Nhân Mùa Vu Lan 2024::Ngồi Buồn Nhớ Mẹ Ta Xưa

Thế là một mùa thu, một mùa Vu Lan nữa lại về. Nhớ mẹ, đó là nỗi nhớ đằng đẵng, khôn nguôi, nhất là đối với những người đã và đang đi vào lứa tuổi “xưa nay hiếm” như chúng tôi bây giờ. Ta vẫn như thấy đâu đây thấp thoáng bóng mẹ ta đi về cùng năm tháng. Từ ngàn xưa, đã có biết bao nhiêu bài thơ viết về Mẹ, nhưng nhân mùa Vu Lan này, xin giới thiệu đến mọi người, bài thơ: “Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa” của nhà thơ Nguyễn Duy. Đây cũng là bài thơ đã neo đậu theo dòng thời gian trong lòng bạn đọc những cảm xúc thơ mà hình như mỗi chúng ta ai cũng đều thấy bóng dáng người mẹ thân yêu của chính mình, trong những vần thơ – ca dao của Nguyễn Duy.

Bần thần hương huệ thơm đêm

khói nhang vẽ nẻo đường lên Niết bàn

chân nhang lấm láp, tro tàn

xăm xăm bóng mẹ trần gian thuở nào

nón mê thay nón quai thao đội đầu

váy nhuộm bùn áo nhuộm nâu bốn mùa…

Cái cò… sung chát đào chua

câu ca mẹ hát gió đưa về trời

ta đi trọn kiếp con người

cũng không đi hết những lời mẹ ru

trái hồng trái bưởi đánh đu giữa rằm

bao giờ cho tới tháng năm

mẹ ta trải chiếu ta nằm đếm sao

Ngân hà chảy ngược lên cao

quạt mo vỗ khúc nghêu ngao thằng Bờm

trong leo lẻo những vui buồn xa xôi

sữa nuôi phần xác hát nuôi phần hồn

liệu mai sau các con còn nhớ chăng

lòng ta – chỗ ướt mẹ nằm đêm mưa

miệng nhai cơm búng lưỡi lừa cá xương.

Bài thơ: “Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa” chính là nỗi nhớ cảm động của người con về mẹ. Trong một lần tiếp chuyện Nguyễn Duy ở Đà Lạt, nhà thơ đã giãi bày với chúng tôi: “Mẹ tôi mất sớm. Tôi và em gái tôi ở với bà ngoại. Hình ảnh về mẹ trong bài thơ “Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa” chính là hình ảnh bà ngoại tôi hồi đó… Những đêm hè trời trong, gió mát bà tôi thường trải chiếu cói trên mặt đê sông Mã, cùng các cháu nằm ngắm trăng, kể chuyện “Hằng Nga”, chuyện “Thằng Cuội” hoặc là đếm “một ông sao sáng, hai ông sáng sao, ba ông sao sáng…”.

Tiêu đề và câu kết của bài thơ chính là một trong những câu ca dao nổi tiếng về mẹ của ông cha ta, có từ ngàn xưa. Đây có lẽ cũng chính là mạch nguồn vô tận chảy suốt bài thơ. Bài thơ được mở đầu bằng những tâm tình xót xa đến khôn nguôi, giữa bầu không khí đầy tâm linh thành kính: “Bần thần hương huệ thơm đêm/Khói nhang vẽ nẻo đường lên Niết bàn/Chân nhang lấm láp, tro tàn/Xăm xăm bóng mẹ trần gian thuở nào”.

Trong đêm, hình bóng mẹ theo khói nhang hiện về trong hồi ức đầy thông cảm. Mẹ đã đi xa, nhưng “chân nhang lấm láp” và “xăm xăm bóng mẹ” đã đưa ta đến với mẹ. Và quả thật, “mẹ ta” đã hiện về, rõ ràng trong nỗi “bần thần” khó tả của một đời nghèo khó: “Mẹ ta không có yếm đào/Nón mê thay nón quai thao đội đầu/Rối ren tay bí, tay bầu/Váy nhuộm bùn, áo nhuộm nâu bốn mùa”.

Chỉ với mấy câu thơ ngắn ngủi này, Nguyễn Duy đã nói lên tất cả. Đã đưa ta về với người mẹ nghèo khó, bần hàn. Mẹ ta “không có yếm đào”, “không nón quai thao” và cũng chẳng có áo tứ thân, chít khăn mỏ quạ, mà hiện lên trong đó chỉ là một người mẹ nông thôn, bình dị, chân lấm, tay bùn cả đời gieo neo, vất vả. Chính việc sử dụng tài tình các từ láy “bần thần”, “lấm láp”, “xa xăm”, “rối ren” trong những câu thơ này càng tô đậm thêm cuộc sống lam lũ của mẹ, nhưng đó cũng là thủ pháp để tôn vinh đấng sinh thành cao cả. Lời thơ dung dị, gần gũi với mọi người: “Cái cò… sung chát… đào chua/Câu ca mẹ hát gió đưa về trời/Ta đi trọn kiếp con người/Cũng không đi hết mấy lời mẹ ru”.

Kỷ niệm về mẹ dồn nén để rồi cứ thế ùa vào tâm tưởng mỗi người con. Ta nhớ tới mẹ mình, không chỉ ở những lời ru mộc mạc, chân tình mà còn ở những món quà quê giản dị – đó là những “trái hồng”, “trái bưởi”, là những đêm “Mẹ ra trải chiếu, ta nằm đếm sao” và “Bờ ao đom đóm chập chờn”… Những hồi ức này khiến mỗi chúng ta như thấy một góc nhỏ của tuổi thơ mình đang hiện hữu trong những câu lục – bát tài hoa của nhà thơ.

Sợi chỉ xuyên suốt bài thơ và là nguồn cảm hứng chủ đạo của bài thơ là lời ru của mẹ. Lời ru ấy không chỉ đưa ta vào giấc ngủ khi còn ấu thơ, mà nó còn theo ta đi trọn cuộc đời: “Mẹ ru cái lẽ ở đời/Sữa nuôi phần xác, hát nuôi phần hồn”.

Và rồi nhà thơ đã nói lên sự lo lắng về hát ru đã và đang ngày một biến mất trong đời sống ngày nay: “Bà ru mẹ… mẹ ru con/Liệu mai sau các con còn nhớ chăng?”.

Quả thật sự lo lắng của nhà thơ là hoàn toàn có cơ sở. Ngày nay, tiếng hát ru con hầu như không còn được các bà mẹ trẻ sử dụng. “Bà ru mẹ… mẹ ru con” tưởng như là một quy luật muôn đời, bất biến, một nét đẹp văn hóa từ ngàn xưa của dân tộc, đáng trân trọng, giữ gìn và phát huy thì đang dần bị lãng quên, mai một!?

Thơ Nguyễn Duy mộc mạc, đằm thắm và thấm đậm chất trữ tình nhưng vẫn mang tính triết luận như là một tổng kết cuộc đời: “Ta đi trọn kiếp con người/Cũng không đi hết những lời mẹ ru”.

Ở đây, ta bắt gặp sự đồng điệu của Nguyễn Duy với Chế Lan Viên, dù phong cách viết giữa hai nhà thơ hoàn toàn khác nhau. Sự đồng điệu ấy thể hiện ở câu thơ của Chế Lan Viên: “Con dù lớn vẫn là con của mẹ/Đi suốt đời lòng mẹ vẫn theo con…”/”Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa” là một dòng hồi ức tuyệt đẹp về người mẹ. Nhân mùa Vu Lan về, lại càng nhớ mẹ nhiều hơn, càng cám ơn nhà thơ đã cho ta những câu thơ – ca dao đẹp về mẹ. Điều đó càng nhắc nhở chúng ta: những ai còn mẹ càng phải biết trân trọng hơn đức sinh thành, dưỡng dục của mẹ. Những ai mẹ đã khuất lại càng thấy xao xuyến, nhớ mẹ tha thiết như lời ru êm dịu của những câu thơ lục bát tài hoa mà Nguyễn Duy đã sáng tạo.

Có thể khẳng định, “Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa” là một trong những bài thơ hay nhất viết về mẹ. Hay bởi đó là tình cảm chân tình từ đáy lòng nhà thơ khi nhớ với người mẹ thân yêu của mình. Hay còn bởi đó là giá trị nhân văn, là truyền thống dân gian từ ngàn đời nay, hơn nữa nó không chỉ là một giọng thơ dịu dàng, đằm thắm, mà còn triết lý nhân văn của tình mẫu tử. Nhà thơ Nguyễn Duy đã từng tâm sự: “văn chương thời nào cũng cần đụng đến kinh mạch của xã hội, nếu không được như vậy thì nó chỉ là thú kể chuyện vặt qua ngày… Để có văn thật đã khó, được người đời chấp nhận lại càng khó hơn. Làm văn chương thật là phải rũ gan ruột mình ra”. Phải chăng, nhờ vậy mà bài thơ: Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa sẽ sống mãi cùng năm tháng, sống mãi trong lòng mỗi người yêu thơ đất Việt.

Bài Thơ: Ngồi Buồn Nhớ Mẹ Ta Xưa… (Nguyễn Duy

Thế là một mùa thu, một mùa Vu Lan nữa lại về. Nhớ mẹ, đó là nỗi nhớ đằng đẵng, khôn nguôi, nhất là đối với những người đã và đang đi vào lứa tuổi “xưa nay hiếm” như chúng tôi bây giờ. Ta vẫn như thấy đâu đây thấp thoáng bóng mẹ ta đi về cùng năm tháng. Từ ngàn xưa, đã có biết bao nhiêu bài thơ viết về Mẹ, nhưng nhân mùa Vu Lan này, xin giới thiệu đến mọi người, bài thơ Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa của nhà thơ Nguyễn Duy. Đây cũng là bài thơ đã neo đậu theo dòng thời gian trong lòng bạn đọc những cảm xúc thơ mà hình như mỗi chúng ta ai cũng đều thấy bóng dáng người mẹ thân yêu của chính mình, trong những vần thơ – ca dao của Nguyễn Duy.

Bài thơ chính là nỗi nhớ cảm động của người con về mẹ. Trong một lần tiếp chuyện Nguyễn Duy ở Đà Lạt, nhà thơ đã giãi bày với chúng tôi: “Mẹ tôi mất sớm. Tôi và em gái tôi ở với bà ngoại. Hình ảnh về mẹ trong bài thơ Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa chính là hình ảnh bà ngoại tôi hồi đó… Những đêm hè trời trong, gió mát bà tôi thường trải chiếu cói trên mặt đê sông Mã, cùng các cháu nằm ngắm trăng, kể chuyện “Hằng Nga”, chuyện “Thằng Cuội” hoặc là đếm “một ông sao sáng, hai ông sáng sao, ba ông sao sáng…”

Tiêu đề và câu kết của bài thơ chính là một trong những câu ca dao nổi tiếng về mẹ của ông cha ta, có từ ngàn xưa. Đây có lẽ cũng chính là mạch nguồn vô tận chảy suốt bài thơ. Bài thơ được mở đầu bằng những tâm tình xót xa đến khôn nguôi, giữa bầu không khí đầy tâm linh thành kính:

Bần thần hương huệ thơm đêmKhói nhang vẽ nẻo đường lên Niết bànChân nhang lấm láp, tro tànXăm xăm bóng mẹ trần gian thuở nào.

Trong đêm, hình bóng mẹ theo khói nhang hiện về trong hồi ức đầy thông cảm. Mẹ đã đi xa, nhưng “chân nhang lấm láp” và “xăm xăm bóng mẹ” đã đưa ta đến với mẹ. Và quả thật, “mẹ ta” đã hiện về, rõ ràng trong nỗi “bần thần” khó tả của một đời nghèo khó:

Mẹ ta không có yếm đàoNón mê thay nón quai thao đội đầuRối ren tay bí, tay bầuVáy nhuộm bùn, áo nhuộm nâu bốn mùa.

Chỉ với mấy câu thơ ngắn ngủi này, Nguyễn Duy đã nói lên tất cả. Đã đưa ta về với người mẹ nghèo khó, bần hàn. Mẹ ta “không có yếm đào”, “không nón quai thao” và cũng chẳng có áo tứ thân, chít khăn mỏ quạ, mà hiện lên trong đó chỉ là một người mẹ nông thôn, bình dị, chân lấm, tay bùn cả đời gieo neo, vất vả. Chính việc sử dụng tài tình các từ láy “bần thần”, “lấm láp”, “xa xăm”, “rối ren” trong những câu thơ này càng tô đậm thêm cuộc sống lam lũ của mẹ, nhưng đó cũng là thủ pháp để tôn vinh đấng sinh thành cao cả. Lời thơ dung dị, gần gũi với mọi người:

Cái cò… sung chát… đào chuaCâu ca mẹ hát gió đưa về trờiTa đi trọn kiếp con ngườiCũng không đi hết mấy lời mẹ ru.

Kỷ niệm về mẹ dồn nén để rồi cứ thế ùa vào tâm tưởng mỗi người con. Ta nhớ tới mẹ mình, không chỉ ở những lời ru mộc mạc, chân tình mà còn ở những món quà quê giản dị – đó là những “trái hồng”, “trái bưởi”, là những đêm “Mẹ ra trải chiếu, ta nằm đếm sao” và “Bờ ao đom đóm chập chờn”… Những hồi ức này khiến mỗi chúng ta như thấy một góc nhỏ của tuổi thơ mình đang hiện hữu trong những câu lục – bát tài hoa của nhà thơ.

Sợi chỉ xuyên suốt bài thơ và là nguồn cảm hứng chủ đạo của bài thơ là lời ru của mẹ. Lời ru ấy không chỉ đưa ta vào giấc ngủ khi còn ấu thơ, mà nó còn theo ta đi trọn cuộc đời:

Mẹ ru cái lẽ ở đờiSữa nuôi phần xác, hát nuôi phần hồn.

Và rồi nhà thơ đã nói lên sự lo lắng về hát ru đã và đang ngày một biến mất trong đời sống ngày nay:

Bà ru mẹ… mẹ ru conLiệu mai sau các con còn nhớ chăng?

Quả thật sự lo lắng của nhà thơ là hoàn toàn có cơ sở. Ngày nay, tiếng hát ru con hầu như không còn được các bà mẹ trẻ sử dụng. “Bà ru mẹ… mẹ ru con” tưởng như là một quy luật muôn đời, bất biến, một nét đẹp văn hoá từ ngàn xưa của dân tộc, đáng trân trọng, giữ gìn và phát huy thì đang dần bị lãng quên, mai một!?

Thơ Nguyễn Duy mộc mạc, đằm thắm và thấm đậm chất trữ tình nhưng vẫn mang tính triết luận như là một tổng kết cuộc đời:

Ta đi trọn kiếp con ngườiCũng không đi hết những lời mẹ ru.

Ở đây, ta bắt gặp sự đồng điệu của Nguyễn Duy với Chế Lan Viên, dù phong cách viết giữa hai nhà thơ hoàn toàn khác nhau. Sự đồng điệu ấy thể hiện ở câu thơ của Chế Lan Viên:

Con dù lớn vẫn là con của mẹĐi suốt đời lòng mẹ vẫn theo con…

Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa là một dòng hồi ức tuyệt đẹp về người mẹ. Nhân mùa Vu Lan về, lại càng nhớ mẹ nhiều hơn, càng cám ơn nhà thơ đã cho ta những câu thơ – ca dao đẹp về mẹ. Điều đó càng nhắc nhở chúng ta: những ai còn mẹ càng phải biết trân trọng hơn đức sinh thành, dưỡng dục của mẹ. Những ai mẹ đã khuất lại càng thấy xao xuyến, nhớ mẹ tha thiết như lời ru êm dịu của những câu thơ lục bát tài hoa mà Nguyễn Duy đã sáng tạo.

Có thể khẳng định, Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa là một trong những bài thơ hay nhất viết về mẹ. Hay bởi đó là tình cảm chân tình từ đáy lòng nhà thơ khi nhớ với người mẹ thân yêu của mình. Hay còn bởi đó là giá trị nhân văn, là truyền thống dân gian từ ngàn đời nay, hơn nữa nó không chỉ là một giọng thơ dịu dàng, đằm thắm, mà còn triết lý nhân văn của tình mẫu tử. Nhà thơ Nguyễn Duy đã từng tâm sự: “văn chương thời nào cũng cần đụng đến kinh mạch của xã hội, nếu không được như vậy thì nó chỉ là thú kể chuyện vặt qua ngày… Để có văn thật đã khó, được người đời chấp nhận lại càng khó hơn. Làm văn chương thật là phải rũ gan ruột mình ra”. Phải chăng, nhờ vậy mà bài thơ Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa sẽ sống mãi cùng năm tháng, sống mãi trong lòng mỗi người yêu thơ đất Việt.

Tổng Hợp Đề Đọc Hiểu Ngồi Buồn Nhớ Mẹ Ta Xưa

Đề đọc hiểu Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa

Đọc văn bản:

Mẹ ta không có yếm đào nón mê thay nón quai thao đội đầu rối ren tay bí tay bầu váy nhuộm bùn áo nhuộm nâu bốn mùa Cái cò…sung chát đào chua… câu ca mẹ hát gió đưa về trời ta đi trọn kiếp con người cũng không đi hết mấy lời mẹ ru. (“Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa” – Nguyễn Duy)

Thực hiện các yêu cầu sau:

Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt được sử dụng trong văn bản?

Câu 2. Hình ảnh người mẹ được khắc họa qua những từ ngữ, chi tiết nào?

Câu 3. Văn bản thể hiện tâm tư, tình cảm gì của tác giả đối với người mẹ?

Câu 4. Chỉ ra hiệu quả biểu đạt của chất liệu ca dao được sử dụng trong văn bản?

Câu 5

. Hai câu thơ: ” Ta đi trọn kiếp con người/Cũng không đi hết mấy lời mẹ ru ” gợi suy nghĩ gì về lời ru của mẹ đối với những đứa con?

Đáp án đề đọc hiểu Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa số 1

Câu 1: Phương thức biểu đạt được sử dụng trong văn bản là: Tự sự, miêu tả, biểu cảm.

Câu 2: Hình ảnh người mẹ được khắc họa qua những từ ngữ, chi tiết là: ” không có yếm đào“, ” Nón mê thay nón quai thao đội đầu“, ” Rối ren tay bí tay bầu” ” váy nhuộm bùn áo nhuộm nâu bốn mùa “. Đó là một người mẹ nghèo, lam lũ, vất vả.

Câu 3: Văn bản thể hiện: Nỗi nhớ, lòng biết ơn sâu sắc và tình yêu thương to lớn dành cho người mẹ

Câu 4: Hiệu quả biểu đạt của chất liệu ca dao được sử dụng trong văn bản là: Trong ca dao ta thường gặp: ” Con cò lặn lội bờ sông/ Gánh gạo nuôi chồng tiếng hát nỉ non” hay ” Cái cò đậu cọc cầu ao /Ăn sung sung chát, ăn đào đào chua” và ” Gió đưa cây cải về trời/ Rau răm ở lại chịu lời đắng cay

” . Chính những “cái cò”, “sung chát đào chua”, cây cải về trời đó lại hiển hiện trong kí ức bằng lặng, đẹp đẽ hồn nhiên của ngày thơ. Tác giả đã vận hình ảnh cánh cò vào đời “mẹ ta”, như một niềm tri ân thành kính trong nỗi xót xa thương cảm vô bờ. Nhờ đó hình ảnh người mẹ tảo tần, lam lũ hiện lên càng thấm thía và cảm động hơn.

Câu 5: Hai câu thơ: ” Ta đi trọn kiếp con người/Cũng không đi hết mấy lời mẹ ru” gợi suy nghĩ là: Lời ru của mẹ không xa lạ trong thi ca như ta thường thấy, vậy mà những ngôn ngữ rất đời thường của Nguyễn Duy lại khiến ta xốn xang trước phận mình bởi nhà thơ đã nhận ra ” kiếp con người” dễ gì sánh được ” mấy lời mẹ ru “. “Mấy lời” thôi nhưng là sự kết tinh của một cuộc đời và cả nhiều cuộc đời. Nó không chỉ chứa đựng tình mẹ bao la mà còn là những bài học làm người vô cùng quý giá mà chúng ta phải dành cả cuộc đời để học, để thấm và để biết ơn. Nói cách khác, hai câu thơ đã thức tỉnh muôn người, hãy nhìn lại mình trên nẻo về với cõi thiêng liêng.

Đọc đoạn trích:

Cái cò… sung chát đào chua câu ca mẹ hát gió đưa về trời ta đi trọn kiếp con người cũng không đi hết mấy lời mẹ ru Bao giờ cho tới mùa thu trái hồng trái bưởi đánh đu giữa rằm bao giờ cho tới tháng năm mẹ ra trải chiếu ta nằm đếm sao Ngân hà chảy ngược lên cao quạt mo vỗ khúc nghêu ngao thằng Bờm bờ ao đom đóm chập chờn trong leo lẻo những vui buồn xa xôi Mẹ ru cái lẽ ở đời sữa nuôi phần xác hát nuôi phần hồn bà ru mẹ… mẹ ru con liệu mai sau các con còn nhớ chăng (Trích Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa – Theo Thơ Nguyễn Duy, NXB Hội nhà văn, 2010)

Thực hiện các yêu cầu sau:

Câu 1: Đoạn trích trên được viết theo thể thơ nào?

Câu 2: Những từ ngữ, hình ảnh nào trong đoạn trích được lấy từ chất liệu văn học dân gian?

Câu 3: Chỉ ra và nêu hiệu quả của biện pháp tu từ được sử dụng trong khổ thơ thứ hai.

Câu 4: Anh/chị suy nghĩ như thế nào về thông điệp được tác giả gửi gắm trong hai dòng thơ: Mẹ ru cái lẽ ở đời/ sữa nuôi phần xác hát nuôi phần hồn.

Đáp án đề đọc hiểu Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa số 2

Câu 1: Đoạn trích trên được viết theo thể thơ là: Lục bát

Câu 2: Những từ ngữ, hình ảnh được lấy từ chất liệu văn học dân gian là: cái cò, sung chát đào chua, gió đưa về trời, lời mẹ ru, quạt mo – thằng Bờm.

– Biện pháp tu từ được sử dụng trong khổ thơ thứ hai là:

Lặp cấu trúc/điệp ngữ: Bao giờ cho tới…

Nhân hóa: trái hồng trái bưởi đánh đu giữa rằm

– Hiệu quả: nhấn mạnh, khơi gợi khao khát về kỉ niệm thời thơ ấu với những hình ảnh gần gũi, thân quen.

Câu 4: Thông điệp mà tác giả muốn gửi gắm ở hai dòng thơ:

Mẹ ru cái lẽ ở đời sữa nuôi phần xác hát nuôi phần hồn

– Thể hiện được suy nghĩ chân thành, sâu sắc về thông điệp của tác giả:

Ngợi ca công lao to lớn của mẹ.

Làm con phải luôn ghi nhớ công ơn sinh thành dưỡng dục của mẹ, đừng làm mẹ phải buồn mà hãy luôn sống xứng đáng với niềm tin, sự kì vọng của mẹ.

Đọc và trả lời

Bao giờ cho tới mùa thu trái hồng trái bưởi đánh đu giữa rằm bao giờ cho tới tháng năm mẹ ra trải chiếu ta nằm đếm sao Ngân hà chảy ngược lên cao quạt mo vỗ khúc nghêu ngao thằng Bờm bờ ao đom đóm chập chờn trong leo lẻo những vui buồn xa xôi Mẹ ru cái lẽ ở đời sữa nuôi phần xác hát nuôi phần hồn bà ru mẹ mẹ ru con liệu mai sau các con còn nhớ chăng (Trích Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa – Theo Thơ Nguyễn Duy, NXB Hội nhà văn, 2010)

Câu 1: Chỉ ra phương thức biểu đạt chính của đoạn thơ trên.

Câu 2: Xác định 02 biện pháp tu từ được tác giả sử dụng trong bốn dòng đầu của đoạn thơ trên.

Câu 3: Nêu nội dung chính của đoạn thơ trên

Câu 4: Anh/chị hãy nhận xét quan niệm của tác giả thể hiện trong hai dòng thơ: Mẹ ru cái lẽ ở đời – sữa nuôi phần xác hát nuôi phần hồn. Trả lời trong khoảng 5-7 dòng.

Đáp án đề đọc hiểu Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa số 3:

Câu 1: Phương thức biểu đạt chính của đoạn thơ trên là: biểu cảm.

Câu 2: 02 biện pháp tu từ được tác giả sử dụng trong bốn dòng đầu của đoạn thơ trên là:

– Lặp cấu trúc (ở hai dòng thơ bao giờ cho tới…)

– Nhân hóa (trong câu trái hồng trái bưởi đánh đu giữa rằm).

Câu 3: Nội dung chính của đoạn thơ trên là: Đoạn thơ thể hiện hồi tưởng của tác giả về thời ấu thơ bên mẹ với những náo nức, khát khao và niềm vui bé nhỏ, giản dị; đồng thời, cho thấy công lao của mẹ, ý nghĩa lời ru của mẹ và nhắn nhủ thế hệ sau phải ghi nhớ công lao ấy.

Câu 4: Quan niệm của tác giả thể hiện trong hai dòng thơ: Lời ru của mẹ chứa đựng những điều hay lẽ phải, những kinh nghiệm, bài học về cách ứng xử, cách sống đẹp ở đời; sữa mẹ nuôi dưỡng thể xác, lời ru của mẹ nuôi dưỡng tâm hồn chúng ta. Đó là ơn nghĩa, là tình cảm, là công lao to lớn của mẹ. Có thể diễn đạt theo cách khác nhưng phải hợp lí, có sức thuyết phục. Từ đó, nhận xét về quan niệm của tác giả (đúng hay sai, phù hợp hay không phù hợp…).

Còn rất nhiều những đề tài, những bài văn, đoạn văn nói về tình mẫu tử như Đoạn văn 200 chữ nghị luận về tình mẫu tử mà Đọc tài liệu đã biên tập muốn các em tham khảo để qua đây các em có thể cảm nhận và tự mình viết ra được những bài văn về mẹ thật sâu sắc

Phân Tích Bài Thơ “Ngồi Buồn Nhớ Mẹ Ta Xưa” Của Nguyễn Duy

Nguyễn Duy quê ở Thanh Hóa; anh viết bài thơ “Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa” tại Thành phố Hồ Chí Minh vào mùa thu 1986. Bài thơ gồm có 28 câu lục bát, chia thành 6 khổ thơ; khổ thứ tư có 8 câu, năm khổ còn lại, mỗi khổ có 4 câu thơ.

Chữ đầu mỗi khổ thơ đều viết hoa; các chữ đầu mỗi câu thơ còn lại không viết hoa. Toàn bài thơ chỉ có 4 dấu chấm lửng và một dấu gạch ngang mà thôi, không hề có dấu chấm, dấu phẩy… nào cả. Phải chăng đó là sự cách tân về hình thức nghệ thuật thơ lục bát của Nguyễn Duy? Tác giả đã vận dụng sáng tạo ca dao, tục ngữ để tạo nên những vần thơ trữ tình giàu âm điệu và nhạc điệu thiết tha ngọt ngào.

“Bần thần hương huệ thơm đêm

khói nhang vẽ nẻo đường lên niết bàn”.

Nhìn khói nhang tỏa, nhìn chân nhang “lấm láp tro tàn”, đứa con cảm thấy người mẹ hiền đang hiển hiện giữa cõi đời, đang tất tả ngược xuôi:

“chân nhang lấm láp tro tàn

xăm xăm bóng mẹ trần gian thuở nào “,

Các từ láy “bần thần “, “lấm láp”,”xăm xăm” là những nét vẽ tài hoa làm cho vần thơ giàu hình tượng và gợi cảm.

Khổ thơ thứ hai gợi tả hình ảnh người mẹ hiền ngày xưa. Người mẹ nghèo khổ, vất vả. Thời con gái chẳng có yếm đào, chẳng có nón quai thao mà chỉ có nón mê; áo quần chỉ một màu nâu nhuộm bùn:

“Mẹ ta không có yếm đào

nón mê thay nón quai thao đội đầu”.

Hai tiểu đối: “tay bí

“Rối ren tay bí tay bầu

váy nhuộm bùn áo nhuộm nâu bốn mùa “.

Suốt đời mẹ sống mộc mạc, giản dị như thế. Quanh năm bốn mùa mẹ vẫn sống và ăn mặc như thế!

Khổ thơ thứ ba, lời ru của mẹ hiền ngày xưa vẫn còn vang vọng trong hoài niệm. Ca dao đã nhập hồn vào thơ Nguyễn Duy:

“Cái cò…sung chát đào chua…

câu ca mẹ hát gió đưa về trời”.

Câu ca dao “Cái cò đậu cọc cầu ao – Ăn sung sung chat, ăn đào đào chua” đã được nhà thơ vận dụng tài tình sáng tạo gợi lên bao thương nhớ người me hiền nay đã đi xa…

Hai câu thơ: “Ta đi trọn kiếp con người – cũng không đi hết những lời mẹ ru” hàm chứa chất triết lí sâu sắc. Lòng mẹ bao la. Tinh thương của mẹ mênh mông đào dạt. Suốt đời con cũng không thấu hiểu, hiểu hết lời ru của mẹ. “Gió mùa thu, mẹ ru con ngủ …Năm canh chày thức đủ năm canh… “. Mỗi giấc ngủ của con được nâng niu bằng lời ru của mẹ vô cùng sâu nặng với biết bao tình đời và tình người. Mọi đứa con từ bé thơ đến trưởng thành, không bao giờ có thể “đi hết mấy lời mẹ ru”. Hai chữ “đi” trong vần thơ của Nguyễn Duy được chuyển nghĩa một cách thần tình.

Điệp ngữ “bao giờ cho tới” trong khổ thơ thứ tư đã làm sống lại tuổi thơ với bao kỉ niệm đẹp. Ước mong được sống lại đêm rằm trung thu để phá cỗ. Ước mong được sống lại những đêm tháng năm đẹp trời để “nằm đếm sao” giữa sân nhà:

“Bao giờ cho tới mùa thu

trái hồng trái bưởi đánh đu giữa rằm

bao giờ cho tới tháng năm

mẹ ra trải chiếu ta nằm đếm sao”.

Hai chữ “đánh đu ” đã nhân hóa trái hồng trái bưởi, món quà trung thu, tạo nên sự ngộ nghĩnh hồn nhiên. Cái giây phút thần tiên “mẹ ra trải chiến ta nằm đếm sao” là giây phút hạnh phúc nhất của tuổi thơ. Kỷ niệm ấy, Nguyễn Duy có bao giờ quên; mỗi chúng ta có bao giờ quên.

Các từ láy:”nghêu ngao “,”chập chờn “, “leo lẻo”, “xa xôi” trong bốn câu thơ tiếp theo vừa nêu lên sự hồn nhiên của tuổi thơ, vừa nói lên mơ ước được sống lại trong khung cảnh thần tiên nơi quê nhà. Đứa con có bao giờ quên những kỉ niệm đẹp, đầy hạnh phúc ấy:

“Ngân Hà chảy ngược lên cao

quai mo vỗ khúc nghêu ngao thằng Bờm…

bờ ao đom đóm chập chờn

trong leo lẻo những vui buồn xa xôi”.

Ký ức tuổi thơ đã trôi vào dĩ vãng, nhưng vẫn còn chập chờn trong tâm hồn yêu thương với “những vui buồn xa xôi”. Đứa con càng thương nhớ mẹ, càng biết ơn mẹ không thể nào kể xiết!

“Mẹ ru cái lẽ ở đời

sữa nuôi phần xác

Các thế hệ sẽ nối tiếp sinh ra, rồi lớn lên theo lời ru tiếng hát của mẹ, của bà. Điệu ru của bà, của mẹ sẽ được những thế hệ mai sau nâng niu, giữ gìn. Điệu ru tiếng hát của bà, của mẹ trong mỗi gia đình Việt Nam là dân ca, là tâm hồn dân tộc sẽ sống mãi đến muôn đời mai sau. Câu hỏi tu từ làm cho vần thơ trở nên thiết tha, lay động hồn người:

“Bà ru mẹ…mẹ ru con

liệu mai sau các con càn nhớ chăng”.

Nhớ mẹ, nhớ nơi chôn nhau cắt rốn, đứa con ly hương đêm ngày đăm đắm “Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều”. Càng “nhìn về” càng bồi hồi nhớ mẹ, nhớ đức hy sinh cao cả, tình thương con bao la của người mẹ nay đã khuất núi. Câu tục ngữ “Chỗ ướt mẹ nằm, chỗ ráo nhường con” được tác giả vận dụng sáng tạo:

“Nhìn về quê mẹ xa xăm

lòng ta – chỗ ướt mẹ nằm đêm mưa”.

Tác giả khép lại bài thơ bằng hai câu thơ mang âm điệu ca dao trữ tình thể hiện bao nỗi ân tình sâu nặng của đứa con đối với người mẹ hiền thương yêu:

“Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa

miệng nhai cơm búng, lưỡi lừa cá xương”.

Dù mẹ đã mất, nhưng những kỉ niệm ân tình sâu sắc ấy của mẹ, đứa con mãi mãi ghi sâu trong lòng. Lòng hiếu thảo là một trong những tình cảm đẹp nhất của con người Việt Nam chúng ta. Thơ Nguyễn Duy man mác như điệu ru tiếng hát của bà, của mẹ sau lũy tre xanh, bên bờ dâu ruộng lúa đang vọng về năm tháng. Những suy tư triết lí của tác giả làm cho tư tưởng tình cảm trong bài thơ trở nên sâu sắc, mang tính chất dân tộc và hiện đại.

“Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa…” là một bài thơ rất hay, tiêu biểu cho hồn thơ và phong cách nghệ thuật của Nguyễn Duy, nhà thơ trưởng thành trong khói lửa chiến tranh thời chống Mỹ. Ọuả vậy, thơ Nguyễn Duy đẹp như ca dao, đậm đà như dân ca, man mác như lời hát ru.

Bài Tập Đọc Hiểu: Đọc Đoạn Thơ Sau Rồi Trả Lời Câu Hỏi: Bao Giờ Cho Tới Mùa Thu, Trái Hồng Trái Bưởi Đánh Đu Giữa Rằm, Bao Giờ Cho Tới Tháng Năm, Mẹ Ra Trải Chiếu Ta Nằm Đếm Sao … (Trích “Ngồi Buồn Nhớ Mẹ Ta Xưa”

1. Các biện pháp tu từ được sử dụng trong hai câu thơ trên là:+ Biện pháp lặp cấu trúc ở hai dòng thơ: “Bao giờ cho tới tháng năm”“Bao giờ cho tới mùa thu”Biện pháp này nhằm nhấn mạnh ý, tạo sự nhịp bhàng, cân đối cho bài thơ. Đồng thời nó cũng giúp diễn tả nỗi khao khát, nỗi nhớ da diết của tác giả qua các câu hỏi “bao giờ”. + Biện pháp nhân hóa ở câu thơ: “Trái hồng trái bưởi đánh đu giữa rằm”Biện pháp này làm cho hình ảnh “trái hồng, trái bưởi” trở nên sống động, gần gũi với mọi người hơn. “Trái hồng, trái bưởi” như có sức sống giống như con người, “đánh đu” như những đứa trẻ đáng yêu, hiếu động, tinh nghịch. 2. Trong câu thơ: “Trong leo lẻo những vui buồn xa xôi”Tác giả đã sử dụng cụm từ “trong leo lẻo”. Đây là một cụm từ láy. Từ láy này giúp cho câu thơ có sắc thái riêng, có giá trị biểu đạt cao, có nhiều tầng nghĩa hơn: Biểu lộ tình cảm, khắc họa hình tượng, đường nét một cách rõ nét và phong phú hơn. Đó là nỗi nhớ da diết, những hoài niệm về những kí ức ngọt ngào xa xăm. 3. Quan niệm của Nguyễn Duy qua câu thơ:“Mẹ ru cái lẽ ở đờiSữa nuôi phần xác hat nuôi phần hồn”​Lời ru của mẹ luôn chứa đựng những ý nghĩa sâu xa. Đó là những kinh nghiệm về cách ứng xử, cách sống đẹp ở đời; sữa mẹ nuôi dưỡng thể xác, lời ru của mẹ nuôi dưỡng tâm hồn chúng ta, đưa chúng ta đến với những chân trời mới, chân trời đầy tình yêu thương. Đó là ơn nghĩa, là tình cảm, là công lao to lớn của nngười mẹ.4. Đoạn trích thể hiện tâm trạng của nhân vật trữ tình: nỗi nhớ, niềm thương, tình yêu và lòng biết ơn sâu nặng của người con dành cho mẹ. Là nỗi nhớ về quãng thời gian trước đây tảo tần của mẹ, quãng thời gian ngọt ngào trước đây bên cạnh mẹ, với những naọnức, khát khao và niềm vui bé nhỏ, giản dị, về nhưngbx hoài niệm về quê hương yêu dấu.