Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Thpt Violet / TOP #10 ❤️ Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 9/2022 ❣️ Top View | Phauthuatthankinh.edu.vn

Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học Môn Toán Trong Trường Thpt

Đề Tài Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Môn Toán Ở Lớp 6A2 Thông Qua Phương Pháp Trò Chơi

Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Toán Lớp 1

Làm Thế Nào Để Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Ngữ Văn?

Tổ Văn Trường Thpt Phú Điền Với Nhiều Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Bộ Môn

Một Số Giải Pháp Quản Lý Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Ngữ Văn, Lịch Sử Ở Trường Thpt Như Thanh

nhiều môn học khác, hơn nữa môn Toán là môn hàng năm đều thi tốt nghiệp

THPT vì vậy việc nâng cao chất lượng dạy – học và ôn tập thi tốt nghiệp môn

Toán trong trường THPT là một nhiệm vụ cần thiết và cấp bách hơn bao giờ hết.

Tuy nhiên, qua kết quả môn Toán học kì I năm 2012-2013 của trường

THPT Thông Nông nói riêng chưa được cao. Đồng thời tỉ lệ môn toán điểm trên

trung bình trong kì thi tốt nghiệp năm 2011-2012 đã được cải thiện rất nhiều

nhưng vẫn còn rất khiêm tốn so với các trường THPT khác trong tỉnh nên đã đặt

ra cho giáo viên trăn trở: làm cách nào để nâng cao chất lượng dạy và học

môn toán, làm thế nào để giảng dạy môn Toán đạt hiệu quả cao trong kỳ thi

tốt nghiệp sắp tới? Để trả lời câu hỏi trên tôi xin nêu một số thực trạng dạy –

học môn Toán của trường và các giải pháp khắc phục:

- 1 - NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY VÀ HỌC MÔN TOÁN TRONG TRƯỜNG THPT Môn Toán là một trong những môn học ở trường phổ thông hỗ trợ cho rất nhiều môn học khác, hơn nữa môn Toán là môn hàng năm đều thi tốt nghiệp THPT vì vậy việc nâng cao chất lượng dạy - học và ôn tập thi tốt nghiệp môn Toán trong trường THPT là một nhiệm vụ cần thiết và cấp bách hơn bao giờ hết. Tuy nhiên, qua kết quả môn Toán học kì I năm 2012-2013 của trường THPT Thông Nông nói riêng chưa được cao. Đồng thời tỉ lệ môn toán điểm trên trung bình trong kì thi tốt nghiệp năm 2011-2012 đã được cải thiện rất nhiều nhưng vẫn còn rất khiêm tốn so với các trường THPT khác trong tỉnh nên đã đặt ra cho giáo viên trăn trở: làm cách nào để nâng cao chất lượng dạy và học môn toán, làm thế nào để giảng dạy môn Toán đạt hiệu quả cao trong kỳ thi tốt nghiệp sắp tới? Để trả lời câu hỏi trên tôi xin nêu một số thực trạng dạy - học môn Toán của trường và các giải pháp khắc phục: I. THỰC TRẠNG: 1. Thực trạng: + Một bộ phận không nhỏ học sinh mất kiến thức cơ bản rất nhiều, kỹ năng tính toán quá yếu. Nhiều học sinh không biết cộng trừ số âm, không biết cách giải phương trình bậc nhất, bật hai; + Học sinh ít làm bài tập ở nhà dẫn đến nắm được phương pháp nhưng không áp dụng được vào giải bài tập; + Môn Toán đặc thù là môn tư duy trừu tượng, có sự liên kết logic ở các khối lớp, do đó nếu học sinh hổng kiến thức ở lớp dưới sẽ khó tiếp thu được kiến thức mới dẫn đến chán học, không tự tin trong học tập, học sinh rất sợ các tiết Toán và Thầy Cô dạy Toán; + Do đặc thù của bộ môn khô khan, dễ gây nhàm chán cho học sinh. Trong khi đó còn một số ít giáo viên chưa thật sự đổi mới phương pháp dạy học; hoặc còn lúng túng trong việc đổi mới phương pháp dạy học, còn dạy chay làm cho học sinh không ham thích học môn Toán, dạy tràn lan; + Học bồi dưỡng, phụ đạo học sinh thường không tập trung, còn nói chuyện riêng, chưa thực sự quan tâm đến bài giảng nên kết quả học tập chưa cao. + Chất lượng làm bài thi tốt nghiệp của học sinh trong những năm qua chưa thật sự tốt lắm thường bộc lộ những yếu kém như không biết trình bày bài làm, bỏ giấy trắng, không nhớ công thức, tính toán sai,chép bài bạn chép sai kí hiệu mà không biết - chép không cảm giác. 2. Nguyên nhân: + Đầu vào quá thấp ( có học sinh thi đỗ vào trường nhưng điểm môn toán chỉ có 0,5; 1 điểm, hầu hết học sinh khá giỏi thi vào các trường chuyên, DNNT tỉnh còn lại đa số học sinh thuộc dạng trung bình, yếu kém). + Học sinh hổng kiến thức rất nhiều, thậm chí bài toán cộng trừ các em thực hiện không được nếu không có máy tính. Nguyên nhân là do có quá nhiều môn yêu cầu cao, tạo áp lực nên các em không có đủ thời gian tự học và bản thân các em cũng không biết cách sắp xếp thời gian sao cho hợp lý. - 2 - + Học sinh ngoài giờ học còn phải phụ giúp gia đình, nhất là vào mùa vụ không dành nhiều thời gian cho luyện tập ở nhà. + Đa số các em học sinh đều trọ học xa nhà nên các em chưa thực sự tự giác trong việc học tập. Mặc dù trọ học cùng nhau nhưng các em chưa có phong trào học nhóm, giúp đỡ nhau cùng tiến bộ. thận, kỹ lưỡng nhưng do khả năng tiếp thu của học sinh còn hạn chế nên vẫn mắc nhiều sai lầm và chưa linh động xử lý tình huống đơn giản nên kết quả học tập còn rất hạn chế. + Còn đa số gia đình học sinh chưa thực sự quan tâm đến việc học của con em mình, chưa phát huy được sổ liên lạc giữa nhà trường và gia đình mà nhà trường gửi về từng đợt sau khi kết thúc học kỳ, chưa có biện pháp đề nghị nhà trường giúp đỡ con em mình học tốt hơn. + Ý thức tự học ở nhà của các em hầu như không có, không học bài cũ và chuẩn bị bài mới nên việc tiếp thu gặp nhiều hạn chế do đó khi lên lớp giáo viên không chủ động được thời gian làm hạn chế việc phát huy tính tích cực của học sinh trong quá trình dạy và học. II. GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG: 1. Với học sinh: - Học sinh phải có đầy đủ sách giáo khoa và dụng cụ học tập. Sử dụng thành thạo máy tính cầm tay, đây là yếu tố cần thiết và thiết thực bởi vì học sinh ngày nay không quen tính nhẩm. - Đi học đầy đủ, vào lớp phải tập trung vào việc học và làm theo những yêu cầu của giáo viên đề ra. - Học sinh tự tổ chức học nhóm ở trường, ở lớp vào những buổi không phải đi học. - Phải xác định được động cơ và mục đích học tập của mình. Đặt mục đích cuối cùng là lấy kiến thức thi đỗ tốt nghiệp, không phải học để đối phó các giờ kiểm tra trên lớp. - Đặt mục tiêu cho bản thân là tự mình làm được bài tập, không cần phải xem bài giải của người khác. - Sau mỗi tiết dạy chữa bài tập, Học sinh phải giải hoàn chỉnh các bài tập. Xem đó như kết quả tiếp thu của mình. Từng bước nâng cao trình độ bộ môn Toán của từng em. Nghiêm túc trong kiểm tra đánh giá, rèn luyện kỹ từng nội dung trong chuẩn kiến thức. - Tích cực tham khảo các tài liệu trên internet về phương pháp học tập, kĩ năng ôn thiNhà trường có phòng Internet Thanh Niên mở cửa phục vụ các em học sinh đến tham khảo và tra cứu tài liệu học tập. - Đặc biệt với học sinh lớp 12: Chuẩn bị cho kì thi tốt nghiệp, đại học cao đẳng. + Học kỹ từng bài: Thí sinh cần bám sát nội dung sách giáo khoa, nghĩa là phải chú trọng các phần lý thuyết cơ bản, đọc kỹ lý thuyết rồi làm bài tập đầy đủ từ dễ đến khó. Cần nắm chắc phần cơ bản, nếu chưa nắm chắc thì không nên dồn thời gian cho phần nâng cao; các bài tập không tự giải được thì sau khi nghe - 3 - thầy giảng (hoặc tìm đọc tài liệu tham khảo) phải tự mình thực hiện lại lời giải một cách độc lập cho đến khi thành thạo và chủ động. + Ôn bài từng đoạn: Sau khi làm bài tập áp dụng cho từng bài, cuối mỗi chương cần làm bài tập ôn để nhìn lại các bài toán có tính chất tổng hợp và đó này rất cần thiết vì các bài toán tổng hợp thường sẽ gần giống với đề thi. + Chú ý các kiến thức lớp 10 và 11: Đây là phần kiến thức nền tảng về Hình học không gian, Lượng giác và Đại số (phương trình, bất phương trình và hệ phương trình) thường có trong các đề tuyển sinh Đại Học mà lớp 12 thì không dạy trực tiếp. Thực tế cho thấy rất đông thí sinh làm bài kém ở phần các câu hỏi ở nội dung này, nếu không nắm vững chương trình lớp 10 và 11 thì cần phải có kế hoạch tự ôn tập một cách đều đặn, bền bỉ từng tuần, từng tháng; không thể ôn cấp tốc trong một thời gian ngắn. + Kế hoạch học tập hợp lý: Để tiết kiệm thời gian và sức lực, đồng thời có kết quả cao nhất thì cần có một kế hoạch học tập hợp lý. Cần thu xếp học bài trong thời gian sớm nhất sau khi nghe giảng. Học ở đây có nghĩa là đọc và tìm hiểu kỹ sách giáo khoa, sau đó làm bài tập áp dụng rồi đến bài tập nâng cao. Càng để cách lâu thì càng tốn nhiều thời gian và sức lực hơn để đạt cùng một kết quả. Khi nghe giảng, có những điều chưa hiểu kỹ, nếu học sớm sẽ được khôi phục rất nhanh; để lâu sẽ mờ dần, phần không hiểu sẽ tốn rất nhiều thời gian mà chưa chắc đã nắm được bài. Điều này rất dễ thấy nhưng học sinh thường hay có thói quen đợi đến khi nào gần thi mới học, thật không hợp lý. Vì vậy cần học thật sớm, tốt nhất là ngay sau khi nghe giảng xong và học thành nhiều lần. Có thể lần đầu học qua, chỉ làm các bài tập áp dụng, lần 2 mới làm các bài tập nâng cao để soi rọi các kiến thức cơ bản mà mình chưa nắm vững, tích lũy thêm một số xảo thuật. Đối với môn Toán thì không nên cố mà nhớ những điều không hiểu, vì như thế chỉ làm tốn công vô ích, mất công sức không đâu mà còn dễ thất bại vì nhớ lan man; chỉ có hiểu thật rõ thì tự động sẽ nhớ dễ dàng. + Tránh học quá khuya: Không nên học khi đã quá mệt vì học lúc mệt sẽ không mang lại kết quả tốt mà còn rất có hại cho sức khỏe. Khi học nên tập trung cao độ để rút ngắn thời gian mà vẫn có kết quả cao, nhờ đó giữ gìn tốt sức khỏe. Cần phân chia thời gian học tập sao cho việc học thật đều đặn, bền bỉ và vừa sức. Gần đến ngày thi, các em nên giảm cường độ, chủ yếu là đọc lại để sắp xếp các kiến thức đã học, chú ý các lỗi thường vấp, xem kỹ các công thức mà mình hay quên. 2. Với Giáo viên: - Giáo viên soạn bài thật ngắn gọn, trọng tâm, cơ bản, tóm tắt gọn nhẹ giúp cho học sinh dễ học. - Ôn tập ngay trong quá trình dạy học. - Mỗi giáo viên khi lên lớp dạy tiết bài tập, đều phải chuẩn bị chu đáo, giải kỹ từng bài tập ở nhà, xem kỹ các trường hợp có thể xảy ra. Để từ đó tìm ra phuơng pháp giải đơn giản, giúp học sinh từng bước nắm được kiến thức và có hứng thú giải Toán. - Dạy từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp dựa trên chuẩn kiến thức không cần phải bổ sung, nâng cao đối với học sinh yếu kém; cần giúp học sinh - 4 - nắm được kiến thức cơ bản, trọng tâm của từng bài và gây sự hứng thú khi học toán. - Tôn trọng cách giải toán của học sinh ở dạng thô, giáo viên chỉnh sửa nhẹ nhàng làm cho học sinh yên tâm phấn khởi, tự tin, tự học tốt. - Kịp thời biểu dương các học sinh có cố gắng, tự làm được các bài tập theo yêu cầu của giáo viên. - Giáo viên hướng dẫn học sinh phương pháp tự học môn Toán ở nhà. những vấn đề khó để tìm giải pháp hữu hiệu nhằm nâng cao chất lượng dạy và học môn Toán. - Không được chủ quan đối với những kiến thức đã dạy xem như học sinh đã biết rồi mà phải tranh thủ thời gian để ôn tập lại kiến thức cũ khi giảng bài mới và luyện tập. - Nắm thật sát năng lực học tập của từng học sinh, của từng lớp để từ đó phân loại và đổi mới phương pháp dạy học thích hợp, kết hợp với giáo viên chủ nhiệm và đề xuất các biện pháp cụ thể để nâng cao chất lượng học tập của lớp mình phụ trách. - Chú ý sửa chữa những sai lầm, thiết sót thuờng mắc phải của học sinh. Trong quá trình giảng bài nhất là các tiết luyện tập, tiết kiểm tra; hướng dẫn, phân tích giúp học sinh phát hiện sai lầm và hướng giải quyết để khắc phục dù những sai lầm nhỏ nhất; tạo mọi điều kiện để giúp học sinh tự đánh giá và đánh giá bạn mình trong quá trình học. tập và rèn luyện. - Đối với học sinh lớp 12 tập trung rèn luyện sao cho học sinh lấy chắc được 2 điểm bài khảo sát hàm số trong bài thi tốt nghiệp; - Tăng cường kết hợp ứng dụng công nghệ thông tin để sử dụng các phần mềm hỗ trợ trong dạy học Toán minh họa cho tiết dạy giúp học sinh tiếp thu tốt hơn và hứng thú trong học tập. Ngày nay việc thiết kế bài giảng điện tử (BGĐT) không còn xa lạ với mỗi giáo viên. BGĐT là phương tiện, công cụ để giáo viên truyền đạt kiến thức cho học sinh bằng các hình ảnh, âm thanh, mô hình cụ thể mà chúng ta khó có thể giảng dạy bằng phương pháp truyền thống. Do đó việc lựa chọn bài học có nội dung thích hợp để thiết kế bài giảng điện tử là vấn đề tất yếu của mỗi giáo viên. Để hiểu rõ hơn ứng dụng của công nghệ thông tin (CNTT) trong dạy học sau đây tôi xin dẫn vài số liệu thống kê nêu tác dụng của các loại giác quan trong quá trình thu nhận và lưu giữ tri thức: + Tỉ lệ trung bình về vai trò của giác quan trong việc thu nhận tri thức như sau: + Vị giác: 1% + Xúc giác: 1,5% + Khứu giác: 3,5% + Thính giác: 11% + Thị giác: 83% - 5 - + Tỉ lệ tri thức còn lưu lại trong trí nhớ sau khi thu nhận bằng từng giác quan, bằng sự kết hợp các giác quan hoặc qua việc tự trình bày hoặc qua việc thao tác thực hiện, như sau: + Nghe: 20% + Nhìn: 30% + Nghe và nhìn: 50% + Tự trình bày: 80% + Tự trình bày và làm: 83% Sự tiến bộ của CNTT kết hợp với các thành tựu trong các khoa học khác đã tạo nên các công cụ, phương tiện và môi trường làm việc nói chung và áp dụng để dạy học nói riêng hết sức hữu hiệu. Máy vi tính không chỉ thực hiện được cực kì nhanh chóng việc tính toán trên các con số như các máy tính trước đây, mà chúng còn giúp tính và biểu diễn kết quả tính toán ra các biểu thức bằng chữ cho phép tính giải tích, đại số, tìm nghiệm của phương trình Các phần mềm nổi tiếng về lĩnh vực này là Geometer's sketchpad (GSP), MAPLE, Cabri 2D, Cabri 3D không chỉ giúp các nhà khoa học tìm được nhanh chóng các lời giải của các bài toán phức tạp nảy sinh từ thực tế, mà còn là công cụ và phương tiện để tăng tính hiệu quả của việc giảng dạy Toán học. Tuy nhiên, việc sử dụng CNTT cũng có mặt trái của nó: nếu mọi sự vật, khái niệm đều được trình bày và minh họa hết sức tường minh bằng mọi thứ hình ảnh, âm thanh thì đều có thể làm giảm trí tưởng tượng của người học và người học không phải động não. Điều này có thể tạo cho người học có thói quen thụ động trong học tập. Như vậy CNTT cũng là con dao hai lưỡi, nếu sử dụng tốt lợi ích chúng đem lại cực kì to lớn, nhưng nếu không biết cách sử dụng thì lại phản tác dụng đối với việc dạy học Trong quá trình dạy học tại trường THPT, tôi nhận thấy CNTT là một công cụ hỗ trợ rất hiệu quả. Sử dụng các phương tiện trực quan trong quá trình dạy học, đó là một yêu cầu đối với giáo viên dạy bộ môn Toán. Trong việc dạy học Toán, trực quan có vai trò đặc biệt quan trọng, vì môn Toán đòi hỏi phải đạt tới trình độ trừu tượng, khái quát cao hơn các môn học khác và vì trực quan nếu được sử dụng đúng thì góp phần vào việc phát triển tư duy trừu tượng. Do đó, cần phải sử dụng các phẩn mềm hỗ trợ trong việc dạy Toán. Trong các phần mềm dạy học Toán có phần mềm GSP vì GSP là một phần mềm hình học động giúp cho giáo viên có thể thiết kế, thay đổi và mô phỏng các mô hình toán phục vụ cho việc dạy và học toán. Ví dụ: Minh họa một bài giảng điện tử thực hiện bằng phần mềm Geometer's sketchpad. Bài giảng: Bài tập đại cương về đường thẳng và mặt phẳng - Bài giảng gồm 4 bài tập. Nếu dùng theo phương pháp truyền thống giáo viên sẽ cùng học sinh chữa được bao nhiêu bài? - Nếu thiết kế bài giảng điện tử ta có thể hoàn thành bài giảng không? + Giáo án: Hướng dẫn học sinh giải một bài tập - 6 - TL Hoạt động của giáo viên Hoạt động của học sinh Nội dung Hoạt động 2: Luyện tập tìm giao điểm của đường thẳng và mặt phẳng 10 ' H1. Nêu cách tìm giao điểm của đường thẳng và mặt phẳng ? Đ1. Tìm giao điểm của đt đó với một đt nằm trong mp đã cho. Q E N M DB A C P a) (PMN)∩(BCD) = EN b) BC∩(PMN) = Q Bài 8. Cho tứ diện ABCD. Gọi M, N lần lượt là trung điểm của các cạnh AB, CD. Trên cạnh AD lấy điểm P không trùng với trung điểm của AD. a) Gọi E là giao điểm của đt MP và BD. Tìm giao tuyến của hai mp (PMN) và (BCD). b) Tìm giao điểm của mp (PMN) và BC. + Kết hợp sử dụng mô hình GSP trong hướng dẫn bài tập: - 7 - - Nhận xét: + Thực tế giảng dạy hình học đặc biệt là hình học không gian, phương pháp dạy học truyền thống với phấn trắng bảng đen chưa phát huy được hết khả năng học tập của học sinh. Hình vẽ trên bảng là hình vẽ "chết" gây khó khăn cho học sinh trong tư duy hình ảnh. Học sinh vẽ hình không gian còn sai nhiều và dẫn đến giải bài tập không đạt yêu cầu về phần tìm giao tuyến, tìm giao điểm của đường thẳng và mặt phẳng cũng như cách xác định thiết diện của hình chóp bị cắt bởi mặt phẳng Hình vẽ trên bảng không sử dụng được lâu dài, tốn thời gian vẽ nhiều lần. + Ưu điểm của BGĐT: Thể hiện được rõ các mối quan hệ trong không gian như: quan hệ song song, quan hệ vuông gócCác hình ảnh sẽ tác động và làm cho học sinh nhớ lâu hơn. Hình vẽ có tính sư phạm cao: thể hiện được các bước vẽ hình, vẽ cái gì trước cái gì sau. Giáo viên có thể chữa và hướng dẫn được nhiều bài tập hơn vì thời gian hướng dẫn vẽ hình đã chiếm một phần của bài tập. Học sinh có thể mở file bài giảng tự học tại nhà. 3. Với Tổ chuyên môn: + Tổ quan tâm chặt chẽ việc thực hiện chương trình, chú ý hệ thống bài tập của giáo viên, bám chuẩn kiến thức, tránh các bài tập nâng cao nhiều không chuẩn và không phù hợp chương trình giảm tải. Đặc biệt là hệ thống bài tập cho ban cơ bản phải có tính tương tự để dần tập các em tính toán và có hứng thú khi giải được bài tập. + Tổ nên thống nhất chung về nội dung giáo án, chất lượng giảng dạy còn phụ thuộc nhiều vào kinh nghiệm của từng giáo viên đứng lớp do vậy tính đồng nhất chưa cao. Dẫn tới học sinh giữa các lớp khó trao đổi được kiến thức với nhau làm cho việc tự học ở nhà của các em gặp nhiều khó khăn. Ví dụ: Sơ đồ khảo sát hàm số giáo viên dạy nên thống nhất cách trình bày, lấy hướng dẫn chấm của bộ giáo dục làm chuẩn. + Tổ nên mạnh dạn đề ra phong trào "ứng dụng công nghệ thông tin trong tiết dạy" nhằm giúp giáo viên dần tiếp cận với phương pháp dạy học mới, giúp học sinh dễ tiếp cận và tiếp thu bài tốt hơn. + Tổ chức sinh hoạt chuyên đề mỗi tháng một lần trao đổi kinh nghiệm giảng một phần hay một bài giảng nào đó mà giáo viên trong tổ còn gặp khó khăn trong quá trình lên lớp. + Tổ bộ môn cần thực hiện các chuyên đề phù hợp với giảng dạy bộ môn cho thi tốt nghiệp, Đại học và học sinh giỏi. + Tổ chức ngoại khóa tổ bộ môn tạo hứng thú, niềm tin, niềm đam mê dạy và học toán cho giáo viên và học sinh. + Tăng cường dự giờ lẫn nhau để giáo viên trẻ có cơ hội học tập ở các Thầy (Cô) đi trước. 4. Với ban giám hiệu: + Khi phân công giáo viên giảng dạy nên chú ý đến Khối 10 và Khối 12 cần chọn giáo viên có kinh nghiệm, có tâm, có trách nhiệm. Vì nếu không quan - 8 - tâm đến Khối 10 thì số lượng học sinh chán học càng nhiều, học sinh Khối 10 sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc làm quen với môi trường mới. + Chọn giáo viên chủ nhiệm lớp hợp lí đặc biệt là đối với khối 12. + Phải có kế hoạch bồi dưỡng học sinh yếu kém ngay từ đầu năm học. Tổ chức dạy phụ đạo học sinh yếu kém ngay sau khi có kết quả thi khảo sát đầu năm. + Thường xuyên quan tâm và động viên tinh thần giảng dạy của giáo viên bộ môn và giáo viên chủ nhiệm. + Có kế hoạch tổ chức giúp đỡ các giáo viên chuyên môn, nghiệp vụ chưa vững. + Kết hợp với Đoàn thanh niên và phụ huynh học sinh nhắc nhở răn đe những học sinh có thái độ không tốt trong học tập. + Các em học sinh trung bình, yếu kém sẽ được học tự chọn bám sát. Các em học sinh khá giỏi sẽ được học tự chọn nâng cao. Điều này có thể hướng các em học theo các khối A, B, C, D mà mình thích. + Nhà trường tạo điều kiện cho học sinh khối 12 có nhiều quỹ thời gian tự học, tự nghiên cứu. 5. Với phụ huynh học sinh + Thường xuyên liên hệ với giáo viên chủ nhiệm để theo dõi tình hình học tập của con em mình. + Theo dõi và quan sát tình hình học tập tại nhà của con em, tạo không khí thoải mái cho con em khi học tập. + Cùng với nhà trường thực hiện đầy đủ các chế độ chính sách cho giáo viên bộ môn mà BGH và hội phụ huynh học sinh đã thống nhất. - Sự quan tâm của Ban Giám hiệu trong việc tăng tiết, giúp bộ môn có nhiều thời gian học và ôn tập tốt chuẩn bị cho kỳ thi tốt nghiệp, đặc biệt vai trò của BGH trong việc dự giờ, thăm lớp các tiết ôn thi tốt nghiệp để rút kinh nghiệm cùng giáo viên. - Sự giúp đỡ lẫn nhau giữa các đồng nghiệp trong tổ chuyên môn : Thao giảng, dự giờ rút kinh nghiệm tiết ôn tập thi tốt nghiệp. - Sự phối hợp giữa giáo viên bộ môn, giáo viên chủ nhiệm và phụ huynh học sinh quan tâm nhắc nhở học sinh tích cực học tập. - Thái độ học tập đúng đắn của học sinh. Tóm lại, để nâng cao chất lượng bộ môn toán nói chung và chất lượng làm bài thi tốt nghiệp môn Toán, góp phần nâng cao tỉ lệ đỗ tốt nghiệp THPT , phải có sự phối hợp đồng bộ giữa học sinh, giáo viên bộ môn, Ban giám hiệu và phụ huynh học sinh. Trong đó yếu tố quyết định là sự nỗ lực của học sinh và sự nhiệt huyết của giáo viên. Đối với học sinh, phải nổ lực, có quyết tâm cao, coi việc học là tự học, chủ động tự rèn luyện, tự đánh giá, đúng phương pháp, đủ nội dung; không nên chủ quan, không học tủ, học vẹt; đọc kỹ đề và bình tỉnh, tự tin làm bài. Đối với giáo viên, không ngừng tìm tòi, tích cực đổi mới phương pháp dạy học, đề ra và thực hiện nghiêm túc kế hoạch. Đối với Ban giám hiệu, động viên giáo viên thực hiện tốt kế hoạch, môn Toán là môn có ảnh hưởng lớn đến - 9 - kết quả tốt nghiệp của nhà trường, chủ động tăng tiết và tăng cường dự giờ thăm lớp để rút kinh nghiệm và chấn chỉnh việc dạy - học kịp thời. và tổ chức ôn thi chúng tôi trong các năm học qua, chắc chắn còn nhiều điều phải bổ sung, nhiều cách làm hay khác của đồng nghiệp mà bản thân chúng tôi rất muốn được học tập, rất mong sự góp ý của các Thầy Cô. Thông Nông, ngày 03 tháng 02 năm 2013. Tổ Toán - Hóa Tài liệu đi kèm: Bài giảng điện tử: "Bài tập đại cương về đường thẳng và mặt phẳng" thiết kế bằng phần mềm GSP kết hợp Power point. Để sử dụng được các file GSP các đồng chí tải phần mềm tại: Đăng kí: License Name: thongnong VUAUJR Authorization Code: D7F674FA

Thực Trạng Và Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Toán Của Tổ Toán Trường Thpt Số 2 Tư Nghĩa

Xác Nhận Việc Hoàn Thành Các Biện Pháp Bảo Vệ Môi Trường Theo Cam Kết Bảo Vệ Môi Trường Đã Được Xác Nhận

Hiện Trạng Ô Nhiễm Môi Trường Đất Ở Thành Phố Hcm

Giải Pháp Về Khoa Học Công Nghệ, Chú Trọng Nâng Cao Chất Lượng Máy Móc, Thiết Bị Và Sản Phẩm Gắn Với Bảo Vệ Môi Trường

Ứng Dụng Khoa Học Công Nghệ Để Bảo Vệ Môi Trường

Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Toán

Biện Pháp Về Công Tác Chủ Nhiệm Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Học Tập

Skkn Một Vài Giải Pháp Nâng Cao Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Gd Toàn Diện Ở Trường Thcs Miền Núi

Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Bộ Môn Hóa Học 8 Ở Trường Thcs Long Khánh A

Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Thcs Đại Trà

Một Số Biện Pháp Quản Lý Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học Ở Trường Thcs Đô Thành, Huyện Yên Thành, Tỉnh Nghệ An.

GD&TĐ – Những giải pháp nâng cao chất lượng dạy học môn Toán cấp trung học được Sở GD&ĐT Bến Tre kết luận sau 2 hội thảo chuyên môn được Sở GD&ĐT tổ chức mới đây.

Tăng cường tự học, khuyến khích trải nghiệm sáng tạo

Về đổi mới phương pháp, hình thức tổ chức dạy học, Sở GD&ĐT Bến Tre đưa giải pháp: Căn cứ chuẩn kiến thức kĩ năng bộ môn Toán, tổ chuyên môn tiếp tục xây dựng kế hoạch dạy học phù hợp năng lực học sinh, theo hướng tăng cường phát huy tính chủ động, tích cực của học sinh.

Tùy theo đối tượng học sinh, giáo viên lựa chọn phương pháp, kỹ thuật dạy học phù hợp, tốt nhất để đạt được mục tiêu dạy học, đồng thời phát huy được sự tích cực, chủ động của học sinh.

Giáo viên linh hoạt tổ chức các hoạt động dạy học, không cứng nhắc hỏi – đáp theo các câu hỏi, bài tập có sẵn trong sách giáo khoa; mạnh dạn thay thế các câu hỏi, bài tập phù hợp năng lực học sinh trong tổ chức các hoạt dạy học.

Tăng cường hoạt động hướng dẫn học sinh tự học, đặc biệt là hoạt động tự học ngoài lớp học, cần phải hướng cụ thể nhiệm vụ học tập: hệ thống các câu hỏi, bài tập cần chuẩn bị, tham khảo tài liệu nào,…

Giáo viên thường xuyên theo dõi, nắm bắt tâm lý học sinh, giao nhiệm vụ phù hợp năng lực, tránh gây áp lực, nặng nề cho học sinh; rèn luyện học sinh phương pháp tự học, tự nghiên cứu sách giáo khoa để tiếp nhận và vận dụng kiến thức mới thông qua giải quyết nhiệm vụ học tập.

Tiếp tục ứng dụng có hiệu quả các phần mềm Toán: Maple, Sketchpad, Geogebra,…để tổ chức các hoạt động dạy học; các công cụ như Zalo, Messenger vào tổ chức hướng dẫn học tự học; khuyến khích soạn giáo án E- learning đăng website trường để học sinh có thể xem lại, ôn tập kiến thức.

Khuyến khích xây dựng các hoạt động trải nghiệm sáng tạo góp phần phát triển năng lực học sinh, vận dụng kiến thức đã học vào thực tiễn.

Đổi mới phương pháp, hình thức kiểm tra, đánh giá

Nhấn mạnh đổi mới phương pháp, hình thức kiểm tra, đánh giá, Sở GD&ĐT Bến Tre yêu cầu tổ chuyên môn, giáo viên tổ chức ra đề, coi, chấm và nhận xét, đánh giá học sinh trong việc thi và kiểm tra đảm bảo thực chất, khách quan, trung thực, công bằng, đánh giá đúng năng lực và sự tiến bộ của học sinh.

Chú trọng đánh giá sản phẩm của học sinh như: các hoạt động trên lớp, hồ sơ học tập, vở học tập; kết quả thực hiện một dự án học tập, nghiên cứu khoa học- kỹ thuật, qua bài thuyết trình (bài viết, bài trình chiếu, video clip,…) về kết quả thực hiện nhiệm vụ học tập.

Giáo viên có thể sử dụng các hình thức đánh giá này thay cho các bài kiểm tra hiện hành. Tiếp tục thực hiện xây dựng đề kiểm tra 1 tiết, cuối học kỳ, cuối năm học theo ma trận với 4 mức độ yêu cầu: nhận biết, thông hiểu, vận dụng và vận dụng cao. Kết hợp một cách hợp lý giữa hình thức kiểm tra tự luận với trắc nghiệm khách quan.

Không đánh giá, xếp loại giờ dạy của các tiết dạy theo nghiên cứu bài học nếu giáo viên dạy không có yêu cầu. Chủ động thực hiện dạy học theo chuyên đề, dạy học theo dự án.

Giáo viên tự nghiên cứu, tìm tòi, đề xuất các giải pháp mới để đưa vào nội dung sinh hoạt tổ chuyên môn. Chủ động trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm, tài liệu giảng dạy với đồng nghiệp trong – ngoài tỉnh.

Chuyên Đề Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Văn Bậc Thcs

Để Nâng Cao Chất Lượng Môn Ngữ Văn

Một Số Biện Pháp Giúp Học Sinh Học Tốt Môn Toán Lớp 4.

Một Số Biện Pháp Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Giảng Dạy Môn Toán Lớp 4

Sáng Kiến Kinh Nghiệm Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Học Tập Môn Hóa Học Lớp 8

Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Phân Môn Học Vần

Giải Pháp Duy Trì Và Nâng Cao Chất Lượng Môn Toán, Môn Thi Tổ Hợp Ở Trường Thcs

Sáng Kiến Kinh Nghiệm Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Bộ Môn Toán

Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Nề Nếp Thông Qua Hoạt Động Của Đội Cờ Đỏ

Chuyên Đề Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giảng Dạy Các Lớp Vnen

Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Hoc Sinh Thcs

TRƯỜNG THCS THỔ CHÂU – KHỐI TIỂU HỌC

CHUYÊN ĐỀ

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIẢNG DẠY HỌC VẦN LỚP 1

A. ĐẶT VẤN ĐỀ:

1) Vị trí, tầm quan trọng của phân môn Học vần

Học vần là phân môn có vị trí đặc biệt quan trọng trong chương trình tiểu học nói chung và trong môn Tiếng Việt nói riêng, vì nó là phần học mở đầu lớp đầu tiên của cấp Tiểu học. Có học phần này, học sinh mới chiếm lĩnh được một công cụ giao tiếp quan trọng: chữ viết ghi âm Tiếng Việt. Đây chính là phương tiện để các em có điều kiện học tốt các môn khác và học lên các lớp trên.

2) Thực trạng của việc dạy – học phân môn Học vần

Xác định tầm quan trọng của vấn đề, trong những năm qua, bộ phận chuyên môn của trường đã có nhiều cố gắng trong công tác chỉ đạo, từng bước nâng dần chất lượng dạy và học phân môn này. Cuối mỗi năm học, đa số học sinh lớp 1 nói chung đều đạt được mục tiêu, đặc biệt là 4 kĩ năng (nghe, nói, đọc, viết) quan trọng mà môn học đề ra. Sau giai đoạn học vần, về cơ bản các em đều đã đọc đúng các âm, vần, tiếng của tiếng Việt (trừ các vần khó, ít sử dụng); đọc trơn được các câu ngắn, các đoạn văn có độ dài khoảng 20 tiếng, có nội dung đơn giản phù hợp với lứa tuổi. Các em cũng viết đúng khá đúng quy trình, đúng mẫu các chữ cái ghi âm, vần, tiếng, từ ngữ vừa học, viết đúng dấu thanh, chữ viết cỡ vừa rõ ràng, đúng nét, rõ khoảng cách và thẳng hàng. Tỷ lệ chất lượng của môn tiếng Việt hàng năm đều tăng.

Tuy nhiên, so với mặt bằng chung về chất lượng môn học vẫn còn nhiều hạn chế. Nhiều học sinh đến cuối năm vẫn còn tình trạng: đọc chưa thông, viết chưa thạo; việc nhận diện, ghép vần, tiếng, kỹ năng đánh vần, đọc trơn,…còn hạn chế.

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến kết quả này, song yếu tố bất cập trong giảng dạy của giáo viên là vấn đề đáng quan tâm. Một trong những hạn chế nổi bật là kỹ năng vận dụng, phối hợp các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học trên lớp. Nhiều giáo viên còn rất lúng túng trong khâu lựa chọn, vận dụng phương pháp, biện pháp dạy học trong từng hoạt động. Do đặc thù của đơn vị trường khối 1chỉ có 1 lớp nên hạn chế trong việc học hỏi lẫn nhau. Các giáo viên dạy lớp khác còn lúng túng khi được phân công dạy thay lớp 1.

Xuất phát từ những bất cập nêu trên, bộ phận chuyên môn khối tiểu học tổ chức chuyên đề : “Nâng cao chất lượng giảng dạy môn Học vần lớp 1” nhằm thúc đẩy chất lượng chuyên môn của cấp học trong năm học 2011-2012 và những năm tiếp theo.

II. NHỮNG THUẬN LỢI, KHÓ KHĂN TRONG VIỆC DẠY VÀ HỌC PHÂN MÔN HỌC VẦN:

1) Thuận lợi:

a) Đối với giáo viên:

+ Được sự quan tâm chỉ đạo của các cấp quản lý, đặc biệt là bộ phận chuyên môn khối Tiểu học, cụ thể:

– Ban giám hiệu trường đặc biệt quan tâm đến chất lượng lớp 1. Thường xuyên tổ chức các tiết thao giảng, dự giờ, thăm lớp hỗ trợ việc nâng cao chất lượng dạy – học.

– Hàng năm tổ chức các phong trào dạy và học (hội thi giáo viên dạy giỏi) giúp giáo viên có dịp chia sẻ, học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau trong giảng dạy.

– Đảm bảo công tác thông tin hai chiều trong chỉ đạo chuyên môn,…

+ Giáo viên dạy lớp 1 nhiệt tình trong công tác, có tinh thần tự học, tự rèn luyện nâng cao nghiệp vụ chuyên môn, có nhiều năm giảng dạy lớp 1.

+ Cơ sở vật chất từ phòng lớp, bàn ghế, các phương tiện phục vụ dạy học trang bị cho khối 1 từng bước được cải thiện.

+ Phụ huynh học sinh đa số đều rất quan tâm đến việc học tập của con em mình.

b) Đối với học sinh:

+ Tất cả trẻ em đúng 6 tuổi đều được vào học lớp 1, được xã hội, gia đình quan tâm, thậm chí có nhiều gia đình “cùng học” với trẻ.

+ Đa số trẻ đều được qua lớp mẫu giáo, được chuẩn bị các kĩ năng thích ứng với hoạt động học tập giúp các em có tâm thế sẵn sàng học tập khi vào học lớp 1.

2) Khó khăn:

a) Đối với giáo viên:

+ Đôi lúc chưa chú ý nhiều đến việc đổi mới phương pháp dạy học, chưa có tính sáng tạo trong việc đầu tư cho kế hoạch bài học. Đôi khi giáo viên có phần chủ quan trong dạy học vì kiến thức lớp 1 thường đơn giản

Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Thcs

Biện Pháp Về Dạy Học Nâng Cao Chất Lượng Môn Toán 7 Ở Trường Thcs

Một Số Biện Pháp Quản Lý Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học Ở Trường Thcs Đô Thành, Huyện Yên Thành, Tỉnh Nghệ An.

Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Thcs Đại Trà

Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Bộ Môn Hóa Học 8 Ở Trường Thcs Long Khánh A

Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Lớp 2

Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Môn Toán Cho Học Sinh Lớp 2

Skkn Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Môn Toán Cho Học Sinh Lớp 2

Tphcm: Bàn Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Lớp 1 Theo Sgk Mới

Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Tiếng Việt Lớp 1 Theo Chương Trình Công Nghệ Giáo Dục. : Phòng Gd&đt Thị Xã Ba Đồn

Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giờ Dạy Học Môn Ngữ Văn Lớp 6

Bản thân tôi đã nhiều năm trực tiếp giảng dạy lớp hai. Đầu năm tiếp cận với các em tôi thấy các em còn non về nhiều mặt. Đặc biệt có một số em kĩ năng đoc, viết, tính toán cũng như mọi thao tác còn chậm. Có em làm toán còn xòe bàn tay để đếm, có em viết chữ số còn viết ngược ví dụ như chữ số 5, số 7,…

Vì vậy học xong lớp một em nào đọc tôt, viết tốt thì em đó sẽ làm bài tốt.

Tôi thấy người giáo viên tiếp cận lớp hai bước đầu thật vất vả. Tất cả mọi ý thức , nề nếp cô giáo lại phải hướng dẫn một cách tỉ mỉ từ đầu . Như cách vệ sinh, cách ngồi học , cách cầm bút, và đặc biệt là hướng dẫn cách học, phương pháp học của một số môn ở lớp hai.

Vậy bước vào lớp hai các em sẽ gặp muôn vàn khó khăn, chương trình học nặng nề , kĩ năng thao tác các em còn non,…đòi hỏi người giáo viên lớp hai phải làm gì để nâng cao được chất lương dạy học ?

Theo tôi, thứ nhất người giáo viên lớp hai phải thực sự làm tốt công tác chủ nhiệm lớp. Rèn cho các em thực hiện tốt nề nếp tự học, xây dựng tốt nề nếp tự quản . Nề nếp lớp học tốt thì hiệu quả giờ học mới cao. Thứ hai người giáo viên lớp hai phải nắm bắt kịp thời những điểm mới của chương trình lớp một. VD. Chương trình công nghệ lớp một có những điểm gì giáo viên cần nắm. Để khi tiếp cận chương trình lớp hai người giáo viên biết vận dụng một cách có hiệu quả nhất.

Một vấn đề cũng rất quan trọng nữa là người giáo viên lớp hai phải xây dựng được những động lệnh học tập ngay từ đầu năm học. Để giáo viên hạn chế nói nhiều. Giáo viên chỉ cần chỉ vào các động lệnh đó để học sinh thực hiện một cách nhẹ nhàng hiệu quả.

Ngoài ra trong dạy học người giáo viên phải biết lựa chọn phương pháp phù hợp cho từng môn học, từng tiết học cụ thể. Nghiên cứu kĩ bài trước khi lên lớp.

Kết hợp vận dụng những thành tố tích cực của mô hình trường học mới vào giảng dạy. Ví dụ: Đối với môn Toán phần hình thành kiến thức mới cho học sinh tự tìm tòi thực hiện trên đồ dùng học tập, sau đó giáo viên mới chốt kiến thức.

Ví dụ như bài 9 cộng với một số 9 + 5. tôi cho học sinh tự tìm kết quả trên đồ dùng học toán của các em, sau đó giáo viên mời các em nêu kết quả và cách thực hiện, giáo viên chốt lại cách thực hiện và hướng dẫn cho các em xây dựng bảng cộng thực hiện theo nhóm hai, sau đó giáo viên cùng học sinh xây dựng bảng cộng. Từ cách thực hiện các em đã nắm được thì các em sẽ xây dựng bảng cộng một cách dễ dàng và ghi nhớ được bài học. Hoặc môn luyện từ và câu thì hoạt động nào giáo viên tổ chức trò chơi, hoạt động nào là cá nhân hay nhóm,.. Hay môn tập đọc tôi thấy rõ nét hơn, các em có thể lên điều khiển ở một số hoạt động. Rèn cho các em đức kĩ năng tự tin, tạo cho lớp học một không khí vui tươi và các em hứng thú học tập. Ngoài ra tôi luôn chú ý rèn cho các em kĩ năng sống qua các môn học. Ngay từ buổi đầu tiên nhận lớp tôi luôn rèn cho các em kĩ năng tự tin trước mọi hoạt động bằng cách cho từng em lên tự giới thiệu về mình cho các bạn và cô giáo chúng tôi . Tên em là gi? Năm nay em lên mấy tuổi? Em học lớp nào? Trường nào ? Em rất vui khi gặp lại bạn bè và được học với cô giáo mới…Từ cách giới thiệu đó giúp các em, cô giáo thân thiện, gần gũi hơn, làm cho các em thấy vui hơn khi được đến trường,

Đối với học sinh lớp hai còn nhỏ tuổi, lại hay tò mò nên khi dạy và sử dụng đồ dùng dạy học môn toán , người giáo viên lớp hai cũng phải có kinh nghiệm cho học sinh sử dụng bộ đò dùng bằng cách học phần nào cho học sinh đưa dồ dùng phần đó ra. Tránh cho các em đưa cả hộp ra các em sẽ ngồi không chú ý mà ngịch phá các đồ dùng khác không phải cho tiết học đó. VD. Học phần xây dựng bảng cộng, trừ học sinh chỉ đưa ra que tính rời và thẻ chục, học giờ đưa đồng hồ, học bảng nhân , chia thì đưa hình chấm tròn,…và giáo viên phải rèn cho các em thực hiện tốt các động lệnh trong giờ học.

Việc năng cao chất lượng lớp hai tôi thiết nghĩ không phải một sớm , một chiều, không phải một mình giáo viên có thể làm được. Mà người giáo viên lớp hai phải biết phối hợp tốt với phụ huynh đồng nhất phương pháp để giáo dục có hiệu quả. VD: Hàng năm vào đầu năm học tôi thường nhận được những cuộc điện thoại từ phụ huynh hỏi về một số phương pháp dạy của một số môn học. Như môn luyện từ và câu, hay tập làm văn. Hoặc môn Toán phần cộng trừ có nhớ cách thực hiện như thế nào? Vì thế người giáo viên cũng phải tư vấn nhẹ nhàng cho phụ huynh phần mà họ chưa hiểu để cùng đồng nhất một phương pháp giaó dục. Một vấn đề nữa tôi nghĩ là không thể thiếu để nâng cao chất lượng, đó là người giáo viên lớp hai phải hiểu được tâm lí của trẻ. Các em dễ xúc động, ưa khen, thích động viên. Vì thế người giáo viên lớp hai luôn phải nhẹ nhàng, bình tĩnh không được bức xúc nổi cáu trong dạy học mà phải từng bước giúp đỡ các em những gì có thể để các em có hứng thú trong học tập. Tôi lấy ví dụ có những giáo viên đã từng dạy lớp 4,5 nhiều năm nay xuống dạy lớp hai bước đầu sẽ gặp rất nhiều khó khăn , thao tác các em chậm nếu giáo viên không hiểu mà luôn nổi cáu thì tôi tin rằng giáo dục sẽ không có hiệu quả. Nên người giáo viên luôn phải biết tự kiềm chế trong mọi tình huống.

Người giáo viên lớp hai trong dạy học phải biết động viên các em dù chỉ là một tiến bộ nhỏ nhất. Ngoài ra tôi thấy học sinh lớp hai nhỏ tuổi lại thật thà ở trường cô nói gì, làm gì là về nhà kể cho bố mẹ nghe và ngược lại. Vì thế người giáo viên nói chung và người giáo viên lớp hai nói riêng luôn phải có lời nói, hành động chuẩn mực trước học sinh.

Luôn xem mỗi ngày đến trường là một ngày vui, bởi ở đó có tiếng cười của trẻ, có những bài học chứa đựng tình người. Xem ngôi trường, lớp học là ngôi nhà thứ hai của mình mà đối tượng giáo dục như những đứa con thân yêu. Có như vậy thì chất lượng giáo dục của lớp mình phụ trách mới nâng cao được. Tôi biết rằng giáo dục không phải như cánh đồng lúa sau thời gian ngắn, ba, bốn tháng để có thu hoạch. Mà là cả một quá trình lâu dài bền bỉ mới thấy được kết quả của nó. Tôi tin rằng mỗi một chúng ta hãy yêu nghề của mình, yêu con đường chúng ta đã chọn . Hãy tận tụy, tận tâm với các em thì ắt sẽ có thành công.

Tác giả bài viết: Lê Thị Hương trường tiểu học Đại Nài TP Hà Tĩnh

Sáng Kiến Kinh Nghiệm Lớp 1

Sáng Kiến Kinh Nghiệm: Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Toán Lớp 1

Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Toán

Giáo Dục Học Sinh Bảo Vệ Môi Trường Trong Trường

Những Kinh Nghiệm Hay Về Giáo Dục Học Sinh Ý Thức Bảo Vệ Môi Trường

🌟 Home
🌟 Top