Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Đại Trà / Top 3 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 2/2023 # Top View | Phauthuatthankinh.edu.vn

Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Thcs Đại Trà

BGH luôn thực hiện đúng theo các văn bản chỉ đạo của ngành dọc cấp trên và sự chỉ đạo, lãnh đạo của HĐND, UBND huyện và UBND xã. BGH kết hợp với tổ chuyên môn (TCM) chỉ đạo giáo viên (GV) giảng dạy thực hiện đúng quy định, hướng dẫn của Bộ GD&ĐT về chương trình, nội dung kế hoạch giảng dạy;

BGH xây dựng kế hoạch chung của nhà trường ngay từ đầu năm học trong đó xác định nhiệm vụ nâng cao chất lượng giáo dục đại trà là nhiệm vụ quan trọng của toàn trường. Nhiệm vụ đó được đặt ra trong kế hoạch của nhà trường, của tổ chuyên môn cũng như của từng giáo viên bộ môn (GVBM);

BGH kết hợp với các TCM làm tốt công tác bồi dưỡng GV, đánh giá GV và quản lý toàn diện các hoạt động chuyên môn nghiệp vụ của GV; tăng cường thanh tra chuyên môn đối với GV nhà trường, tổ chức tốt Hội nghị cán bộ công chức hàng năm nhằm động viên cán bộ giáo viên (CBGV) đăng ký các danh hiệu thi đua các cấp và làm sáng kiến kinh nghiệm, đề tài nghiên cứu khoa học.

Chỉ đạo các TCM nghiêm túc thực hiện sinh hoạt tổ 2 đợt/tháng, tập trung vào đổi mới phương pháp giảng dạy, giảng dạy theo chuẩn kiến thức kỹ năng, ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) trong dạy học, sử dụng đồ dùng nhằm làm cho HS hiểu bài, nắm bài dễ dàng hơn.

Phát động các đợt thi đua, hội giảng lập thành tích chào mừng các ngày lễ lớn như 26/3, 20/11, 22/12… đồng thời qua hội giảng giúp GV nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ; tạo điều kiện thuận lợi cho CBGV tham gia học tập nâng cao chuyên môn, nghiệp vụ, chính trị.

Chỉ đạo đánh giá xếp loại CBGV hàng tháng, theo học kỳ và năm học theo đúng quy định; làm tốt công tác công khai, dân chủ trong trường học, phát huy tính sáng tạo trong nhà trường, tạo sự phấn khởi cho GV trước công việc được giao; chỉ đạo GV ôn tập cho HS trước mỗi kỳ thi; tổ chức khảo sát định kỳ, coi thi, chấm thi nghiêm túc theo đúng quy định và đánh giá xếp loại học sinh theo đúng quy chế của ngành.

Với Tổ chuyên môn

TCM có trách nhiệm xây dựng kế hoạch hoạt động của tổ theo sự hướng dẫn, chỉ đạo của BGH nhà trường; thường xuyên giám sát, kiểm tra GV việc giảng dạy thực hiện đúng quy định, hướng dẫn của Bộ GD&ĐT về chương trình, nội dung kế hoạch giảng dạy; tham gia chỉ đạo và trực tiếp giám sát GV làm tốt công tác bồi dưỡng học sinh giỏi, phụ đạo học sinh yếu, kém;

Giám sát GV nghiêm túc thực hiện việc dạy thêm theo đúng quy định, theo nguyện vọng của phụ huynh và HS; tập trung chỉ đạo nâng cao chất lượng đại trà và mũi nhọn, giáo dục đạo đức xây dựng nếp sống mới cho HS, góp phần xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực.

TCM chỉ đạo các thành viên duy trì nghiêm túc kỷ cương nề nếp cơ quan; xây dựng được tiêu chuẩn xếp loại thi đua hàng tháng đối với các tổ viên phù hợp.

Các tổ kết hợp với Công đoàn nhà trường làm tốt công tác chăm lo đời sống cho tổ viên, động viên GV hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, thực hiện tốt quy định về đạo đức nhà giáo… nhằm không ngừng nâng cao phẩm chất chính trị, trau dồi đạo đức nghề nghiệp, rèn luyện lối sống, tác phong, giữ gìn bảo vệ truyền thống nhà giáo.

TCM chỉ đạo thực hiện và động viên GV tích cực thực hiện đổi mới phương pháp dạy học nhằm nâng cao chất lượng các giờ dạy hàng ngày; làm tốt công tác động viên, khích lệ GV tích cực tham gia phong trào thi đua “Dạy tốt, học tốt”, các đợt hội giảng do nhà trường phát động;

Chỉ đạo góp ý thiết kế bài dạy và rút kinh nghiệm cho đồng nghiệp trong các giờ hội giảng, các giờ thi giáo viên dạy giỏi các cấp, thi sử dụng thiết bị đồ dùng, thi sáng tạo… đạt kết quả tốt;

TCM hướng dẫn GV xây dựng nội dung chương trình ôn tập cho HS trước các kỳ thi; giám sát, kiểm tra GV thực hiện chấm thi nghiêm túc theo đúng quy định và đánh giá xếp loại HS theo đúng quy chế của ngành.

Với giáo viên bộ môn

GVBM xây dựng kế hoạch cá nhân trong nội dung chương trình môn mình giảng dạy đúng với quy định, hướng dẫn của Bộ GD&ĐT; thực hiện tốt nhiệm vụ chuyên môn, đổi mới cách soạn bài, áp dụng tốt các phương tiện và phương pháp dạy học tích cực để từng bước nâng cao hiệu quả giờ dạy.

Nâng cao chất lượng các giờ dạy bằng cách đổi mới phương pháp dạy học sao cho phù hợp với từng kiểu bài, từng lứa tuổi và từng đối tượng HS ở những lớp mình giảng dạy; thường xuyên bồi dưỡng năng lực chuyên môn nghiệp vụ qua các khóa học, lớp học chuyên môn của ngành hoặc tự học qua các tài liệu, qua các giờ dạy của đồng nghiệp, qua các tiết dạy của bản thân được đồng nghiệp rút kinh nghiệm hoặc tự rút kinh nghiệm.

GVBM chuẩn bị kỹ nội dung bài trước khi lên lớp, xác định đúng mục đích yêu cầu, trọng tâm của bài để khắc sâu kiến thức cơ bản, các kĩ năng cần thiết cho HS.

Thường xuyên liên hệ với thực tế, ứng dụng CNTT vào các giờ dạy, kết hợp tốt các phương pháp dạy học để tăng tính hứng thú của học sinh, tạo sự phấn khởi và niềm yêu thích môn học.

Với các tiết luyện tập cần có phương pháp giải phù hợp, định hướng với từng loại bài tập, xem kỹ các trường hợp có thể xảy ra (tránh cách nghĩ chủ quan đơn giản chỉ chọn chữa bài khó bỏ qua bài dễ); hướng HS tìm ra các phương thức tổng quát, cách giải với từng kiểu đề bài giúp HS nắm vững lý thuyết, biết vận dụng vào thực hành và có hứng thú học tập.

GVBM cần nhớ từng đối tượng HS trong lớp mình giảng dạy, hiểu tâm lý, lực học từng em để có cách dạy, giao bài tập sao cho phù hợp. Trong bài giảng cần có cử chỉ, ánh mắt, giọng nói bộc lộ sự tự tin vào kiến thức, quan tâm đều đến tất cả các em tạo sức hút cho bài giảng và tạo được không khí học tập thân thiện, tích cực.

GVBM chủ động ôn tập cho HS trước các kỳ thi; cho HS tập dượt nhiều dạng bài bám sát với kiến thức cơ bản cũng như một phần nâng cao với đối tượng khá giỏi; cho HS nghiêm túc chấm điểm bài làm của mình hoặc chấm bài của bạn, dưới sự hướng dẫn của GV; cho HS đánh giá đúng thực chất lực học bản thân để tự rút ra kinh nghiệm và cố gắng trong những đợt kiểm tra, các kỳ thi.

GVBM nghiêm túc thực hiện việc ra đề, coi kiểm tra đến việc chấm, chữa bài cho HS; khi chấm chú ý chỉ ra những lỗi sai và hướng dẫn cho HS tự sửa từ các bài kiểm tra 15 phút, 1 tiết đến các bài thi định kỳ và kiểm tra học kỳ; không nên lấy điểm số làm áp lực với các em; tạo điều kiện thuận lợi để HS mạnh dạn thể hiện bản thân, sửa chữa nhược điểm; chấm và công bố điểm phải khách quan, công bằng tạo không khí thi đua trong học tập với HS.

GVBM luôn phối hợp tốt với giáo viên chủ nhiệm (GVCN) và phụ huynh học sinh (PHHS) để trao đổi thông tin và có những phương pháp giáo dục hiệu quả; luôn biết động viên, khích lệ với những tiến bộ dù nhỏ của các em. Với những HS cá biệt phải có cách hướng dẫn, uốn nắn các em kịp thời.

Với giáo viên chủ nhiệm

GVCN làm tốt nhiệm vụ chủ nhiệm lớp (theo Điều lệ trường THCS ban hành kèm theo Thông tư số 12/2011/TT-BGDĐT của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo).

Mỗi GVCN phải là một nhà tâm lý để hiểu, quan tâm, động viên, khích lệ kịp thời đối với những tiến bộ của HS trong lớp (từ những tiến bộ dù là nhỏ nhất); là một người bạn thực sự để HS chia sẻ những tâm sự; là một người thân luôn bên cạnh các em để có những lời khuyên giúp các em tháo gỡ và giải quyết những khó khăn, khúc mắc trong học tập cũng như trong cuộc sống. Từ đó sẽ tạo nên cơ sở nền tảng chất lượng giáo dục đại trà đi vào thực chất và bền vững.

GVCN hướng dẫn, khích lệ cho HS giúp đỡ bạn trong học tập; chỉ đạo HS học nhóm, cho HS chọn nhóm bạn, đôi bạn “cùng tiến” và phân công bạn có lực học khá giỏi giúp đỡ bạn yếu kém; luôn tạo không khí học tập vui vẻ, thân thiện, hiệu quả trong lớp.

Với học sinh

HS thực hiện nhiệm vụ của học sinh (Điều 38 – Điều lệ trường THCS ban hành kèm theo Thông tư số 12/2011/TT-BGDĐT của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo).

HS nghiêm túc thực hiện nhiệm vụ học tập, rèn luyện theo chương trình, kế hoạch giáo dục của nhà trường; xác định rõ động cơ, mục đích học tập và luôn có ý thức phấn đấu; tiếp thu kiến thức tích cực; luôn tìm tòi, sáng tạo trong học tập; học tập chăm chỉ và yêu thích tất cả các môn học.

HS thực hiện nghiêm túc những quy định của GVBM về việc làm bài tập ở lớp và ở nhà; thực hiện những quy định về điểm kiểm tra miệng, các bài kiểm tra viết do GVMB yêu cầu; nghiêm túc thực hiện chống tiêu cực trong kiểm tra, thi cử… do nhà trường đề ra để có được những kết quả kiểm tra thực chất.

Nâng Cao Chất Lượng Đại Trà Và Chất Lượng Mũi Nhọn.

Chuyên môn là xương sống của một nhà trường. Mọi hoạt động chuyên môn đều nhằm một mục tiêu là nâng cao chất lượng của học sinh, gồm cả chất lượng đại trà và chất lượng mũi nhọn. Tôi đồng ý với những giải pháp đã nêu trong hội nghị. Ở đây tôi xin đề xuất một số ý kiến cá nhân.

Đa phần học sinh ta còn rất yếu nên việc đòi hỏi cao trong tất cả các môn gây khó khăn cho học sinh. Theo tôi chúng ta cần phải tập trung thật nhiều cho các môn cơ bản Nội dung dạy học ở trên lớp: Theo tôi cần tập trung nhiều các hoạt động nhằm đạt chuẩn cơ bản, các nội dung có đưa ra trong sách giáo khoa nhưng không có trong mục tiêu cần đạt của học sinh chúng ta cho học sinh tự đọc hoặc giới thiệu qua. Trong tiết học, giáo viên cần quan tâm đến việc tự làm của học sinh, chúng ta cần phải giành thời gian cho học sinh làm các hoạt động phù hợp với trình độ các em, khuyến khích các em trao đổi. Những môn học có bài tập, đặc biệt là các môn có các tiết tự chọn theo tôi nên quan tâm đến vấn đề là học sinh có tiếp thu được những gì ta đưa ra hay không, chúng ta không cần thiết phải đưa ra nhiều dạng bài tập. Việc học ở nhà của học sinh: Mỗi tiết giáo viên cần dành ra 2-3 phút để giao cho học sinh làm ở nhà những nội dung có trong mục tiêu, cần nêu những mục tiêu cần đạt. Đối với môn có bài tập thì cho học sinh một số bài tập theo chuẩn chương trình và có chế độ kiểm tra. Đối với giáo viên chủ nhiệm: Chúng ta cần phát động trong lớp mình phong trào giúp nhau học tập, phân công những em học được trực tiếp kèm cặp những em học yếu. Nên chỉ đích danh ai giúp ai, môn gì? Chúng ta nên tránh việc học sinh chữa bài tập, những người còn lại chép vào vì học sinh dễ mắc sai lầm.

Cuối cùng, kính chúc quý vị sức khoẻ, chúc hội nghị thành công tốt đẹp. Hy vọng một năm học mới nhiều thắng lợi mới.

Tham Luận Nâng Cao Chất Lượng Đại Trà

Tham Luận Nâng Cao Chất Lượng Môn Ngữ Văn, Tham Luận Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học, Bài Tham Luận Về Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học, Bài Tham Luận Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học, Bài Tham Luận Nâng Cao Chất Lượng Đại Trà, Tham Luận Nâng Cao Chất Lượng Đại Trà, Bài Tham Luận Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học, Bài Tham Luận Về Nâng Cao Chất Lượng Chuyên Môn, Bài Tham Luận Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục, Tham Luận Về Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục, Tham Luận Về Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dcj, Tham Luận Nâng Cao Chất Lượng Mạng Lõi, Tham Luận Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Mầm Non, Tham Luận Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học Thpt, Báo Cáo Tham Luận Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục, Tham Luận Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Đoàn, Bài Tham Luận Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Bộ, Bài Tham Luận Tại Đại Hội Chi Bộ Về Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Bộ, Bài Tham Luận Nâng Cao Chất Lượng Đảng Viên, Bài Tham Luận Nâng Cao Chất Lượng Phong Trào Thi Đua, Báo Cáo Tham Luận Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Bộ, Bài Tham Luận Về Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Bộ, Bài Tham Luận Về Nâng Cao Chất Lượng Đội Ngũ Giáo Viên, Bài Tham Luận Nâng Cao Chất Lượng Khám Chữa Bệnh, Bài Tham Luận Về Công Tác Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Bộ, Tham Luận Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục, Tham Luận Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Đoàn, Bài Tham Luận Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Bộ, Bài Tham Luận Về Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Bộ, Tham Luan Vai Tro Cua Dang Vien Trong Viec Nang Cao Chat Luong Cao, Bai Tham Luan Ve Nang Cao Chat Luong Sinh Hoat Chi Bo Trong Truong Mam Non, Tham Luạn Vai Trò Của Đảng Viên Trong Việc Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục, Tham Luận Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Đoàn, Tham Luận Đại Hội Đảng Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Đảng, Giải Pháp Nâng Chất Lượng Tham Mưu Xây Dựng Khu Vực Phòng Thủ, Luận án Nâng Cao Chất Lượng Đào Tạo, Tieu Luan Nang Cao Chat Luong Doi Ngu Can Bo Y Te, Luận án Nâng Cao Chất Lượng Nguồn Nhân Lực, Khóa Luận Nâng Cao Chất Lượng Tín Dụng, Luận Văn Nâng Cao Chất Lượng Nguồn Nhân Lực, Luận Văn Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Tín Dụng, Tiểu Luận Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Bộ, Khóa Luận Nâng Cao Chất Lượng Công Chức Cấp Xã, Khóa Luận Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Bộ, Khóa Luận Nâng Cao Chất Lượng Nguồn Nhân Lực, Luận Văn Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Nguồn Nhân Lực, Luận Văn Thạc Sĩ Nâng Cao Chất Lượng Cho Vay Khách Hàng Cá Nhân, Tiểu Luận Nâng Cao Chất Lượng Khám Chữa Bệnh, Luận Văn Thạc Sĩ Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Đội Ngũ Đảng Viên, Tham Luận Về Nâng Cao Tinh Thần Và Vật Chất Cho Người Lao Động, Tham Luận Về Năng Lượng Hạt Nhân, Tham Luận Về Điện Mặt Trời Và Một Số Nguồn Năng Lượng Khác, Quá Trình Tổng Hợp Chất Hữu Cơ Từ Chất Vô Cơ Thông Qua Sử Dụng Năng Lượng , Nâng Cao Chất Lương Thanh Toán Tiền Lương Tại Đơn Vị Sự Nghiệp, Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Xây Dựng Lực Lượng Dqtv, Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Thể Chất, Vận Dụng Tính Năng Động Chủ Quan Trong Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Chínhn Trị, Giải Pháp Để Nâng Cao Hiệu Quả Quản Lý Đảng Viên Trong Chi Bộ Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Kiểm Tra , Đề Xuất Các Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Chăm Sóc, Khám, Chữa Bệnh Cho Nhân Dân Trên Địa Bàn, Nâng, Đề Xuất Các Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Chăm Sóc, Khám, Chữa Bệnh Cho Nhân Dân Trên Địa Bàn, Nâng , Giải Pháp Để Nâng Cao Hiệu Quả Quản Lý Đảng Viên Trong Chi Bộ Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Kiểm Tra, Tiểu Luận Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Phân Công Công Việc Cho Công Chức Phòng Nội Vụ, Nâng Cao Chất Lượng Tự Học, Nang Cao Chat Luong Mon Hoa, Nâng Cao Chất Lượng Hội Họp, Nang Cao Chat Luong Doi Ngu Can Bo Mat Tran, Nâng Cao Chất Lượng Tín Dụng, Dự án Năng Lượng Từ Chất Thải Tại Tp. Hcm, Khoa Học 4 ôn Tập Vật Chất Và Năng Lượng, Nâng Cao Chât Lượng Quản Lý Cấp Phòng, Nâng Cao Chất Lượng Chương Trình Cho Vay, Nâng Cao Chất Lượng Nguồn Nhân Lực, Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Bộ , Báo Cao Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Bộ, Chỉ Thị Về Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Bộ, Báo Cáo Sơ Kết Về Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Bộ, Đổi Mới Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Tư Tưởng, Đề án Nâng Cao Chất Lượng Nguồn Nhân Lực, Báo Cáo Sơ Kết Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Bộ, Bao Cao Ve Nang Cao Chat Luong Sinh Hjoat Chi Bo, Chỉ Thị Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Bộ, Nâng Cao Chất Lượng Khám Chữa Bệnh, Nghị Quyết Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục, Mẫu Báo Cáo Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giảng Dạy, Hướng Dẫn 12 Về Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Bộ, Nâng Cao Chất Lượng Cho Vay Khách Hàng Cá Nhân, Doi Moi Va Nang Cao Chat Luong Sinh Hoat Chi Bo Thon, Mẫu Báo Cáo Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục, Hướng Dẫn Về Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Bộ, Báo Cáo Chuyên Đề Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Bộ, Tiếp Tục Đổi Mới Và Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Giáo Dục, Đề Tài Nâng Cao Chất Lượng Đào Tạo, Bồi Dưỡng Cán Bộ, Công Chức, Kế Hoạch Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Bộ, Chỉ Thị Mới Nhất Về Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Bộ, Nang Cao Chat Luong Sinh Hoạt Chi Doan, Phiếu Thăm Dò Chất Lượng Giảng Dạy, Bài Thuyết Tính Năng Cao Chất Lương Sinh Hoạt , Tổng Quan Nghiên Cứu Nâng Cao Chất Lượng Dịch Vụ, Thuyết Trình Ve Nang Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Bo, Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Kết Nạp Đảng Viên,

Tham Luận Nâng Cao Chất Lượng Môn Ngữ Văn, Tham Luận Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học, Bài Tham Luận Về Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học, Bài Tham Luận Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học, Bài Tham Luận Nâng Cao Chất Lượng Đại Trà, Tham Luận Nâng Cao Chất Lượng Đại Trà, Bài Tham Luận Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học, Bài Tham Luận Về Nâng Cao Chất Lượng Chuyên Môn, Bài Tham Luận Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục, Tham Luận Về Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục, Tham Luận Về Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dcj, Tham Luận Nâng Cao Chất Lượng Mạng Lõi, Tham Luận Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Mầm Non, Tham Luận Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học Thpt, Báo Cáo Tham Luận Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục, Tham Luận Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Đoàn, Bài Tham Luận Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Bộ, Bài Tham Luận Tại Đại Hội Chi Bộ Về Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Bộ, Bài Tham Luận Nâng Cao Chất Lượng Đảng Viên, Bài Tham Luận Nâng Cao Chất Lượng Phong Trào Thi Đua, Báo Cáo Tham Luận Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Bộ, Bài Tham Luận Về Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Bộ, Bài Tham Luận Về Nâng Cao Chất Lượng Đội Ngũ Giáo Viên, Bài Tham Luận Nâng Cao Chất Lượng Khám Chữa Bệnh, Bài Tham Luận Về Công Tác Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Bộ, Tham Luận Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục, Tham Luận Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Đoàn, Bài Tham Luận Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Bộ, Bài Tham Luận Về Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Bộ, Tham Luan Vai Tro Cua Dang Vien Trong Viec Nang Cao Chat Luong Cao, Bai Tham Luan Ve Nang Cao Chat Luong Sinh Hoat Chi Bo Trong Truong Mam Non, Tham Luạn Vai Trò Của Đảng Viên Trong Việc Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục, Tham Luận Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Đoàn, Tham Luận Đại Hội Đảng Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Đảng, Giải Pháp Nâng Chất Lượng Tham Mưu Xây Dựng Khu Vực Phòng Thủ, Luận án Nâng Cao Chất Lượng Đào Tạo, Tieu Luan Nang Cao Chat Luong Doi Ngu Can Bo Y Te, Luận án Nâng Cao Chất Lượng Nguồn Nhân Lực, Khóa Luận Nâng Cao Chất Lượng Tín Dụng, Luận Văn Nâng Cao Chất Lượng Nguồn Nhân Lực, Luận Văn Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Tín Dụng, Tiểu Luận Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Bộ, Khóa Luận Nâng Cao Chất Lượng Công Chức Cấp Xã, Khóa Luận Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Bộ, Khóa Luận Nâng Cao Chất Lượng Nguồn Nhân Lực, Luận Văn Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Nguồn Nhân Lực, Luận Văn Thạc Sĩ Nâng Cao Chất Lượng Cho Vay Khách Hàng Cá Nhân, Tiểu Luận Nâng Cao Chất Lượng Khám Chữa Bệnh, Luận Văn Thạc Sĩ Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Đội Ngũ Đảng Viên, Tham Luận Về Nâng Cao Tinh Thần Và Vật Chất Cho Người Lao Động,

Chất Lượng Giáo Dục Đại Học Hiện Tại Ở Việt Nam.thực Trạng Và Những Biện Pháp Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Đại Học

1Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368A-Lời mở đầuHiện nay, khi mà nền kinh tế phát triển nhu cầu một xã hội có nền tri thức cao đang dần trở nên quan trọng. Không còn là mới mẻ khi nhắc đến cụm từ phổ cập giáo dục Đại học so với nhiều nước trên thế giới. Nhưng ở nước ta hiên nay giáo dục Đại học vẫn là vấn đề còn nhiều bất cập. Trong những năm gần đây đời sống của người dân được nâng cao, nhu cầu học tập nói chung và học Đại học nói riêng của thế hệ trẻ ngày càng tăng cao. Số lượng các trường Đại học cũng tăng cao kéo theo đó là số lượng người đi học Đại học cũng không ngừng gia tăng . Đó là những dấu hiệu đáng mừng tuy nhiên phải đau lòng khi nói rằng hiện nay giáo dục của nước ta chỉ mới là phát triển về số lượng nhưng còn chưa chú trọng đến chất lượng. Chất lượng giáo dục đại học là vấn đề được xã hội quan tâm nhất hiện nay. Đặc biệt, khi nước ta gia nhập WTO cạnh tranh về nguồn nhân lực là rất lớn. Nếu không có bước chuyển mình nâng cao chất lượng giáo dục thì nguồn nhân lực nước ta khó có thể cạnh tranh được với các nguồn nhân lực của các nước khác. Và thực trạng sinh viên gia trường không làm đúng chuyên ngành vẫn sẽ mãi là bài toán khó giải không chỉ riêng của một cấp nào.

Là một sinh viên năm cuối của một trường Đại hoc. Cũng có thể nói là một người trong cuộc, người chịu ảnh hưởng của nền giáo dục hiện tại. Em cảm nhận được tầm quan trọng của chất lượng giáo dục Đại học và cũng có rất nhiều suy nghĩ về vấn đề này. Do vậy em quyết định chọn đề tài: “Chất lượng giáo dục Đại học hiện tại ở Việt Nam. Thực trạng và những biện pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục Đại học” làm đề án môn học. Hy vọng sẽ có được cái nhìn toàn diện và góp phần nhỏ bé của mình trong việc nâng cao chất lượng giáo dục đại học nước nhà.Và em cũng xin chân thành cảm ơn thầy chúng tôi Nguyễn Đình Phan đã giúp đỡ em hoàn thành đề án môn học này.

2Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368B- Nội dung chínhI) Chất lượng giáo dục Đại học, các tiêu chuẩn đánh giá và vai trò của giáo dục Đại học1.Chất lượng giáo dục Đại họcQuyết định 38/2004/QD-BGD và ĐT 2/12/2004 xác định: ” Chất lượng giáo dục Đại học là sự đáp ứng mục tiêu đề ra của trường Đại học”. Ta cũng có thể hiểu chất lượng giáo dục Đại học là: Mức độ của một tập hợp các đặc tính vốn có đáp ứng nhu cầu xã hội, các đặc tính vốn có là phẩm chất đạo đức, sức khỏe, kiến thức, phương pháp, kỹ năng nghề nghiệp của sinh viên ra trường. Đào tạo người học có phẩm chất chính trị, đạo đức, có ý thức phục vụ nhân dân, có kiến thức và năng lực thực hành nghề nghiệp tương xứng với trình độ đào tạo, có sức khoẻ đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.2.Các tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục Đại họcĐể đánh giá chất lượng giáo dục Đại học người ta cũng có các tiêu chuẩn và các tiêu chí riêng. Cụ thể là ta xem xét dựa trên 10 tiêu chuẩn để đánh giá chất lượng giáo dục Đại học. Đó là các tiêu chuẩn: Sứ mạng và mục tiêu của các trường Đại học. Tổ chức và quản lý. Chương trình đào tạo. Các hoạt động đào tạo.  Đội ngũ cán bộ quản lý, giảng viên và nhân viên. Sinh viên. Nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ. Hoạt động hợp tác Quốc tế. Thư viện, trang thiết bị học tập và cơ sở vật chất khác. Tài chính và quản lý tài chính.

3Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.3683. Vai tròGiáo dục và đào tạo cùng với khoa học công nghệ là quốc sách hàng đầu. Nó nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và phát triển nhân tài. Đào tạo ra những con người có phẩm chất đạo đức, có sức khoẻ, có kiến thức, phương pháp, kỹ năng lành nghề khi ra trường. Đáp ứng được các nhu cầu của xã hội và các yêu cầu xây dựng và bảo vệ tổ quốc. II) Thực trạng của chất lượng giáo dục Đại học ở Việt Nam1. Những thành tựu đạt được Giáo dục Đại học của Việt Nam trong giai đoạn vừa qua đã có rất nhiều cố gắng, đặc biệt trong 20 năm đổi mới do Đảng cộng sản Việt Nam đề xướng và lãnh đạo. Đánh giá về những thành tựu của giáo dục và đào tạo trong văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc làn thứ X đã khẳng định “Giáo dục và đào tạo tiếp tục phát triển và được đầu tư nhiều hơn. Cơ sở vật chất được tăng cường, quy mô đào tạo được mở rộng”. Trong những thành tựu chung của ngành giáo dục và đào tạo, giáo dục Đại học có những tiến bộ rõ nét: Quy mô phát triển mạnh mẽ, ngành nghề đào tạo đa dạng. Chất lượng không ngừng được nâng lên. Tính đến cuối năm 2006 cả nước đã có 311 trường Đại học, cao đẳng và được phân bố khắp mọi miền đất nước. Ngoài những trường Đại học truyền thống được thành lập ở các đô thị lớn, những năm gần đây hầu như tất cả các tỉnh, thành phố trong cả nước( kể cả các tỉnh miền núi) đều có trường Đại học, cao đẳng. Đầu năm học 2006-2007 cả nước đã có hơn 5 triệu sinh viên Đại học, cao đẳng. Đặc biệt trong nhiều thập kỉ qua nhiều mô hình trường mới trong đào tạo Đại học như trường dân lập, trường tư thục, trường Đại học trực thuộc địa phương, cao đẳng cộng đồng ra đời và phát triển. Giáo dục đại học đã đáp ứng được nhu cầu nhân lực cho giai đoạn vừa qua. Giai đoạn khởi đầu cho sự nghiệp công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nước. Đáp ứng phần lớn nhu cầu học tập của nhân dân.Trong những năm đổi mới vừa qua, cơ cấu tổ chức của các trường Đại học Việt Nam đã có sự biến đổi theo hướng tiến bộ và đạt được một số thành tích chủ yếu sau:

4Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368 Cơ cấu tổ chức của các trưòng Đại học phát triển theo hướng thực hiện khá tốt các chức năng của trường và đa dạng hoá, đảm bảo nâng cao chất lượng đào tạo .Nhiều trường Đại học đang phấn đấu từ trường đơn ngành trở thành trường đa ngành, nhiều trường đã thành lập và đưa vào hoạt động có hiệu quả các viện các trung tâm nghiên cứu khoa học, tư vấn, chuyển giao công nghệ, nhiều trường đẩy mạnh hoạt động của bộ phận khảo thí, thanh tra giáo dục. Cơ cấu tổ chức bắt đầu chuyển đổi từ chỗ theo mô hình của cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang mô hình theo cơ chế thi trường định hướng xã hội chủ nghĩa . Trong rất nhiều năm, cơ cấu tổ chức của trường Đại học được tổ chức theo mô hình kế hoạch hoá tập chung mà đặc trưng chủ yếu của nó là: trường đơn ngành, tập chung bao cấp từ nhà nước, trường không có quyền tự chủ, bộ giao chỉ tiêu tài chính và chỉ tiêu tuyển sinh cũng như tổ chức thi tuyển sinh, quy định mức học phí…Nhưng trong những năm đổi mới vừa qua, trường đã bắt đầu thực hiện mô hình chuyển đổi theo cơ chế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa mà đặc trưng chủ yếu của nó là: Tổ chức trường theo hướng đa ngành để đáp ứng nhu cầu xã hội, được giao một số quyền tự chủ về tổ chức nhân sự, về nhiệm vụ đào tạo và nghiên cứu khoa học  Cơ cấu tổ chức của trường được hình thành và thực hiện theo quy trình hợp lý và theo đúng văn bản pháp chúng tôi trình hợp lý đó là sự bổ nhiệm của cơ quan quản lý đối với cán bộ quản lý được thực hiện dựa trên cơ sở lấy phiếu tín nhiệm của cán bộ công nhân viên và thông qua cấp uỷNhư vậy cơ chế quản lý là yếu tố quyết định cơ cấu tổ chức của trường, ngược lại cơ cấu tổ chức của trường tác động mạnh mẽ tới cơ chế quản lý của trường và cơ chế quản lý giáo dục Đại học.2. Những tồn tại của chất lượng giáo dục Đại học và nguyên nhânBước vào giai đoạn mới của sự nghiệp công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nước. Đặc biệt khi Việt Nam gia nhập Tổ chức thương mại Thế giới WTO, những đòi hỏi đối với đào tạo rất lớn. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X một lần nữa khẳng định: ” Giáo dục và đào tạo cùng với khoa học công nghệ là quốc

6Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368nhóm, giải quyết vấn đề, giao tiếp và viết bằng tiếng Anh, quản lý dự án, tư duy phê phán…Trong những nghiên cứu thực tế những năm gần đây, của nhiều nhà nghiên cứu và trong thực tế sử dụng sinh viên tốt nghiệp các trường Đại hoc, cao đẳng mới tốt nghiệp ra trường cho thấy những bức xúc về vấn đề chất lượng đào tạo. Hàng năm chúng ta cho ra trường với số lượng không nhỏ sinh viên tốt nghiệp đại học, cao đẳng. Tuy nhiên số sinh viên được bố trí công ăn việc làm đúng chuyên ngành đào tạo lại không nhiều. Rất nhiều người làm việc không dùng đến bằng cấp được đào tạo. Mặc dù có rất nhiều hội chợ việc làm cho sinh viên, thanh niên dược tổ chức nhưng người lao động vẫn không tìm kiếm được việc làm vì không đáp ứng được yêu cầu chất lượng công việc của những nhà sử dụng.Đó là hậu quả của chương trình đào tạo của chúng ta, kể cả chương trình khung do Bộ giáo dục và Đào tạo ban hành. Đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục và đội ngũ giảng viênĐây là vấn đề nhức nhối và đáng quan tâm.Đội ngũ giảng viên thiếu cả về số lượng lẫn chất lượng. Giảng viên chưa cập nhật kiến thức chuyên ngành liên quan đến chương trình đào tạo, nội dung môn học, phương pháp giảng dạy và nghiên cứu . Giảng viên dạy quá nhiều nhưng lương thấp phải làm thêm thiếu thời gian để nâng cao phương pháp giảng dạy cập nhật nôi dung môn học, và thiếu cả thời gian tiếp xúc sinh viên nghiên cứu. Cơ chế thưởng chủ yếu dựa trên thời lượng bài giảng dạy và thâm niên công tác, chưa thực sự khuyến khích giảng viên thực hiên nghiên cứu. Thực tế theo các chuyên gia thì giảng viên Việt Nam phải thực hiện giảng dạy quá nhiều thời gian, khoảng trên 20 giờ một tuần nhưng lương thấp. Thêm vào đó, không có khen thưởng để khuyến khích họ cải tiến phương pháp giảng dạy. Rất ít giảng viên gặp gỡ sinh viên ngoài phạm vi lớp học. Ngoài ra phần việc tuyển giảng viên từ những sinh viên tốt nghiệp của chính trường mình( rất phổ biến ở nhiều trường Đại học của Việt Nam hiện nay) lại đang cản trở môi trường nghiên cứu năng động.

7Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368Như vậy, đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục và đội ngũ giảng viên không đáp ứng được công cuộc đổi mới. Ai cũng biết nhân tố con người quyết định tất cả, nhưng nhân tố con ngưòi trong trường đại học chưa được xem xét đúng mức từ những năm cuối của thập kỉ 80 của thế kỉ trước trở về đây. Thời gian gần đây trong các trường Đại học (kể cả các trường có bề dày truyền thống ) hiện tượng hẫng hụt và thiếu các giảng viên là điều dễ thấy, nhất là đội ngũ giảng viên có chất lượng cao thiếu nghiêm trọng. Lý do chính là thiếu quan tâm đầu tư . Trước những năm 80 của thế kỉ trước việc chọn người gửi đi đào tạo tại các nước Xã hội chủ nghĩa rất được coi trọng kết quả là chúng ta có đội ngũ giảng viên làm lòng cốt cho việc đào tạo đại học và sau đại học cho đến ngày nay. Tuy nhiên từ khi bước vào thời kì đổi mới đặc biệt từ năm 1991 ( lúc Liên Xô va Đông Âu sụp đổ) quan hệ giao lưu Quốc tế thay đổi lớn đội ngũ nhân viên, giảng viên đào tạo trước đây tỏ ra bất cập, vì phần lớn không có điều kiện tiếp xúc các môi trường đại học Âu -Mỹ. Đội ngũ này không được trang bị lại ngoại ngữ một cách nghiêm túc, không được trang bị them kiến thức và không có mối quan hệ hợp tác trong nghiên cứu khoa học. Rõ ràng giáo viên ít có điều kiện tiếp xúc với trình độ phương Tây. Do vậy học tro do họ đào tạo ra vì thế không theo kịp trình độ của thời đại. Đội ngũ giảng viên hiện nay phần lớn được đào tạo trong nước nhược điểm lớn của họ là không thông thạo ngoại ngữ ít vôn liếng văn hoá của các nước Phương Tây và ít có mối quan hệ với các trường Đại học các viện nghiên cứu Âu -Mỹ. Nếu đội ngũ này không được nâng cấp thì sự hẫng hụt và thiếu giảng viên có chất lượng là điều khó tránh khỏi. Giảng dạy và học tập ở bậc Đại họcPhương pháp giảng dạy kém hiệu quả: diễn thuyết, thuyết trình, ghi nhớ một cách máy móc, giao ít bài tập về nhà, ít có sự tương tác giữa sinh viên và giảng viên. Sinh viên học quá nhiều trên lớp mỗi ngày và quá nhiều môn trong một học kỳ, không có thời gian để lĩnh hội tài liệu, và học tập tự nghiên cứu Thiếu chú trọng đến phát triển các kỹ năng thông thường và nghề nghiệp. Thiếu

8Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368trang thiết bị học tập. Về vấn đề này chúng ta sẽ tìm hiểu ở một số các khía cạnh sau:* Thứ nhất: Phương pháp giảng dạy lạc hậu Quá lâu trong tuyệt đại đa số các trường Đại học của chúng ta vẫn sử dụng phương pháp giảng dạy theo phương pháp truyền thống là thuyết trình, đây là kiểu truyền đạt thụ một chiều. Việc dạy học hiện nay vẫn là viết lên bảng, dùng phấn trắng. Sinh viên chỉ biết nghe tiếp thu, ghi chép, thiếu suy nghĩ, thiếu động não, sáng tạo.Đến các kỳ thi( kể cả hết môn học, hết học phần hay cuối khoá) là học thuộc lòng. Thậm chí nhiều năm qua, đã có câu ca trong dân gian về phương pháp giảng dạy không hợp thời này ” thầy đọc, trò ghi, đi thi mở sách”. Phương pháp giảng dạy này thực sự ảnh hưởng tới chất lượng đào tạo. Giảng viên lười nghiên cứu mà chỉ cần đọc các giáo trình và lên diễn thuyết, sinh viên thụ động và chỉ biết nghe lời thầy. Điều này xem ra không khác gì phổ thông cấp 4 chứ không hẳn là sinh viên Đại học.* Thứ hai: Việc học tập của sinh viênViệc học của sinh viên quá nhấn mạnh vào ghi nhớ kiến thức theo kiểu học thuộc lòng mà không nhấn mạnh đến học khái niệm hoặc học ở cấp độ cao( như phân tích và tổng hợp). Sinh viên học thụ động như ghi chép và nhớ lại những thông tin đã học thuộc khi làm bài thi. Trình độ của sinh viên khi nghe giảng còn quá thấpđể tiếp thu bài giảng. Điều này ngược với các trường Đại học ở những nước phát triển nơi mà các chuyên đề nghiên cứu, các hội thảo chuyên ngành và các bài giảng trình bày bởi những người không thuộc trường luôn được sự hưởng ứng mạnh mẽ của các giảng viên của khoa. Phần lớn các sinh viên Việt Nam không sử dụng thành thạo tiếng Anh, ngôn ngữ khoa học hiện nay, điều này là một cản trở lớn đến khả năng của họ trong việc tiếp thu kiến thức từ các bài giảng của các chuyên gia nước ngoài.* Thứ ba: Thiếu tài liệu giảng dayTrong các cơ sở giáo dục và đào tạo nói chung, trong các trường Đại hoc nơi đào tạo các cán bộ kỹ thuật có trình độ cao nói riêng tài liệu giảng dạy bao

9Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368gồm: Giáo trình, tài liệu tham khảo, sách hướng dẫn phải là “cẩm nang” của sinh viên. Tuy nhiên trên thực tế, ngoài những trường trọng điểm của Nhà nước được đầu tư ngân sách để viết giáo trình, mua tài liệu giảng dạy tương đối đầy đủ. Các trường không thuộc loại trên thì kinh phí dành cho lĩnh vực này rất hạn hẹp, chủ yếu các trường dành một phần không lớn để đầu tư.Nhiều trường Đại học chủ yếu là các trường ở xa trung tâm lớn và các trường mới thành lập tài liệu giảng dạy rất thiếu, sinh viên không có đủ tài liệu để học tập và nghiên cứu. Nhiều lý do dẫn tới thiếu tài liệu giảng dạy. Một phần do nguồn tài chính chưa đáp ứng, một phần do chưa nhận thức đúng về việc mang tính bắt buộc đáp ứng yêu cầu tài liệu giảng dạy để nâng cao trình độ cho giảng viên và cho sinh viên* Thứ tư: Cơ sở vật chất kỹ thuật, trang thiết bị dạy họcCơ sở vật chất kỹ thuật, trang thiết bị dạy học không theo kịp yêu cầu. Thời gian vừ qua mặc dù là đã rất cố gắng trong việc đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật cho các trường Đại học, kể cả việc vay tiền để đầu tư như Chính phủ vay tiền của Ngân hàng Thế giới để thực hiện Dự án giáo dục Đại học, nhưng vẫn chưa thể so sánh được với trường Đại học nước ngoài. Trang thiết bị, phòng học, các thư viện, phòng thí nghiệm ở các Đại học rất yếu kém vừa không cập nhật vừa không có hệ thống. Vào mạng ở các trường Đại học ở nước ngoài, chưa nói tới các nước Âu-Mỹ, chỉ riêng các trường Đại học lớn ở Nga, Trung Quốc-các nước vừa chuyển từ cơ chế bao cấp sang cơ chế thị trường, họ cũng có nhiều thư viện điện tử, nhiều kho dữ liệu rất phong phú cho sinh viên, giảng viên sử dụng. Còn đối với nước ta có quá ít các thư viện điện tử, kho dữ liệu cho sinh viên và giảng viên sử dụng. Cũng không nhiều trường Đại học có trang Web mang nội dung học thuật để cho các nhà nghiên cứu, cán bộ quản lý và sinh viên truy cập.Trong thời đại điện tử, với khẩu hiệu hô hàotự học, học suốt đời mà lại thả nổi việc sử dụng phương tiện hiên đại như thế cho sinh viên, thì còn có gì biện minh được về chính sách phát triển Đại học của đất nước? Đánh giá kết quả học tập của sinh viên và hiệu quả của nhà trường.