Biện Pháp Tu Từ Ngồi Buồn Nhớ Mẹ Ta Xưa / TOP #10 ❤️ Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 10/2022 ❣️ Top View | Phauthuatthankinh.edu.vn

Nhân Mùa Vu Lan 2022::ngồi Buồn Nhớ Mẹ Ta Xưa

Bài Tập Tìm Hiểu Và Vận Dụng Một Số Biện Pháp Tu Từ Thường Gặp Ở Tiểu Học

Phép Tu Từ So Sánh Ôn Từ Và Câu Ở Lớp 3, 4, 5.

Ẩn Dụ Là Gì? Có Mấy Kiểu Ẩn Dụ. Lấy Ví Dụ Các Loại

Soạn Bài Thực Hành Phép Tu Từ Ẩn Dụ Và Hoán Dụ

Phóng Đại Là Gì? Tìm Hiểu Về Phóng Đại Là Gì?

Thế là một mùa thu, một mùa Vu Lan nữa lại về. Nhớ mẹ, đó là nỗi nhớ đằng đẵng, khôn nguôi, nhất là đối với những người đã và đang đi vào lứa tuổi “xưa nay hiếm” như chúng tôi bây giờ. Ta vẫn như thấy đâu đây thấp thoáng bóng mẹ ta đi về cùng năm tháng. Từ ngàn xưa, đã có biết bao nhiêu bài thơ viết về Mẹ, nhưng nhân mùa Vu Lan này, xin giới thiệu đến mọi người, bài thơ: “Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa” của nhà thơ Nguyễn Duy. Đây cũng là bài thơ đã neo đậu theo dòng thời gian trong lòng bạn đọc những cảm xúc thơ mà hình như mỗi chúng ta ai cũng đều thấy bóng dáng người mẹ thân yêu của chính mình, trong những vần thơ – ca dao của Nguyễn Duy.

Bần thần hương huệ thơm đêm

khói nhang vẽ nẻo đường lên Niết bàn

chân nhang lấm láp, tro tàn

xăm xăm bóng mẹ trần gian thuở nào

nón mê thay nón quai thao đội đầu

váy nhuộm bùn áo nhuộm nâu bốn mùa…

Cái cò… sung chát đào chua

câu ca mẹ hát gió đưa về trời

ta đi trọn kiếp con người

cũng không đi hết những lời mẹ ru

trái hồng trái bưởi đánh đu giữa rằm

bao giờ cho tới tháng năm

mẹ ta trải chiếu ta nằm đếm sao

Ngân hà chảy ngược lên cao

quạt mo vỗ khúc nghêu ngao thằng Bờm

trong leo lẻo những vui buồn xa xôi

sữa nuôi phần xác hát nuôi phần hồn

liệu mai sau các con còn nhớ chăng

lòng ta – chỗ ướt mẹ nằm đêm mưa

miệng nhai cơm búng lưỡi lừa cá xương.

Bài thơ: “Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa” chính là nỗi nhớ cảm động của người con về mẹ. Trong một lần tiếp chuyện Nguyễn Duy ở Đà Lạt, nhà thơ đã giãi bày với chúng tôi: “Mẹ tôi mất sớm. Tôi và em gái tôi ở với bà ngoại. Hình ảnh về mẹ trong bài thơ “Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa” chính là hình ảnh bà ngoại tôi hồi đó… Những đêm hè trời trong, gió mát bà tôi thường trải chiếu cói trên mặt đê sông Mã, cùng các cháu nằm ngắm trăng, kể chuyện “Hằng Nga”, chuyện “Thằng Cuội” hoặc là đếm “một ông sao sáng, hai ông sáng sao, ba ông sao sáng…”.

Tiêu đề và câu kết của bài thơ chính là một trong những câu ca dao nổi tiếng về mẹ của ông cha ta, có từ ngàn xưa. Đây có lẽ cũng chính là mạch nguồn vô tận chảy suốt bài thơ. Bài thơ được mở đầu bằng những tâm tình xót xa đến khôn nguôi, giữa bầu không khí đầy tâm linh thành kính: “Bần thần hương huệ thơm đêm/Khói nhang vẽ nẻo đường lên Niết bàn/Chân nhang lấm láp, tro tàn/Xăm xăm bóng mẹ trần gian thuở nào”.

Trong đêm, hình bóng mẹ theo khói nhang hiện về trong hồi ức đầy thông cảm. Mẹ đã đi xa, nhưng “chân nhang lấm láp” và “xăm xăm bóng mẹ” đã đưa ta đến với mẹ. Và quả thật, “mẹ ta” đã hiện về, rõ ràng trong nỗi “bần thần” khó tả của một đời nghèo khó: “Mẹ ta không có yếm đào/Nón mê thay nón quai thao đội đầu/Rối ren tay bí, tay bầu/Váy nhuộm bùn, áo nhuộm nâu bốn mùa”.

Chỉ với mấy câu thơ ngắn ngủi này, Nguyễn Duy đã nói lên tất cả. Đã đưa ta về với người mẹ nghèo khó, bần hàn. Mẹ ta “không có yếm đào”, “không nón quai thao” và cũng chẳng có áo tứ thân, chít khăn mỏ quạ, mà hiện lên trong đó chỉ là một người mẹ nông thôn, bình dị, chân lấm, tay bùn cả đời gieo neo, vất vả. Chính việc sử dụng tài tình các từ láy “bần thần”, “lấm láp”, “xa xăm”, “rối ren” trong những câu thơ này càng tô đậm thêm cuộc sống lam lũ của mẹ, nhưng đó cũng là thủ pháp để tôn vinh đấng sinh thành cao cả. Lời thơ dung dị, gần gũi với mọi người: “Cái cò… sung chát… đào chua/Câu ca mẹ hát gió đưa về trời/Ta đi trọn kiếp con người/Cũng không đi hết mấy lời mẹ ru”.

Kỷ niệm về mẹ dồn nén để rồi cứ thế ùa vào tâm tưởng mỗi người con. Ta nhớ tới mẹ mình, không chỉ ở những lời ru mộc mạc, chân tình mà còn ở những món quà quê giản dị – đó là những “trái hồng”, “trái bưởi”, là những đêm “Mẹ ra trải chiếu, ta nằm đếm sao” và “Bờ ao đom đóm chập chờn”… Những hồi ức này khiến mỗi chúng ta như thấy một góc nhỏ của tuổi thơ mình đang hiện hữu trong những câu lục – bát tài hoa của nhà thơ.

Sợi chỉ xuyên suốt bài thơ và là nguồn cảm hứng chủ đạo của bài thơ là lời ru của mẹ. Lời ru ấy không chỉ đưa ta vào giấc ngủ khi còn ấu thơ, mà nó còn theo ta đi trọn cuộc đời: “Mẹ ru cái lẽ ở đời/Sữa nuôi phần xác, hát nuôi phần hồn”.

Và rồi nhà thơ đã nói lên sự lo lắng về hát ru đã và đang ngày một biến mất trong đời sống ngày nay: “Bà ru mẹ… mẹ ru con/Liệu mai sau các con còn nhớ chăng?”.

Quả thật sự lo lắng của nhà thơ là hoàn toàn có cơ sở. Ngày nay, tiếng hát ru con hầu như không còn được các bà mẹ trẻ sử dụng. “Bà ru mẹ… mẹ ru con” tưởng như là một quy luật muôn đời, bất biến, một nét đẹp văn hóa từ ngàn xưa của dân tộc, đáng trân trọng, giữ gìn và phát huy thì đang dần bị lãng quên, mai một!?

Thơ Nguyễn Duy mộc mạc, đằm thắm và thấm đậm chất trữ tình nhưng vẫn mang tính triết luận như là một tổng kết cuộc đời: “Ta đi trọn kiếp con người/Cũng không đi hết những lời mẹ ru”.

Ở đây, ta bắt gặp sự đồng điệu của Nguyễn Duy với Chế Lan Viên, dù phong cách viết giữa hai nhà thơ hoàn toàn khác nhau. Sự đồng điệu ấy thể hiện ở câu thơ của Chế Lan Viên: “Con dù lớn vẫn là con của mẹ/Đi suốt đời lòng mẹ vẫn theo con…”/”Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa” là một dòng hồi ức tuyệt đẹp về người mẹ. Nhân mùa Vu Lan về, lại càng nhớ mẹ nhiều hơn, càng cám ơn nhà thơ đã cho ta những câu thơ – ca dao đẹp về mẹ. Điều đó càng nhắc nhở chúng ta: những ai còn mẹ càng phải biết trân trọng hơn đức sinh thành, dưỡng dục của mẹ. Những ai mẹ đã khuất lại càng thấy xao xuyến, nhớ mẹ tha thiết như lời ru êm dịu của những câu thơ lục bát tài hoa mà Nguyễn Duy đã sáng tạo.

Có thể khẳng định, “Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa” là một trong những bài thơ hay nhất viết về mẹ. Hay bởi đó là tình cảm chân tình từ đáy lòng nhà thơ khi nhớ với người mẹ thân yêu của mình. Hay còn bởi đó là giá trị nhân văn, là truyền thống dân gian từ ngàn đời nay, hơn nữa nó không chỉ là một giọng thơ dịu dàng, đằm thắm, mà còn triết lý nhân văn của tình mẫu tử. Nhà thơ Nguyễn Duy đã từng tâm sự: “văn chương thời nào cũng cần đụng đến kinh mạch của xã hội, nếu không được như vậy thì nó chỉ là thú kể chuyện vặt qua ngày… Để có văn thật đã khó, được người đời chấp nhận lại càng khó hơn. Làm văn chương thật là phải rũ gan ruột mình ra”. Phải chăng, nhờ vậy mà bài thơ: Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa sẽ sống mãi cùng năm tháng, sống mãi trong lòng mỗi người yêu thơ đất Việt.

Đề Thi Bán Kì Ngữ Văn Lớp 10

Phân Tích Bài Thơ “ngồi Buồn Nhớ Mẹ Ta Xưa” Của Nguyễn Duy

Bài Thơ: Ngồi Buồn Nhớ Mẹ Ta Xưa… (Nguyễn Duy

Bài Tập Đọc Hiểu: Đọc Đoạn Thơ Sau Rồi Trả Lời Câu Hỏi: Bao Giờ Cho Tới Mùa Thu, Trái Hồng Trái Bưởi Đánh Đu Giữa Rằm, Bao Giờ Cho Tới Tháng Năm, Mẹ Ra Trải Chiếu Ta Nằm Đếm Sao … (Trích “ngồi Buồn Nhớ Mẹ Ta Xưa”

Ôn Thi Thpt Quốc Gia Môn Ngữ Văn Năm 2022

Phân Tích Bài Thơ “ngồi Buồn Nhớ Mẹ Ta Xưa” Của Nguyễn Duy

Đề Thi Bán Kì Ngữ Văn Lớp 10

Nhân Mùa Vu Lan 2022::ngồi Buồn Nhớ Mẹ Ta Xưa

Bài Tập Tìm Hiểu Và Vận Dụng Một Số Biện Pháp Tu Từ Thường Gặp Ở Tiểu Học

Phép Tu Từ So Sánh Ôn Từ Và Câu Ở Lớp 3, 4, 5.

Ẩn Dụ Là Gì? Có Mấy Kiểu Ẩn Dụ. Lấy Ví Dụ Các Loại

Nguyễn Duy quê ở Thanh Hóa; anh viết bài thơ “Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa” tại Thành phố Hồ Chí Minh vào mùa thu 1986. Bài thơ gồm có 28 câu lục bát, chia thành 6 khổ thơ; khổ thứ tư có 8 câu, năm khổ còn lại, mỗi khổ có 4 câu thơ.

Chữ đầu mỗi khổ thơ đều viết hoa; các chữ đầu mỗi câu thơ còn lại không viết hoa. Toàn bài thơ chỉ có 4 dấu chấm lửng và một dấu gạch ngang mà thôi, không hề có dấu chấm, dấu phẩy… nào cả. Phải chăng đó là sự cách tân về hình thức nghệ thuật thơ lục bát của Nguyễn Duy? Tác giả đã vận dụng sáng tạo ca dao, tục ngữ để tạo nên những vần thơ trữ tình giàu âm điệu và nhạc điệu thiết tha ngọt ngào.

“Bần thần hương huệ thơm đêm

khói nhang vẽ nẻo đường lên niết bàn”.

Nhìn khói nhang tỏa, nhìn chân nhang “lấm láp tro tàn”, đứa con cảm thấy người mẹ hiền đang hiển hiện giữa cõi đời, đang tất tả ngược xuôi:

“chân nhang lấm láp tro tàn

xăm xăm bóng mẹ trần gian thuở nào “,

Các từ láy “bần thần “, “lấm láp”,”xăm xăm” là những nét vẽ tài hoa làm cho vần thơ giàu hình tượng và gợi cảm.

Khổ thơ thứ hai gợi tả hình ảnh người mẹ hiền ngày xưa. Người mẹ nghèo khổ, vất vả. Thời con gái chẳng có yếm đào, chẳng có nón quai thao mà chỉ có nón mê; áo quần chỉ một màu nâu nhuộm bùn:

“Mẹ ta không có yếm đào

nón mê thay nón quai thao đội đầu”.

Hai tiểu đối: “tay bí

“Rối ren tay bí tay bầu

váy nhuộm bùn áo nhuộm nâu bốn mùa “.

Suốt đời mẹ sống mộc mạc, giản dị như thế. Quanh năm bốn mùa mẹ vẫn sống và ăn mặc như thế!

Khổ thơ thứ ba, lời ru của mẹ hiền ngày xưa vẫn còn vang vọng trong hoài niệm. Ca dao đã nhập hồn vào thơ Nguyễn Duy:

“Cái cò…sung chát đào chua…

câu ca mẹ hát gió đưa về trời”.

Câu ca dao “Cái cò đậu cọc cầu ao – Ăn sung sung chat, ăn đào đào chua” đã được nhà thơ vận dụng tài tình sáng tạo gợi lên bao thương nhớ người me hiền nay đã đi xa…

Hai câu thơ: “Ta đi trọn kiếp con người – cũng không đi hết những lời mẹ ru” hàm chứa chất triết lí sâu sắc. Lòng mẹ bao la. Tinh thương của mẹ mênh mông đào dạt. Suốt đời con cũng không thấu hiểu, hiểu hết lời ru của mẹ. “Gió mùa thu, mẹ ru con ngủ …Năm canh chày thức đủ năm canh… “. Mỗi giấc ngủ của con được nâng niu bằng lời ru của mẹ vô cùng sâu nặng với biết bao tình đời và tình người. Mọi đứa con từ bé thơ đến trưởng thành, không bao giờ có thể “đi hết mấy lời mẹ ru”. Hai chữ “đi” trong vần thơ của Nguyễn Duy được chuyển nghĩa một cách thần tình.

Điệp ngữ “bao giờ cho tới” trong khổ thơ thứ tư đã làm sống lại tuổi thơ với bao kỉ niệm đẹp. Ước mong được sống lại đêm rằm trung thu để phá cỗ. Ước mong được sống lại những đêm tháng năm đẹp trời để “nằm đếm sao” giữa sân nhà:

“Bao giờ cho tới mùa thu

trái hồng trái bưởi đánh đu giữa rằm

bao giờ cho tới tháng năm

mẹ ra trải chiếu ta nằm đếm sao”.

Hai chữ “đánh đu ” đã nhân hóa trái hồng trái bưởi, món quà trung thu, tạo nên sự ngộ nghĩnh hồn nhiên. Cái giây phút thần tiên “mẹ ra trải chiến ta nằm đếm sao” là giây phút hạnh phúc nhất của tuổi thơ. Kỷ niệm ấy, Nguyễn Duy có bao giờ quên; mỗi chúng ta có bao giờ quên.

Các từ láy:”nghêu ngao “,”chập chờn “, “leo lẻo”, “xa xôi” trong bốn câu thơ tiếp theo vừa nêu lên sự hồn nhiên của tuổi thơ, vừa nói lên mơ ước được sống lại trong khung cảnh thần tiên nơi quê nhà. Đứa con có bao giờ quên những kỉ niệm đẹp, đầy hạnh phúc ấy:

“Ngân Hà chảy ngược lên cao

quai mo vỗ khúc nghêu ngao thằng Bờm…

bờ ao đom đóm chập chờn

trong leo lẻo những vui buồn xa xôi”.

Ký ức tuổi thơ đã trôi vào dĩ vãng, nhưng vẫn còn chập chờn trong tâm hồn yêu thương với “những vui buồn xa xôi”. Đứa con càng thương nhớ mẹ, càng biết ơn mẹ không thể nào kể xiết!

“Mẹ ru cái lẽ ở đời

sữa nuôi phần xác

Các thế hệ sẽ nối tiếp sinh ra, rồi lớn lên theo lời ru tiếng hát của mẹ, của bà. Điệu ru của bà, của mẹ sẽ được những thế hệ mai sau nâng niu, giữ gìn. Điệu ru tiếng hát của bà, của mẹ trong mỗi gia đình Việt Nam là dân ca, là tâm hồn dân tộc sẽ sống mãi đến muôn đời mai sau. Câu hỏi tu từ làm cho vần thơ trở nên thiết tha, lay động hồn người:

“Bà ru mẹ…mẹ ru con

liệu mai sau các con càn nhớ chăng”.

Nhớ mẹ, nhớ nơi chôn nhau cắt rốn, đứa con ly hương đêm ngày đăm đắm “Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều”. Càng “nhìn về” càng bồi hồi nhớ mẹ, nhớ đức hy sinh cao cả, tình thương con bao la của người mẹ nay đã khuất núi. Câu tục ngữ “Chỗ ướt mẹ nằm, chỗ ráo nhường con” được tác giả vận dụng sáng tạo:

“Nhìn về quê mẹ xa xăm

lòng ta – chỗ ướt mẹ nằm đêm mưa”.

Tác giả khép lại bài thơ bằng hai câu thơ mang âm điệu ca dao trữ tình thể hiện bao nỗi ân tình sâu nặng của đứa con đối với người mẹ hiền thương yêu:

“Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa

miệng nhai cơm búng, lưỡi lừa cá xương”.

Dù mẹ đã mất, nhưng những kỉ niệm ân tình sâu sắc ấy của mẹ, đứa con mãi mãi ghi sâu trong lòng. Lòng hiếu thảo là một trong những tình cảm đẹp nhất của con người Việt Nam chúng ta. Thơ Nguyễn Duy man mác như điệu ru tiếng hát của bà, của mẹ sau lũy tre xanh, bên bờ dâu ruộng lúa đang vọng về năm tháng. Những suy tư triết lí của tác giả làm cho tư tưởng tình cảm trong bài thơ trở nên sâu sắc, mang tính chất dân tộc và hiện đại.

“Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa…” là một bài thơ rất hay, tiêu biểu cho hồn thơ và phong cách nghệ thuật của Nguyễn Duy, nhà thơ trưởng thành trong khói lửa chiến tranh thời chống Mỹ. Ọuả vậy, thơ Nguyễn Duy đẹp như ca dao, đậm đà như dân ca, man mác như lời hát ru.

Bài Thơ: Ngồi Buồn Nhớ Mẹ Ta Xưa… (Nguyễn Duy

Bài Tập Đọc Hiểu: Đọc Đoạn Thơ Sau Rồi Trả Lời Câu Hỏi: Bao Giờ Cho Tới Mùa Thu, Trái Hồng Trái Bưởi Đánh Đu Giữa Rằm, Bao Giờ Cho Tới Tháng Năm, Mẹ Ra Trải Chiếu Ta Nằm Đếm Sao … (Trích “ngồi Buồn Nhớ Mẹ Ta Xưa”

Ôn Thi Thpt Quốc Gia Môn Ngữ Văn Năm 2022

Tổng Hợp Đề Đọc Hiểu Ngồi Buồn Nhớ Mẹ Ta Xưa

Biện Pháp Tu Từ Và Nghệ Thuật Bài Thơ Bếp Lửa

Cách Nhớ Phân Biệt Các Biện Pháp Tu Từ Lớp 9 Dễ Dàng

Phân Tích Biên Pháp Tu Từ Trong Bài Lỗ Mũi Mười Tám Gánh Lông…

Phân Tích Bài Ca Dao ” Lỗ Mũi Mười Tám Gánh Lông …”

Phân Tích Bài Ca Dao Lỗ Mủi Mười Tám Gánh Lông Chồng Yêu Chồng Bả

A Bai Tap Noi Qua Bai Tap Noi Qua Doc

Phân Tích Một Số Biện Pháp Nghệ Thuật Trong Bài Mùa Xuân Nho Nhỏ Và Viếng Lăng Bác

Biện pháp tu từ là cách sử dụng ngôn ngữ theo một cách đặc biệt ở một đơn vị ngôn ngữ (về từ, câu, văn bản) trong một ngữ cảnh nhất định nhằm tăng sức gợi hình, gợi cảm trong diễn đạt và tạo ấn tượng với người người độc về một hình ảnh, một cảm xúc, một câu chuyện trong tác phẩm.

Mục đích của biện pháp tu từ là gì?

a/ Khái niệm: So sánh là đối chiếu 2 hay nhiều sự vật, sự việc mà giữa chúng có những nét tương đồng để làm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho lời văn.

Chi tiết nội dung bài học trong trương trình: Soạn bài So sánh

c/ Các kiểu so sánh:

– Phân loại theo đối tượng:

Lưu ý:

Ẩn dụ và hoán dụ cùng chung cấu trúc nói A chỉ B nhưng khác nhau:

– Ẩn dụ: A và B có quan hệ tương đồng (giống nhau)

– Hoán dụ: A và B có quan hệ gần gũi, hay đi liền với nhau.

– Nói quá là phép tu từ phóng đại mức độ, quy mô, tính chất của sự vật, hiện tượng được miêu tả để nhấn mạnh, gây ấn tượng, tăng sức biểu cảm.

Để ôn lại kiến thức và các bài tập vận dụng có thể xem: Soạn bài nói quá

– Khái niệm: Là biện pháp tu từ nhắc đi nhắc lại nhiều lần một từ, cụm từ có dụng ý làm tăng cường hiệu quả diễn đạt: nhấm mạnh, tạo ấn tượng, gợi liên tưởng, cảm xúc… và tạo nhịp điệu cho câu/ đoạn văn bản.

1.Biện pháp tu từ nhân hóa

Đối với việc thể hiện tư tưởng, tình cảm cuả người viết thì tạo ra những lối nói cảm xúc làm giá trị biểu đạt cao.

3. Biện pháp tu từ ẩn dụ.

trong biên pháp ẩn dụ về A thường ẩn đi mà chỉ xuất hiện vế B

Ví dụ: Làn thu thủy nét xuân sơn

8. Biện pháp tu từ nói giảm nói tránh:

xác định biện pháp tu từ và nêu tác dụng trong câu văn sau:

a,Trăng bao nhiêu tuổi là trăng già

Núi bao nhiêu tuổi gọi là núi non

Trả lời: Hai câu thơ trên đã sử dụng biện pháp tu từ Điệp ngữ và Chơi chữ. Điệp ngữ ” Bao nhiêu tuổi ” được lặp lại 2 lần với ý muốn nói đến sự bất tận của trăng và núi. Trăng và núi không hề có tuổi tác. trăng luốn sống mãi với núi, luôn xanh tươi. Ngoài ra biện pháp nghệ thuật Chơi chữ đã dùng cặp từ trái ngữ là ” già” và “non ” chỉ sự vĩnh cửu của trăng và núi.

b, mặt trời xuống biển như hòn lửa

Sóng đã cài then đêm sập cửa

Hai câu thơ trên đã sử dụng biện pháp tu từ nhân hóa và so sánh. Biện pháp tu từ so sánh đã được sử dụng trong câu thơ ” Mặt trời xuống biển như hòn lửa” ý muốn nói mặt trời trong lúc hoàng hôn buông xuống có màu đỏ, cảnh hoàng hôn trở nên huy hoàng, tráng lệ. Biện pháp nhân hoá trong câu “sóng đã cài then” và “đêm sập cửa”. khi mặt trời xuống biển như hòn lửa thì đó là lúc muôn vật của biển gác mọi noạt động tạo nên khung cảnh yên bình lãng mạn, nhân hoá giúp thiên nhiên có linh hồn, trở nên gần gũi, vũ trụ giống như một ngôi nhà chung ấm áp.

Nguồn : luyện 9 lên 10 tại Hà Nội

Top 4 Bài Phân Tích Đoạn 1 Tây Tiến Hay Chọn Lọc

3 Bài Văn Cảm Nhận Về Đoạn Thơ Đầu Của Bài Tây Tiến, Văn Mẫu Lớp 12

Một Số Kiến Thức Cơ Bản Về Tác Phẩm ” Tây Tiến” Của Quang Dũng.

Phân Tích Khổ 1 Bài Thơ Tây Tiến Của Quang Dũng, Văn Mẫu Hay, Chọn Lọc

Phân Tích Đoạn 1 Bài Thơ Tây Tiến

Biện Pháp Tu Từ Trong Câu: “nhớ Nước Đau Lòng Con Quốc Quốc/thương …

Cac Bien Phap Tu Tu

Bài Văn Phân Tích Giá Trị Của Các Biện Pháp Tu Từ Trong Hai Câu Thơ Sa

Phân Tích Biện Pháp Tu Từ Trong Đoạn Quê Hương Mỗi Người Chỉ Một…

Đề Thi Kết Thúc Học Kì 1 Ngữ Văn 11 Thpt Trường Chinh

Đề Thi Chọn Hsg De Thi Chon Hsg Lop 8 Cap Truong Lan 1 Docx

Trong hai câu thơ:

“Nhớ nước đau lòng con quốc quốc

Thương nhà mỏi miệng cái gia gia”

Bà huyện Thanh Quan đã sử dụng thành công nhiều biện pháp tu từ: chơi chữ đồng âm – đồng nghĩa, nhân hóa đôi và đảo ngữ.

Hai câu thơ trên nằm trong bài thơ “Qua Đèo Ngang” của tác giả. Đèo Ngang xưa kia vốn là ranh giới ngăn cách đất nước ta trong một thời gian dài tạo ra hai khu vực riêng biệt Đàng Trong – Đàng Ngoài. Khi làm bài thơ này, Bà Huyện Thanh Quan đã từ giã quê nhà là thành Thăng Long để lên đường vào Huế. Rời Đèo Ngang đây là bà rời Đàng Ngoài xưa để bước vào nơi Đàng Trong. Nỗi buồn sầu phải rời xa quê hương cùng với lịch sử xa xưa của Đèo Ngang đã khiến tâm hồn đa cảm của nữ sĩ đã khiến bà viết nên hai câu thơ thật buồn.

Nơi Đèo Ngang heo hút, sự sống con người vắng vẻ và xơ xác. Nhiều hơn là sự hoang dã của cỏ cây muông thú. Tiếng chim cuốc và chim đa đa vang lên khiến bà chạnh lòng nghĩ đến nỗi buồn riêng. Tiếng kêu của hai loài chim được liên tưởng đồng âm với hai danh từ “quốc” và “gia” nên thành loài chim “quốc quốc” và “gia gia”. Mặt khác, “quốc” có nghĩa là “nước” và “gia” có nghĩa là “nhà” vậy nên có sự tương ứng giữa nỗi buồn đau được nhân hóa của mỗi loài vật với tên gọi và tiếng kêu của chúng: con quốc đau lòng nhớ nước, con gia gia mỏi miệng thương nhà. Phép chơi chữ độc đáo ấy tạo nên nét riêng rất đặc sắc cho hai câu thơ.

Chẳng những vậy, hai câu thơ còn sử dụng phép đảo ngữ và phép đối. Theo cách viết thông thường, hai câu thơ trên sẽ được viết là: con quốc quốc nhớ nước đau lòng, cái gia gia thương nhà mỏi miệng (kêu). Nhưng nay, những động từ thể hiện tâm trạng nhân vật trữ tình đều được đảo lên phía đầu câu thơ đồng thời hai câu thơ có đối nhau rất nhịp nhàng: “Nhớ nước” – “Thương nhà”, “đau lòng” – “mỏi miệng”, “con quốc quốc” – “cái gia gia”. Điều đó góp phần quan trọng nhấn mạnh tâm trạng của chủ thể trữ tình trong hai câu thơ.

Phân Biệt Các Phương Thức Biểu Đạt Trong Văn Bản

Các Phương Thức Biểu Đạt Trong Văn Bản

Phương Thức Biểu Đạt, Nội Dung Chính, Biện Pháp Tu Từ “tre Việt Nam”

Phân Tích Nét Đặc Sắc Nghệ Thuật Trong Đoạn Trích Tình Cảnh Lẻ Loi Của Người Chinh Phụ

Đề Đọc Hiểu Đoạn Trích Tình Cảnh Lẻ Loi Của Người Chinh Phụ

🌟 Home
🌟 Top