Các Biện Pháp Nghệ Thuật So Sánh / TOP #10 ❤️ Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 9/2022 ❣️ Top View | Phauthuatthankinh.edu.vn

Biện Pháp Nghệ Thuật So Sánh Trong Ca Dao Ở Chương Trình Thpt

Bài Văn Mẫu Giới Thiệu Một Số Biện Pháp Nghệ Thuật Thường Gặp Trong Ca

Giới Thiệu Một Số Biện Pháp Nghệ Thuật Thường Gặp Trong Ca Dao Yêu

Soạn Bài Ca Dao Hài Hước

Soạn Bài Ca Dao Hài Hước Ngắn Gọn Nhất Văn 10: Những Biện Pháp Nghệ Thuật Thường Được Sử Dụng Trong Ca Dao Hài Hước

Tuần 10. Ca Dao Hài Hước

chứa đựng biết bao phẩm chất, niềm tin của cô về nhân phẩm của mình. Mặt khác, "nước" còn là biểu trưng cho số phận hẩm hiu của những cuộc đời mồ côi lạc lõng. Chàng ơi! Thương thiếp mồ côi, Như bèo cạn nước biết trôi đằng nào. Phản ánh sự phong phú trong biểu hiện của "sông nước" nhân dân ta đồng thời cũng bộc lộ khả năng quan sát tinh tường của mình trong cuộc sống hàng ngày. Chỉ có khi nắm vững những đặc tính của thiên nhiên thì nhân dân ta mới có thể đưa vào những hình tượng này những ý nghĩa biểu trưng đa dạng như vậy. Nhìn chung, tác giả dân gian đã thật sự phát huy đặc trưng bản chất của so sánh. Trong thế giới hình tượng thuộc về thiên nhiên, nhân dân ta đã đưa vào đó tất cả những tâm tình, những kinh nghiệm sống của mình. Bằng những biểu tượng nghệ thuật đa dạng. 2.Hệ thống hình ảnh so sánh thuộc thế giới thực vật. Hình tượng Số lần xuất hiện Hoa Bèo Sen 8 9 5 Khác với nề văn chương bác học, ca dao ta sử dụng một hệ thống hình tượng rất dân dã. Thật vậy, chúng ta hãy thử nhìn lại bảng thống kê. Bước vào ca dao, không phải là những thứ cao sang, quyền quý hay cổ điển ước lệ mà đó là một hình ảnh rất giản dị, gần gũi. Trong nhóm này, "hoa" là hình tượng được nói đến nhiều nhất. Một dòng sông dài ngun ngút, một cánh bèo trôi dạt lênh đênh. Tất cả đã đem lại nguồn cảm hứng vô tận cho cho những tâm hồn nhạy cảm. Thế nhưng cảm hứng chung mà người nghệ sĩ dân gian gửi vào cánh "bèo" là sự thấp kém, nghèo khó, là thân phận hẩm hiu. Để nói về thân phận bấp bênh của người phụ nữ ngày xưa, cánh bèo đã hiện lên với tất cả sự vô định, lạc loài của mình. Thân em như thể cánh bèo, Ngược xuôi, xuôi ngược theo chiều nước trôi. Hay: Thiếp than cha mẹ thiếp nghèo, Thiếp than phận thiếp như bèo trôi sông. Cùng có nét tương đồng là sự thấp kém, lạc lõng nên "cánh bèo" cũng được biểu trưng cho những người mồ côi. Chàng ơi! Thương thiếp mồ côi, Như bèo cạn nước biết trôi đằng nào. Trên mặt nước "bèo" đã lênh đênh vô định nhưng dù sao đó cũng là cuộc sống chính. Nhưng khi nước cạn rồi thì thân phận ấy sẽ ra sao?. Vì vậy, "cánh bèo cạn nước" là biểu trưng cho sự đau khổ, bơ vơ đến tột cùng. Trên dòng chảy chung của cảm hứng về thân phận con người qua hình ảnh "cánh bèo" thì "sen" cũng được nhắc đến. Bởi lẽ, đối lập với ý nghĩa về sự thấp kém của bèo là sự thanh khiết, cao quý của "sen": Thân chị như cánh hoa sen, Chúng em như bèo bọt chẳng chen được vào. Nhưng cũng có khi dựa vào ý nghĩa thường trực là sự thanh khiết thì "sen" cũng được so sánh để chỉ sự oen ố. Đem thân vào chốn cát lầm, Cho thân lấm láp như mầm hoa sen. Nhìn chung, viết về "cánh bèo, hoa sen" ta thường bắt gặp hai ý nghĩa biểu trưng đối lập nhau. Thế nhưng cả hai hình tượng này đều có chung một điểm là thường được so sánh với người phụ nữ. Dù là những thực vật sông nước, vốn nhỏ bé, yếu ớt nhưng "bèo, sen" cũng đã trở thành những hình tượng quen thuộc mà xúc động trong lòng của mỗi người khi tiếp nhận ca dao. Phần lớn, "hoa" thường biểu trưng cho người con gái, "hoa" được so sánh đi liền với cái đẹp: Nhát trông thấy bóng một người Răng đen nhưng nhứt, miệng cười như hoa Trong tình yêu, hoa còn là hình tượng luôn đi liền với "bướm". Vì vậy, "hoa - bướm" là hình ảnh biểu tượng cho người con trai và người con gái. Em như hoa nở trên cành, Anh như con bướm lượn vành trên hoa. Khi đôi trai gái được gắn bó bên nhau hoa cũng được dùng làm biểu tượng ẩn dụ: Mình với ta như con một nhà, Như áo một mắc như hoa một chùm 1. Hệ thống hình ảnh so sánh thuộc thế giới động vật. Hình tượng Số lần xuất hiện Cá Chim Bướm 8 6 4 Không chỉ thế giới thực vật mà thế giới động vật cũng là mãnh đất phì nhiêu cho vườn cây tâm hồn của thi sĩ đơm hoa kết trái. Nhiều nhất trong nhóm hình tượng này là "chim" và "cá". Cánh "chim" thường tự do tung bay trên bầu trời cao rộng bao la. Vì thế, cánh chim như chở lấy ước mơ của nhân dân ta về một cuộc sống thanh bình, hạnh phúc. Trong ca dao, đặc biệt là ca dao về tình yêu đôi lứa, hình tượng "chim" đã chở lấy những cung bậc tình cảm, những nỗi buồn, niềm vui mà bao trái tim yêu hằng ấp ủ. "Cánh chim" cũng được nói đến với niềm vui và niềm hạnh phúc : Sao cho trong ấm ngoài êm, Như thuyền có bến, như chim có bầy Nếu "chim có bầy" là hình ảnh biểu tượng cho niềm vui, hạnh phúc thì "chim lạc đàn" là ẩn dụ, biểu tượng cho nỗi buồn, cho sự nhớ mong xa cách. Thương nhau nên phải đi tìm, Nhớ nhau một lúc như chim lạc đàn. Hình tượng "chim" bước vào ca dao không chỉ là những hình tượng đơn lẽ mà nó còn kết hợp với các yếu khác để tạo ra một ý nghiã biểu trưng phù hợp. So sánh là một biện pháp dựa trên sự tương đồng, nhưng so sánh cũng dựa vào sự tương đồng đó để tạo ra sự đối lập. Đó là lí do biến hình tượng "chim" thành hình ảnh ẩn dụ cho người phụ nữ đã có chồng ngày xưa. Bây giờ em đã có chồng, Như chim vào lồng, như cá cắn câu. Hình ảnh so sánh "chim vào lồng" như đã nói lên được tất cả sự tù túng mất tự do. Cánh chim không còn được làm chủ cả một bầu trời rộng lớn thì cũng như cô gái không còn có được sự tự do trong cuộc sống của mình. Với đặc trưng là công khai hai vế nên so sánh đã giúp ta xác định chính xác đối tượng được nói đến, xác định ý nghĩa biểu trưng của hình tượng. Cũng như "cánh chim" thường là hình ảnh ẩn dụ cho người con gái. Nhưng cái quan trọng hơn trong biện pháp này không phải là ý nghĩa bề nổi đó mà là những màu sắc tình cảm bên trong. Vì vậy, "cá" cũng được nói đến và thường là hình ảnh ẩn dụ cho người con gái. Nhưng ẩn sau ý nghĩa đó là cả một thế giới tâm hồn phức tạp của người nghệ sĩ. Trong phạm vi tài liệu, những hình ảnh so sánh dùng hình tượng "cá" cũng khá nhiều. Điều này làm cho hình tượng "cá" trở nên rất quen thuộc trong ca dao. Nói đến "cá" thì chúng ta thường liên tưởng ngay đến môi trường sống, đó là "nước". Trong ca dao, hình ảnh "cá, nước" kết hợp với nhau để biểu trưng cho hạnh phúc, cho sự gắn bó lâu dài của đôi trai gái. Tình cờ bắt gặp mình đây, Như cá gặp nước, như mây gặp rồng. Hay: Đôi ta gắn bó dài đồng, Như cá gặp nước, như rồng gặp mây. Nếu nói "cá" thường biểu trưng cho người con gái thôi thì vẫn chưa đủ. Bởi lẽ trong so sánh "cá" còn là hình ảnh chỉ người con gái với đặc trưng là đối tượng săn đuổi của các chàng trai. Em như con cá giữa vời, Ai nhanh tay thì được, ai chậm lời thì thôi. Rõ ràng "cá" không hề khô cứng với ý nghĩa bề nổi mà chúng ta còn bắt gặp ở đây bóng dáng của cảm hứng về thân phận. Con cá rơi vào tay ai thì vẫn còn tuỳ thuộc vào từng người bắt cũng như cuộc đời của cô gái vậy. Chính vì vậy, người bắt được thì mãn nguyện, hạnh phúc nhưng ai không bắt được thì tiếc rẽ vô cùng Em như cá lượn đầu cầu, Anh về lấy lưới, người câu mất rồi. Chương 3 Ý NGHĨA, GIÁ TRỊ CỦA BIỆN PHÁP NGHỆ THUẬT SO SÁNH TRONG CA DAO. 1. Giá trị tạo hình. Như chúng ta đã biết, nói đến văn chương là nói đến tính hình tượng. Muốn hiểu được những trăn trở, tâm tư của người nghệ sĩ thì nhất thiết phải thông qua hệ thống hình tượng. Trong ca dao, đặc biệt ở biện pháp nghệ thuật so sánh, tính hình tượng đã tạo nên những giá trị nghệ thuật độc đáo. So sánh là cách đối chiếu giữa hai đối tượng khác loại, một bên là thế giới hiện thực mà nhân dân ta rút ra từ cuộc sống và một bên là tâm trạng, tình cảm của con người. Dựa trên sự liên tưởng tương đồng để nhân dân ta có thể phản ánh một cách sâu sắc tâm trạng của mình. Điều này cũng đồng nghĩa với việc nhân dân ta đã xây dựng một hệ thống hình ảnh bên ngoài mà sức sống của hình ảnh đó lại là điều mà nhân dân ta muốn giãi bày. Nhiệm vụ của chúng ta là dựa trên những hình ảnh đó để tìm hiểu nội dung phản ánh của vấn đề. Với đặc trưng đó, bao giờ cũng vậy, so sánh có giá trị tạo hình rất cao . Ví dụ: Thương ai rồi lại nhớ ai, Mặt buồn rười rượi như khoai mới trồng. Ở đây, nỗi nhớ thương của nhân vật trữ tình được gửi vào hình ảnh "khoai mới trồng". Dựa vào kinh nghiệm rút ra được từ cuộc sống của mỗi người để từ hình ảnh này ta cảm nhận được nỗi buồn chất chứa trong lòng của tác giả dân gian.Tâm tư, tình cảm là những cái vốn rất trừu tượng, khó nói hoặc không thể nói.Thông qua hình ảnh bên ngoài đó mà tâm tình của nhân dân ta hiện lên thật cụ thể. Có thể nói, cùng với những biện pháp nghệ thuật cụ thể là những biện pháp nghệ thuật tu từ thì so sánh có giá trị tạo hình rất cao. Bao giờ so sánh cũng công khai hai vế khi đối chiếu và chỉ đối chiếu với một đặc điểm nào đó của sự vật hiện tượng. Đó là lí do làm cho đối tượng được so sánh (sự vật hiện tượng) hiện lên rất cụ thể, chân thật bởi dễ cảm nhận, dễ có những tác động vào sự liên tưởng của con người. Và như một chìa khoá mở cánh cửa bí mật, những hình ảnh sóng động đó đã mang lại sự biểu hiện sâu sắc cho nội dung tình cảm. So với nền văn chương bác học, thì giá trị tạo hình của so sánh trong ca dao có gì đặc biệt không? Có thể nói, để phản ánh những nội dung vừa phong phú, vừa sâu sắc thì so sánh đã thực sự chứng minh khả năng nghệ thuật của mình. Hàng loạt những hình ảnh gần gũi, quen thuộc thừ thế giới tự nhiên như ùa vào ôm lấy tâm trạng con người. Điều đó đã làm xuất hiện một hệ thống hình ảnh hết sức thân quen. Đây là nhân tố quan trọng để góp phần hiểu sâu sắc hơn, chính xác hơn về tình cảm của nhân dân ta. Hay nói khác hơn, thế giới hình tượng trong ca dao là thế giới cụ thể, không xa lạ với cuộc sống con người. Thế giới đó đã không ngừng phản ánh những tình cảm hết sức tự nhiên, mộc mạc mà lại sâu sắc của nhân dân lao động Việt Nam. Còn trong văn chương bác học, đặc biệt là thơ. Vì những quy định chặt chẽ đối với người cầm bút nên thế giới hình tượng được nằm trong khuôn khổ nhất định. Đặc biệt hơn, những hình ảnh được dùng làm hình tượng mang nặng tính chất ước lệ, cổ điển. Chính điều đó làm nên vẻ uyên bác, hàn lâm cho thơ xưa. Nhưng trái lại thế giới đó đôi khi mang lại sự khó hiểu cho người tiếp nhận hoặc hiểu nhưng không cặn kẽ vấn đề. Thật ra trong ca dao, so sánh không phải không sử dụng những hình ảnh ước lệ, cổ điển. Vẫn còn ở đó những: rồng - mây, trúc - mai, loan - phụng, nhưng chúng luôn được sử dụng trong tiêu chí kết hợp với những hình ảnh hay những tình cảm gần gũi, giản dị khác. Vì thế, có thể thấy qua ca dao, tình cảm, ước muốn, tâm trạng của nhân dân ta hiện lên như một bức tranh, một thế giới màu sắc, sóng động. Thiên nhiên, ngoại cảnh như có hồn, có sức sống vì được nói tiếng nói của con người, được đập những nhịp đập thổn thức của trái tim khi con người có nỗi buồn hoặc niềm vui. Chỉ một vài câu ca dao ngắn ngủi nhưng so sánh đã thực sự tạo ra những hình tượng hoàn chỉnh nhờ giá trị tạo hình mà nội dung thể hiện thì lại không hề đơn giản. Vả lại, thiên nhiên là nguồn nguyên liệu vô tận để nhân dân ta vận dụng khi so sánh. Chính vì thế, hiện lên trong ca dao là kho tàng hình tượng phong phú. Điều đó phần nào nói lên được nhu cầu biểu hiện tình cảm mạnh mẽ của nhân dân ta. Tóm lại, giá trị tạo hình không chỉ riêng trong ca dao mới có cũng như không chỉ so sánh mới tạo được giá trị này. Nhưng ở đây nó được biểu hiện rõ nhất, cụ thể nhất, sinh động nhất. 2. Giá trị nhận thức. Bất kỳ người nghệ sĩ nào cũng vậy, khi muốn nói lên một vấn đề gì thì lại rất mong người tiếp nhận có thể hiểu nó để từ đó chia sẻ với anh ta niềm vui hoặc nỗi buồn. Ca dao ta cũng không nằm ngoài điều đó. Dù người nghệ sĩ dân gian có sử dụng biện pháp nghệ thuật nào đi chăng nữa thì ở đó vẫn thấm nhuần ước muốn giãi bày được lòng mình và có người đồng cảm với nỗi lòng đó. Và như một quy luật, trong so sánh, nhờ những hình ảnh cụ thể, gần gũi ở giá trị tạo hình mà việc tìm hiểu nội dung ca dao thêm phần phong phú. Chính điều đó đã mang lại giá trị nhận thức sâu sắc. Như đã trình bày, văn chương là một hình thức nghệ thuật mà ở đó đòi hỏi cao khả năng tư duy của người nghệ sĩ. Ca dao ta cũng không ngoại lệ. Cũng được ra đời nhằm đáp ứng cho nhu cầu tinh thần, tình cảm của con người. Và vì thế, dù là những nghệ sĩ dân gian nhưng mỗi tác phẩm họ tạo ra dều chứa đựng ở đó những tình cảm, những trăn trở về một vấn đề gì đó trong cuộc sống. Đặc biệt qua biện pháp so sánh, mỗi câu ca dao là những giá trị nhận thức to lớn. Trước hết, đó là nhận thức của người nghệ sĩ. Tuy ai cũng có thể sáng tác ca dao nhưng qua những câu ca dao sử dụng biện pháp so sánh, chúng ta có dịp nhìn lại khả năng sáng tạo, hiểu biết của dân tộc. Ca dao vốn nặng chất trữ tình, thiên về tình cảm. Điều đó đã phần nào lí giải cho những âm điệu ngọt ngào, êm ả ở ca dao. Việc bày tỏ tình cảm là chủ yếu vàthiên nhiên đối với nhân dân ta là đối tượng tin cậy để trút cạn bầu tâm sự của mình. Có thể nói, ca dao ta đã vận dụng rất thành công biện pháp so sánh. Để làm được điều này so sánh đã mang lại rất nhiều giá trị cho nội dung diễn đạt của ca dao. Việc sử dụng so sánh trong ca dao đã tạo nên một phương thức diễn đạt ngắn gọn, súc tích làm thành đặc trưng của thể loại trữ tình dân gian này. Như nhà văn hiện thực Nga A.P. Sêkhôp đã từng đưa ra quan điểm nghệ thuật đặc biệt của mình: "Biết nói ngắn về những chuyện dài; Nghệ thuật viết là nghệ thuật rút gọn". Để thực hiện điều này thì lại không hề đơn giản. Thế nhưng trong ca dao, so sánh đã làm được điều đó. Bằng bức tranh thiên nhiên mà hình ảnh so sánh gợi ra tuy rất giản đơn, ngắn gọn về ngôn từ nhưng ẩn sâu ở đó là cả một thế giới vô cùng hấp dẫn. Tuy nói ít nhưng lại được hiểu nhiều, nói giản đơn mà lại thấm rất sâu. Tuỳ vào khả năng liên tưởng của mỗi người mà ý nghĩa của câu ca dao sẽ được khai thác sâu cạn nhất định. Tóm lại, là một bộ phận của văn học nghệ thuật nói chung, ca dao mang những giá trị nhận thức sâu sắc. Rõ ràng không chỉ có so sánh mới có giá trị nhận thức. Bởi lẽ bất kỳ một biện pháp nghệ thuật nào cũng được dùng đẻ diễn tả một điều gì đó, điều mà chúng ta cần khám phá, tìm hiểu. Thế nhưng ở so sánh, vì giữa cái so sánh và cái được so sánh luôn song hành với nhau. Điều đó cũng có nghĩa là phạm vi đối tượng đã bị giới hạn lại. Đây là đặc điểm quan trọng để mỗi chúng ta có thể đi thẳng, đi nhanh, đi sâu vào nội dung được diễn đạt. Nếu văn chương là một "cuốn sách giáo khoa về đời sống" thì ca dao là "cuốn sách giáo khoa về tình cảm con người". Cuốn sách ấy đến với bao lớp người và trở thành công cụ thẩm mỹ giúp người tiếp nhận nhận thức được những giá trị tình cảm quý báu của dân tộc. Đọc cuốn sách ấy tâm hồn con người thêm bay bổng, mở rộng chân trời tình cảm. 3. Giá trị thẩm mỹ. Bằng việc khám phá thế giới tự nhiên, đem lại cho thế giới ấy diện mạo mới, sát nhập thế giới tự nhiên với thế giới tình cảm con người nhưng điều đó phải tuân theo quy luật của cái đẹp. Là một biện pháp được nhân dân ta sử dụng thường xuyên trong việc thể hiện nội dung ca dao thì cái đẹp ( giá trị thẩm mỹ) cũng là giá trị to lớn mà so sánh có được. Có thể nhận thấy rằng, nói đến giá tri thẩm mỹ là nói đến cái đẹp nhưng không chỉ văn chương nghệ thuật mới có cái đẹp. Mọi hoạt động thực tiễn vật chất của con người đều có ý nghĩa thẩm mỹ. Tuy vậy, phải công nhận rằng cái đẹp trong nghệ thuật là tập trung nhất, mãnh liệt nhất, biểu hiện rõ nhất của quan hệ thẩm mỹ của con người với hiện thực. Ca dao cũng là một hình thức nghệ thuật mà trong đời sống tinh thần của nhân dân ta ca dao đảm đương trọng trách biểu hiện và truyền thụ giá trị thẩm mỹ, trong đó cái đẹp là trung tâm. Giá trị thẩm mỹ được bộc lộ bằng việc làm thoả mãn nhu cầu về lí tưởng thẩm mỹ, ước mơ, sự hoàn thiện hoàn mỹ của con người trước thế giới. Trong thế giới trữ tình của ca dao Việt Nam, giá trị thẩm mỹ được biểu hiện rõ nhất là việc biểu lộ, bày tỏ tình cảm của con người. Hay cụ thể hơn đó là việc biểu hiện tâm trạng con người. Chúng ta - những người tìm hiểu ca dao, tiếp nhận tâm trạng, tình cảm đó của nhân dân cũng có nghĩa là tiếp nhận giá trị thẩm mỹ sâu sắc. Đến với giá trị thẩm mỹ đó nó có thể đem đến cho ta một khoái cảm hay một niềm xúc động. Vì một lẽ, nếu đã gọi là cái đẹp thì nhất thiết nó phải chân thực, sinh động, có khả năng tác động trực tiếp vào các giác quan của con người. Đó cũng là nhiệm vụ được đặt ra cho bất kỳ một biện pháp nghệ thuật nào được sử dụng - so sánh là tiêu biểu. Dùng đặc trưng cơ bản của mình là cụ thể hoá một cách hình ảnh những tâm trạng của nhân dân ta, so sánh đã không ngừng giúp tác giả dân gian thể hiện tình cảm, ước muốn của mình. Mỗi hình ảnh, sự vật, hiện tượng từ thế giới tự nhiên bước vào ca dao làm thành hình ảnh so sánh là mỗi biểu hiện khác nhau của trạng thái tình cảm con người. Chúng ta cần nhận ra rằng, tạo hình, nhận thức, thẩm mỹ là ba giá trị của biện pháp so sánh. Chúng luôn tác động vào nhau và có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Giá trị này làm nền tảng, cơ sở để xây dựng giá trị kia. Gía trị thẩm mỹ có thể phát huy tác dụng mãnh liệt khi so sánh đạt được giá trị nhận thức cao và ngược lại. Nhưng muốn nhận thức được thì giá trị tạo hình cũng không thể xem nhẹ. Vả lại, một khi ở so sánh, giá trị tạo hình và nhận thức được biểu hiện tập trung, rõ nét thì điều đó cũng mang lại giá trị thẩm mỹ đầy ý nghĩa. Nhìn chung, ca dao ta có thể sử dụng nhiều biện pháp nghệ thuật nào đó để đáp ứng nhu cầu tình cảm một cách hết sức cô đọng, tinh tế, cụ thể nhưng không thể bỏ qua so sánh. Đây là hình thức nghệ thuật khi sử dụng đạt hiệu quả rất cao. Nhờ sự vận dụng những hình ảnh gần gũi, quen thuộc mà so sánh đã giúp tác giả dân gian nói lên ước mơ, khát vọng hạnh phúc, của mình một cách mãnh liệt. Qua đó thế giới tự nhiên như được gần gũi hơn, đẹp hơn và thật sự hoà nhập với con người hơn. Làm được điều này, so sánh đã đem lại gía trị to lớn - giá trị thẩm mỹ. KẾT LUẬN Nếu ai đã từng không biết nhớ khi phải sống xa quê, từng ruồng bỏ nơi chôn nhau cắt rốn của mình mà không thấy tiếc thì hẳn kẻ đó chưa từng được tiếp xúc với ca dao dân tộc. Đến với ca dao là đến với sự ấm áp nghĩa tình, những kỷ niệm vui buồn từ đồng ruộng, từ luỹ tre làng, đến với con người Việt Nam cần cù chân chất mà có thế giới tâm hồn vô cùng phong phú. Có thể nói, ca dao như một bức tranh lưu giữ tất cả những kinh nghiệm làm ăn, tâm trạng, tình cảm của dân tộc ta. Có nhiều chất liệu để vẽ lên bức tranh ấy mà biện pháp nghệ thuật so sánh là chất liệu tiêu biểu. Tìm hiểu biện pháp nghệ thuật so sánh, chúng ta không thể bỏ qua hệ thống kết cấu đa dạng lại càng không thể bỏ qua những hình ảnh ẩn dụ, biểu tượng phong phú. Bởi lẽ, đây là hai yếu tố quan trọng của so sánh trong việc giúp tác giả dân gian thể hiện những trăn trở, những tâm tình của mình trước cuộc sống hay cuộc đời. Nếu chúng ta dễ dàng nhận ra biện pháp này với những từ quan hệ cụ thể thì vẫn còn ở đó hình thức so sánh chẳng có từ chỉ quan hệ nào. Mặt khác, so sánh là cách đối chiếu giữa hai đối tượng khác loại, và bao giờ cũng vậy, những hình ảnh mà nhân dân ta rút ra từ thực tế cuộc sống vẫn được đi vào ca dao làm hình ảnh so sánh nhiều nhất. Đó là những hiện tượng tự nhiên, những vật thể vũ trụ, môi trường địa lý hay cây cỏ, loài vật gắn chặt với đời sống của con người. Bên cạnh đó là những hình ảnh ước lệ, cổ điển góp phần làm nên vẻ trang trọng mà gần gũi cho ca dao. Cũng như những biện pháp nghệ thuật khác, nghĩa là so sánh cũng mang nhiệm vụ đưa cái trừu tượng trở về với sự cụ thể, gần gũi. Nhưng cái riêng của so sánh là việc công khai hai vế khi đối chiếu. Chính vì vậy, hình ảnh đã cụ thể thì lại càng cụ thể hơn, tình cảm đã sâu sắc thì lại càng sâu sắc hơn. Mỗi hình ảnh tuy chỉ được nói đến với một đặc trựng nào đó nhưng đó là bản chất, là hoà hợp với tình cảm con người. Cũng từ đây, việc chọn lựa cho mình một thuộc tính của đối tượng đã để lại khả năng sáng tạo đến tinh tường và đã đi sâu vào sự khám phá hiện thực của nhân dân ta. Đến với "Biện pháp nghệ thuật so sánh trong ca dao", chúng ta có dịp tìm hiểu một thứ tình cảm thiêng liêng nhất của con người. Có dịp nhìn lại sự phong phú mà sáng tạo trong tâm hồn, trí tuệ của người dân lao động Việt Nam ngày xưa. Hơn bao giờ hết, việc tìm hiểu tâm hồn dân tộc trong ca dao như tìm hiểu một quyển sách quý để có thể mở mang và cảm nhận. Ca dao ta như một mạch nước ngầm mà làm nên sự trong trẻo, vị ngọt ngào cho mạch nước ấy, so sánh đã không ngừng thay hình đổi dạng để làm tròn nhiệm vụ nghệ thuật của mình.

Một Số Biện Pháp Nghệ Thuật Trong Ca Dao Yêu Thương, Tình Nghĩa

Giới Thiệu Một Số Biện Pháp Nghệ Thuật Thường Gặp Trong Ca Dao Yêu Thương, Tình Nghĩa

Tìm Hiểu Về Nghệ Thuật Ẩn Dụ Để Ứng Dụng Trong Văn Học

Ẩn Dụ Là Gì? Các Hình Thức Ẩn Dụ Và Phân Biệt Ẩn Dụ Với Biện Pháp Khác

Phân Tích 12 Câu Thơ Đầu Trong Đoạn Trích Trao Duyên Của Nguyễn Du

Biện Pháp Tu Từ So Sánh

Bài 6. Biện Pháp Sử Dụng, Cải Tạo Và Bảo Vệ Đất

Bài Giảng Bài 6: Biện Pháp Sử Dụng,cải Tạo Và Bảo Vệ Đất

Đề Tài Phương Pháp Dạy Học Biện Pháp So Sánh Tu Từ Trong Phân Môn Luyện Từ Và Câu Lớp 3

Một Số Biện Pháp Giúp Học Sinh Lớp 3 Hiểu Về Biện Pháp So Sánh Tu Từ Trong Bài Tập Đọc

Đề Tài Rèn Kỹ Năng Nhận Biết Biện Pháp Tu Từ So Sánh Cho Học Sinh Lớp 3

Nhằm củng cố, mở rộng, bổ sung thêm kiến thức cho các em học sinh, chúng tôi sưu tầm gửi tới các em Biện pháp tu từ so sánh – Kiến thức, bài tập nâng cao Ngữ Văn 6 . Chúc các em học tốt!

Biện pháp tu từ so sánh

Kiến thức, bài tập nâng cao Ngữ Văn 6

I. – NỘI DUNG KIẾN THỨC CẦN NẮM VỮNG 1. Thế nào là so sánh ?

So sánh là đối chiếu sự vật, sự việc này với sự vật, sự việc khác có nét tương đồng để làm tăng sực gợi hình, gợi cảm cho sự diễn đạt.

Ví dụ :

– Thuyền xuôi dưới dòng con sông rộng lớn ngàn thước, trông hai bên bờ, rừng đước dựng lên cao ngất như hai dãy trường thành vô tận.

(Đoàn Giỏi)

– Trong như tiếng hạc bay qua,

Đục như tiếng suối mới sa nửa vời.

(Nguyễn Du)

– Mỏ Cốc như cái dùi sắt, chọc xuyên cả đất.

(Tô Hoài)

2. Cấu tạo của phép so sánh

So sánh là cách công khai đối chiếu các sự vật với nhau, qua đó nhận thức, được sự vật một cách dễ dàng, cụ thể hơn. Vì vậy, một phép so sánh thông thường gồm bốn yếu tố :

– Vế A : Đối tượng (sự vật) được so sánh.

– Bộ phận hay đặc điểm so sánh (phương diện so sánh).

– Từ so sánh.

– Vế B : Sự vật làm chuẩn so sánh.

Ta có sơ đồ sau đây :

Khi ta nói : Cô gái đẹp như hoa là so sánh. Còn khi nói : Hoa tàn mà lại thêm tươi (Nguyễn Du) thì hoa ở đây là ẩn dụ.

+ Yếu tố (2) và (3) có thể vắng mặt. Khi yếu tố (2) vắng mặt người ta gọi là so sánh chìm vì phương diện so sánh (còn gọi là mặt so sánh) không lộ ra do đó sự liên tưởng rộng rãi hơn, kích thích trí tuệ và tình cảm người đọc nhiều hơn.

+ Yếu tố (3) có thể là các từ như : giống, tựa, khác nào, tựa như, giống như, là, bao nhiêu… bấy nhiêu, hơn, kém,… Mỗi yếu tố đảm nhận một sắc thái biểu cảm khác nhau

– Như có sắc thái giả định.

– Là có sắc thái khẳng định.

-Tựa thể hiện nlức độ chưa hoàn hảo,…

+ Trật tự của phép so sánh có khi được thay đổi. Ví dụ :

Như chiếc đảo bốn bề chao mặt sóng Hồn tôi vang tiếng vọng của hai miền.

(Tế Hanh)

3. Các kiểu so sánh

Dựa vào mục đích và các từ so sánh, người ta chia phép so sánh thành hai kiểu :

a) So sánh ngang bằng

Phép so sánh ngang bằng thường được thể hiện bởi các từ so sánh sau đây : là, như, y như, tựa như, giống như hoặc cặp đại từ bao nhiêu… bấy nhiêu.

Mục đích của so sánh nhiều khi không phải là tìm sự giống nhau hay khác nhau mà nhằm diễn tả một cách hình ảnh một bộ phận hay đặc điểm nào đó của sự vật giúp người nghe, người đọc có cảm giác hiểu biết sự vật một cách cụ thể, sinh động. Vì thế, phép so sánh thường mang tính chất cường điệu.

Ví dụ : Cao như núi, dài như sông

(Tố Hữu)

b) So sánh hơn kém

Trọng phép so sánh hơn kém, từ so sánh được sử dụng là các từ : hơn, hơn là, kém, kém gì.

Ví dụ : Áo rách khéo vá hơn lành vụng may.

(Tục ngữ)

Muốn chuyển so sánh hơn, kém sang so sánh ngang bằng, người ta thêm một trong các từ phủ định : không, chưa, chẳng vào trong câu và ngược lại.

Ví dụ : – Bóng đá quyến rũ tôi hơn những công thức toán học.

– Bóng đá quyến rũ tôi không hơn những công thức toán học..

4. Tác dụng của so sánh

+ So sánh tạo ra những hình ảnh cụ thể, sinh động. Phần lớn các phép so sánh đều lấy cái cụ thể so sánh với cái không cụ thể hoặc kém cụ thể hơn, giúp mọi người hình dung được sự vật, sự việc cần nói tới và cần miêu tả. *

Ví dụ : Công cha như núi Thái Sơn

Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.

(Ca dao)

+ So sánh còn giúp cho câu văn hàm súc, gợi trí tưởng tượng bay bổng. Vì thế trong thơ của thiếu nhi, các em đã thể hiện nhiều phép so sánh bất ngờ.

Ví dụ : Tàu dừa chiếc lược chải vào mây xanh

(Trần Đăng Khoa)

Cách so sánh ở đây thật bất ngờ, thật gợi cảm. Yếu tố (2) và yếu tố (3) bị lược bỏ. Người đọc, người nghe tha hồ mà tưởng tượng ra các mặt so sánh khác nhau làm pho hình tượng so sánh được nhân lên nhiều lần.

II. – BÀI TẬP 1.

Tìm phép so sánh trong đoạn trích sau đây, nêu rõ tác dụng của phép so sánh đó :

“Dòng sông Năm Căn mênh mông, nước ầm ầm đổ ra biển ngày đêm như thác, cá nước bơi hàng đàn đen trũi nhô lên hụp xuống như người bơi ếch giữa những đầu sóng trắng. Thuyền xuôi giữa dòng con sông rộng hơn ngàn thước, trông hai bên bờ, rừng đước dựng lên cao ngất như hai dãy trường thành vô tận”.

(Đoàn Giỏi)

2. Trong câu ca dao :

Nhớ ai bổi hổi bồi hồi Như đứng đống lửa như ngồi đống than.

a) Từ bổi hoi bồi hồi là từ láy có gì đặc biệt ?

b) Giải nghĩa từ láy bổi hổi bồi hồi.

c) Phân tích cái hay của câu ca dao do phép so sánh đem lại.

3. Trong bài Vượt thác có nhiều phép so sánh được thể hiện.

a) Em hãy xác định những phép so sánh đó.

b) Phép so sánh nào độc đáo nhất ? Vì sao ?

4. Em hãy viết một đoạn văn tả cảnh sông nước hay núi non, làng xóm ở quê em trong đó có sử dụng từ hai phép so sánh trở lên.

5. Em hãy kể càng nhiều càng tốt những thành ngữ có sử dụng phép so sánh mà từ chỉ phương diện so sánh là từ láy.

6. Nói về thiếu niên, nhi đồng, Bác Hồ viết: Trẻ em như.búp trên cành.

a) Phép so sánh này bị lược yếu tố nào ?

b) Yếu tố bị lược có thể được thay bằng những từ ngữ nào trong các từ ngữ sau đây : tươi non, quyến rũ, đầy hứa hẹn, đấng trân trọng, chứa chan hi vọng, đầy sức sống, yếu ớt đáng thương, nhỏ nhắn, chưa đáng chú ỷ.

7. Em hãy tìm khoảng mười phép so sánh trong ca dao và thơ, trong đó vắng từ ngữ chỉ phương diện so sánh.

Ta đi tới, trên đường ta bước tiếp Rắn như thép, vững như đồng Đội ngũ tơ trùng trùng điệp điệp Cao như núi, dài như sông

Chí ta lớn như biển Đông trước mặt

– Lũ đế quốc như bầy dơi hốt hoảng.

– Lũ đế quốc là bầy dơi hốt hoảng.

10. Trong bài Lượm của Tố Hữu có đoạn :

Chú bé loắt choắt Cái xắc xỉnh xinh Cái chân thoăn thoắt Cái đầu nghênh nghênh Ca lô đội lệch Mồm huýt sáo vang Như con chim chích Nhảy trên đường vàng…

a) Phép so sánh ở đoạn thơ trên độc đáo ở chỗ nào ? Em hãy phân tích cái hay của phép so sánh đó.

b) Các từ láy trong đoạn thơ thuộc từ loại nào ? Có tác dụng gì ?

11. Phép so sánh sau đây có gì đặc biệt:

Mẹ già như chuối ba hương Như xôi nếp một, như đường mía lau.

(Ca dao)

Biện Pháp So Sánh, Nhân Hóa

Một Số Kinh Nghiệm Rèn Nề Nếp Học Tập Trong Công Tác Chủ Nhiệm Lớp 1

Skkn: Xây Dựng Nề Nếp Học Tập Cho Học Sinh Lớp 1

Xây Dựng Nề Nếp Học Tập Cho Học Sinh Lớp 1

Kinh Nghiệm Rèn Luyện Nề Nếp Cho Học Sinh

Phương Pháp So Sánh Trong Luật So Sánh

Khoa Học Luật So Sánh

Lớp Trung Cấp Chính Trị Tc71

Giới Thiệu Phòng Vật Tư Thiết Bị Y Tế

Phòng Vật Tư Thiết Bị Y Tế

Chức Năng, Nhiệm Vụ Phòng Y Tế Thành Phố Hưng Yên

Nói cách khác, khi muốn tìm hiểu sự tương đồng và khác biệt của hai hộ thống pháp luật thuần túy, người nghiên cửu không thể không dựa vào những tương đồng và khác biệt giữa các chế định, các quy phạm pháp luật của các hệ thống pháp luật đỏ và ngược lại, để tìm hiểu sự khác biệt trong nội dung của chế định nào đó ở các hệ thống pháp luật khác nhau, người nghiên cứu cũng không thể không xác định sự khác biệt về cách thức giải thích các quy định của pháp luật ở các hệ thống pháp luật hoặc tầm quan trọng cũng như vị trí của chế định pháp luật đó ở các hệ thống pháp luật này.

Những nguyên lí của phương pháp so sánh trong luật so sánh hoàn toàn không vượt ra ngoài nguyên lí chung của phương pháp so sánh được sử dụng trong các lĩnh vực khoa học nói chung. Mặc dù các sự vật và hiện tượng đều có thể so sánh được với nhau nhưng việc so sánh chi thực sự có ý nghĩa khi các đối tượng so sánh (yếu tố so sánh và yếu tố được so sánh) có những điểm chung nhất định. Điểm chung này được các nhà nghiên cứu so sánh gọi là yếu tố thứ ba của việc so sánh bên cạnh yếu tố so sánh và yếu tố được so sánh. Yếu tố thứ ba này được xem là mẫu số so sánh chung.

Việc tìm kiếm mẫu số so sánh chung này vẫn luôn là vấn đề được bàn luận khi sử dụng phương pháp so sánh trong các lĩnhvực khoa học khác nhau bao gồm cả lĩnh vực luật so sánh. Các nhả nghiên cứu luật so sánh cho rằng khả năng so sánh của các quy phạm pháp luật hay các chế định pháp luật tương đương vó nhân tô thứ ba của việc so sánh bởi vi khả năng so sánh của cá quy phạm hay các chế định pháp luật ở các hệ thống pháp luật khác nhau phụ thuộc vào sự tồn tại của mẫu số so sánh chung- nhân tố làm cho việc so sánh các hiện tượng pháp lí có ý nghĩa.

Vậy, nhân tố nào là mẫu số so sánh của các đối tượng so sánh trong luật so sánh? Nói cách khác, những hệ thống pháp luật nào; những chế định hay quy phạm pháp luật nào trong các hệ thống pháp luật khác nhau có thể được so sánh với nhau?

Ý Thức Pháp Luật Và Pháp Chế

Ý Thức Pháp Luật Của Người Dân Việt Nam

Một Số Đặc Điểm Trong Ý Thức Pháp Luật Của Đội Ngũ Cán Bộ Cấp Cơ Sở Ở Nước Ta Hiện Nay

Chức Năng Của Pháp Luật Và Các Kiểu Pháp Luật Trong Lịch Sử

Câu Hỏi Ôn Tập Lý Luận Nhà Nước Và Pháp Luật (Có Đáp Án)

Chuyên Đề : Biện Pháp So Sánh – Lớp 3

Phòng Trừ Sâu Bệnh Bằng Biện Pháp Sinh Học • Tin Cậy 2022

Giáo Án Môn Ngữ Văn 11 Tiết 5: Đọc Văn Tự Tình Ii

Phân Tích Bài Thơ Tự Tình 2

Đề Đọc Hiểu Và Nghị Luận Xã Hội Về Bài Thơ Tự Tình Hồ Xuân Hương

Uống Rượu Không Say

I. Khái niệm.

Biện pháp so sánh là biện pháp tu từ ngữ nghĩa nhằm đối chiếu hai hay nhiều đối

tượng khác loại nhau nhưng giống nhau ở một điểm nào đó ( chứ không đồng nhất

hoàn toàn ) để đem đến một cách tri giác mới mẻ về đối tượng.

II.Tác dụng.

Biện pháp so sánh nhằm làm nổi bật khía cạnh nào đó của sự vật, sự việc.

III. Cấu  tạo: Gồm có 2 vế :

– Vế được so sánh và vế để so sánh.

– Giữa  2 vế thường có từ so sánh : như , là, như là, tựa như, chẳng bằng, hơn,

kém, dấu gạch ngang ( – ), …

IV.  Dấu hiệu.

-   Qua từ so sánh : là, như , giống, như là.. ,

-    Qua nội dung : 2 đối tượng có nét tương đồng được so sánh với nhau.

V. Các phép so sánh được học ở lớp 3

1. So sánh sự vật với sự vật.

Ví dụ:

 Sự vật 1

( Sự vật được so sánh)

Từ so sánh Sự vật 2

( Sự vật để so sánh)

 Hai bàn tay em như Hoa đầu cành

Cánh diều như Dấu “ á”

Hai tai mèo như Hai hình tam giác nhỏ

2. So sánh sự vật với con người.

Ví dụ:

Đối tượng 1 Từ so sánh Đối tượng 2

Trẻ em (con người) như Búp trên cành ( svật)

Ngôi nhà (sự vật) như Trẻ nhỏ ( người )

Bà (người) như Quả ngọt ( svật)

3. So sánh đặc điểm của 2 sự vật.

2

Ví dụ:

Sự vật 1          Đặc điểm so sánh Từ so sánh          Sự vật 2

Tiếng suối           trong như Tiếng hát

Giọt nước cam           vàng như Mật ong

4. So sánh âm thanh với âm thanh.

Ví dụ:

Âm thanh 1 Từ so sánh          Âm thanh 2

Tiếng suối                 như Tiếng hát xa

Tiếng chim                     như   Tiếng xóc những rổ tiền đồng

5. So sánh hoạt động với hoạt động.

Ví dụ:

Sự vật       Hoạt động 1 Từ so sánh Hoạt động 2

Lá cọ        xoè như Tay ( vẫy)

Con trâu đen Chân đi như Đập đất

VI. Các kiểu so sánh.

1.     So sánh ngang bằng : như, tựa như, là, chẳng khác gì….Ví dụ: Làm mà không

có lí luận chẳng khác gì đi mò trong đêm tối

2.     So sánh hơn kém: chẳng bằng, hơn…

VII. Sự khác nhau giữa hình ảnh so sánh và sự vật so sánh.

-         Hình ảnh so sánh: là phải nêu đầy đủ “ Sự vật được so sánh + từ so sánh +

sự vật để so sánh”       Ví dụ : Trẻ em như búp trên cành.

-         Sự vật  được so sánh: Trẻ em

          Từ so sánh: như

         Sự vật để so sánh:  búp trên cành.

·        Lưu ý: khi dùng từ so sánh “là” nó có ý nghĩa và giá trị tương đương từ so

sánh “như”  nhưng có sắc thái ý nghĩa khác. “như” có ý nghĩa sắc thái giả định,

còn từ “là” có sắc thái khẳng định.

VD: -  Lũ đế quốc như bầy dơi hốt hoảng (sắc thái giả định )

                  – Lũ đế quốc là bầy dơi hốt hoảng ( sắc thái khẳng định )

 VIII. Các dạng bài tập về phép tu từ so sánh trong phân môn Luyện từ và

câu ở lớp 3

3

1. Bài tập nhận diện phép tu từ so sánh

Ở loại bài tập này, hình thức bài tập thường là nêu ngữ liệu (câu văn, câu thơ; đoạn

văn, đoạn thơ) trong đó, có sử dụng phép tu từ so sánh; yêu cầu học sinh chỉ ra các

hình ảnh so sánh, các sự vật được so sánh, các vế so sánh, các từ so sánh, các đặc

trong loại bài tập nhận biết.

 Dạng 1: Tìm những sự vật được so sánh

Đây là dạng bài tập giúp học sinh bước đầu nắm được cấu trúc của phép so sánh.

Với yêu cầu tìm những sự vật được so sánh với nhau các em sẽ tìm ra “cái so sánh”

và “cái được so sánh” trong phép so sánh. Đây là những sự vật tồn tại xung quanh

các em, gần gũi và quen thuộc đối với cuộc sống của các em, giúp các em dễ dàng

liên tưởng đến sự tương đồng giữa chúng

Ơ, cái dấu hỏi

Trông ngồ ngộ ghê,

Như vành tai nhỏ

Hỏi rồi lắng nghe

(TV3, t.1, tr.8)

Dạng 2: Tìm những hình ảnh so sánh:

Dạng bài tập này không chỉ yêu cầu học sinh tìm những sự vật được so sánh với

nhau một cách riêng lẻ mà còn phải tìm cả hình ảnh so sánh. Tức là, các em phải

tìm cả cấu trúc có thể đầy đủ hoặc không đầy đủ của  phép  so sánh. Những hình

ảnh so sánh này sẽ đem lại cho các em những cảm xúc tốt đẹp, những cách nhìn

mới mẻ về sự vật, về cuộc sống xung quanh.

Những đêm trăng sáng, dòng sông là một đường trăng lung linh dát vàng.

(TV3, t.1, tr.24)

4

Dạng 3: Tìm các từ so sánh

Trong sinh hoạt hằng ngày, chúng ta thường dùng từ như khi muốn so sánh một

thứ gì đó. Chẳng hạn đẹp như tiên, xấu như ma, hiền như bụt… Tuy nhiên, trong

phép tu từ so sánh có rất nhiều những từ dùng để so sánh như: là tựa, giống, như

thể, như là,… Để  giúp các em nhận ra được sự phong phú, đa dạng cũng như sự

tinh tế của so sánh tu từ, sách giáo khoa đã cung cấp cho các em dạng bài tập tìm

các từ so sánh.

Ví dụ: Hãy ghi lại các từ chỉ sự so sánh trong những câu sau

a.                Mắt hiền sáng tựa vì sao

Bác nhìn đến tận Cà mau cuối trời         

b.                Em yêu nhà em

Hàng xoan trước ngõ

Hoa xao xuyến nở

Như mây từng chùm

c.                 Mùa đông

                    Trời là cái tủ ướp lạnh

                    Mùa hè

Trời là cái bếp lò nung

                                                                   (TV3, t.1, t.43)

2.  Bài tập vận dụng phép tu từ so sánh

         Dạng này có 2 loại bài tập nhỏ. Đó là, tập nhận biết tác dụng của phép tu từ

so sánh và tập đặt câu có dùng phép so sánh. Ở loại thứ nhất, chương trình không

yêu cầu cụ thể học sinh phải chỉ ra tác dụng của phép so sánh mà học sinh phải

cảm nhận được cái hay của hình ảnh so sánh và diễn đạt cảm nhận ấy thành lời. Ở

loại thứ hai, sách giáo khoa đã cung cấp sẵn nội dung so sánh qua các tranh vẽ

từng cặp sự vật có đặc điểm giống nhau (hoặc gần giống nhau) về hình thức, học

sinh chỉ cần xác định đối tượng so sánh và đối tượng đưa ra làm chuẩn để so sánh

5

ở từng cặp. Cũng loại bài tập này còn có dạng bài điền từ thích hợp vào chỗ trống,

bài tập cho trước cái so sánh yêu cầu học sinh tìm ra cái để làm chuẩn so sánh. Cái

khó là các em phải tìm được những hình ảnh so sánh hợp lí và sinh động.

* Bài tập nhận biết tác dụng của phép tu từ so sánh

Để nhận biết được tác dụng của phép so sánh, bài tập đã mở ra cho học sinh một

hướng tiếp nhận mới đó là tự mình đưa ra những đánh giá, những nhận xét của

riêng mình dưới dạng như phát biểu cảm nghĩ. Chính vì mọi so sánh đều mang

đậm dấu ấn cá nhân của người so sánh nên mỗi học sinh sẽ có một cách cảm thụ

của riêng mình.

Ví dụ: Trong những hình ảnh so sánh ở bài tập, em thích hình ảnh nào? Vì sao?

a.                Hai bàn tay em

                   Như hoa đầu cành.

b. Mặt biển sáng trong như tấm thảm khổng lồ bằng ngọc thạch.

c.                 Cánh diều như dấu “á

                    Ai vừa tung lên trời

d.                Ơ, cái dấu hỏi

                   Trông ngồ ngộ ghê,

                    Như vành tai nhỏ

                    Hỏi rồi lắng nghe.

                                                                   (TV3, t.1, tr.8)

Đây cũng là loại bài tập kích thích sự tưởng tượng, khả năng liên tưởng của các

em, tạo cơ hội cho các em hoá thân vào phép so sánh để cảm nhận được cái hay,

cái đẹp của phép so sánh.

Ví dụ: Đọc đoạn thơ sau:

Đã có ai lắng nghe

6

Tiếng mưa trong rừng cọ

Như tiếng thác dội về

Như ào ào trận gió

Qua sự so sánh trên, em hình dung tiếng mưa trong rừng cọ ra sao?

(TV3, t.1, tr.80)

* Bài tập đặt câu có dùng phép tu từ so sánh

Đây là yêu cầu cao nhất mà các em phải thực hiện khi học phép so sánh. Với

những kiến thức đã được học, cộng với sự tri giác qua các bức tranh học sinh sẽ

tìm được sự giống nhau giữa các sự vật trong tranh từ đó viết ra những câu có hình

ảnh so sánh. Hoặc từ những cấu trúc cho trước, học sinh sẽ tìm những từ phù hợp

điền vào chỗ trống để hoàn chỉnh thành câu

so sánh các sự vật trong tranh…

(TV3, t.1, tr.126)

Ví dụ 2: Tìm những từ ngữ thích hợp với mỗi chỗ trống:

a.       Công cha nghĩa mẹ được so sánh như… , như…

b.        Trời mưa, đường đất sét trơn như…

c.       Ở  thành phố có nhiều toà nhà cao như…

Biện Pháp So Sánh Là Gì? Cách Đặt Câu Có Biện Pháp So Sánh – Định Nghĩa Mọi Thứ.

Rèn Nề Nếp Đầu Năm Cho Học Sinh Lớp 1

Trường Trung Học Phổ Thông Đông Đô

Kỷ Luật Tích Cực Trong Nhà Trường Là Yếu Tố Quan Trọng Chống Lại Bạo Lực Học Đường

Sáng Kiến Kinh Nghiệm Rèn Kỹ Năng Đọc Cho Học Sinh Lớp Một

🌟 Home
🌟 Top