Các Giải Pháp Móng Nhà / 2023 / Top 12 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 12/2022 # Top View | Phauthuatthankinh.edu.vn

Giải Pháp Móng Cho Ngôi Nhà Của Bạn / 2023

Móng là phần đất nằm dưới đáy móng chịu toàn bộ hoặc phần lớn tải trọng công trình đè xuống, còn gọi là nền đất, nơi chịu toàn bộ tải trọng của công trình, lại là thành phần của công trình được chôn sâu và kỹ.. Móng nhà là một trong những yếu tố quan trọng nhất cần được lưu ý khi xây nhà hoặc các công trình khác. Đây là nơi quyết định cho sự kiên cố, bền vững và là nền tảng nâng đỡ cả công trình. Móng phải được thiết kế và xây dựng và thi công công trình không bị lún gây ra nứt hoặc đổ vỡ các công trình xây dựng.

Móng của công trình  khác nhau tuỳ theo tính chất của khu đất và tuỳ thuộc vào độ cao, tải trọng của công trình bên trên.

1. Móng đơn hay móng trụ hay móng cốc:

Móng đơn là loại móng đỡ bằng trụ cột, đế cột. Móng đơn thường nằm riêng lẻ nhau và có hình dạng là hình vuông, hình chữ nhật… Móng đơn được sử dụng nhiều trong các công trình nhỏ lẻ và có chi phí thi công thấp nhất trong các loại móng. Với cách thi công nhanh nên chi phí thi công các loại móng này sẽ giảm được khá nhiều cả vật tư lẫn nhân công.

2. Móng băng

    Móng băng thường có dạng một dải dài, có thể độc lập hoặc cắt nhau hình chữ thập, để đỡ tường hoặc hàng cột. Việc thi công móng băng thường là việc đào móng xung quanh diện tích đất của công trình hoặc đào móng song song với nhau trong diện tích đó. Nằm dưới hàng cột hoặc tường. Khi không thể dùng móng đơn hoặc móng đơn sát nhau, hoặc để cân bằng độ lún giữa các cột trong cùng một hàng, hoặc dưới tường thì phải dùng móng băng.

    Khi các hàng cột hoặc tường có cả hai phương thì dải móng băng giao nhau có dạng ô cờ trên mặt bằng. Móng băng ở hồi nhà thường dùng phải tốt hơn móng băng dọc nhà, móng băng tường ngăn. Thường đặt đáy móng băng cùng chiều sâu nên móng băng ở hồi nhà thường rộng hơn.

    3. Móng bè

      Loại móng này được trải rộng dưới toàn bộ công trình để giảm áp lực của công trình lên nền đất. Đây là một loại móng được dùng chủ yếu ở nơi có nền đất yếu như các thửa ruộng, ao hồ có sức kháng nén yếu dù không hay có nước hoặc do yêu cầu cấu tạo của công trình. Móng bè là một bản lớn dưới cột rộng theo 2 phương. Bề dày của móng bè từ 0.5 đến 2m với 2 phương chịu lực, cốt thép được bố trí 2 lớp, lớp trên được giữ bởi giá đỡ.

      4. Móng cọc

        Là các loại móng gồm có cọc và đài cọc, dùng để truyền tải trọng của công trình xuống lớp đất tốt đến tận sỏi đá nằm ở dưới sâu. Người ta có thể đóng, hạ những cây cọc lớn xuống các tầng đất sâu, nhờ đó làm tăng khả năng chịu tải trọng lớn cho móng. Móng cọc có nhiều loại:

        * Cọc tre:

        – Cọc tre được sử dụng để gia cố nền đất cho những công trình có tải trọng truyền xuống không lớn hoặc để gia cố cừ kè vách hố đào. Đóng cọc tre là để nâng cao độ chặt của đất, giảm hệ số rỗng dẫn đến nâng cao sức chịu tải của đất nền.

        – Cọc tre được sử dụng ở những vùng đất luôn luôn ẩm ướt, ngập nước. Nếu cọc tre làm việc trong đất luôn ẩm ướt thì tuổi thọ sẽ khá cao (50-60 năm và lâu hơn). Nếu cọc tre làm việc trong vùng đất khô hoặc ướt thất thường thì cọc rất nhanh bị mục nát.

        – Chỉ được đóng cọc tre trong đất ngập nước để tre không bị mục nát, nếu đóng trong đất khô không nước sau đó tre bị mục nát thì lại phản tác dụng làm nền đất yếu đi. Không đóng cọc tre trong đất cát vì đất cát không giữ được nước, thường chỉ đóng cọc tre trong nền đất sét có nước.

        – Ưu điểm: + Giá rẻ + Thi công được ở những vùng đất sình lầy. – Nhược điểm + Không sử dụng, thi công được ở các vùng đất khô, cứng.

        + Móng cọc tre có tuổi thọ tương đối thấp, thông thường tuổi thọ dao động trong khoảng 30 – 40 năm. Sau thời gian này, chủ đầu tư muốn xây dựng công trình mới thì phải nhổ cọc tre cũ đi để đóng lớp cọc mới, điều này dẫn đến tốn thêm chi phí. + Cọc tre chịu được tải trọng thấp, nên muốn làm công trình từ 4 tầng trở lên không thể dùng được phương án móng này.

        * Cọc Betong: Là loại móng được đặt trên các đầu cọc tạo thành các nhóm cọc liên kết với đài và giằng móng tạo thành khối vững chắc.

        – Khi nào dùng cọc Betong: Dùng với những nhà có tải trọng lớn, địa hình phức tạp, đất nền yếu như ao, hồ..

        – Có nhiều phương pháp để thi công ép cọc bê-tông như búa đóng, kích ép, khoan nhồi… Việc lựa chọn và sử dụng phương pháp nào phụ thuộc vào địa chất công trình và vị trí công trình. Ngoài ra còn phụ thuộc vào chiều dài cọc, máy móc thiết bị phục vụ thi công. Một trong các phương pháp thi công ép cọc bê-tông đó là ép cọc bằng kích ép.

        – Ưu điểm:

        + Êm, không gây ra tiếng ồn

        + Không gây ra chấn động cho các công trình khác

        + Khả năng kiểm tra chất lượng tốt hơn: từng đoạn cọc được ép thử dưới lực ép và ta xác định được sức chịu tải của cọc qua lực ép cuối cùng.

        – Nhược điểm:

        + Không thi công được cọc có sức chịu tải lớn hoặc lớp đất xấu cọc phải xuyên qua quá dầy

        Chuẩn bị mặt bằng thi công

        + Chuẩn bị mặt bằng,dọn dẹp và san bằng các chướng ngại vật.

        + Vận chuyển cọc bê-tông đến công trình. Phải tập kết cọc trước ngày ép từ 1 đến 2 ngày (cọc được mua từ các nhà máy sản xuất cọc)

        + Khu xếp cọc phải đặt ngoài khu vực ép cọc, đường đi vận chuyển cọc phải bằng phẳng, không gồ ghề lồi lõm

        + Cọc phải vạch sẵn trục để thuận tiện cho việc sử dụng máy kinh vĩ cân chỉnh

        + Cần loại bỏ những cọc không đủ chất lượng, không đảm bảo yêu cầu kỹ thuật

        + Trước khi đem cọc đi ép đại trà, phải ép thí nghiệm 1 – 2% số lượng cọc

        + Phải có đầy đủ các báo cáo khảo sát địa chất công trình, kết quả xuyên tĩnh.

Biện Pháp Thi Công Móng Nhà Liền Kề / 2023

Nhà liền kề hay còn gọi là nhà ống, nhà phố là loại công trình kiến trúc có chiều ngang tương đối hẹp, nằm liền sát nhau. Chính vì vậy mà việc thi công móng nhà liền kề cũng có những yếu tố rất đặc thù. Chủ đầu tư cũng như người thi công cần phải nắm bắt rõ ràng về vấn đề này.

“”” Biện pháp chống nóng trên sân thượng hiệu quả

Móng là công đoạn quan trọng bậc nhất trong việc xây dựng. Nó không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến công trình mà còn ảnh hưởng đến các công trình lân cận.

Phần lớn rắc rối nghiêm trọng khi xây nhà phát sinh từ nhà liền kề. Nếu ngay công đoạn làm móng đã gây ảnh hưởng đến nhà liền kề, bạn khó lòng tiếp tục các việc khác một cách thuận lợi. Hơn nữa lại mất thêm chi phí đền bù cho nhà lân cận không nhỏ. Do đó, làm móng là một công đoạn cần sự đầu tư.

Có hai loại móng: móng nông và móng cọc.

Móng nông

Móng nông như móng đặt trực tiếp lên nền đất, cọc tre, móng Top-base…

Ưu điểm là thi công đơn giản, tốn ít chi phí và không gây ảnh hưởng đến nhà liền kề.

Nhược điểm là sức chịu tải kém, không xây được nhà nhiều tầng. Với nền đất yếu, nếu xây nhà trên 4 tầng trở lên thì không thể dùng móng nông.

Móng cọc

Móng cọc ép

Loại móng cọc được dùng phổ biến nhất là móng cọc ép.

Ưu điểm: chịu được tải trọng lớn, cho phép xây được nhà nhiều tầng.

Nhược điểm: dễ khiến nhà liền kề bị nứt, lún, bong nền, đội nền, chuyển dịch. Nhất là khi xây nhà trên nền đất cứng, đất sét. Thể tích khối bê tông chèn xuống sẽ làm dâng khối đất lên, chèn ép vào nhà liền kề tạo ra lực tác động mạnh.

Móng cọc khoan nhồi

Phương án đảm bảo nhất để không gây tác động vào nhà liền kề là dùng móng cọc khoan nhồi. Cọc khoan nhồi có sức chịu tải rất lớn. Việc thi công cọc khoan nhồi tạo ra độ chấn dung nhỏ, không đẩy các cọc chắn có xung quanh sang hai bên, không gây ra hiện tường trồi đất. Do đó không gây nứt lún nhà liền kề.

Ưu điểm áp đảo của cọc khoan nhồi so với cọc ép là có sức chịu tải cao hơn. Có thể đặt vào các lớp đất rất cứng, thậm chí là lớp đá, địa tầng thay đổi phức tạp.

Nhược điểm: Giá thành của cọc khoan nhồi cao gấp 1,4-1,7 lần cọc ép thông thường. Hơn nữa lại khó kiểm soát chất chất lượng. Việc thi công cọc khoan nhồi phải được thi công và giám sát bởi kỹ sư có trình độ chuyên môn cao. Sau đó còn cần đến biện pháp thí nghiệm kiểm tra bằng phương pháp siêu âm để xác định chất lượng của cọc. Chính vì hai lý do trên, rất nhiều người ngại sử dụng cọc khoan nhồi cho công trình dân dụng.

Tuy nhiên, trong trường hợp nên dùng cọc khoan nhồi. Bạn không nên tiết kiệm mà nên đầu tư.

– Một là, dù cọc khoan nhồi sẽ làm tăng chi phí lên 1,4- 1,7 lần so với cọc ép. Nhưng sẽ tránh cho bạn mất cả tỷ đồng đền bù nhà liền kề khi sự cố xảy ra.

Biện pháp thi công móng nhà liền kề

Việc thiết kế và thi công móng nhà liền kề có điểm đặc biệt là nó nằm ngay cạnh móng nhà hàng xóm. Chúng ta không được phép đổ bê tông trực tiếp vào móng nhà hàng xóm, lấy móng nhà kia làm cốp pha. Nhiều đội thợ làm ẩu, không cần đặt cốp pha ngăn cách 2 móng. Điều này sẽ gây ra nhiều hệ lụy nghiêm trọng, ảnh hưởng lớn đến ngôi nhà của bạn sau này.

Đối với móng nhà loại này, chúng ta cần đặt móng cách nhau khoảng 2 – 3 cm. Khoảng cách này còn được gọi là khe biến dạng (khe nhiệt, khe lún, khe co giãn, khe kháng chấn…). Nó có vai trò rất quan trọng nếu không để ý được chi tiết nhỏ này. Do 2 nhà xây dựng ở các thời điểm khác nhau, tải trọng công trình khác nhau. Do đó việc lún không đều, lún lệch là điều đương nhiên.

Ngoài lún thì 2 nhà có thể biến dạng theo các phương khác nhau. Có thể dịch chuyển tương đối với nhau. Có thể tiến sát vào nhau, hay tách ra xa nhau ở những thời điểm khác nhau, nhiệt độ khác nhau. Nếu không có khe biến dạng thì có thể sẽ gây nứt ngôi nhà đẹp của bạn. Điều này là rất cần phải tránh.

Vì thế, hãy suy nghĩ kỹ việc chọn móng nhà khi đã có hồ sơ địa chất trong tay cũng như cẩn thận trong thiết kế nhà đẹp. Thi công để công trình hoàn thành đúng tiến độ và không ảnh hưởng đến nhà liền kề.

Cấu Tạo Và Biện Pháp Thi Công Xây Dựng Các Loại Móng Nhà Cấp 4, Nhà Ở Dân Dụng / 2023

Móng gạch là loại phổ biến nhất trong thi công nhà cấp 4, nhà ở dân dụng ở Việt Nam trước đây vì nó thích hợp với kỹ thuật xây dựng thủ công, lợi dụng được vật liệu địa phương và rẻ tiền. Móng gạch dùng khi bề rộng đáy mómg B < 1,5 m thì mới kinh tế.

Để phù hợp với cỡ gạch (5,5 x 10.5 x 22cm, mạch vữa ngang 1,5 cm, mạch vững đứng lcm), có hai phương pháp xây giật cấp.

Độ cao bậc móng có thế lấy là 7, 14, 7, 14, 7, 14,…

Độ cao bậc móng cũin° có thể lảv là 14, 14. 14, 14,…

Chiều rộng mỗi lần giật trung bình bằng 1/4 chiều dài viên gạch. Góc cứng của hai phương pháp này là 26°5 và 33°5 thì tương đối kinh tế nhưng phải dùng vữa ximăng cát để xây.

Gối móng và tường móng phải được xây bằng cạch có cường độ 75 kg/cm với vữa ximăng cát 1 : 4 hoặc 1 : 3 (cho nhà cấp II, cấp III) hay vữa tam hợp 1:1:4 hoặc 1:1: 6 (cho nhà cấp 4).

Bậc cuối cùng của gối móng thường dày 15 – 30 cm và tùy theo cấp nhà mà làm bằng bê tông đá dăm hay bê tông sạch vỡ mác từ 100 đến 150.

Lớp đệm móng ở đây với tác dụng làm sạch và bảo vệ để móng thường làm bằng cát đầm chặt dày 5 – 10 cm.

Đối với móng lệch tâm ở khe lún bậc móng nên rộng bằng 1/2 chiều dài viên sạch và cao 14 hoặc 21 cm (hai hoặc ba hàng gạch).

Móng đá hộc

Móng đá hộc là loại thi công xây dựng phổ biến dùng trong nhà cấp 4, nhà dân dụng thấp tầng – nhất là ở nơi có nhiều đá

Tuỳ theo tải trọng truyền xuống móng lớn hay nhỏ, đất khỏe hay yếu mà có thể cấu tạo.

Do kích thước của đá lớn và không đều nhau cho nên chiều rộng tối thiểu của gối móng phải bằng 50 cm, bảo đám kích thước của mỗi viên đá không lớn hơn 1/3 chiều rộng của móng.

Với móng có giật bậc, chiều cao mỗi bậc thường không nhỏ hơn 50 cm. Đá hộc dùng xây móng phải có cường độ 200 kg/cm2.

Chất liên kết có thể dùng vữa tam hợp 1:1:5 hoặc 1:1:9 hay vữa ximăng. cát 1 : 4.

Lớp đệm thường là cát đầm chạt dày 5-10 cm hoặc là lớp bêtông gạch vỡ, bêtông đá dăm 15-30 cm tùy theo tình hình nền móng.

Móng bêtông

Móng bêtông nói chung dùng ximăng làm vật liệu liên kết và dùng những cốt liệu khác nhau như đá dăm, sỏi, cát, gạch vỡ… tạo thành. Thi công xây dựng với những ngôi nhà có thể lên 3 tầng và có tải trọng lớn hoặc móng sâu đều có thể dùng móng bêtông .

Số hiệu bêtông trong móng bêtông do tính toán quyết định, nói chung không nhỏ hơn 50, góc cứng có thể đạt 45 độ.

Hình đáng móng bêtông thường hình thang hoặc giật cấp. Khi chiều cao móng từ 400 đến 1000 mm thì chọn hình giặl cấp. Đối với móng bêtông có thế tích lớn hơn như móng của thiết bị loại lớn của kiến trúc công nghiệp thì có thể thêm đá hộc vào bêtông và gọi là bêtông đá hộc. Tổng thể tích đá hộc có thể chiếm 30 – 50% tổng thể tích của móng, như thế có thể tiết kiệin được ximăng.

Kích thước mỗi viên đá hộc dùng trong móng bêtông đá hộc cũng không được vượt quá 1/3 chiều rộng của móng, đường kính của nó cũng không được vượt quá 300 mm, khoảng trống giữa các viên đá hộc không nhỏ hơn 40 mm.

Lớp đệm móng thường là lớp cát dày 5-10 cm

Mếu độ sâu chôn móng bị hạn chế hoặc yêu cầu của nhà cần có móng ổn định và cường độ cao (như nhà chịu chấn động lớn) thì cũng không thể dùng móng gạch, đá hoặc bêtông được mà phải dùng móng bêtông cốt thép.

Hình đáng mặt cắt của móng bê tông cốt thép cũng không bị hạn chế, có thể hình chữ nhát, hình thang, nhưng thường dùng hơn cả là hình thang.

Móng băng và móng trụ láp ghép

Đối vói những nơi đất rắn tốt, có thể không cần lớp đệm móng hay có chăng nửa cũng chỉ là một lớp cát đầm chặt dày 5 cm để làm phẳng đáy móng. Những nơi đất yếu, ướt át thì cần có lớp đệm bêtông gạch vỡ mác 50 dày 10 – 15 cm.

Móng băng lắp ghép

Để đẩy mạnh tốc đô thi công đáp ứng, với trình độ công nghiệp hóa xây dựng ở các nước tiên tiến người ta rất hay dùng các móng bêtông cốt thép lắp ghép.

1- tường móng; 2- gối móng; 3- lỗ chèn mạch

Trường hợp đối với đất yếu, để tăng cường độ cho móng người ta cấu tạo thêm một giằng móng bêtông cốt thép nàm giữa gối móng và tường móng. Giằng móng bêtông cốt thép dày 10 – 15 cm đổ toàn khối hoặc ghép bằng các cấu kiện đúc sẵn, sau hàn lại với nhau. Mác bêtông dùng để đổ giằng móng là 150, hoặc có thể cấu tạo bằng một lớp vữa ximăng cát mác 50 dày 3-5 cm trong có cốt thép (bốn đến sâu thanh đường kính 8-10 mm, cách nhau 30 – 40 cm. Để làm nhẹ móng và tiết kiệm bê tông các khối tường móng thường làm rỗng.

Móng trụ lắp ghép

Cũng để tăng cường độ cứng cho tường móng lắp ghép người ta dùng lưới thép ở chỗ liên kết giữa các khối tường móng ngang và dọc vói lưới thép hàn đường kính 6-10 mm.

Móng lắp ghép đút quãng : loại móng này làm bằng những khối gối móng bêtông cốt thép (đùng cho móng băng) đặt cách nhau theo yêu cầu của tính toán và cấu tạo, giữa các khối móng người ta đổ đất. ứng dụng các khối gối móng đứt quãng cho phép tiết kiệm được 20% khối lượng bêtông.

Đối với móng trụ lắp ghép dưới tường thì trụ móng và dầm móng nếu to và nặng quá Thì có thể chia làm hai hay ba khối nhỏ vói điều kiện mặt phẳng phân chia của dầm và trụ phải vuông góc với nhau. Gối móng thường là một tấm liền.

Đối với móng trụ lắp ghép dưới cột gối móng có thể chia thành hai hay ba lớp với những khối nhỏ đặt vuông góc hoặc để nguyên cấu tạo theo hình cốc. Chất liên kết giữa các khối ghép nối với nhau hoặc cột gán với móng đều bằng vữa ximăng cát 1 : 3 hay 1 : 4.

Để bảo vệ cho nước ngầm không thấm lên nền nhà tầng hầm, tầng một hay chân tường bệ nhà, người ta thường giải quyết bằng một lớp cách ẩm ở phẩn tường móng.

Với nhà không tầng hầm, có mực nước ngầm thấp, lớp cách ẩm này đặt ngang mức với lớp chuẩn bị của nền, tức lớp bêtông gạch vở ở cốt cao độ ± 0,00.

Ở một số nước, lớp cách ẩm dược cấu tạo bằng 2 – 3 lớp giấy dầu đán trên nhựa bitum. Ở Việt Nam, người ta giải quyết bằng lớp ximăng cát vàng 1 ; 2 hay 1 : 3 dày 2 – 2,5 cm.

Lớp cách ẩm này phải đặt cao hơn mặt vỉa hè ít nhất là 10 – 15cm.

Trường hợp nền tầng một không phải cấu tạo ngay trên đất mà trên dầm thì lớp cách ẩm này phải đặt thấp hơn mức điểm tựa của dầm là 5-15 cm. Nếu nhà có tầng hầm thì phải cấu tạo hai lớp cách ẩm: lớp thứ nhất ngang với lớp bêtông chuẩn bị của nền tầng hầm, lớp thứ hai trong bệ nhà, cách vỉa hè phía trên 10 – 15 cm.

Móng nhà có tầng hầm

Khi mực nước ngầm thấp thì chỉ cần quét hai lớp bitum lỏng hoặc miết đất sét bên ngoài tường, trát vữa ximăng cát 1 : 3. Khi mực nước ngầm cao hơn mặt nền tầng hầm thì cần lưu ý cấu tạo cẩn thận. Đối với sàn tầng hầm thường trên lớp cách ẩm của sàn còn cấu tạo một lớp bê tông toàn khối (có thể là bêtông thường hoặc bêtông cốt thép) và phủ lớp áo sẳn.

Nếu mực nước ngẩm cao hơn nền tầim trệt, đc chống thấm người ta thường làm một lứp ốp chạy xunụ quanh tường và trên nền. Lớp ốp này phải đàn hồi, không tạo kẽ nứt khi kết cấu biến dạng và có thể được làm bằng một hay hai lớp giấy dầu đán lên nhau bằng nhựa butum. Phía bên ngoài lớp chống thấm này xây lớp tường con kiến, ngoài cùng là lớp đất sét. Những lớp này phải cao hơn mực nước ngầm ít nhất 50 cm để dễ phòng mực nước lên xuống thay đổi.

Nếu xây nhà trên nền đất dốc thì đáy móng lùy theo địa hình cao thấp mà làm thành hình bậc thang, chiều cao mỗi bậc không lớn hơn 1000 cm.

Khi gặp hố, chỗ đất xấu, cống… móng phải xây cuốn vượt qua, chân cuốn phải cách chỗ đất yếu hoặc mép cống tối thiểu lm (hình 2.23).

Móng phải có tác dụng chắn đất, tạo tầng hầm. Tầng hầm có thổ nằm dưới mặt đất, hoặc nửa nổi nửa chìm. Tầng hầm phải bỏ trí giếng lấy ánh sáng và đường ống thoát nước.

VIETNAM12H.COM

Kết Cấu Móng Băng Nhà 3 Tầng Và Quá Trình Thi Công Móng Băng / 2023

Hầu hết những công trình lớn hiện nay với quy mô hai tầng trở lên thường dùng móng băng. Thiết kế kết cấu móng băng nhà 3 tầng sẽ đủ lực để tải công trình phía trên nhằm đảm bảo an toàn chất lượng của một ngôi nhà.

Móng băng là loại móng nằm dưới hàng cột hoặc tường, thường có dạng một dải dài, có thể độc lập hoặc giao nhau theo hình chữ thập, được dùng để đỡ tường hoặc cột. Các loại móng băng sử dụng trong xây dựng nhà có thể là móng cứng, móng mềm hoặc móng kết hợp.

Tùy thuộc và địa hình cũng như diện tích hay độ cứng, độ lún của nền đất mà chúng ta quyết định sử dụng những loại móng phù hợp để đảm bảo an toàn chất lượng cho công trình xây dựng.

Tuy nhiên móng băng thường được sử dụng nhiều nhất đối với hầu hết công trình đặc biệt là thi công nhà phố và các công trình nhà ở từ 3-5 tầng đặc biệt là khu vực đô thị thành phố.

Móng băng với phương thức chịu lực rất đặc biệt, lực tác động lên móng băng được chia đều ra và không tập chung ở bất kì một vị trí nào. Vì vậy móng băng là lựa chọn số một cho mọi công trình.

Ưu điểm của kết cấu móng băng nhà 3 tầng

Kết cấu móng băng nhà 3 tầng giúp cho sự liên kết giữa tường và cột trở nên chắc chắn hơn theo phương thẳng đứng.

Ngoài ra móng băng còn có tác dụng làm giảm áp lực đáy móng giúp cho việc truyền tải trọng lượng công trình xuống phía dưới được đều hơn.

Đôi với các công trình nhà ở từ 3 tầng trở lên, người ta hay dùng móng băng, còn móng đơn thì phù hợp hơn với nhà cấp 4 hoặc nhà 2 tầng.

Tham khảo cấu tạo cũng như kết cấu móng băng nhà 3 tầng để có thêm những thông tin chi tiết cần thiết để có thêm kinh nghiệm xây nhà cũng như hiểu thêm về quy trình của thi công móng băng.

Kết cấu móng băng nhà 3 tầng được thiết kế tỉ mỉ bao gồm lớp bê tông lót móng, bản móng chạy liên tục liên kết móng thành một khối kiến cố. Nhờ vào sự liên kết giữa các thanh thép ngang mới tạo nên một hệ thống móng vững chắc và đúng quy trình kỹ thuật thi công.

Đầu tiên của kết cấu móng băng nhà 3 tầng là lớp bê tông lót dày 100mm. Lớp bê tông lót này thì càng dày càng có lợi cho công trình, lớp đầu tiên là tránh việc tiếp xúc của thép với mặt đất vì đất khả năng kết dính với bê tông là không cao có thể bị sạt lún gây ra hiện tượng móng bị xô lệch không đúng kích thước yêu cầu kỹ thuật.

Kích thước bản móng phổ thông của kết cấu móng băng nhà 3 tầng: (900-1200)x350 (mm).

Kích thước dầm móng phổ thông trong thi công kết cấu móng băng nhà 3 tầng được đề xuất với kích thước như sau: 300x(500-700) (mm).

Thép bản móng phổ thông: Φ12a150.

Thép dầm móng phổ thông: thép dọc 6Φ(18-22), thép đai Φ8a150.

Tất cả các số liệu được đưa ra ở trên là con số phổ biến được thống kê theo số đông của những bản vẽ thiết kế mẫu nhà đẹp 3 tầng . Còn khi bạn thiết kế công trình kiến trúc…. thì nên chọn những kích thước phù hợp với diện tích đất cũng như bản vẽ thiết kế của kiến trúc sư.

Cần chú ý rằng vật liệu thép được sử dụng cho phần móng băng phải là loại thép chống gỉ cao cấp nhất vì nó là hệ thống chịu toàn bộ lực từ trên tác động xuống. Nên sử dụng số lượng đúng như trong bản vẽ thiết kế.

Trong xây dựng, móng băng có thể là móng cứng, móng mềm hoặc móng kết hợp. Các loại móng này được sử dụng một cách linh hoạt tạo nên sự đa dạng trong thiết kế thi công kết cấu móng băng nhà 3 tầng. Tùy thuộc vào vị trí địa lý, nền đất để sử dụng móng phù hợp..

Để có được một bản kết cấu móng băng nhà 3 tầng hoàn chỉnh thì sẽ phải trải qua các bước làm việc nghiêm ngặt, trong thi công không thể bỏ qua bất cứ một bước nào và không được đốt cháy giai đoạn, nó bao gồm:

1. Giải phóng mặt bằng – Công tác chuẩn bị

Giải pháp mặt bằng được xem là công tác chuẩn bị căn bản đầu tiện trong quá trình thi công kết cấu móng băng nhà 3 tầng. Công tác giải phóng mặt bằng, chuẩn bị nguồn nhân công, phương tiện máy móc, nguyên vật liệu cho quá trình thi công móng băng nhà 3 tầng.

Các nguyên vật liệu như thép, cất xi măng, đá.. cần được chuẩn bị chu đáo cả về số lượng và chất lượng để đảm bảo kết cấu móng băng nhà 3 tầng chất lượng, chịu trọng tải tốt.

Các phương tiện máy móc thiết bị thi công cũng cần được chuẩn bị ổn thỏa để đảm bảo tiến độ của quá trình thi công.

Bức tiếp theo của quá trình thi công kết cấu móng băng nhà 3 tầng là san lấp mặt bằng, công tác đất. Việc dọn dẹp khu đất xây dựng sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình thi công được tiến hành nhanh, thuận tiện trong điều kiện tốt nhất không ảnh hưởng đến tiến độ.. Theo kinh nghiệm thi công nhà thì đất tại khu vực đó cũng được xử lí một cách bài bản như sau:

Xác định trục công trình trên mặt bằng khu đất dựa theo bản thiết kế có sẵn.

Đào móng theo trục công trình đã được xác định.

Dọn sạch khu vực móng vừa đào, đảm bảo cho khu vực móng trong điều kiện khô ráo nhất (hút nước nếu xuất hiện nước dưới phần hố móng)

Công tác cốt thép của quá trình thiết kế kết cấu móng băng nhà 3 tầng được tổ chức thực hiện linh hoạt, cốt thép có thể gia công tại hiện trường thi công hoặc được gia công tại các nhà máy nhưng vẫn đảm được yêu cầu có giới phù hợp với khối lượng thép tương ứng.

Trong quá trình lắp ráp cốt thép, sử dụng mối hàn hay biện pháp cơ giới, cần chú ý đến công tác làm dịu mối hạn tránh gây chút cốt pha.

Cốt thép phải được bố trí theo đúng phương án bản vẽ kết cấu móng băng nhà 3 tầng tránh trường hợp thợ đặt theo kinh nghiệm. Kết cấu móng băng nhà 3 tầng có nhiều yếu tố khác nhau nên cẩn thẩn trong việc bố trí để tránh đặt sai phương chịu lực của thép, tránh làm giảm tác dụng của cả hệ kết cấu cốt thép.

Các thanh thép cần đạt tiêu chuẩn về chất lượng, các thanh thép bị giảm tiết diện do các yếu tố khách quan không vượt quá giới hạn cho phép 2% đường kính.

Các cốt thép gia công kết cấu móng băng nhà 3 tầng cần có độ dẻo dai, thuận tiện cho công tác gia công uốn nén phù hợp với hình dạng công trình. Vì phần móng thường phải uốn nắn rất nhiều chi tiết phù hợp với hình dạng của công trình. Thép được gia công bởi các bước sau đây:

Gia công thép theo đúng yêu cầu kĩ thuật

Lót gạch hoặc bê tông để tạo khoảng trống với phần đất nền móng.

Đặt các bản kê lên phía trên bê tông (gạch) lót.

Đặt thép móng băng

Đặt thép dầm móng

Đặt thép chờ cột

Công tác cốp pha trong kết cấu móng băng nhà 3 tầng hay bất kì một công trình biệt thự 3 tầng đẹp, biệt thự 2 tầng nào cũng đều được đặt theo lưới thép định trước

Lắp đặt hệ thống ván khuôn cho quá trình đổ bê tông nền móng, ván khuôn được lựa chọn phải phù hợp với từng loại móng và đảm bảo kĩ thuật trong quá trình thi công.

Các thanh chống lên thành đất phải được kê trên những tấm gỗ dày ít nhất 4cm nhằm làm giảm lực xô ngang khi tiến hành đổ bê tông.

Tim móng và cột phải luôn được định vị và xác định được cao độ.

Tránh việc bị bung ván khuôn khi đang đổ bê tông, ván khuôn phải thiết kế chịu lực khi dầm sàn bằng máy.

Khâu cuối cùng trong thiết kế kết cấu móng băng nhà 3 tầng là quá trình đổ bê tông, nói đòi hỏi phải có sự cần thận để đảm bảo chất lượng của móng công trình.

Quá trình đổ bê tông là quá trình đòi hỏi sự cẩn thận để đảm bảo chất lượng móng của công trình vì thế bê tông thi công móng phải được trộn đúng quy cách, thời gian cũn như đảm bảo tiêu chuẩn về chất lượng.

Các vật liệu như Đá, Cát, Sỏi dùng để trộn bê tông phải đảm bảo có chọn lọc đúng kích cỡ hạt cho chất lượng bê tông ra tốt hơn và không có bong bóng trong lỗ rỗng bê tông thành phẩm.

Mặt cắt bê tông có hình thang, độ nghiêng mái dốc nhỏ không cần phải ghép cốp pha trên bề mặt mà chỉ cần ghép hai bên thành. Sau khi đổ bê tông cần nhanh chóng sử dụng các loại đầm bàn, đầm dùi để nén bê tông cho bê tông không bị chảy và chắc.

Trong quá trình thi công kết cấu móng băng nhà 3 tầng cần tránh để cho hố móng bê tông bị ngập nước. Bê tông ngập nước làm giảm chi tiêu chất lượng, làm giảm tính liên kết của vữa, xi măng giảm sút nghiệm trọng.

Khi thi công xong phải thường xuyên giám sát che chắn kỹ càng, kiểm tra các góc nối cốp pha xem có bong nứ hay không. Nếu có phải xử lý ngay nếu không hình dạng của móng sẽ bị biến dạng, sai kinh thước phần nào sẽ ảnh hưởng đến kết cấu móng băng nhà 3 tầng.

Những lưu ý khi thi công kết cấu móng băng nhà 3 tầng

Tiến hành khảo sát địa chất thật kỹ trước khi tiến hành thi công nhà 3 tầng

Thiết kế cần phải phù hợp với diện tích, kết cấu

Thi công an toàn, đảm bảo đúng kỹ thuật

Chất lượng nguyên vật tư, vật liệu sử dụng cần đảm bảo tốt nhất

Lựa chọn nhà thầu thi công có kinh nghiệm trong xây dựng để đảm bảo chất lượng, an toàn cho công trình

Giám sát thi công cẩn thận để quá trình thi công diễn ra an toàn, đúng kỹ thuật

ROMAN – một trong những công ty xây dựng nhà ở uy tín chuyên nghiệp được nhiều khách hàng tin tưởng hiện nay. Sở hữu đội ngũ kiến trúc sư, kỹ sư chuyên nghiệp với trình độ chuyên môn cao, tận tậm với nghề. Chúng tôi không ngừng mang đến những công trình nhà ở đẹp, đảm bảo chất lượng tốt nhất với chi phí phù hợp.