ 15 tuổi trở lên biết đọc, biết viết chữ phổ thông là 7.416.732 người (đạt 79,2%); tỷ lệ người có việc làm từ 15 tuổi trở lên đã qua đào tạo, đạt 6,2%; tỷ lệ học sinh trong độ tuổi đi học, đi học đúng cấp đạt 70,2%; tổng số trường học của các xã vùng dân tộc thiểu số là 17.722. Theo thống kê của Bộ Giáo dục và Đào tạo, trong năm học 2014-2015, cả nước đã có 304 trường phổ thông dân tộc nội trú với gần 64.697 học sinh thuộc 45/53 dân tộc thiểu số theo học, trong đó có 215 trường cấp huyện, 89 trường cấp tỉnh. Năm học 2014 – 2022 số học sinh tiểu học là con em dân tộc là 1.316.048 em; trung học cơ sở là 816.995 em; trung học phổ thông có 296.868 em.

Cùng với sự phát triển của hệ thống giáo dục phổ thông, đến nay đã có 4 trung tâm đại học khu vực: Tây Bắc, Đông Bắc, Tây Nguyên và Tây Nam Bộ. Hệ thống trường đào tạo nghề, trường cao đẳng được củng cố và phát triển. Hiện cả nước, có trên 13 nghìn người dân tộc thiểu số có trình độ trên đại học, đại học, cao đẳng; hơn 78 nghìn người có trình độ trung học chuyên nghiệp,… đã thực hiện cơ bản sự nghiệp xóa mù chữ, phổ cập giáo dục tiểu học và trung học cơ sở; quy mô đào tạo đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề tiếp tục tăng với tốc độ cao; trình độ tay nghề, chuyên môn kỹ thuật của lao động từng bước được nâng lên; tiềm lực và trình độ khoa học – công nghệ đã có bước phát triển đáng kể. Hệ thống các trường dự bị đại học và các khoa dự bị đại học dân tộc đang được phát triển cả về quy mô đào tạo và cơ sở vật chất. Các chương trình dạy tiếng dân tộc cho học sinh dân tộc thiểu số bước đầu được quan tâm. Bộ Giáo dục và Đào tạo đã biên soạn được một số sách giáo khoa dạy chữ viết dân tộc Khmer, chữ viết dân tộc Mông, dân tộc Mnông, dân tộc Bana, dân tộc Êđê, dân tộc Chăm, Hoa… Chế độ cử tuyển học sinh dân tộc thiểu số vào các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, có nhiều dân tộc thiểu số lần đầu tiên có học sinh được cử tuyển đi học các trường trung cấp, cao đẳng, đại học.

Một số tồn tại, hạn chế và nguyên nhân

Trước yêu cầu phát triển của đất nước trong bối cảnh hội nhập khu vực và quốc tế, đồng thời, nhằm thực hiện chính sách “Bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp đỡ nhau cùng phát triển giữa các dân tộc”, xoá dần khoảng cách chênh lệch về giáo dục giữa “miền ngược và miền xuôi”, đòi hỏi công tác giáo dục ở các vùng dân tộc thiểu số phải tiếp tục được quan tâm, đầu tư hơn nữa. Thực trạng đói nghèo, kém phát triển, chưa nhận thức và sự hiểu biết về chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; còn nghe theo kẻ xấu lừa phỉnh gây mất ổn định an ninh chính trị ở một số vùng dân tộc hiện nay có nguyên nhân chủ yếu là do trình độ học vấn của đồng bào còn hạn chế, nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, hải đảo. Trình độ của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý ở vùng dân tộc thiểu số còn hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội của các địa phương. Tỷ lệ cán bộ là người dân tộc thiểu số trong các cơ quan cấp tỉnh, cấp huyện còn thấp (khoảng 11,32%). Trong tổng số 48.200 cán bộ dân tộc thiểu số cấp xã, số người có trình độ học vấn trung học cơ sở chiếm 45,7%, tiểu học 18,7%, chỉ có 1,9% có trình độ cao đẳng và đại học. Đội ngũ cán bộ thôn, bản, phum, sóc năng lực, trình độ còn thấp hơn nhiều. Bên cạnh đó, lực lượng trong độ tuổi lao động của vùng dân tộc thiểu số đã qua đào tạo mới đạt 10,5%. Nguồn nhân lực vùng dân tộc thiểu số có trình độ đại học và trên đại học mới đạt 2,8%, riêng người dân tộc thiểu số chiếm khoảng 1,1%, thấp hơn 4 lần so với toàn quốc1.

Nhìn chung, mặt bằng giáo dục, trình độ dân trí của đồng bào các dân tộc thiểu số vẫn còn có khoảng cách đáng kể với dân tộc đa số. Chất lượng nguồn nhân lực đồng bào dân tộc thiểu số còn hạn chế, đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số thiếu về số lượng và một bộ phận yếu về trình độ chuyên môn. Vùng đồng bào dân tộc thiểu số so với mặt bằng chung cả nước, chênh lệch giàu nghèo giữa các vùng miền, giữa các dân tộc còn cao và có nguy cơ ngày càng rộng ra, thể hiện ở tỷ lệ biết chữ của trẻ em dân tộc thiểu số chỉ đạt tỷ lệ 78% so với tỉ lệ biết chữ chung, tỷ lệ hộ nghèo dân tộc thiểu số trên 30% (hiện còn hơn 2.000 xã và trên 18.000 thôn, bản đặc biệt khó khăn). Tỷ lệ mù chữ, tái mù chữ trong đồng bào còn khá cao, tỷ lệ người có trình độ học vấn cao là rất thấp (dân tộc Brâu là dân tộc chưa có người đi học đại học).

Để mọi người dân có trình độ học vấn cao hơn đòi hỏi phải có sự quan tâm hơn nữa của Nhà nước bằng việc mở trường, lớp, đào tạo giáo viên… Ở những vùng có địa hình thuận lợi, như các tỉnh đồng bằng, trung du dân cư đông, việc mở trường lớp thuận lợi, lại được ngành giáo dục quan tâm hơn nên trình độ học vấn của người dân được nâng cao. Ngược lại, ở vùng miền núi là nơi đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống, nơi có địa hình phức tạp, không thuận lợi, cơ sở vật chất, trường lớp thiếu thốn, nên công tác phát triển giáo dục, nâng cao trình độ học vấn của đồng bào còn nhiều hạn chế. Do vậy, trình độ học vấn của đồng bào các dân tộc thiểu số thấp hơn trình độ học vấn của đồng bào dân tộc đa số; hoặc trình độ học vấn của đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới thấp hơn trình độ học vấn của đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống ở những vùng thuận lợi.

Quá trình thực hiện chính sách phát triển giáo dục ở vùng dân tộc thiểu số còn nhiều thiếu sót từ chương trình sách giáo khoa, phương pháp giáo dục và dạy học đến chính sách đối với giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục. Đội ngũ giáo viên thường thiếu và yếu, chính sách sử dụng, đãi ngộ đối với đội ngũ giáo viên dạy ở các vùng dân tộc thiểu số còn nhiều bất hợp lý, chưa tạo động lực về vật chất và tinh thần để khuyến khích, thu hút giáo viên có tâm huyết với nghề, với sự phát triển sự nghiệp giáo dục.

Một trong những yếu tố làm hạn chế sự phát triển giáo dục ở nhiều vùng dân tộc thiểu số mà ngành giáo dục chưa quan tâm thỏa đáng là do vấn đề bất đồng ngôn ngữ trong quá trình dạy và học. Trẻ em còn chưa thông thạo tiếng mẹ đẻ lại phải học tiếng phổ thông. Vì học không hiểu, học kém, thua bạn bè, gây ra tâm lý chán nản, sợ học, sợ phải đến trường nên nhiều học sinh đã bỏ học dẫn đến tình trạng mù chữ và tái mù chữ.

Một số giải pháp phát triển giáo dục ở vùng dân tộc thiểu số hiện nay

Chúng ta không thể chờ kinh tế phát triển mới phát triển giáo dục. Giáo dục phải đi trước một bước, chúng ta đã có kinh nghiệm phát triển sự nghiệp giáo dục trong những ngày đầu giành độc lập, khi nạn đói làm hàng triệu người chết nhưng do làm tốt công tác vận động, tuyên truyền phong trào “bình dân học vụ” đã khơi dậy truyền thống hiếu học của nhân dân ta. Phát triển giáo dục, đào tạo cho đồng bào dân tộc để đồng bào có điều kiện vươn lên hoà nhập cùng đồng bào cả nước và thực hiện quyền bình đẳng của mình về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội là vấn đề hết sức quan trọng và cần thiết. Vì vậy, cần có sự giải quyết một cách khoa học và phải xem đó là nhiệm vụ cấp bách. Để đẩy mạnh sự nghiệp giáo dục ở vùng dân tộc thiểu số hiện nay, các cấp, các ngành cần quan tâm những vấn đề sau:

Một là: tăng nguồn đầu tư cho công tác phát triển giáo dục ở vùng biên giới, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số có dân số ít. Phải có sự phối hợp đồng bộ giữa chính sách của Đảng và Nhà nước với hoạt động của ngành giáo dục và sự đóng góp của toàn dân cho sự nghiệp giáo dục ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Vì vậy, xã hội hoá giáo dục để toàn dân cùng quan tâm đóng góp một cách thiết thực là một trong những biện pháp hết sức cần thiết trong giai đoạn hiện nay.

Hai là: phải đào tạo đội ngũ giáo viên là người dân tộc thiểu số có trình độ cả về sư phạm và kiến thức cho từng vùng, từng dân tộc. Bên cạnh việc đào tạo, cần xây dựng chế độ đãi ngộ và sử dụng đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục, sao cho họ yên tâm với nghề nghiệp, gắn bó với sự nghiệp “trồng người” ở chính quê hương của họ.

Ba là: ngành giáo dục phải xây dựng chương trình, sách giáo khoa và phương pháp dạy học phù hợp với đối tượng học của từng dân tộc, từng vùng trên cơ sở 2 ngôn ngữ (ngôn ngữ mẹ đẻ và ngôn ngữ phổ thông).

Bốn là: có chính sách đặc thù đối với con em đồng bào các dân tộc sau khi tốt nghiệp phổ thông trung học, nếu không thi được vào các trường trung cấp, cao đẳng, đại học thì bố trí cho đi học nghề và giải quyết công ăn, việc làm sau khi ra trường để tránh lãng phí tiền của, công sức của bản thân học sinh, gia đình và nguồn nhân lực cho sự phát triển các vùng dân tộc trong thời kỳ hội nhập quốc tế sâu rộng ở nước ta hiện nay.

Hà Thị Khiết Nguyên Bí thư Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Hội đồng tư vấn Dân tộc, UBTƯ MTTQ Việt Nam

Các Giải Pháp Phát Triển Đội Ngũ Giáo Viên Tiểu Học Ở Quận 5 Tp Hồ Chí Minh Luận Văn Thạc Sĩ Khoa Học Giáo Dục

Báo Cáo Kết Quả Công Tác Đấu Tranh Phòng, Chống Âm Mưu “diễn Biến Hòa Bình” Trên Lĩnh Vực Tư Tưởng Văn Hóa 9 Tháng Đầu Năm 2014

Quân Đội Đẩy Mạnh Phòng, Chống “diễn Biến Hòa Bình” Trên Không Gian Mạng

Đấu Tranh Phòng, Chống Âm Mưu “diễn Biến Hòa Bình” Và Những Biểu Hiện “tự Diễn Biến”, “tự Chuyển Hóa” Trên Lĩnh Vực Văn Hóa Hiện Nay

Đẩy Mạnh Đấu Tranh Phòng, Chống “diễn Biến Hòa Bình” Hiện Nay

Ngành Giáo Dục Và Đào Tạo: Thực Hiện Đồng Bộ Các Giải Pháp Phát Triển Giáo Dục Toàn Diện

Giải Pháp Phát Triển Hệ Thống Các Trường Đại Học Tư Thục Việt Nam

Hội Thảo “các Giải Pháp Phát Triển Bền Vững Giáo Dục Đại Học Ngoài Công Lập Ở Việt Nam Đến Năm 2030”.

Giải Pháp Cho Giáo Dục Phổ Thông Giai Đoạn 2022

Định Hướng Mục Tiêu Và Giải Pháp Cho Giáo Dục Phổ Thông

Chiến Lược Phát Triển Giáo Dục 2011

Một giờ học văn hóa tại Trường THPT Gia Viễn A

Kết quả sau gần 5 năm thực hiện, đối chiếu với các chỉ tiêu, nhiệm vụ đề ra, ngành Giáo dục đã thực hiện tốt, đảm bảo đúng tiến độ. Một số chỉ tiêu đã về đích trước 2 năm kế hoạch đề ra như: Xây dựng trường chuẩn Quốc gia cấp Tiểu học, THCS; các trường mầm non, tiểu học THCS, THPT, TTGDNN-GDTX có phòng ứng dụng CNTT được kết nối Internet tốc độ cao…

Là một trong những cơ sở giáo dục THPT đạt danh hiệu trường chuẩn quốc gia muộn, nhưng Trường THPT Gia Viễn A lại là cơ sở giáo dục trung học đầu tiên của tỉnh thực hiện công tác tự đánh giá theo Thông tư 18/2018/TT-BGDĐT ngày 22/8/2018 của Bộ GDĐT ban hành Quy định về kiểm định chất lượng giáo dục và công nhận đạt chuẩn quốc gia đối với trường THCS, THPT và trường phổ thông có nhiều cấp học. Thầy giáo Lê Thành Dương, Hiệu trưởng Trường THPT Gia Viễn A cho biết: Việc kết hợp bộ tiêu chuẩn công nhận kiểm định chất lượng giáo dục và công nhận đạt chuẩn quốc gia đã mang lại nhiều thuận lợi cho nhà trường. Với hơn 100 tiêu chí đánh giá, được thực hiện chặt chẽ, có lộ trình, cho thấy, công tác tự đánh giá là việc làm vô cùng cần thiết đối với các cơ sở giáo dục trong bối cảnh hiện nay, giúp nhà trường nhận thức đầy đủ hơn, sâu sắc hơn những việc đã làm, đang làm, những việc cần làm, nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho nhà trường nói riêng, cho địa phương và ngành giáo dục tỉnh nói chung… Với sự chuẩn bị chu đáo, đầy đủ, chi tiết, công tác tự đánh giá của nhà trường đã được Đoàn công tác của Sở GD&ĐT công nhận đạt kiểm định chất lượng giáo dục cấp độ 2 và được UBND tỉnh công nhận trường đạt chuẩn quốc gia mức độ 1, thời hạn 5 năm vào cuối năm 2022.

Nhà giáo Đỗ Văn Thông, Phó Giám đốc Sở GD&ĐT Ninh Bình cho biết: 5 năm qua, Ngành Giáo dục đã duy trì tương đối ổn định quy mô trường, lớp các cấp học, tỷ lệ học sinh bỏ học ít. Số lượng trường, nhóm lớp mầm non tư thục tăng, đáp ứng nhu cầu gửi trẻ của nhân dân, góp phần giảm bớt tình trạng quá tải trẻ/lớp, nhóm. Số trẻ em ở độ tuổi nhà trẻ được huy động đến lớp đạt tỷ lệ 60,2% dân số độ tuổi, trẻ mẫu giáo đến lớp đạt 99,1% dân số độ tuổi (vượt chỉ tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh). Huy động 99,9% trẻ 6 tuổi vào lớp 1 và học sinh hoàn thành chương trình giáo dục tiểu học vào lớp 6. Cùng với đó, 8/8 huyện, thành phố đều tiếp tục củng cố, duy trì tốt và đạt chuẩn phổ cập giáo dục, xóa mù chữ ở các mức độ cao nhất. Năm 2022, tỉnh Ninh Bình được Bộ GD&ĐT công nhận đạt chuẩn phổ cập giáo dục, xóa mù chữ và đạt chuẩn phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi, chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học mức độ 3, chuẩn phổ cập giáo dục THCS mức độ 3, chuẩn xóa mù chữ mức độ 2. Đây là mức độ cao nhất trong tiêu chí về phổ cập giáo dục, Ninh Bình là tỉnh thứ 3 của cả nước dẫn đầu về công tác phổ cập giáo dục xóa mù chữ.

Việc đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, trường chuẩn Quốc gia ngày càng phát triển theo hướng hiện đại, đồng bộ, số trường học đạt chuẩn quốc gia và tỷ lệ phòng học kiên cố, phòng bộ môn, thư viện đạt chuẩn tăng; trang thiết bị giáo dục ngày càng đáp ứng tốt hơn quá trình dạy và học. Trong 5 năm, toàn tỉnh đã đầu tư xây mới, sửa chữa 1.373 phòng học, 213 phòng hiệu bộ, 431 phòng chức năng, 512 nhà vệ sinh và 63.760 m2 sân, tường rào. Tính đến tháng 12/2019, tỷ lệ phòng học cao tầng kiên cố đạt 87,5%, dự kiến đến hết năm 2022, tỷ lệ phòng học cao tầng kiên cố 88%, đạt chỉ tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XXI (tăng 3,7% so với năm 2022). Ngành cũng đã tích cực phối hợp với các địa phương chỉ đạo xây dựng trường học đạt chuẩn Quốc gia theo Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XXI gắn với chương trình xây dựng nông thôn mới. Đến nay, có 437/474 trường học đạt chuẩn quốc gia, chiếm 92,2%; 122/145 xã, phường, thị trấn; 4 huyện, thành phố (Hoa Lư, Yên Khánh, thành phố Ninh Bình, thành phố Tam Điệp) có 100% trường mầm non, tiểu học, THCS công lập đều đạt chuẩn quốc gia. Tỷ lệ trường học chuẩn quốc gia đạt và vượt mục tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XXI ở hai cấp học tiểu học và THCS (hoàn thành trước 2 năm). Kết quả xây dựng trường chuẩn quốc gia đã nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, góp phần vào công cuộc xây dựng nông thôn mới ở các địa phương.

Chất lượng đội ngũ, công tác quản lý, nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện ngày càng đạt được những kết quả toàn diện. Đội ngũ cán bộ quản lý cơ sở giáo dục mầm non, tiểu học, THCS được kiện toàn, luân chuyển công tác đảm bảo đúng, đủ theo quy định, phát huy được năng lực lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ. Đến nay, toàn ngành có 3 tiến sỹ, trên 650 thạc sỹ; tỷ lệ nhà giáo có trình độ đạt chuẩn trở lên là 99,9%, trên chuẩn chiếm 82,06%. Bên cạnh đó, toàn ngành đã tích cực bồi dưỡng đội ngũ, chuẩn bị cho triển khai thực hiện chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông mới. Chất lượng giáo dục toàn diện được nâng lên, tổ chức tốt các kỳ thi cấp tỉnh và cấp quốc gia, học sinh và giáo viên Ninh Bình tham dự các kỳ thi quốc gia, quốc tế đều đạt kết quả khá, tốt. Kết quả thi THPT quốc gia tỉnh Ninh Bình nhiều năm liền xếp trong tốp 5 tỉnh, thành phố có điểm trung bình tất cả các bài thi cao của cả nước.

Ngành Giáo dục cũng đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, nâng cao ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy và học, quản lý giáo dục. Năm 2022, Sở Giáo dục và Đào tạo Ninh Bình được UBND tỉnh xếp thứ Nhất về chỉ số cải cách hành chính trong số 17 sở, ban, ngành của tỉnh. Ngành cũng chỉ đạo đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy, học và quản lý hồ sơ chuyên môn, quản lý kết quả học tập và rèn luyện của học sinh. Đến nay, cấp học mầm non có 82/153 trường (chiếm 53,6%), 47/97 cơ sở giáo dục mầm non tư thục (chiếm 48,5%) lắp đặt camera phục vụ công tác quản lý và nâng cao chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ. Tính đến tháng 10/2019, 100% trường THPT và Trung tâm GDNN-GDTX có phòng ứng dụng công nghệ thông tin được kết nối Internet tốc độ cao (đạt chỉ tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XXI); 71% các trường mầm non, tiểu học, THCS có phòng ứng dụng công nghệ thông tin được kết nối Internet tốc độ cao (vượt 11% chỉ tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XXI)…

Thời gian tiếp theo, ngành Giáo dục Ninh Bình đề ra mục tiêu tiếp tục phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo của tỉnh theo hướng toàn diện và vững chắc; tạo chuyển biến căn bản, mạnh mẽ về chất lượng, hiệu quả giáo dục – đào tạo; thực hiện tốt mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, đáp ứng tốt hơn yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội. Phấn đấu đạt một số chỉ tiêu quan trọng, như xây dựng trường chuẩn Quốc gia: Đến hết năm 2025, trường học đạt chuẩn quốc gia bậc học mầm non 98%, tiểu học 94% (đạt chuẩn quốc gia mức độ 2), THCS 97%, THPT 80%. Đảm bảo có đủ thiết bị để dạy học môn Tin học trong các cơ sở giáo dục theo quy định của Bộ GD&ĐT. Tỷ lệ phòng học kiên cố hóa đạt 90%; có 85% giáo viên đạt trình độ trên chuẩn về đào tạo, trong đó cấp THPT là 30%… Đến năm 2025, Ninh Bình trở thành tỉnh có nền giáo dục – đào tạo chất lượng, uy tín trong khu vực đồng bằng Bắc Bộ và cả nước.

nguồn: Mỹ Hạnh/baoninhbinh.org.vn

Chính Sách Phát Triển Giáo Dục Vùng Dân Tộc Thiểu Số Đã Đi Vào Cuộc Sống

Nâng Chất Lượng Giáo Dục Vùng Dân Tộc Thiểu Số

Bàn Về Giải Pháp Đẩy Mạnh Phát Triển Kinh Tế

Chương 3 Đề Xuất Một Số Giải Pháp Phát Triển Giáo Dục Song Ngữ Vùng Dân Tộc Thiểu Số Tỉnh Quảng Bình

Phát Triển Giáo Dục Vùng Dân Tộc Thiểu Số

🌟 Home
🌟 Top