Chỉ Số Đánh Giá Chức Năng Hồng Cầu / Top 5 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 2/2023 # Top View | Phauthuatthankinh.edu.vn

Hồng Cầu Là Gì? Các Chỉ Số Xét Nghiệm Hồng Cầu

1. Đặc điểm của hồng cầu

Hồng cầu là các tế bào không nhân có hình dạng như đĩa lõm hai mặt, được sinh ra trong tủy xương, lưu hành trong máu thực hiện các chức năng sống và bị phá hủy trong lách. Đời sống trung bình của các tế bào hồng cầu khoảng 120 ngày.

Hồng cầu đảm nhiệm chức năng chính là vận chuyển oxy từ phổi tới các mô nhờ hemoglobin chứa trong tế bào.

Sản xuất hồng cầu được kích thích bởi một hormon do thận bài tiết là erythropoietin, nồng độ hormone sẽ tăng khi có tình trạng thiếu oxy.

Hình 1: Hồng cầu có hình đĩa lõm 2 mặt thực hiện chức năng chính là vận chuyển oxy trong cơ thể

Có thể gặp các hình thái bất thường của hồng cầu trong trường hợp cơ thể mắc bệnh lý bằng cách quan sát trên tiêu bản giọt máu đàn. Một số hình thái bất thường của hồng cầu bao gồm:

– Hồng cầu hình bia: hồng cầu có hình bia bắn, vùng trung tâm đậm màu được bao quanh bởi vùng nhạt màu. Thường thấy ở những bệnh nhân mắc bệnh Thalassemia, thiếu máu thiếu sắt.

– Hồng cầu hình giọt nước: hồng cầu có hình dạng như giọt nước hay quả lê. Thường thấy ở những người bị bệnh Thalassemia.

– Hồng cầu hình răng cưa: phía ngoài hồng cầu có các răng cưa ngắn, đều nhau và nhạt màu hơn phía trong. Gặp trong trường hợp tăng ure máu, thiếu máu tan máu.

– Hồng cầu hình cầu: hình tròn, không có khoảng trắng ở trung tâm, đậm màu hơn so với các hồng cầu bình thường. Gặp trong truyền máu hay bệnh hồng cầu hình cầu.

– Ngoài ra có thể gặp các hồng cầu to nhỏ kích thước khác nhau, các mảnh vỡ hồng cầu khi cơ thể có thiếu máu.

Hình 2: Các hình dạng bất thường của hồng cầu gặp trong một số bệnh lý mắc phải

2. Các chỉ số trong xét nghiệm hồng cầu

Các chỉ số của hồng cầu bao gồm: số lượng hồng cầu, thể tích khối hồng cầu (Hct), lượng huyết sắc tố (Hb), thể tích trung bình hồng cầu, lượng huyết sắc tố trung bình hồng cầu, nồng độ huyết sắc tố trung bình hồng cầu.

Các chỉ số này được sử dụng để xác định sự bình thường hay bất thường của dòng hồng cầu, bao gồm số lượng và kích thước của hồng cầu, lượng huyết sắc tố tổng và lượng huyết sắc tố trung bình chứa trong hồng cầu cũng như đánh giá sự tương quan giữa các yếu tố này.

Các xét nghiệm này cho phép đánh giá mức độ thiếu máu và phân loại thiếu máu.

– Số lượng hồng cầu: đếm số lượng hồng cầu giúp đánh giá khả năng hoạt động của tủy xương và hỗ trợ chẩn đoán một tình trạng bệnh lý trên lâm sàng.

Giá trị bình thường :

+ Với nam: 4.3 – 5.7 T/L.

+ Với nữ: 3.9 – 5.0 T/L.

– Thể tích khối hồng cầu (Hct): cho biết tỷ lệ giữa khối hồng cầu trong máu toàn phần.

Giá trị bình thường: 0.37 – 0.42 L/L.

– Lượng huyết sắc tố (Hb): tiêu chuẩn vàng để đánh giá tình trạng thiếu máu

Giá trị bình thường: 120 – 155 g/L.

– Thể tích trung bình hồng cầu (MCV): giá trị này cho phép đánh giá kích thước trung bình hồng cầu. Nếu MCV tăng, hồng cầu có kích thước lớn hơn bình thường; nếu MCV giảm đi, hồng cầu có kích thước nhỏ hơn bình thường còn MCV trong giới hạn bình thường là hồng cầu có kích thước bình thường.

+ Giá trị tham chiếu: 85 – 95 fl.

– Lượng huyết sắc tố trung bình hồng cầu (MCH): tính lượng hemoglobin có trong hồng cầu. Nếu MCH giảm chứng tỏ hồng cầu nhược sắc, nếu MCH trong giới hạn bình thường có nghĩa hồng cầu bình sắc.

+ Giá trị tham chiếu: 28 – 32 pg.

Hình 3: Xét nghiệm hồng cầu sử dụng máu tĩnh mạch được chống đông EDTA

– Nồng độ huyết sắc tố trung bình hồng cầu (MCHC): là hàm lượng hemoglobin trung bình trong một đơn vị máu.

+ Giá trị tham chiếu: 320 – 360 g/L.

Giảm nồng độ MCHC nghĩa là hồng cầu nhược sắc gặp trong bệnh thiếu máu do thiếu sắt và Thalassemia, khi giá trị MCHC trong giới hạn bình thường là hồng cầu bình sắc.

MCH và MCHC giúp mô tả các loại thiếu máu gồm:

– Thiếu máu bình sắc hồng cầu bình thường: khi lượng huyết sắc tố giảm, MCV, MCH và MCHC trong giới hạn bình thường. Thường thấy ở những người chảy máu.

– Thiếu máu nhược sắc hồng cầu nhỏ: khi MCV, MCH và MCHC giảm. Thường gặp trong bệnh thiếu máu thiếu sắt, người bệnh Thalassemia, nhiễm độc chì.

– Thiếu máu bình sắc hồng cầu to: khi MCV tăng, MCH bình thường hoặc tăng và MCHC bình thường. Thường gặp trong thiếu máu do thiếu vitamin B12 và acid folic.

3. Các nguyên nhân làm sai lệch kết quả xét nghiệm hồng cầu

Các nguyên nhân có thể dẫn đến sai lệch kết quả xét nghiệm như:

– Mẫu bệnh phẩm bị vỡ hồng cầu có thể làm thay đổi kết quả xét nghiệm.

– Các yếu tố có thể làm thay đổi kết quả xét nghiệm bao gồm: độ tuổi, vị trí địa lý (người sống ở vùng cao), hoạt động thể lực, tình trạng thai nghén.

– Một số chỉ số có thể bị thấp giả tạo do có mặt yếu tố ngưng kết lạnh trong huyết tương hoặc cao giả tạo khi có tình trạng mất nước

– Một số thuốc làm tăng số lượng hồng cầu: Corticosteroid, cosyntropin, danazol, các thuốc lợi tiểu nhóm thiazid.

– Các thuốc làm giảm số lượng hồng cầu: acetaminophen, acyclovir, thuốc điều trị sốt rét, kháng sinh, hóa chất điều trị ung thư, thuốc tiêu fibrin,…

4. Xét nghiệm hồng cầu ở đâu?

Xét nghiệm hồng cầu là một xét nghiệm phổ biến, thường được chỉ định khi thực hiện kiểm tra sức khỏe hay để chẩn đoán một bệnh lý đang mắc phải. Xét nghiệm này được thực hiện ở hầu hết tất cả các cơ sở khám chữa bệnh. Tuy nhiên bạn nên chọn những cơ sở uy tín an toàn để thực hiện xét nghiệm. Nếu như bạn vẫn đang băn khoăn không biết nên làm xét nghiệm ở đâu thì Bệnh viện Đa khoa MEDLATEC sẽ là một sự lựa chọn đúng đắn dành cho bạn.

Hình 4: Bệnh viện Đa khoa MEDLATEC – địa chỉ khám chữa bệnh tin cậy dành cho bạn

Bệnh viện Đa khoa MEDLATEC với trên 24 năm kinh nghiệm hoạt động khám chữa bệnh đã trở thành trung tâm xét nghiệm uy tín hàng đầu tại miền Bắc, được nhiều người tin tưởng và lựa chọn.

Bệnh viện sở hữu đội ngũ chuyên gia đầu ngành trong nhiều lĩnh vực, đội ngũ bác sĩ tâm huyết hết lòng vì người bệnh. Cơ sở trang thiết bị của bệnh viện bao gồm hệ thống máy móc hiện đại tiên tiến nhất. Kết quả được kiểm duyệt bài bản theo quy trình để đảm bảo kết quả đến tay bạn sẽ là tin cậy nhất.

Đăng ký khám tại Bệnh viện Đa khoa MEDLATEC xin vui lòng gọi điện đến số 1900565656 hoặc truy cập vào website của bệnh viện: chúng tôi để chúng tôi có cơ hội chăm sóc sức khỏe cho bạn.

Đánh Giá Chức Năng Thận Qua Chỉ Số Cystatin C

Gần đây một số công trình nghiên cứu chứng minh rằng trị số cystatin C có thể đánh giá mức lọc cầu thận (GFR) cho kết quả chính xác hơn những thông số vẫn dùng trước đây.

Các thông số đánh giá mức lọc cầu thận và chức năng thận trong lâm sàng đã và đang sử dụng có thể là: đo độ thanh thải creatinin nội sinh, uớc tính theo Cockcroft & Gault và ước tính theo MDRD (Modification of Diet in Renal Disease).

Định lượng nồng độ: ure, creatinin/ (huyết thanh, huyết tương hoặc nước tiểu),.. Với những thông số trên cách đánh giá đôi khi có những sai biệt nhất định so với mức lọc thực của cầu thận. Độ thanh thải Inulin được xem là chính xác vì ít phụ thuộc vào khối cơ, khối mỡ thừa và những yếu tố khác.

Gần đây một số công trình nghiên cứu chứng minh rằng trị số cystatin C có thể đánh giá mức lọc cầu thận (GFR) cho kết quả chính xác hơn những thông số vẫn dùng trước đây.

Người ta thấy cystatin C có trong máu, dịch não tủy, sữa và một lượng rất ít trong nước tiểu.

Chức năng của cystatin C:

Là điều hoà hoạt động của cystein protease, cụ thể là ức chế enzym này trong một số quá trình sinh học trong cơ thể. Ở người khoẻ mạnh với chức năng thận hoạt động tốt, cystatin C được lọc qua màng cầu thận và thận sẽ giữ lại cystatin C, glucose và một số chất khác trong quá trình lọc.

Đồng thời đào thải một số chất khác như ure, creatinin và một số chất hoà tan khác ra khỏi thận qua đường niệu quản xuống bàng quang và được bài tiết ra khỏi cơ thể đó là nước tiểu.

Do cystatin C luôn được sản xuất tại các tế bào trong cơ thể và được chuyển hoá tại thận (cystatin C không trở lại máu nữa) một cách đều đặn và như vậy nồng độ của cystatin C cũng luôn được giữ ở mức ổn định khi chức năng thận vẫn còn tốt và hoạt động đều đặn.

Trong trường hợp chức năng thận bị tổn thương, mức lọc cầu thận suy giảm, những chất cần đào thải tăng lên trong máu trong đó phải kể đến như cystatin C .

Trị số bình thường của cystatin C:

Nồng độ trong huyết tương và huyết thanh cũng tương tự là 0,8- 2,5 mg/l.Trong dịch não tuỷ là 4-14 mg/l và trong nước tiểu với nồng độ rất nhỏ khoảng 0,03- 0,3 mg/l (trị số này có thể khác nhau do phân tích bằng các phương pháp khác nhau)

Từ các kết quả nghiên cứu trên lâm sàng phối hợp với các phòng xét nghiệm đã cho thấy: cystatin C là một protein trong huyết thanh mà có giá trị như một chỉ tố sinh học (biomarker) trong thăm dò chức năng thận, đặc biệt mức lọc cầu thận (glomerular filtration rate – GFR). Tiện ích cho lâm sàng của cystatin C đến nay đã được xác nhận

2. Những ích lợi của cystatin C- một chỉ tố sinh học mới

Với các bệnh tại thận:

Trong một số trường hợp, trị số creatinin huyết thanh sẽ không phản ánh sự tương thích với tình trạng người bệnh trên lâm sàng (mặc dù không có sai sót trong kỹ thuật phân tích hoá sinh), ví dụ với một bệnh nhân mắc bệnh thận có kèm mắc bệnh xơ gan, bệnh béo phì, người dinh dưỡng kém hoặc người có khối cơ bị giảm nhiều,…

Trong những trường hợp này, cystatin C đặc biệt hữu ích giúp cho việc phát hiện sớm bệnh thận trong khi các thông số cũ như ure, creatinin, thanh thải creatinin có thể hầu như bình thường.

Trong các trường hợp các bác sĩ nghi ngờ chức năng thận của người bệnh bị suy giảm nhưng các kết quả thăm dò cũ như creatinin và mức lọc cầu thận cho thấy bình thường.

Sàng lọc bệnh thận tiềm ẩn ở những bệnh nhân trứơc khi chụp mạch thận (UIV) hoặc mạch máu có bơm thuốc cản quang

Hỗ trợ rất tốt cùng với các thông số khác như creatinin, độ thanh thải creatinin, mức lọc cầu thận trong sàng lọc và theo dõi tổn thương chức năng thận ở những bệnh nhân có nghi ngờ tổn thương thận, người suy thận cấp và mạn.

Các bệnh ngoài thận:

Giúp ích trong đánh gía và theo dõi các bệnh nhân có nguy cơ gia tăng các bệnh về tim mạch (rối loạn chuyển hoá lipid, béo phì, đái tháo đường,..) đột qụy và theo dõi chức năng thận ở người cao tuổi.

Với nhóm người có tích tụ các yếu tố nguy cơ cao về tim mạch đồng thời có trị số cystatin C cao sẽ có tỷ lệ mắc suy tim, đột qụy và thậm chí tử vong cao hơn hẳn so với các nhóm khác có cùng nguy cơ nhưng có trị số cystatin C ở mức trung bình hoặc thấp.

Những yếu tố có thể ảnh hưởng đến nồng độ cystatin C:

Có một số phương pháp cũng như nguyên lý đo nồng độ cystatin C, nhưng một số nghiên cứu gần đây thường dựa theo nguyên lý đo độ đục miễn dịch. Cũng như trên đã đề cập, trị số tham chiếu của cystatin C có thể khác nhau do những phương pháp phân tích khác nhau.

Tốt nhất mỗi phòng xét nghiệm hoá sinh nên nghiên cứu để xây dựng cho mình một trị số tham chiếu cho thông số này để các bác sỹ lâm sàng có thể nhận định kết quả được thuận lợi hơn. Khi nhận định kết quả phải chú ý đến một số yếu tố có thể ảnh hưởng đến trị số cystatin C.

Cystatin C có xu hướng tăng trong: bệnh viêm gan tiến triển, tràn dịch màng phổi, một số bệnh khớp, một số bệnh ung thư (nhưng nồng độ cystatin C không tỷ lệ với số lượng và kích thước khối u), chứng tăng homocystein máu ở những bệnh nhân ghép thận, dùng corticoid liều cao dài ngày,..

Nồng độ cystatin C có thể giảm khi bệnh nhân đang dùng thuốc cyclosporin

Tóm lại: một trong những ý nghĩa lâm sàng có giá trị là nồng độ cystatin C trong máu có khả năng phản ánh mức lọc cầu thận (GFR) mà không cần phải trải qua bước tính toán như thông số mức lọc cầu thận.

Cystatin C có thể giúp sàng lọc bệnh thận rộng hơn và sớm hơn trước cả khi trị số creatinin tăng. Có khả năng cảnh báo những nhóm có nguy cơ cao về bệnh tim mạch, đột qụy và suy giảm chức năng thận ở bệnh nhân là người cao tuổi.

Theo thuocthang

Cùng Danh Mục :

Chỉ Số Hồng Cầu Lưới Thực (Corrected Reticulocyte Count

CÁC BÀI LIÊN QUAN KHÁC:

CHỈ SỐ HỒNG CẦU LƯỚI THỰC (Corrected Reticulocyte Count – CRC) LÀ GÌ? TẠI SAO VIỆC XÁC ĐỊNH NÓ CÓ VAI TRÒ CỰC KỲ QUAN TRỌNG TRONG ĐÁNH GIÁ TÌNH TRẠNG THIẾU MÁU

Hầu như các bạn đều biết đến Chỉ số Hồng cầu lưới máu ngoại vi (Reticulocyte-Ret) và vai trò quan trọng của nó. Tuy nhiên, việc đánh giá thiếu máu dựa vào chỉ số Ret có thể dẫn tới sai lầm, vậy tại sao lại sai lầm, và để tránh sai lầm trong đánh giá người ta dùng chỉ số gì? Câu trả lời, đó là CRC – chỉ số hồng cầu lưới thực.

1. Hồng cầu lưới ở máu ngoại vi (Ret) là gì? Vai trò của hồng cầu lưới 2. Sai lầm khi sử dụng chỉ số Ret trong đánh giá thiếu máu 3. Chỉ số hồng cầu lưới thực (CRC – Corrected reticulocyte count)

1. RETICULOCYTE COUNT (Chỉ số hồng cầu lưới máu ngoại vi)

Hồng cầu lưới (RET) là các hồng cầu non được giải phóng từ tủy xương ra máu ngoại vi. Sau 24h ở máu ngoại vi, Ret sẽ “chín” và trở thành hồng cầu trưởng thành.

CÁCH XÁC ĐỊNH Có thể dễ dàng xác định Ret bằng cách nhuộm máu toàn phần với thuốc nhuộm Xanh Cresyl hoặc thuốc nhuộm Xanh Methylene, sau nhuộm chúng có đặc điểm như sau:các mảnh ARN còn sót lại trong bào tương của tế bào hồng cầu non sẽ bắt màu xanh, khi quan sát dưới kính hiển vi chúng có hình ảnh như những sợi chỉ đan vào nhau kiểu mạng lưới.

CÁCH TÍNH % hồng cầu lưới máu ngoại vi (%Ret): %Ret chính là tỷ lệ số lượng hồng cầu lưới so với số lượng hồng cầu trưởng thành trong một đơn vị thể tích. Bình thường < 3%, ở người Việt Nam là 0.6-1.8%

2. SAI LẦM KHI SỬ DỤNG %RET (% hồng cầu lưới)

Vậy nên, để tránh sai lầm trên, người ta sử dụng chỉ số CRC là viết tắt của Corrected Reticulocyte count. Tôi gọi đó là Chỉ số hồng cầu lưới thực, hay Chỉ số hồng cầu lưới hiệu chỉnh (RI -Reticulocyte Index)

3. CHỈ SỐ HỒNG CẦU LƯỚI THỰC (CRC)

Qua ví dụ trên, ta có thể nhận ra, KHÔNG THỂ chỉ dựa vào %Ret. Mà con số %Ret hay % hồng cầu lưới ở máu ngoại vi cần được đánh giá theo một cách khác, mà không đơn thuần chỉ dựa vào nó, tôi gọi nó làSỰ HIỆU CHỈNH hay SỰ TÍNH TOÁN LẠI.

TA CÓ CÔNG THỨC TÍNH CHỈ SỐ CRC (chỉ số hồng cầu lưới thực) như sau:

Ví dụ: Sau khi làm huyết đồ cho bệnh nhân nam thấy: %Ret= 18%, Hct=15%%CRC của bệnh nhân = 15/45 x 18 = 6

Chính con số 6% này mới cho thấy được, ở bệnh nhân tủy xương tăng cường sinh máu, khi đang thiếu máu

ĐÁNH GIÁ THIẾU MÁU DỰA VÀO %CRC là chính xác hơn cả.

Khi CRC ≧ 3%

Cho thấy tuỷ xương phản ứng tốt với tình trạng thiếu máu (quá trình sinh sản hồng cầu có hiệu quả)

Khi CRC < 3%

Chỉ ra tuỷ xương phản ứng kém với tình trạng thiếu máu, quá trình sinh sản hồng cầu không hiệu quả.

Ví dụ sinh máu kém hiệu quả: thiếu máu thiếu Fe không điều trị; thiếu máu mạn tính; thiếu folate (B9); suy tuỷ xương.

Lê Văn Công

Xét Nghiệm Đánh Giá Chức Năng Tiểu Cầu

Tiểu cầu là tế bào máu vô cùng quan trọng của cơ thể. Khi có những dấu hiệu bất thường về số lượng hoặc chức năng tiểu cầu, bệnh nhân sẽ được chỉ định thực hiện xét nghiệm đánh giá chức năng tiểu cầu. Kết quả thu được sẽ giúp bác sĩ phát hiện những vấn đề của tiểu cầu và can thiệp kịp thời trước khi có những ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe người bệnh.

Tiểu cầu là một tế bào máu không nhân, là những mảnh tế bào vỡ ra từ mẫu tiểu cấu khổng lồ của tủy xương. Tiểu cầu có đường kính rất nhỏ, chỉ khoảng 2 – 3 micromet. Mỗi tiểu cầu có thể sống khoảng 5 – 7 ngày. Sau đó, các tế bào tiểu cầu sẽ được tiêu hủy bởi lá lách. Khi lá lách có vấn đề, chức năng tiêu hủy tiểu cầu già sẽ bị ảnh hưởng dẫn đến các vấn đề về sức khỏe.

Tuy có kích thước nhỏ, nhưng vai trò của tiểu cầu lại rất lớn, quyết định nhiều quy trình quan trọng trong cơ thể như: Quá trình đông máu, cầm máu, co cục máu đông, co mạch, khả năng miễn dịch… Trong đó quá trình đông máu là chức năng quan trọng nhất của tiểu cầu. Mục đích chính của các xét nghiệm đánh giá chức năng tiểu cầu hầu hết đều là khảo sát chức năng này.

Khi có mạch máu bị tổn thương, tiểu cầu sẽ hoạt hóa, phóng thích chất bên trong và biến đổi hình dạng, liên kết thành nút tiểu cầm tạm thời chặn vết thương, tham gia vào quá trình đông máu, cầm máu cho cơ thể

Bệnh nhân có dấu hiệu xuất huyết chưa tìm được nguyên nhân sẽ được chỉ định thực hiện xét nghiệm đánh giá chức năng tiểu cầu, cùng với một vài xét nghiệm khác (nếu cần thiết).

Xét nghiệm đánh giá chức năng tiểu cầu cổ điển gồm các xét nghiệm:

Xét nghiệm thời gian máu chảy

Xét nghiệm đo ngưng tập tiểu cầu bằng phương pháp quang học

Xét nghiệm đo ngưng tập tiểu cầu bằng phương pháp trở kháng

Xét nghiệm đo ngưng tập tiểu cầu và sự phát quang

Xét nghiệm Adenine nucleotide

Xét nghiệm kính hiển vi điện tử

Xét nghiệm phân tích điện di

Xét nghiệm co cục máu đông

Xét nghiệm đàn hồi cục máu đồ

Xét nghiệm Glass filter meter

Xét nghiệm đánh dấu chất phóng thích từ tiểu cầu như βTG PF4…

Bác sĩ chuẩn bị các dụng cụ, hóa chất, dụng cụ lấy máu mao mạch hoặc tĩnh mạch để thực hiện xét nghiệm

Mã ID và thông tin của bệnh nhân sẽ được ghi lên lam kính

Buộc garo lên vùng cần lấy máu

Sát khuẩn vùng lấy máu

Dùng kim chích vào vị trí tĩnh mạch và rút một lượng máu phù hợp để thực hiện xét nghiệm

Tháo garo cho bệnh nhân

Cầm máu tại vị trí chích

Mẫu máu sau khi được lấy sẽ nhỏ ngay 1 giọt lên lam kính đã đánh dấu thông tin của bệnh nhân và tiến hành kéo lam tiêu bản máu

Để tiêu bản trên bàn nhiệt 37 độ C chờ khô hoàn toàn rồi xếp tiêu bản lên giá, cố định tiêu bản bằng cồn tuyệt đối

Nhuộm tiêu bản máu bằng phương pháp Giemsa, chờ tiêu bản khô và lấy kết quả xét nghiệm.

Xét nghiệm đánh giá chức năng tiểu cầu là một trong những xét nghiệm quan trọng, thường được thực hiện với nhiều xét nghiệm khác để giúp bác sĩ chẩn đoán chính xác tính trạng bệnh lý mắc phải. Do đó, bệnh nhân cần lựa chọn các cơ sở y tế uy tín, có đầy đủ trang thiết bị máy móc hiện đại để có kết quả xét nghiệm chính xác, kịp thời, hỗ trợ tốt nhất cho quá trình phát hiện và điều trị bệnh.

Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec là một trong những bệnh viện uy tín hàng đầu cả nước. Đội ngũ y bác sĩ, chuyên viên y tế được đào tạo bài bản, giàu kinh nghiệm tại Vinmec sẽ trực tiếp thăm khám, lấy mẫu xét nghiệm, đọc kết quả xét nghiệm và điều trị cho bệnh nhân. Hệ thống máy móc thiết bị hiện đại, tiên tiến bậc nhất mang đến kết quả chính xác, nhanh chóng. Dịch vụ y tế chuyên nghiệp sẽ giúp bệnh nhân cảm thấy yên tâm, thoải mái trong quá trình thăm khám và điều trị.

Mọi thắc mắc cần được bác sĩ chuyên khoa giải đáp cũng như quý khách hàng có nhu cầu khám và điều trị tại Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec, Quý khách có thể liên hệ Hệ thống Y tế Vinmec trên toàn quốc hoặc đăng ký trực tuyến TẠI ĐÂY.