Biện Pháp Xử Lý Học Sinh Cá Biệt / Top 2 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 2/2023 # Top View | Phauthuatthankinh.edu.vn

Biện Pháp Giao Dục Học Sinh Cá Biệt

II/ NỘI DUNG SÁNG KIẾN :Phần 1: ĐẶC ĐIỂM TÂM LÝ VÀ BIỆN PHÁP GIÁO DỤC THÍCH HỢP ĐỐI VỚI HỌC SINH CHƯA NGOAN: Học sinh chưa ngoan là một hiện tượng phổ biến ở THPT và THCS do đó muốn giáo dục học sinh chưa ngoan trở thành học sinh ngoan thì đòi hỏi các nhà giáo dục phải nghiên cứu kỉ lưỡng về đặc điểm tâm lý của lứa tuổi học sinh từ THCS đến THPT là lứa tuổi bao gồm nhiều độ tuổi khác nhau. Hay đây là lứa tuổi thiếu niên , lứa tuổi chuyển tiếp , lứa tuổi giao thời từ thiếu niên sang người lớn . Là lứa tuổi đặc điểm tâm lý khá phức tạp , các nhà tâm lý học thường gọi tên khác nhau như: thời kì quá độ , lứa tuổi khủng hoảng, lứa tuổi khó giáo dục.Sự khác nhau về lứa tuổi này kéo theo có sự biến động lớn cả về thể chất lẫn tâm hồn và tình cảm, ý chí , trí tuệ cũng như nhân cách . Ở lứa tuổi này sự ý thức ,các mối quan hệ mới được hình thành như : tinh nghịch , hiếu động ,thể hiện , quan hệ giao tiếp với người lớn , với bạn bè khác giới, với gia đình và xã hội .Tuy nhiên ,lứa tuổi này các em thường hiếu động ,ham chơi , ham học hỏi,thích làm những việc mà người lớn làm và luôn muốn thể hiện mình trước người khác.Nhưng do sự phát triển không đồng đều về tâm lý , sinh lý nên tính trẻ con và tính người lớn cùng tồn tại . Thể chất có sự thay đổi lớn , tiếng nội tiết bắt đầu hoạt động mạnh nên thường rối loạn về hệ thần kinh nên các em dễ xúc động ,dễ bực tức ,dễ nổi nóng , cáo gắt hay phản ứng ngay gắt. Hơn nữa hệ thần kinh của lứa tuổi này khả năng chịu đựng những kích thích và tác động bên ngoài chưa cao nên các em dễ bị kích động về nhiều mặt : tính tình thay đổi hay cáo gắt , thờ ơ với mọi người…Do chịu nhiều tác động như vậy đôi khi làm các em chán nản ,không có hứng thú học tập , lơ là chỉ muốn chơi bời thỏa thích, liêu lõng với bạn bè. Ở lứa tuổi này , các em dễ bị kích thích, kích động và dễ bị lôi kéo bởi sự rủ rê bạn bè .Từ đó bỏ bê học tập , lừa thầy cô dối cha mẹ lêu lõng chơi bời .Tình cảm các em cũng dễ thay đổi lúc vui ,lúc buồn , có lúc rất bồng bột . Do sự thay đổi về tình cảm như vậy nên ngay trong chính suy nghĩ tình cảm của các em có sự mâu thuẫn. Chính vì thế nhà giáo, giáo dục hiện nay cần phải quan tâm và tìm hiểu thật kỉ về đối tượng của mình về đặc điểm của từng học sinh .Qua đó đề ra những yêu cầu và phương pháp giáo dục hay bồi dưỡng về học lực đối với từng học sinh,về đặc điểm sinh lí , về ước muốn , nguyện vọng cũng như sở thích của từng học sinh. Trong khi tiến hành công việc của mình, nhà giáo dục cần phải tránh nôn nóng, phải kiên trì trong một thời gian dài mới đạt kết quả như mong muốn ,phải tránh có thành kiến với học sinh , phải biết phối hợp đồng bộ với gia đình học sinh cũng như xã hội nhằm giáo dục các em trở thành một học sinh bình thường như bao học sinh khác, đó là mong muốn của nhà trường ,phụ huynh và toàn xã hội . Học sinh chưa ngoan ở trường là những học sinh mang nhiều biểu hiện lệch lạc về sự phát triển nhân cách và về đời sống tâm lý . Những biểu hiện chưa ngoan như : Vẫn đến trường đến lớp nhưng chỉ để chơi , gây gổ , không tập trung vào học tập mà thường xuyên cúp tiết đều đó sẽ dẫn đến học kém , chứ không phải vì năng lực , trí tuệ kém , do cuộc sống của các em va chạm nhiều với xã hội nên đôi khi chúng không nhanh hơn hẳn bạn bè về mặt nào đó .Trong giờ học hay mất trật tự , ngủ gật ,vô lễ coi thường thầy cô giáo và có nhiều biểu hiện chống lại .Suy nghĩ của học sinh chưa ngoan thiếu xu hướng lành mạnh nhưng không hẳn thế mà trong thâm tâm học sinh vẫn có những ước ao,khát khao được quan tâm,vỗ về ,an ủi, che chở …đó là tiềm ẩn bên trong ,bên ngoài cái vỏ cứng nhắc .Nếu nhà sư phạm nắm được điều đó thì việc giáo dục những học sinh này sẽ đạt kết quả .Học sinh chưa ngoan nhưng trong thâm tâm chúng vẫn lờ mờ cảm thấy sự sai trái về hành vi đạo đức của mình khi bị lên án ,chê trách thì chúng thường hay che đậy ,biện hộ cho mình những hành vi sai trái do mình gây nên .Do vậy ta phải bình tĩnh tránh xa lánh và cô lập những học sinh chưa ngoan mà phải luôn quan tâm theo dõi và dành cho các em một tình thương mến thật sự , đồng thời kêu gọi sự giúp đỡ chia sẽ của tập thể lớp.Nếu không học sinh chưa ngoan đã khó giáo dục rồi mà lại càng bướng bỉnh cứng đầu thêm .Muốn giáo dục học sinh chưa ngoan đạt hiệu quả tốt đòi hỏi phải có sự kết hợp đồng bộ giữa nhà trường , gia đình và xã hội .Đối với phụ huynh học sinh thường xuyên theo dõi , quan tâm chăm sóc giáo dục con em mình kết hợp tốt với nhà trường (gia đình – nhà truờng – xã hội) để tìm ra giải pháp tốt nhất . Đối với xã hội đặt biệt là địa phương giúp đỡ và tạo mọi điều kiện cùng nhà trường khắc phục hiện tượng trên Người có vai trò quan trọng trong việc giáo dục học sinh chưa ngoan phải kể đến đội ngũ giáo viên .Hơn nữa Đoàn thanh niên , Đội thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh là một chổ dựa vững chắc cho nhà trường tiến hành công tác giáo dục đạt hiệu quả cao nhất , thông qua các hoạt động đặc thù của mình , giúp các em cố gắng phấn đấu sửa sai khi phạm lỗi thông qua việc nêu gương ” người tốt việc tốt , đôi bạn giúp nhau trong học tập …” ,hạn chế học sinh chưa ngoan,cá biệt .Phần 2: HIỆN TRẠNG HỌC SINH CHƯA NGOAN Ở TRƯỜNG THPT& THCS 1/Điều kiện khách quan: -Trường học phổ thong Gành Hào là nơi có vị trí khá phức tạp: xa trung tâm Tỉnh, quốc lộ, dân cư khá phức tạp vì phần lớn là dân tạm trú của trên 60tỉnh thành, phụ huynh học sinh sống bằng nghề biển, điều kiện quan tâm chưa cao. -Trường gồm hai cấp học THPT & THCS nên nhiều lứa tuổi khó phân cách để giáo dục. 2/Những nguyên nhân dẫn đến học sinh chưa ngoan ở trường: Có nhiều nguyên nhân dẫn đến học sinh chưa ngoan đó là do: học yếu , lưu ban , nhà giàu cha mẹ lo làm ăn hay đánh bắt xa bờ thời gian quá dài không quan tâm đến con cái , được nuông chiều , môi trường sống không lành mạnh , bị tác động xấu của báo chí,phim ảnh đồi trụy bạo lực …nên các mặt biểu hiện chưa ngoan của một học sinh rất đa dạng và phức tạp . Điển hình như có rất nhiều gia đình học sinh cha mẹ các em thường xuyên đi biển đánh bắt xa bờ hoặc “ngày đây mai đó” ,làm vuông nuôi tôm ở xa ,buôn tôm, buôn bán chạy xe đầu … Cho nên đi biền biệt đôi tuần, một tháng mới ghé về quẳng cho con ít tiền rồi lại vội vã ra đi, không biết con cái mình ở nhà sống ra sao , học tập như thế nào .Cha mẹ đi xa , con cái ở nhà sống tự lập mà các em lập trường không vững ,lại sẳn có tiền , bạn bè xấu biết hoàn cảnh em như vậy thì rủ rê ,dần dần các em xa ngã và không thoát ra được .Cha mẹ các em lúc biết thì đã qúa muộn không thể dạy dổ, uốn nắn được nữa, còn học sinh lơ là cúp tiết dẫn đến học yếu , chán học và bỏ học ở nhà lêu lõng chơi bời. Do gia đình bất hòa , cha mẹ cãi vả thậm chí đánh nhau ,đã vậy lại bị cha hoặc mẹ mắng vô cớ ” giận cá chém thớt” đỗ hết lên đầu các em , đã làm cho các em bị tổn thương nặng về tình cảm ,tủi thân .Đến lớp sợ bị bàn bè trêu chọc, mặc cảm tự ti làm cho các em chán nản, lười học ,sợ đến lớp,sợ về nhà .Các em càng sống khép kín hơn, trầm tư ,lì lợm ,dễ bực dọc,gây gỗ với bạn bè ,vô lễ với cha mẹ ,thầy cô.Từ đó các em thích chơi với các bạn cùng hoàn cảnh hoặc tương tự hoàn cảnh của các em ,bị lôi kéo , chán học , học kém thì ắc hẳn các em lại bỏ học .Ít nhiều dẫn đến năm học (2007- 2008 và 2008-2009) trường THPT Gành Hào có tỉ lệ học sinh bỏ học cao . Đó là một vài nguyên nhân dẫn đến hiện tượng một học sinh ngoan trở thành một học sinh chưa ngoan .Phần 3: BIỆN PHÁP GIÁO DỤC 1/Nhà trường: -Ngay từ năm học mà nhà trường đã đưa ra kế hoạch “Bồi dưỡng học sinh yếu kém” và “Trường học thân thiện, học sinh tích cực” đến tất cả giáo viên chủ nhiệm và giáo viên bộ môn. -Khuyến khích mở chuyên đề ngay từ đầu tháng 9 để quán triệt các biện pháp giáo dục. 2/Giáo viên chủ nhiệm: -Tìm hiểu hoàn cảnh sống :quan hệ gia đình, thành phần kinh tế . -Thông qua giáo viên chủ nhiệm năm học trước hoặc trực tiếp đàm thoại với học sinh. -Nắm được đặc điểm thể chất, tâm lý lứa tuổi, tình trạng sức khoẻ để có định hướng giáo dục, phân công giao việc cho phù hợp . -Lập kế hoạch lớp trong từng tháng, tuần đưa ra biện pháp giúp đỡ nhằm giảm bớt áp lực cho các em an tâm học tập, đồng thời lập danh sách bồi dưỡng . -Phối hợp với phụ huynh, Đoàn, Đội và giáo viên bộ môn để đưa ra các biện pháp giáo dục. +Phân tích tình trạng học tập hay thái độ biểu hiện của các em +Yêu cầu phụ huynh phải có sự quản lý chặt chẽ hơn nữa cũng như giờ giấc học tập của các em +Thường xuyên liên lạc, kiểm tra thái độ, ý thức, chất lượng học tập -Tham mưu với BGH để tìm cách tháo gỡ khó khăn 3/Giáo viên bộ môn: -Lập kế họach bồi dưỡng học sinh yếu kém -Kết hợp với GVCN lớp để uốn nắng kịp thời học sinh chưa ngoan: +Ghi sổ đầu bài +Gặp gỡ trao đổi để giảm bớt áp lực cho GVCN 4/Các tổ chức đoàn thể: -Đưa ra kế hoạch tuần tháng, và phối hợp với GVCN lớp -Tổng kết thi đua, khen thưởng, phê bình đúng lúc… 5/Tổ trưởng bộ môn: Thường xuyên nhắc nhỡ những công việc BGH giao cho GVCN, trao đổi những kinh nghiệm… 6/Cán sự lớp : -Giúp việc đắc lực cho giáo viên chủ nhiệm trong việc theo dõi, ghi nhật kí, hay thăm dò các bạn có hoàn cảnh khó khăn đặc biệt một cách dễ dàng, dưới sự chỉ đạo của GVCN -Kiểm tra giúp đỡ các thành viên về “Đôi bạn học tập hay nhóm học tập” III/ KẾT LUẬT – KIẾN NGHỊ : 1/ Kết luật : Hiện tượng học sinh chưa ngoan ở trường đã có nhiều tiến bộ khả quan do có sự kết hợp giữa gia đình học sinh với nhà trường bằng cách thường xuyên liên lạc thông qua sổ liên lạc hoặc gặp trực tiếp trao đổi về vấn đề học tập và rèn luyện của con em mình. Mục tiêu phát triển giáo dục ở các trường trong những năm tiếp theo là từng bước nâng cao chất lượng day và học,xem trọng giáo dục chính trị , tư tưởng phẩm chất của học sinh. Qua sáng kiến kinh nghiệm “Biện pháp giáo dục đối với học sinh chưa ngoan” bản thân tôi đã đưa ra một số thực trạng, nguyên nhân và biện pháp giáo dục học sinh chưa ngoan. Đó là kinh nghiệm bản thân qua 4 năm chủ nhiệm và đứng lớp.Song vẫn không tránh khỏi một số sai sót và hạn chế, mong nhận được sự góp ý của quí thầy cô để được hoàn thiện hơn sâu sắc hơn khi giáo dục đối với học sinh chưa ngoan. 2/ Kiến nghị : Nhà trường cần quan tâm hơn nữa đến hiện tượng học sinh chưa ngoan và phải phối hợp đồng bộ với phụ huynh học sinh để tìm ra biện pháp giáo dục phù hợp học sinh cả ở nhà và ở nhà trường (Gia đình- Nhà trường- Xã hội).GVCN và giáo viên bộ môn ,Đoàn – Đội phải phối hợp chặt chẽ ,trao đổi thường xuyên với nhau giáo dục học sinh chưa ngoan. Đối với phụ huynh học sinh cần chăm sóc , quan tâm chu đáo, giáo dục con em, cùng với GVCN lớp tìm hiểu và đề ra biện pháp giáo dục phù hợp .Đồng thời bồi dưỡng các em kịp thời ,phục hồi kiến thức trong thời gian ngắn nhất (kế hoạch bồi dưỡng học sinh yếu kém ở trường THPT Gành Hào đi vào chiều sâu). Đối với địa phương các cấp chăm lo cải thiện đời sống nhân dân, đẩy mạnh các hoạt động làm trong sạch địa bàn dân cư, những trang trò chơi internet đen không phù hợp với các em, bày trừ và phòng chống các tệ nạn xã hội ,xây dựng xã hội công bằng ,dân chủ dân minh. Đối với nhà trường cần phổ biến đến giáo viên chủ nhiệm, nhằm để tham khảo và giáo dục học sinh chưa ngoan trở thành học sinh ngoan.Cảm ơn quý thầy cô đã lắng nghe

Đề Tài Biện Pháp Giáo Dục Học Sinh Cá Biệt

TRƯỜNG TIỂU HỌC SƠN BAO ————–™&˜————- ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM —————————–™&˜—————————– TÊN ĐỀ TÀI BIỆN PHÁP GIÁO DỤC HỌC SINH CÁ BIỆT Người viết: Ngô Thị Kim Lan Đơn vị : Trường tiểu học Sơn Bao THÁNG 9 NĂM 2006 ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM —————————–™&˜—————————– TÊN ĐỀ TÀI BIỆN PHÁP GIÁO DỤC HỌC SINH CÁ BIỆT PHẦN I : PHẦN MỞ ĐẦU 1/ Mục đích ý nghĩa : Xuất phát từ mục đích ý nghĩa của Nhà trường xã hội chủ nghĩa là đào tạo con người mới phát triển toàn diện , con người mới có vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước . Muốn tạo nên những con người mới thì Nhà trường phải là nơi trực tiếp đào tạo thế hệ trẻ trở thành những con người toàn diện nhất , những con người đó chính là Học sinh , mà đặc biệt là Học sinh tiểu học , các em là những người chủ tương lai của đất nước , vì vậy chúng ta phải biết cách rèn luyện và Giáo dục từ bước đầu . Trong thực tế mỗi Học sinh đều có một hoàn cảnh khác nhau , hoàn cảnh sẽ có tác động trực tiếp đến sự hình thành nhân cách của Học sinh , chính vì thế mà phương pháp Giáo dục Học sinh cá biệt sẽ giúp cho một số Học sinh cá biệt trở thành Học sinh bình thường hoà nhập với cộng đồng xã hội và trở thành những người hữu ích cho Đất nước . 2/ Lý do chọn đề tài : Nền Giáo dục nước ta đang trên đà phát triển , tuy nhiên vẫn càng nhiều hiện tượng mà đặc biệt là Học sinh cá biệt ngày càng tăng ở các trường học nói chung và đối với trường tiểu học Sơn Bao nói riêng . đây là vấn đề bứt thiết , là tiếng kêu của toàn xã hội mà đặc biệt là ngành Giáo dục đóng vai trò chủ chốt trong việc Giáo dục thế hệ trẻ . Trong thực tế hiện nay , nhiều gia đình gặp không ít khó khăn , không đủ điều kiện nuôi con ăn học cho nên đã cho con ở nhà giúp việc gia đình và cho đi làm ăn xa , một số gia đình có nhận thức kém nên không quan tâm gì đến việc học của con em , giao hẳn cho Nhà trường . Mặc khác Sơn Bao là một xã vùng cao của huyện Sơn Hà , kinh tế của người dân càng quá nghèo , tỉ lệ hộ đói – hộ nghèo chiếm 70% , việc kiểm soát học hành của con em ở một số phụ huynh chưa đúng mức , từ dó đã làm cho các em đi học tuỳ theo sở thích , có nhiều em chán nản , quậy phá hoặc làm ra vẽ cho mình nổi bật trước lớp . Đứng trước thực trạng này , bản thân tôi là một Giáo viên chủ nhiệm cho nên có cảm nghỉ mình phải làm sao đó và phải có trách nhiệm Giáo dục các em trở thành người Học sinh ngoan , vì đa số các em chưa ý thức được việc của mình làm. Vậy chúng ta là Giáo viên có hiểu nguyên nhân dẫn đến những việc làm đó không ? Tại sao chúng ta không tìm ra biện pháp Giáo dục Học sinh các biệt . Từ những câu hỏi đặc ra đó tôi đã quyết định tìm hiểu và viết sáng kiến kinh nghiệm mà đã chọn đề tài nêu ở trên . Đề tài này đã áp dụng từ năm học 2002-2003. PHẦN II : NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM Bản thân tôi đưqợc trường phân công giảng dạy lớp hai nhiều năm , nhìn chung ở lớp hai , các em Học sinh càng nhỏ , thơ ngây . Chính vì thế mà chúng ta phải ra sức rèn luyện và Giáo dục từ bước đầu . Thực tế trong mỗi lớp học có nhiều đối tượng Học sinh , trong đó cũng không thể không nói đến Học sinh cá biệt . qua đây tôi xin trình bày những suy nghĩ và những việc mình đã làm trong công tác chủ nhiệm , đó là Giáo dục Học sinh cá biệt . Vậy Học sinh có biểu hiện như thế nào gọi là Học sinh cá biệt và chúng ta có những biện pháp Giáo dục ra sao để các em trở thành những Học sinh bình thường như bao Học sinh khác , đó là nội dung của sáng kiến kinh nghiệm tôi xin trình bày sau đây . 1/ Đặc điểm của Học sinh cá biệt : đối với những Học sinh cá biệt luôn luôn có tính hiếu động , thích tìm tòi và luôn gây sự chú ý cho người khác ở bất kỳ nơi nào , thời điểm nào . Trước hết chúng ta nên nói đến tính cách của trẻ là sự kết hợp độc đáo giữa đặc điểm tâm sinh lý của trẻ với điều kiện hoàn cảnh sống nhất định . Biểu hiện của trẻ là nhanh nhẹn , hoạt bát cùng với sự nghịch ngợm , bất ổn định kèm theo , bên cạnh đó học tập có thể là học yếu hoặc trung bình , vì các em đó trong lớp ít chú ý hoặc thậm chí không chú ý khi cô giáo giảng bài , luôn quậy phá các bạn ngồi bên cạnh , gây mất trật tự trong lớp . Biểu hiện về mặt thái độ của trẻ với chung quanh và bản thân , những đứa trẻ hiếu động này thuộc kiểu thần kinh mạnh , cân bằng và linh hoạt . biểu hiện của trẻ là ham hoạt động , ham hiểu biết , linh hoạt , thường vui vẻ , vô tư , cảm xúc của trẻ bất ổn định , rung cảm nhưng không sâu , nhanh nhớ , mau quên . Biểu hiện rõ nét nhất của đặc tính này là bất cứ điều gì hấp dẫn , thích thú vừa sức thì các em sẽ làm ngay , tập trung chú ý rất tích cực , càng trong học tập thì đòi hỏi phải kiên trì , chịu khó động não để làm bài , chiếm lĩnh kiến thức thì các em đâm ra chán nản , ít chú ý hoặc không chú ý nên kết quả học tập thấp . Chính vì điều đó , bản thân tôi là một Giáo viên chủ nhiệm , đặc biệt là Giáo viên tiểu học , khi các em đến trường tôi luôn tạo cho các em và có cảm giác tôi giống như một người mẹ , luuôn có trách nhiệm theo sát các em từng giờ và trong mỗi buổi học để hiểu được đặc điểm tâm sinh lý của từng em thì mới có hình thức , phương pháp , biện pháp dạy học phù hợp với các em thì mới đem lại kết quả cao . Đặc biệt cũng cần tạo không khí lớp học , trường học như chính ở nhà của các em , khi đo các em mới có cảm giác được quan tâm chăm sóc và tình yêu thương thật sự để học tập tốt . 2/ Biện pháp thực hiện : Đối với những trẻ nghịch ngợm , hay nói chuyện riêng , sau mỗi lần giảng bài xong , hoặc các em đã làm xong bài tập , các em không biết làm gì nên hay trêu chọc các bạn gây mất trật tự trong lớp Cô giáo nói không nghe , theo tôi cần giáo dục các em như sau : + Thường xuyên quan tâm sâu sát hoạt động của các em + Thường xuyên nhắc nhở động viên kịp thời + Khích lệ khi em có tinh thần tập thể và lòng vị tha + Không nên phê bình , trách phạt + Không nên sĩ nhục , xúc phạm đến các em + Tránh hình thức áp đặc doạ dẫm , buột các em phải làm theo vì điều đó sẽ không đem lại kết quả gì + đặc biệt Giáo viên không nên để các em có thời gian rỗi + Kết hợp giữa ba môi trường Giáo dục Gia đình – Nhà trường và Xã hội Sỡ dĩ tôi áp dụng các biện pháp nêu trên , vì như tôi đã nói lứa tuổi các em càng nhỏ và rất thơ ngây , các em luôn xem thầy – cô như một hình tượng , luôn làm theo cô, theo thầy . Mặt khác Giáo dục Học sinh không phải chỉ mang lại cho các em kiến thức , kĩ năng , mà còn phải Giáo dục cho các em về sự hình thành nhân cách , về lối sống , cách cư xử trong cuộc sống đời thường , vì vậy trước hết Giáo viên phải mẫu mực , lời lẽ phải chuẩn xác , trong sáng , gần gũi các em , tránh những lời nói thô tục , hành động thô bạo . Đặc biệt Giáo viên cần vạch rõ ranh giới giữa các việc , khi cấm các em không được làm việc gì đó thì phải nêu rõ nguyên nhân để các em hiểu được việc đó là sai , không nên làm . còn đối với những việc các em được làm , Giáo viên cũng cần giới hạn khung cảnh và những việc nên làm , dù đó là những việc rất nhỏ , vì làm như thế giúp các em hiểu rõ vì sao phải làm như thế này mà không làm như thế kia , và cũng không nên bắt buộc các em phải làm những điều mà các em không hiểu làm để làm gì . Khi các em đã hiểu được những yêu cầu của Giáo viên , khi ấy Giáo viên đưa ra tình huống để các em làm một cách thường xuyên . Việc làm đó được lặp đi lặp lại nhiều lần sẽ từng bước tạo thành thói quen , nề nếp , nhu cầu và không cảm thấy khó chịu thì các em dần dần sẽ trở nên tiến bộ , hoà nhập với cộng đồng . Tuy nhiên công việc này không thể chỉ có Giáo viên làm mà cần phải phối hợp nhịp nhàng , đồng bộ giữa Giáo viên chủ nhiệm và gia đình Học sinh , Giáo viên chủ nhiệm thường xuyên gần gũi với phụ huynh Học sinh để tìm hiểu trao đổi các hoạt động của các em xảy ra hằng ngày hoặc báo cáo những tiến bộ và nảy sinh những cái gì mới ngoài dự kiến của chúng ta thì khi đó Giáo viên chủ nhiệm cùng phụ huynh Giáo dục , uốn nắn ngay từ đầu và kịp thời . Trong học tập Giáo viên phải có kế hoạch cụ thể , ở lớp phải chú ý đến việc sắp xếp , bố trí chỗ ngồi cho hợp lý . Học sinh yếu nên bố trí cho ngồi ở bàn trên , bố trí ngồi cạnh bạn học giỏi hơn để Giáo viên dể theo dõi , giúp đỡ các em trong từng môn học . Giáo viên cần dành sự quan tâm đến việc học tập của những Học sinh này nhiều hơn , thường xuyên kiểm tra bài về nhà , học tập ở lớp , kết quả tiếp thu bài sau mỗi buổi dạy . Giáo viên cần phân công giao nhiệm vụ cho bạn Học sinh giỏi giúp bạn học yếu bằng cách : Truy bài trước giờ vào lớp , kiểm tra bài về nhà , nhắc nhở bạn , giảng giải thêm khi bạn chưa hiểu được bài , chưa biết cách làm bài , không trách ,sĩ nhục bạn . Cứ tiến hành như thế , Giáo viên sẽ theo dõi được sự tiến bộ hoặc không tiến bộ của Học sinh để phối hợp với gia đình Học sinh cùng hướng dẫn thêm việc học ở nhà của các em đồng thời Giáo viên cũng có kế hoạch điều chỉnh hợp lý . Ngoài việc học ở nhà , ở lớp , Giáo viên càng tổ chức phụ đạo cho những Học sinh yếu ở ngoài giờ để nâng cao trình độ cho các em . Trong những buổi phụ đạo Giáo viên giảng lại kiến thức cũ đã học trong tuần để giúp các em nắm chắc bài và làm bài tốt hơn . Tuy nhiên Giáo viên tiến hành từng bước yêu cầu thấp đến yêu cầu cao , không nên vội vàng sẽ gây chán nản cho các em . Khi nhận thấy các em có sự tiến bộ cần khuyến khích kịp thời , khi các em làm sai hoặc không tiến bộ cần động viên chỉ bảo nhẹ nhàng , tránh nói những lời nặng nề xúc phạm đến nhân cách của Học sinh , đặc biệt là không nên bình phẩm Học sinh “Sao em học dốt thế” . Ngoài việc Giáo dục Học sinh cá biệt về đạo đức và học tập , Giáo viên chủ nhiệm cũng cần chú ý đến chữ viết của các em , vì thông qua chữ viết nó thể hiện được tính nết của con người . Rèn chữ viết đúng mẫu , đúng chính ta û , đúng tốc độ quy định và giữ vở sạch . Muốn rèn chữ viết trước hết phải rèn đọc đúng , phát âm đúng các phụ âm đầu , tập các em có đức tính cẩn thận ở tất cả các môn học . Để thực hiện được điều này Giáo viên phải mẫu mực khi viết và trình bày bảng , vì vậy cần rèn chữ viết cho Học sinh lớp 1; 2 đó là góp phần vào phong trào giữ vở sạch đẹp và trong sáng của tiếng việt mà tôi tin chắc chúng ta ai cũng làm được việc này . Tóm lại : Để Giáo dục Học sinh cá biệt tốt , trước hết người Giáo viên chủ nhiệm phải mẫu mực để Học sinh noi theo , luôn gần gũi , thương yêu và tôn trọng Học sinh , phải dành nhiều thời gian cho các em , đôn đốc nhắc nhở , tạo niềm tin cho các em , phải là người nhiệt tình với nghề nghiệp , tôn trọng với công việc , tất cả vì Học sinh thân yêu , vì tương lai của các em . Có như thế mới xứng đáng với câu “ mỗi thầy giáo – cô giáo là một tấm gương sáng cho Học sinh noi theo”, dạy học không chỉ đem lại kiến thức mà phải kết hợp cả dạy người . Đối tượng Học sinh cá biệt phần lớn là những Học sinh nghèo , thiếu giáo dục , ít được sự quan tâm của gia đình chính vì thế mà chúng ta cần phải luôn quan tâm , theo sát và tìm hiểu hoàn cảnh của từng Học sinh để tạo điều kiện học tập cho các em , luôn trao dồi đạo đức cho các em bằng chính lòng thương yêu thực sự của mình , từ đó sẽ cảm hoá được các em để các em hiểu và hoà nhập vào cộng đồng như bao nhiêu đứa trẻ bình thường khác trong xã hội . Công việc này tuy lúc đầu rất vất vả , tốn nhiều công sức , nhưng để theo dõi , uốn nén các em từng li , từng tí , khi các em đã tiếp thu những cái mới , nhận biết được nhiệm vụ của Học sinh dần dần đưa các em vào nề nếp học tập , có thời khoá biểu học ở nhà , các em trở thành thói quen , từ đó các em sẽ tiến bộ và bắt đầu ham học , kết quả học tập sẽ khả quan hơn . Cần phải kết hợp chặt chẽ giữa ba môi trường Giáo dục thì mới thực sự đem lại hiệu quả cao . Sáng kiến này tôi đã áp dụng từ bao năm qua nhưng đặc biệt nhất là năm học 2002 – 2003 sáng kiến này mới thật sự có hiệu quả và áp dụng mãi đến nay . Cụ thể năm học 2002 – 2003 tôi dạy lớp 2A đó là năm đầu tiên áp dụng chương trình thay sách , lớp tôi có một Học sinh là Đinh Văn Vẹt , em là dân tôc H rê , em có đặc điểm là nghịch ngợm ít chú ý . nhưng lại học được , khi nhận lớp tôi đã phát hiện ra ngay diều này , càng hoàn cảnh gia đình em thì rất khó khăn , Mẹ mất sớm , Bố thì lấy vợ khác , và lúc nào cũng hay nhậu nhặc . Thời gian đầu em ở với bố mẹ , sau đó em về ở với anh trai , gần nhà của tôi . Đến lớp em chép bài chỉ là đối phó , chữ viết cẩu thả , biết làm toán nhưng không làm , nghĩa là thích thì làm , không thích thì thôi và luôn nói bằng tiếng của người địa phương . Từ đó tôi đã thực hiện như sau : + Ở miền núi Học sinh được phát vở nên vở của em không thiếu nhưng viết của em thì không có , trong lớp học tôi thấy em không chép bài nên liền lại hỏi vfa em đã cho biết là không có bút , thế là tôi đã lấy bút của mình để cho em và dặn dò nhắc nhở . Nhìn anh mắt của em ngơ ngác nhìn tôi , lúc này tôi cảm nhận được niềm vui sướng tràn ngập trong lòng của em , tôi hướng dẫn cho em viết và thường xuyên kiểm tra vở , việc này tôi thực hiện suốt cả một tuần và tôi đã nhận thấy em đã có sự tiến bộ rõ rệt , em đã ngoan hơn và không có nghịch như trước nữa , đặc biệt là giờ học toán em đã bắt đầu giơ tay xin lên bảng làm , có lúc em làm đúng , cũng có lúc làm sai , tôi luôn luôn khen ngợi và động viên . Bằng những câu nói nhẹ nhàng , những lời chỉ bảo tận tình của tôi , em đã ý thức được việc học của mình . Bên cạnh đó thời gian ngoài giờ tôi thường sang nhà để gặp phụ huynh và phối hợp với phụ huynh để cùng giáo dục em , thường xuyên động viên , khuyến khích và tạo mọi điều kiện thuận lợi để em tham gia học tập tốt . Thực sự là tôi rất mừng khi thấy em tiến bộ , nhưng niềm vui mừng lại tăng lên gấp bội vì kết quả học kì I của em là Học sinh khá , đến học kì II em là Học sinh giỏi của lớp . Kể từ đó em thật sự đã trưởng thành và luôn làm gương cho các Học sinh khác noi theo , từ năm học đó về sau em đều là Học sinh giỏi của lớp . Tôi là Giáo viên chủ nhiệm , tôi cảm thấy rất mừng và tràn đầy hạnh phúc khi nhìn thấy sản phẩm của mình sáng kiến , cải tiến lại có chất lượng cao như thế và đó cũng chính là kết quả lớn nhất của tôi trong những năm qua . 3/ kết quả đạt được : Trong suốt thời gian qua bản thân tôi luôn mẫu mực trong mọi công tác , hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao , đặc biệt là công tác chủ nhiệm , tuy vùng cao nhưng tôi luôn đảm bảo duy trì sĩ số Học sinh , về Giáo dục Học sinh cá biệt có được ngững kết quả cao tỉ lệ Học sinh khá , giỏi nhiều , đảm bảo chỉ tiêu Học sinh lên lớp 100% PHẦN III : KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ 1/ Kết luận : Tự hào về nghề nghiệp của mình là người ươm mầm non cho Tổ quốc , là người Giáo dục thế hệ trẻ trở thành người chủ tương lai của đất nước . Một thế hệ mà Bác Hồ hết sức chăm lo , quan tâm : “ Non sông Việt Nam có sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không , phần lớn là nhờ vào công học tập của các cháu” . Vâng lời Bác dạy , bản thân tôi là người ươm mầm cho đất nước , tôi nguyện ra sức phấn đấu hết sức mình để tạo cho các em một tương lai tốt đẹp , góp một phần công sức của mình vào việc xây dựng quê hương đất nước . 2/ Kiến nghị – đề xuất : Giáo viên chủ nhiệm là người trực tiếp thực hiện công tác này , do đó phải nắm vững đặc điểm của từng em và điều kiện hoàn cảnh gia đình để tạo điều kiện cho các em học tập và rèn luyện . Nhà trường nên thường xuyên tổ chức các phong trào thi đua học tập , để các em được tham gia và phải có khen thưởng kịp thời nhằm khuyến khích , động viên các em . Giáo viên chủ nhiệm thường xuyên liên hệ với gia đình học sinh để báo cáo kết quả học tập và rèn luyện của học sinh cho phụ huynh nắm . Lập kế hoạch dạy phụ đạo cho Học sinh yếu kém . Nhà trường cần phải quan tâm bồi dưỡng đội ngũ Giáo viên của trường về công tác chủ nhiệm lớp để đưa phong trào của nhà trường ngày càng vững mạnh hơn , không có Học sinh cá biệt , xứng đáng là nhà trường xã hôi chủ nghĩa . Sơn Bao, ngày :.././ Người viết

Những Biện Pháp Hạn Chế Và Giáo Dục Học Sinh Cá Biệt

1- Giáo dục HS thông qua giờ sinh hoạt trường :

– Để cho HS nắm bắt được việc đánh giá xếp loại hạnh kiểm (HK) tức là những chuẩn mực các em đạt được trong quá trình rèn luyện hạnh kiểm của mình, nhà trường cần phải thông báo cho các em biết được các mức độ xếp loại HK ( tốt, khá, trung bình, yếu ) theo Thông tư 40, Điều lệ trường PT . Hiểu được thì các em sẽ tránh được vi phạm mà các em mắc phải, để rồi các em khỏi phải bị xếp loại HK yếu, khỏi phải liệt vào danh sách HSCB

– Trong buổi chào cờ đầu tuần, cần phải đánh giá nhận xét chu đáo, nêu gương người tốt, việc tốt để các em noi theo, hạn chế những vi phạm nội qui lớp học , trường học .

2- Giáo dục HS thông qua giờ sinh hoạt lớp :

Ngoài việc giáo dục HS thông qua giờ sinh hoạt trường, giờ sinh hoạt lớp (SHL) cũng rất quan trọng trong vấn đề này. Bởi vì thông qua giờ SHL, GVCN, CB lớp kịp thời uốn nắn những sai trái khuyết điểm của HS khi bị vi phạm, lấy tình cảm bạn bè, lấy nghĩa thầy trò làm cho các em thấy được khuyết điểm của mình. Đồng thời với sự chân thành của GVCN, HS trong lớp, HS khi vi phạm sẽ sớm nhận ra lỗi lầm của mình mà sửa chữa .

Những biện pháp hạn chế và giáo dục học sinh cá biệt : 1- Giáo dục HS thông qua giờ sinh hoạt trường : - Để cho HS nắm bắt được việc đánh giá xếp loại hạnh kiểm (HK) tức là những chuẩn mực các em đạt được trong quá trình rèn luyện hạnh kiểm của mình, nhà trường cần phải thông báo cho các em biết được các mức độ xếp loại HK ( tốt, khá, trung bình, yếu ) theo Thông tư 40, Điều lệ trường PT . Hiểu được thì các em sẽ tránh được vi phạm mà các em mắc phải, để rồi các em khỏi phải bị xếp loại HK yếu, khỏi phải liệt vào danh sách HSCB - Trong buổi chào cờ đầu tuần, cần phải đánh giá nhận xét chu đáo, nêu gương người tốt, việc tốt để các em noi theo, hạn chế những vi phạm nội qui lớp học , trường học . 2- Giáo dục HS thông qua giờ sinh hoạt lớp : Ngoài việc giáo dục HS thông qua giờ sinh hoạt trường, giờ sinh hoạt lớp (SHL) cũng rất quan trọng trong vấn đề này. Bởi vì thông qua giờ SHL, GVCN, CB lớp kịp thời uốn nắn những sai trái khuyết điểm của HS khi bị vi phạm, lấy tình cảm bạn bè, lấy nghĩa thầy trò làm cho các em thấy được khuyết điểm của mình. Đồng thời với sự chân thành của GVCN, HS trong lớp, HS khi vi phạm sẽ sớm nhận ra lỗi lầm của mình mà sửa chữa . Trong khi giáo dục các em, GVCN không nên nặng về kiểm điểm, phê bình, mà phải tìm ra và xác định đúng nguyên nhân đã tác động đến các em làm cho các em mắc sai lầm, vi phạm, vận dụng những điều khoản trong nội qui, trong qui định xếp loại của TT40 làm cho các em thấy được phạm vi vi phạm ở mức độ nào và nêu ra hướng cho các em khắc phục. GVCN nêu những việc làm tốt, những cố gắng nổ lực của các thành viên trong lớp để xây dựng tập thể lớp thành lớp tiên tiến với thành tích như vậy thì không được bất cứ thành viên nào trong lớp phá vỡ . 3- Kết hợp với Hội PHHS để giáo dục HS : Hội PHHS là cầu nối giữa nhà trường, GVCN với gia đình HS. Tổ chức Hội ngoài việc giúp nhà trường xây dựng CSVC còn góp phần cùng nhà trường giáo dục HSCB . Thực tế, những năm qua Thường trực Hội PHHS đã giúp cho nhà trường, GVCN bằng cách tác động với PH để giáo dục HS từ chỗ bỏ học, trốn học đến đi học chuyên cần và học tập nghiêm túc. Mặt khác, TT Hội PHHS đã tác động đến gia đình các em để cha mẹ các em quan tâm và có trách nhiệm đối với con cái của họ hơn, từ đó sẽ hạn chế được HS hoang nghịch . 4- Phối hợp với các Đoàn thể và các lực lượng khác trong xã hội : Hiện nay ở địa phương đã hình thành các khu dân cư và nhiều nơi đã xây dựng khu dân cư, thôn văn hóa, đó là điều kiện tốt để các Đoàn thể cùng với nhà trường, qua đó giáo dục HS. Các đoàn thể, chính quyền địa phương giúp cho các thành viên xây dựng gia đình văn hóa, hạn chế tình trạng cha mẹ bỏ mặc con cái đi làm ăn, những mối bất hòa trong gia đình dần dần chấm dứt, từ đó cha mẹ sẽ có điều kiện chăm sóc giáo dục con cái tốt hơn . 5- Dùng phương pháp kết bạn : Thường lứa tuổi HS dễ bị ảnh hưởng những thói hư tật xấu nhưng cũng dễ tiếp thu những điều hay lẽ phải, dễ hòa mình vào những trò chơi có tính tập thể, tính giáo dục cao . Do đó GVCN nên phân công một nhóm bạn tốt, cùng hoàn cảnh, cùng sở thích, uớc mơ ... sinh hoạt, học tập với đối tượng này dần dần lôi kéo các em hòa nhập vào các cuộc chơi bổ ích, từ đó xóa bỏ các mặc cảm là HS hư để rồi cùng với các thành viên trong lớp xây dựng tập thể vững mạnh . Mặt khác, thông qua nhóm bạn tốt, GVCN giao cho HSCB thực hiện một số công việc, tạo những điều kiện để những HS này hoàn thành và động viên khích lệ các em để các em xóa những tự ti, mặc cảm là HSCB để hòa mình với bạn bè. Ngoài ra có thể vận động gia đình của nhóm bạn tốt tham gia vào việc giúp đỡ những HS này bằng cách tạo cho các em tâm lý xem gia đình của bạn như gia đình mình, tạo điều kiện cho các em cùng tham gia học tập với con em mình để tách dần ra khỏi nhóm bạn chưa ngoan. Việc làm này cả là một cố gắng trong đó vai trò của GVCN rất quan trọng và sự tham gia của Hội PHHS là rất cần thiết . V- Kết luận : Trong thực tế , các nhà trường , thầy cô giáo cũng đã từng vận dụng những biện pháp nêu trên và một số biện pháp khác, nhưng vì chưa nắm được nguyên nhân và chưa phân tích các đối tượng cụ thể. Đồng thời, việc phối hợp giữa các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường chưa chặt chẽ, đồng bộ nên việc giáo dục HS chưa có hiêụ quả cao. Nếu chúng ta phân tích được các nhóm đối tượng HSCB và tìm hiểu, phân tích kỹ những nguyên nhân dẫn đến HS hoang nghịch đồng thời biết kết hợp và vận dụng các biện pháp trên phù hợp cho từng đối tượng thì sẽ hạn chế và giáo dục HSCB trở thành con ngoan, trò giỏi .

Phương Pháp Giáo Dục Học Sinh Cá Biệt Ở Tiểu Học

Những phương pháp giáo dục học sinh cá biệt ở Tiểu học

8 phương pháp giáo dục học sinh cá biệt ở Tiểu học

Học sinh cá biệt là gì?

Học sinh cá biệt (HSCB) chỉ những học sinh hoang nghịch thường gây gỗ đánh nhau, bỏ giờ, trốn học, không chấp hành nội qui nhà trường … thêm vào đó là sự lôi kéo của bạn bè về phía mình nhằm thỏa mãn cá tính hoặc thỏa mản nhu cầu giải tỏa tâm lý bị ức chế về hoàn cảnh của bản thân mình. Đó là hiện tượng tâm lý ở lứa tuổi thanh thiếu niên, nó dễ bị lôi cuốn làm cho học sinh dễ bị tiêm nhiễm những thói hư tật xấu dẫn đến tình trạng bỏ học giữa chừng và có nguy cơ phạm tội là nỗi day dứt của nhà trường, gia đình và xã hội.

Rất nhiều yếu tố làm cho HS trở thành HSCB, nhưng chúng ta chỉ đề cập đến một số nguyên nhân tác động trực tiếp đến HS, làm nảy sinh những tư tưởng, tình cảm không lành mạnh làm ảnh hưởng đến sự hình thành nhân cách và làm hạn chế đến năng lực học tập của các em.

Xã hội phát triển theo cơ chế thị trường nó kéo theo một bộ phận không lành mạnh khác như dịch vụ giải trí không lành mạnh, phim ảnh bạo lực, tình cảm lứa đôi quá mức. Hiện nay, do sự quản lí không chặt chẽ của nhà nước, các dịch vụ bi a, internet, karaoke … được tổ chức gần trường học, lôi cuốn, hấp dẫn các em vào các trò chơi vô bổ. Các em lao vào các trò chơi đó dẫn đến bỏ giờ trốn học và những vi phạm khác. Đồng thời các kênh truyền hình chiếu một số bộ phim có mang những hình ảnh bạo lực làm cho các em dễ dàng bắt chước. Ngoài ra những tụ điểm ăn chơi hàng ngày nhan nhản, làm cho các em không tự chủ, tham gia không có ý thức dần dần tiêm nhiễm và trở thành HS hư.

Thời gian HS học tập, sinh hoạt ở trường đều có sự quản lí hướng dẫn của GVCN, GVBM, cán bộ lớp, nhà trường, đó là điều kiện để các em học tập tốt và rèn luyện nhân cách. Nhưng phần lớn thời gian các em sinh hoạt là ở gia đình: tự học, lao động, vui chơi. Với thời gian đó đối với hầu hết HS đều có thời khóa biểu học tập ở nhà, ý thức được việc học tập ở nhà là thời gian giúp các em ghi nhớ lại bài cũ, luyện tập và nghiên cứu bài mới, chuẩn bị cho ngày học hôm sau, đồng thời tham gia giúp đỡ công việc gia đình. Đó là những HS thực sự tự giác trong học tập và được sự quản lí giáo dục của gia đình. Nếu các em chưa ý thức được việc học tập, đồng thời gia đình không quan tâm và không tạo điều kiện thì việc học tập của các em không đến nơi đến chốn, chất lượng bị ảnh hưởng, các em học tập yếu, thua bạn bè dẫn đến chán học, bỏ học.

Phương pháp giáo dục học sinh cá biệt ở tiểu học hiệu quả

1. Không nên có cái nhìn kì thị với các em

Đây là điều đầu tiên mà các thầy cô cần nắm rõ khi giáo dục các học sinh cá biệt. Là người giáo viên, chúng ta không nên có cái nhìn kì thị, thái độ khó chịu, ghét bỏ, coi thường hay mắng nhiếc học sinh cá biệt trước lớp. Không nên cố gắng dò xét chỉ để tìm thấy lỗi, hay thấy những mặt xấu của các em. Không nên gọi các em là học sinh cá biệt nhiều lần, đặc biệt là trước lớp, trước mặt người khác, đồng thời cũng đừng tách các em ra khỏi lớp hay cô lập các em trước lớp. Vì những điều này chỉ làm trầm trọng thêm vấn đề mà thôi. Các thầy cô cũng nên biết rằng, ở độ tuổi tiểu học, các em vẫn chưa hình thành được nhân cách của mình, các em chỉ là những học sinh chưa ngoan và cần được giáo dục. Vậy nên, đừng kì thị các em vì các em luôn cần ta giúp đỡ.

2. Quan tâm và gần gũi hơn với các em

Cái gì cũng có lý do của nó, không phải tự dưng khi sinh ra con người ta cũng đều trở nên xấu xa cả. Và đối với trường hợp của các em học sinh cá biệt cũng vậy, chắc chắn là vì nhiều yếu tố tác động nên mới khiến các em như thế. Các thầy cô cần tìm hiểu nguyên nhân, để từ đó đưa ra cách tiếp cận phù hợp cũng như có sự quan tâm và gần gũi hơn vì thấu hiểu về những chuyện mà các em gặp phải. Để thực hiện tốt điều này, chúng ta có thể chia học sinh cá biệt thành các nhóm sau:

Cá biệt – học lực yếu, vì các em bị mất kiến thức căn bản ở lớp dưới

Cá biệt – học yếu do các em được bố mẹ nuông chiều, ham chơi, lười học, không học bài, bị bạn xấu rủ rê sa đà

Cá biệt – học yếu do hoàn cảnh gia đình khó khăn

Cá biệt – học yếu do cha mẹ li hôn, thiếu thốn tình cảm gia đình

Tóm lại, các thầy cô cần có sự quan tâm gần gũi, tìm hiểu rõ về các học sinh cá biệt. Vì đa số các em đều rất cần một điểm tựa tinh thần tin cậy để có thể bộc bạch, sẻ chia, cũng như tâm sự những khó khăn, những nỗi niềm riêng tư thầm kín. Thầy cô sẽ trở thành người bạn lớn của các em, luôn luôn lắng nghe, luôn luôn thấu hiểu. Người GVCN nên biết lắng nghe những tâm sự của các em và cũng nên giữ kín những tâm sự đó để các em tin tưởng mà bộc bạch. Hãy nhìn các em bằng ánh mắt của người cha, sự nhân từ của người mẹ, sự gần gũi, cảm thông của những người anh người chị, sự thân thiết của những người bạn.

3. Nhẹ nhàng phân tích những ưu khuyết điểm của các em

Thầy cô hãy nhẹ nhàng phân tích những ưu khuyết điểm, những đúng, sai trong nhận thức cũng như hành động của các em, để từ đó giúp các em nhận ra lỗi lầm của bản thân và tạo cho các em cơ hội, thiện chí sửa chữa, không tái phạm. Tuyệt đối không la mắng chửi bới các em, đừng biến lớp học trở thành “địa ngục” đối với các em học sinh cá biệt, đừng biến những giờ sinh hoạt hay giờ ra chơi thành một giờ “tổng sỉ vả” đối với các em, đừng để các học sinh nghĩ rằng cứ gặp thầy cô là lại sẽ bị la mắng, trách phạt, truy tội. Điều này rất dễ gây ra những tâm lý tiêu cực và khiến các em tệ hơn lúc trước. Khi cần, chúng ta có thể gặp riêng các em để nhắc nhở, trao đổi.

4. Tìm ra điểm mạnh để giúp các em phát huy nó

Là một giáo viên chủ nhiệm, chúng ta đừng bao giờ để bụng những lỗi lầm của học sinh, đừng vội nhìn thấy hiện tượng mà đánh giá học sinh của mình chưa tốt. Dù là học sinh cá biệt và có khó giáo dục đến đâu đi chăng nữa thì bên trong các em vẫn luôn tiềm ẩn những nhân tố, những phẩm chất tích cực. Chúng ta hãy cố phát hiện ra những ưu điểm ẩn sâu trong mỗi em. Có thể là chính các em cũng không biết mình có những ưu điểm đó, vậy nên nếu có phương pháp đúng chúng ta hãy khơi gợi để làm thức tỉnh, khôi phục niềm tin cho các em để các em thấy rằng mình không hề kém cỏi, không phải là “thứ bỏ đi”, để từ đó vứt bỏ được sự tự ti, mặc cảm trong các em và chủ động hội nhập với các bạn trong lớp. Ngoài ra, điều này cũng sẽ giúp các em phát huy được điểm mạnh của mình, góp phần vào xây dựng tập thể vững mạnh, dần hình thành phẩm chất tự tin, kiên định trước tập thể cũng như khẳng định được khả năng của bản thân.

5. Tin tưởng vào sự nỗ lực của các em

Các thầy cô hãy nhìn nhận vấn đề theo hướng tích cực, đừng nghiêm trọng hoá vấn đề mà hãy tạo cho các em một lối thoát, một cơ hội để bản thân có thể tự sửa chữa, xin đừng “mổ một con gà bằng một cái búa”. Hãy tin tưởng chờ đợi sự chuyển biến từ các em. Chúng ta không nên nóng vội, vì thầy cô càng nóng vội thì sẽ càng tạo áp lực lên các em, khiến các em càng bối rối, càng sa vào đối phó. Đồng thời, hãy trân trọng những tiến bộ của các em dù chỉ là chuyện nhỏ nhất, bởi đó là cả một sự nỗ lực, cố gắng rất lớn của các em. Đừng tiết kiệm lời khen, các thầy cô hãy biểu dương các em trước tập thể lớp, vì đối với các em một lời động viên, khen ngợi còn có giá trị hơn rất nhiều lần so với những bản kiểm điểm.

6. Thầy cô hãy cố gắng điềm tĩnh, biết tự kiềm chế

Bản thân người thầy, người cô nào trong công tác chủ nhiệm cũng cần phải biết kiềm chế những cơn nóng giận của mình khi có học sinh vi phạm. Hãy luôn bình tĩnh trong mọi tình huống cho dù xấu nhất. Chắc chắn rằng sẽ có nhiều giáo viên bị stress khi chủ nhiệm phải một lớp học mà có quá nhiều học sinh cá biệt, ngày nào cũng bị thầy cô giám thi “kể tội” học trò của mình…Trong những tình huống như thế này, các thầy cô hãy cố gắng điềm tĩnh, biết tự kiềm chế vì học sinh cá biệt thực sự là một “thử thách” lớn đối với đức tính điềm tĩnh, tự kìm chế của bất cứ giáo viên nào. Chúng ta không nên nóng vội, không nên quá khắt khe hay xử lí mạnh tay bằng những hình thức kỉ luật nặng nề, không nên thành kiến với các em học sinh cá biệt, cũng như đừng nhắc đi nhắc lại nhiều lần lỗi vi phạm của các em, vì điều này sẽ dễ dẫn đến sự chai lì.

7. Giáo dục theo cách mềm dẻo linh hoạt – nhưng lời nói phải đi đôi với việc làm

Trong công tác chủ nhiệm, các thầy cô phải kiên quyết cứng rắn, lời nói phải đi đôi với việc làm. Tuyệt đối đừng hứa suông, một khi đã nói thì phải kiên quyết thực hiện cho bằng được, biết không làm được thì kiên quyết không nói. Chúng ta hãy vận dụng một cách linh hoạt theo phương châm “lạt mềm buộc chặt”, “mềm nắn rắn buông”.

8. Phối hợp chặt chẽ với gia đình

Điều quan trọng trong công tác chủ nhiệm là giáo viên cần phối hợp một cách chặt chẽ với phụ huynh học sinh trong quá trình giáo dục các em. Lưu ý rằng: khi tiếp xúc với phụ huynh học sinh cá biệt cần tránh cho họ sự tổn thương cần thiết. Thường thì những học sinh cá biệt sẽ hoàn cảnh sống đặc biệt, do gia đình mâu thuẫn, cha mẹ hay cãi vã, hoặc là do các em thiếu thốn tình cảm, thiếu sự quan tâm cũng như chăm sóc từ cha mẹ và cũng có thể là do cha mẹ quá nuông chiều… với muôn ngàn lí do khác.

Mặt khác, cha mẹ luôn coi con cái của mình là thứ quý giá nhất, cho dù chúng hư hỏng, khó dạy bảo đến đâu… Cho nên khi nghe tin có giáo viên đến nhà thăm, hay điện thoại báo tin là bản thân họ lại không muốn tiếp, không muốn nghe. Và nếu có tiếp hay nghe điện thoại của thầy cô thì cũng với thái độ bực dọc, thậm chí là bất cần, vì mấy ai thích nghe người khác kể tội con mình. Vì vậy, khi tiếp xúc với phụ huynh, giáo viên nên đặt vị trí của mình vào trong suy nghĩ, tình cảm của cha mẹ các em để phân tích, lí giải thiệt hơn. Hãy cố gắng tìm hiểu những khó khăn của các bậc phụ huynh trong việc quản lí, cũng như dạy dỗ con em mình để cùng nhau tìm biện pháp giáo dục tốt nhất.

Một số biện pháp nhằm giáo dục HSCB

Giáo dục HS thông qua giờ sinh hoạt trường

Để cho HS nắm bắt được việc đánh giá xếp loại hạnh kiểm (HK) tức là những chuẩn mực các em đạt được trong quá trình rèn luyện hạnh kiểm của mình, nhà trường cần phải thông báo cho các em biết được các mức độ xếp loại HK (tốt, khá, trung bình, yếu). Hiểu được thì các em sẽ tránh được vi phạm mà các em mắc phải, để rồi các em khỏi phải bị xếp loại HK yếu, khỏi phải liệt vào danh sách HSCB.

Giáo dục HS thông qua giờ sinh hoạt lớp

Ngoài việc giáo dục HS thông qua giờ sinh hoạt trường, giờ sinh hoạt lớp (SHL) cũng rất quan trọng trong vấn đề này. Bởi vì thông qua giờ SHL, GVCN, CB lớp kịp thời uốn nắn những sai trái khuyết điểm của HS khi bị vi phạm, lấy tình cảm bạn bè, lấy nghĩa thầy trò làm cho các em thấy được khuyết điểm của mình. Đồng thời với sự chân thành của GVCN, HS trong lớp, HS khi vi phạm sẽ sớm nhận ra lỗi lầm của mình mà sửa chữa.

Trong khi giáo dục các em, GVCN không nên nặng về kiểm điểm, phê bình, mà phải tìm ra và xác định đúng nguyên nhân đã tác động đến các em làm cho các em mắc sai lầm, vi phạm, vận dụng những điều khoản trong nội qui, trong qui định xếp loại làm cho các em thấy được việc vi phạm ở mức độ nào và nêu ra hướng cho các em khắc phục.

Kết hợp với Hội Phụ huynh (PH) HS

Hội PHHS là cầu nối giữa nhà trường, GVCN với gia đình HS. Tổ chức Hội ngoài việc giúp nhà trường xây dựng cơ sở vật chất còn góp phần cùng nhà trường giáo dục HSCB. Thường trực Hội PHHS giúp cho nhà trường, GVCN bằng cách tác động với PH để giáo dục HS từ chỗ bỏ học, trốn học đến đi học chuyên cần và học tập nghiêm túc. Mặt khác, TT Hội PHHS đã tác động đến gia đình các em để cha mẹ các em quan tâm và có trách nhiệm đối với con cái của họ hơn, từ đó sẽ hạn chế được HS hoang nghịch.

Phối hợp với các Đoàn thể và các lực lượng khác trong xã hội

Hiện nay ở nhiều địa phương đã hình thành các khu dân cư, thôn văn hóa. Đó là điều kiện tốt để các Đoàn thể cùng với nhà trường, qua đó giáo dục HS. Các Đoàn thể, chính quyền địa phương giúp cho các thành viên xây dựng gia đình văn hóa, hạn chế tình trạng cha mẹ bỏ mặc con cái đi làm ăn, những mối bất hòa trong gia đình dần dần chấm dứt, từ đó cha mẹ sẽ có điều kiện chăm sóc giáo dục con cái tốt hơn.

Phương pháp kết bạn

Thường lứa tuổi HS dễ bị ảnh hưởng những thói hư tật xấu nhưng cũng dễ tiếp thu những điều hay lẽ phải, dễ hòa mình vào những trò chơi có tính tập thể, tính giáo dục cao. Do đó GVCN nên phân công một nhóm bạn tốt, cùng hoàn cảnh, cùng sở thích, uớc mơ để sinh hoạt, học tập với đối tượng này dần dần lôi kéo các em hòa nhập vào các cuộc chơi bổ ích, từ đó xóa bỏ các mặc cảm là HS hư để rồi cùng với các thành viên trong lớp xây dựng tập thể vững mạnh.

Mặt khác, thông qua nhóm bạn tốt, GVCN giao cho HSCB thực hiện một số công việc, tạo những điều kiện để những HS này hoàn thành và động viên khích lệ các em để các em xóa những tự ti, mặc cảm là HSCB để hòa mình với bạn bè. Ngoài ra có thể vận động gia đình của nhóm bạn tốt tham gia vào việc giúp đỡ những HS này bằng cách tạo cho các em tâm lý xem gia đình của bạn như gia đình mình, tạo điều kiện cho các em cùng tham gia học tập với con em mình để tách dần ra khỏi nhóm bạn chưa ngoan. Việc làm này cả là một cố gắng trong đó vai trò của GVCN rất quan trọng và sự tham gia của Hội PHHS là rất cần thiết.

Phương pháp “lạt mềm buộc chặt”

Tuổi mới lớn thì nghịch phá là chuyện khó tránh khỏi. Những biện pháp mạnh như kỷ luật hay lớn tiếng trách mắng, la rầy HS đôi khi sẽ không có tác dụng bằng sự mềm mỏng, kiên nhẫn. Ai cũng muốn mình là học sinh ngoan, giỏi nhưng vì lý do về gia đình, về tâm sinh lý và rất nhiều nguyên nhân khác dẫn đển những hành động tiêu cực của một vài bạn học sinh. Trước hết, thầy cô nên tìm hiểu rõ nguyên nhân và dùng sự mềm mỏng để cảm hóa học sinh của mình.

Kết hợp kỷ luật và tình thương

Đừng vì một vài biểu hiện nhất thời của học sinh mà gán ghép cho các em cái tên “học sinh cá biệt”. Bên cạnh đó, thầy cô giáo cũng cần chú ý đến tâm lý lứa tuổi của các em bởi “giai đoạn cấp 2, cấp 3 là giai đoạn khá nhạy cảm và có những rối loạn của tuổi dậy thì. Đôi khi những phản ứng nổi loạn là do các em không kiềm chế, kiểm soát được”.

Cố PGS-TS Văn Như Cương, hiệu trưởng Trường THPT Lương Thế Vinh – Hà Nội đã từng nói rằng, thầy cô phải uốn nắn, định hướng ngay khi các em mắc những lỗi nhỏ để tránh dẫn đến việc xảy ra chuyện lớn rồi buộc lòng phải dùng biện pháp kỷ luật học sinh.

PGS Văn Như Cương chia sẻ: “Kỷ luật là một hình thức giáo dục, không chỉ giáo dục học sinh vi phạm mà còn răn đe các em khác nữa. Tuy nhiên, kỷ luật là hình thức giáo dục cuối cùng bắt buộc phải dùng đến”.

Giáo dục là một hoạt động đặc biệt bởi sản phẩm tạo ra là con người. Vì vậy vẫn nên dùng đến kỷ luật nhưng là kỷ luật kết hợp với tình yêu thương. Có như vậy thì người thầy mới không khắc những vết thương lên tinh thần của người học trò về sau này. Đừng làm các em học sinh rơi vào trạng thái thấy mình là kẻ cá biệt và cô độc trong lớp rồi nảy sinh những phản ứng tiêu cực như sợ hãi, tự ti. Mục đích của việc làm này là”giơ cao đánh khẽ” và với mong muốn giúp học sinh có kỷ luật tốt hơn. Đây có phải là cách tốt nhất để răn đe, giáo dục học sinh khi vi phạm, nhất là học sinh đang trong độ tuổi hình thành phát triển tâm lý.

Phần lớn ngày nay, thời gian của các em học sinh ở trường nhiều hơn ở nhà. Trong trường, có thầy cô giáo dạy dỗ còn về nhà thì cha mẹ lo đi làm nên sẽ không thể dành thời gian nhiều để bảo ban các em.

Vậy liệu khi đuổi học, có phải là gián tiếp đưa học sinh ra ngoài xã hội nhiều cạm bẫy, đẩy học sinh đến gần với những tệ nạn xã hội này không? Trong khi có nhiều cách có thể xử lý được như cảnh cáo trước toàn trường, đưa học sinh đó vào một nhóm giáo dục đặc biệt tại trường.

Chắc hẳn chúng ta ai cũng nhớ hai câu thơ của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Hiền dữ phải đâu là tính sẵn / Phần nhiều do giáo dục mà nên”. Chính vì vậy, mỗi khi dùng biện pháp mạnh với học sinh phạm khuyết điểm, những người có trách nhiệm nên cân nhắc hết sức kỹ lưỡng.