Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Hóa Thcs Violet / TOP #10 ❤️ Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 9/2022 ❣️ Top View | Phauthuatthankinh.edu.vn

Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Sinh Học Cấp Thcs

Sáng Kiến Kinh Nghiệm Môn Sinh Học 6

Thực Trạng Và Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giảng Dạy Và Học Tập Môn Sinh Học Lớp 6 Sách Giáo Khoa Mới Ở Các Trường Thcs Tỉnh An Giang

Bài 14. Thực Hiện Trật Tự, An Toàn Giao Thông

Kiểm Tra Các Đơn Vị Vận Tải Đảm Bảo An Toàn Khi Tham Gia Giao Thông Trong Điều Kiện Dịch Bệnh Covid

Biện Pháp Ứng Phó Của Các Nước Trước Xu Hướng Già Hóa Dân Số

Chất lượng ở các lớp học thường thấp và không ổn định. Thực tế là đầu năm học chất lượng rất thấp, cuối năm học chất lượng được nâng lên rõ rệt nhưng sau 2 tháng nghỉ hè tất cả lại quay về điểm xuất phát. Hiện tượng này vẫn lặp đi lặp lại nhiều năm nay nhưng chưa có cách giải quyết hiệu quả. Qua quá trình giảng dạy , học tập và đúc rút kinh nghiệm, tôi mạnh dạn chỉ ra những nguyên nhân và đề ra một số biện pháp nhằm khắc phục tình trạng trên như sau:

* Về phía giáo viên:

– Có thể phương pháp dạy học chưa phù hợp với các đối tượng học sinh có trình độ khác nhau( lớp có nhiều đối tượng học sinh), chưa thực sự quan tâm đến tất cả học sinh trong cả lớp mà chỉ chú trọng một số em học khá, giỏi; giáo viên chưa thật tâm lý, chưa động viên khéo léo kịp thời đối với những tiến bộ của học sinh dù nhỏ.

– Xem nhẹ dẫn đến không khắc sâu kiến thức cơ bản , các kĩ năng cần thiết như: Kỹ năng phân tích, liên kết các các dữ liệu kiến thức, kĩ năng vẽ hình, viết giả thiết, kết luận, liên hệ thực tế….

– Không nắm chắc đối tượng dẫn tới đề cao quá mức đối với học sinh, dẫn tới hiện tượng: Dạy lướt (nghĩ học sinh nắm được rồi), thích chữa bài tập khó bỏ qua bài tập dễ, trung bình, mà không chú ý tới khắc sâu kiến thức cơ bản cho học sinh.

– Chưa tạo được không khí học tập thân thiện vì yêu cầu cao của giáo viên . Giáo viên chưa phối kết hợp tốt với giáo viên chủ nhiệm và phụ huynh học sinh.

* Về phía học sinh:

– Chất lượng đầu vào thấp. Chẳng hạn một số em vào lớp 6 khả năng đọc ,viết, tính toán chưa thành thạo.

– Có quá nhiều lỗ hổng kiến thức vì vậy HS dễ chán nản và không ham thích học tập.

– Một số em lười học, thiếu sự chuẩn bị chu đáo dụng cụ học tập dẫn tới không nắm được các kĩ năng cần thiết trong việc học và vận dụng vào việc giải quyết các vấn đề ở các môn học.

– Một số em thiếu tìm tòi, sáng tạo trong học tập, không có sự phấn đấu vươn lên, có thói quen chờ đợi lười suy nghĩ hay dựa vào giáo viên, bạn bè hoặc xem lời giải sẵn trong sách giải một cách thụ động.

* Về phía phụ huynh:

– Sự quan tâm của một số phụ huynh đối với việc học của con em mình còn hạn chế. Đặc biệt, có những phụ huynh của những em học sịnh yếu không bao giờ kiểm tra sách vở của các em, phó thác việc học tập của các em cho nhà trường.

– Sự phát triển bùng nổ của công nghệ thông tin cùng với internet với các dịch vụ vui chơi, giải trí hấp dẫn đã lôi cuốn các em.

– Thông thường, phần kiểm tra bài cũ được giáo viên tiến hành ở đầu giờ. Đây là việc làm theo đúng tiến trình dạy học.

– Tuy nhiên, sự lặp đi lặp lại cách làm đó sẽ khiến học sinh nhàm chán, đôi khi gây áp lực, tạo sự căng thẳng cho học sinh trong suốt tiết học hôm đó.

– Theo tôi giáo viên có thể lồng ghép các câu hỏi kiểm tra kiến thức đã học trong quá trình dạy bài mới để làm giảm bớt đi sự căng thẳng không đáng có.

– Ví dụ : Khi dạy mục I bài 29. Hấp thụ chất dinh dưỡng và thải phân (Sinh 8) , giáo viên có thể treo tranh phóng to về Cấu tạo trong của ruột non. Sau đó yêu cầu học sinh nhắc lại cấu tạo của ruột non phù hợp với chức năng tiêu hóa; kiểm tra kiến thức của học sinh về cấu tạo của ruột non, sau đó nhận xét và cho điểm.

– Trong một giờ học, nếu ngay từ phần vào bài giáo viên đã tạo ra sự hứng thú cho học sinh, chắc chắn trong những phút tiếp theo, các em sẽ hào hứng hơn với những hoạt động do giáo viên tổ chức.

– Do đó phần vào bài có vai trò quan trọng đến hoạt động dạy cũng như kích thích quá trình tiếp thu kiến thức của học sinh trong một tiết dạy.

– Kinh nghiệm của tôi để có cách dẫn dắt vào bài mới hấp dẫn hơn là: Mở đầu bằng một câu chuyện vui; mở đầu bằng một đoạn phim hay hình ảnh; hay mở đầu bằng một câu chuyện li kì, hấp dẫn…

– Một điều cần lưu ý là: đặt vấn đề hay góp phần làm tăng tính hấp dẫn cho bài học, tạo hứng thú cũng như làm cho không khí học tập trở nên thoải mái hơn. Tuy nhiên, giáo viên cũng cần chú ý đến thời gian cho phần vào bài để tránh ảnh hưởng đến thời lượng dành cho bài mới.

– Trong hoạt động dạy học luôn đòi hỏi sự tương tác qua lại thường xuyên giữa thầy và trò. Một trong những điều kiện để học sinh có thể học sâu là các em phải có cảm giác thoải mái.

– Trong quá trình giao tiếp với học sinh, giáo viên cần có thái độ nhẹ nhàng, vui vẻ, tạo cho học sinh cảm giác được yêu thương, nhưng khi cần vẫn phải nghiêm khắc để học sinh hiểu được giới hạn của sự thoải mái. Vì nếu quá dễ dãi, học sinh không kính nể sẽ rất khó dạy; quá nghiêm khắc, học sinh sẽ bị ức chế khó tiếp thu bài học.

– Hơn ai hết, giáo viên phải nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề trên đối với công tác giáo dục. Khi cảm thấy mình được tôn trọng có nghĩa là các em sẽ thêm phần tự tin vào bản thân mình, sẽ đáp lại bằng thái độ tôn trọng, yêu quý đối với thầy cô, nhờ đó mà cũng sẽ yêu thích hơn bộ môn những thầy cô giáo đó đang giảng dạy.

– Bên cạnh đó, người giáo viên cũng cần quan tâm đến những học sinh chậm tiến của lớp, quan tâm nhắc nhở các em học bài và chỉ cách học bài cho học sinh; kịp thời khen ngợi khi học sinh tiến bộ.

– Ví dụ, có em học sinh chậm tiến lần thứ nhất kiểm tra bài cũ chỉ được 3 điểm, nhưng lần thứ hai được 5 điểm, giáo viên cần khen ngợi để học sinh cảm thấy mình có tiến bộ, từ đó sẽ cố gắng nhiều hơn.

– Trước hết, giáo viên cần nghiên cứu kĩ nội dung của bài học trong sách giáo khoa, kết hợp nghiên cứu những tài liệu tham khảo khác như sách giáo viên, sách giải bài tập sinh học, chuẩn kiến thức kĩ năng,… để chỉ ra được mục tiêu chính là những yêu cầu về kiến thức, kĩ năng và thái độ cần hướng học sinh tìm hiểu và đạt được.

– Tiếp theo, giáo viên xác định số lượng hoạt động, hình thức tổ chức và nội dung các hoạt động nhằm đạt được các mục tiêu ở trên.

– Tuy nhiên, để hướng đến sự thích thú, say mê của học sinh với mỗi hoạt động đó thì giáo viên cần lựa chọn cách tổ chức phù hợp nhất, làm sao để học sinh phát huy tối đa khả năng và hiểu biết của bản thân, đồng thời có sự liên kết chặt chẽ với tập thể.

– Trong quá trình thiết kế, giáo viên nên có sẵn những dự kiến và phương án giải quyết cho những tình huống không theo ý muốn có thể xảy ra để có thể chủ động điều chỉnh nhằm tránh sự lúng túng, kéo dài thời gian, thậm chí là không đạt được các mục tiêu đã đề ra.

– Trong quá trình tổ chức các hoạt động dạy học, giáo viên không thể bỏ qua vai trò của các đồ dùng, phương tiện dạy học. Việc lựa chọn được những đồ dùng phù hợp và có chất lượng không chỉ làm tăng hiệu quả của việc khai thác, phát hiện kiến thức mà còn tạo ra sự thích thú cho học sinh.

– Trong nhiều trường hợp, giáo viên có thể giao nhiệm vụ cho học sinh chuẩn bị những đồ dùng nhất định. Khi được tự chuẩn bị, học sinh sẽ phải nghiên cứu tài liệu để hiểu về vấn đề được giao tức là các em đã được học tập thêm một lần nữa.

– Ví dụ: Khi sử dụng tranh vẽ “Thí nghiệm về hoạt động của enzim trong nước bọt” (hình 26- SGK, trang 85, sinh 8) để khai thác phát hiện kiến thức mới, giáo viên phải hướng học sinh chỉ ra được: Vì sao ống A lại có độ trong không đổi? Vì sao ống B lại có độ trong tăng lên và vì sao ống C và D lại có độ trong không đổi! Từ đó, hướng học sinh đến kết luận về hoạt động của enzim trong tuyến nước bọt.

– Tổ chức dạy học theo nhóm sử dụng kĩ thuật “Khăn phủ bàn”: Để tiến hành kĩ thuật này, giáo viên chia học sinh thành nhóm (4 người/nhóm), mỗi người ngồi vào một vị trí đã được sắp xếp. Mỗi nhóm được nhận một tờ giấy có chia các ô dành cho hoạt động của từng cá nhân, ở giữa là ô trống dành cho kết quả chung của nhóm sau khi đã thống nhất ý kiến.

– Tổ chức dạy học theo nhóm sử dụng kĩ thuật “Các mảnh ghép”: Để thiết kế, giáo viên cần lựa chọn nội dung/chủ đề phù hợp, xác định một nhiệm vụ phức hợp cần giải quyết ở vòng 2 dựa trên các nhiệm vụ khác nhau đã thực hiện ở vòng 1. Học sinh được chia thành các nhóm, giao nhiệm vụ cụ thể cho mỗi thành viên trong nhóm.

– Trong quá trình tiến hành, ở vòng 1 giáo viên tổ chức cho học sinh hoạt động theo nhóm 3 hoặc 4 người, mỗi nhóm được giao một nhiệm vụ, đảm bảo mỗi thành viên trong nhóm đều trả lời được tất cả các câu hỏi trong nhiệm vụ được giao, mỗi thành viên đều trình bày được kết quả câu trả lời của nhóm.

– Ở vòng 2, giáo viên hình thành nhóm 3 hoặc 4 người mới là sự kết hợp giữa mỗi thành viên trong mỗi nhóm trên, các câu trả lời và thông tin của vòng 1 được các thành viên nhóm mới chia sẻ đầy đủ với nhau. Sau khi chia sẻ xong thông tin ở vòng 1, nhiệm vụ mới sẽ được giao cho nhóm vừa lập để giải quyết. Các nhóm mới trình bày, chia sẻ kết quả nhiệm vụ ở vòng 2.

– Tuy nhiên, điều quan trọng là thiết kế và tổ chức như thế nào để mọi thành viên đều phát huy được năng lực cá nhân cũng như biết cách phối hợp với tập thể nhằm tăng cường sự liên kết và khả năng thu nhận, tích lũy kiến thức.

– Khi được hỗ trợ bởi công nghệ thông tin thì khả năng truyền tải ý tưởng của giáo viên cũng dễ dàng và phong phú hơn.

– Để có thể sử dụng hiệu quả công nghệ thông tin trong dạy học, giáo viên cần phải đầu tư nhiều thời gian để học tập, nghiên cứu cho thành thạo cách thiết kế bài giảng, cách khai thác các ứng dụng khác.

– Đồng thời, giáo viên cần nghiên cứu kĩ nội dung bài dạy để thiết kế những hoạt động dạy học phù hợp, có kế hoạch sắp xếp và khai thác hợp lí các tranh, ảnh, mô hình, băng hình,… sưu tầm được theo trật tự nhất định phù hợp với nội dung kiến thức từng phần.

– Sự gần gũi của kiến thức lí thuyết với thực tế giúp học sinh dễ dàng kiểm chứng, liên hệ đã trở thành một trong những yếu tố thúc đẩy tính tích cực của học sinh.

– Ví dụ: Khi dạy bài 25. Tiêu hóa ở khoang miệng, giáo viên yêu cầu học sinh liên hệ với thực tế giải thích vì sao:

+ Tại sao khi nhai cơm lâu trong miệng ta thấy có vị ngọt?

+ Tại sao khi ăn uống ta không nên cười đùa thái quá?

+ Khi ăn uống ta có thực hiện đồng thời phản xạ nuốt không?….

Những Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Bồi Dưỡng Học Sinh Giỏi

Nhiều Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Ôn Thi Tốt Nghiệp Thpt Năm 2013

Các Giải Pháp Tăng Cường Hiệu Quả Công Tác Ôn Thi Tốt Nghiệp

Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Ôn Thi Tốt Nghiệp Địa Lý

Giải Pháp Nào Để Nâng Cao Chất Lượng Ôn Thi Tốt Nghiệp?

Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Cho Học Sinh Yếu Kém Môn Hóa Học! : Trường Thcs Nguyễn Hàm Ninh

Hội Thảo Chuyên Đề “Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Bộ Môn Ngữ Văn 9” Tại Trường Thcs Phú An

Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học : Trường Thcs Quảng Tiến

Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Cấp Trung Học Cơ Sở

Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Môn Toán Ở Trường …

Tham Luận Về Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Môn Toán Ở Trường Thcs Quảng Phương : Trường Thcs Quảng Phương

Chất lượng giáo dục luôn luôn là điều trăn trở đối với các nhà quản lý giáo dục nói chung cũng như đối với người giáo viên nói riêng. Trong thời gian qua Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có nhiều chủ trương, biện pháp tích cực để nâng cao chất lượng dạy và học. Đặc biệt là thực hiện các cuộc vận động lớn như : “Hai không”, “Mỗi thầy cô giáo là một tấm gương tự học và sáng tạo”, “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”.

Qua thực hiện các cuộc vận động này đã làm thay đổi khá nhiều về chất lượng giáo dục. Tuy có nhiều tiến bộ nhưng chất lượng thật sự của giáo dục hiện nay  còn có một số tồn tại chưa giải quyết được. Yêu cầu đặt ra cho chúng ta là phải tìm những nguyên nhân yếu kém một cách chính xác, phải nhìn thẳng vào sự thật một cách khách quan.Từ đó bình tĩnh đưa ra những giải pháp tích cực sát với thực tế để từng bước nâng cao chất lượng.

Trong những năm qua, một thực trạng là càng ngày tính đa dạng về trình độ học sinh trong các lớp càng tăng. Do đó, làm cách nào để có thể giúp cho học sinh khai thác tối đa bài giảng của thầy, nhất là đối với học sinh yếu. Ở các em có sự khác biệt về: khả năng tiếp thu bài, phong cách nhận thức,… so với những học sinh khác. Cần xem xét những học sinh này với những đặc điểm vốn có của các em để tìm ra những biện pháp nhằm dẫn dắt các em đạt đến kết quả tối đa, tránh cho các em bị rơi vào những khó khăn thường trực trong học tập. Đó chính là điều mà bản thân tôi muốn trao đổi, chia sẻ, học hỏi kinh nghiệm từ đồng nghiệp để giúp đỡ đối tượng học sinh yếu.Để giải quyết vấn đề đó tôi xin nêu lên một số nguyên nhân và đề ra một số biện pháp nhằm khắc phục tình trạng trên như sau:

NGUYÊN NHÂN:

Từ học sinh:

– Học sinh không hứng thú học tập bộ môn: Khác với các môn khác, môn Hóa học có nhiều khái niệm trừu tượng, khó, học sinh rỗng kiến thức cơ bản, do đó học sinh tiếp thu kiến thức ngày càng khó khăn và thiếu hụt.

– Chất lượng đầu vào thấp, học sinh học yếu môn toán, lý khó có khả năng tiếp thu kiến thức môn Hóa học do đó sợ môn Hóa và không ham thích học Hóa.

– Một số em lười học, thiếu sự chuẩn bị chu đáo dụng cụ học tập dẫn tới không nắm được các kĩ năng cần thiết trong việc học và vận dụng vào việc giải quyết các dạng bài tập Hóa học.

– Một số em thiếu  tìm tòi, sáng tạo trong học tập, không có sự phấn đấu vươn lên, có thói quen chờ đợi lười suy nghĩ hay dựa vào giáo viên, bạn bè hoặc xem lời giải sẵn trong sách giải một cách thụ động.

Từ giáo viên:

– Chưa thực sự quan tâm đến tất cả các đối tượng học sinh trong cả lớp mà chỉ chú trọng một số em học khá, giỏi; giáo viên chưa thật tâm lý, chưa động viên khéo léo kịp thời đối với những tiến bộ của học sinh dù nhỏ.

– Chưa cân đối giữa việc truyền thụ kiến thức với rèn luyện kỹ năng thực hành Hóa học.

– Không nắm chắc đối tượng dẫn tới đề quá cao hoặc quá thấp đối với học sinh.

– Chưa tạo được không khí học tập thân thiện. Giáo viên chưa phối kết hợp tốt với giáo viên chủ nhiệm và phụ huynh học sinh.

– Phương pháp dạy học chậm đổi mới: Nhiều giáo viên chưa chú ý đến phương pháp dạy học đặc trưng của bộ môn:

– Việc kiểm tra, đánh giá chưa nghiêm túc, chưa có tác dụng khích lệ học sinh trong học tập, thậm chí còn tạo điều kiện cho học sinh chây lười.

– Chưa tổ chức được các buổi ngoại khóa, những hoạt động ngoài giờ lên lớp cho học sinh tham gia.

Từ phụ huynh học sinh và xã hội:

– Một số phụ huynh không quan tâm đến việc học của con em, khoán trắng việc học tập của con em họ cho nhà trường.

– Sự phát triển bùng nổ của công nghệ thông tin cùng với internet với các dịch vụ vui chơi, giải trí hấp dẫn đã lôi cuốn các em.

ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP:

Từ những nguyên nhân trên tôi xin đề ra các biện pháp cụ thể như sau:

Tạo động cơ, gây lòng tin, hứng thú say mê, yêu thích học tập bộ môn cho học sinh.

– Động cơ trong (động cơ hoàn thiện tri thức) và động cơ bên ngoài (động cơ quan hệ xã hội ), cho học sinh thấy được vai trò, tầm quan trọng của bộ môn, tạo cho học sinh có nhu cầu nâng cao tri thức môn học. Nắm vững tâm lí lứa tuổi của các em học sinh tạo động cơ quyết tâm phấn đấu vươn lên để tự khẳng định mình. “ Động cơ học tập không có sẵn, không thể áp đặt, phải hình thành dần dần trong quá trình học sinh chiếm lĩnh đối tượng học tập dưới sự tổ chức và điều khiển của thầy ”.

– Cần giúp học sinhxác định đúng động cơ thái độ học tập: Học là để có kiến thức, để làm người, để chiếm lĩnh tri thức của loài người, biến kiến thức đó thành kiến thức của mình, học để lập thân, lập nghiệp nhằm phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Có như vậy  học sinh mới tự giác học tập, chăm chỉ học tập, cố gắng vươn lên.

– Vậy phải làm gì để gây lòng tin, tạo hứng thú, sự say mê, yêu thích bộ môn Hóa học?

– Tạo hứng thú sự yêu thích bộ môn qua việc cho học sinh thấy được vai trò, tầm quan trọng của môn Hóa học trong chương trình phổ thông; vai trò tầm quan trọng của Hóa học trong đời sống, trong thực tiễn khoa học kĩ thuật…Qua việc sử dụng kiến thức bộ môn giải quyết các bài tập thực tiễn, giải thích các hiện tượng tự nhiên xảy ra xung quoanh đời sống và trong sản xuất.

– Tạo cho học sinh hứng thú bằng sự thay đổi phương pháp, hình thức dạy học : Linh hoạt đa dạng trong mỗi giờ, mỗi phần, chú ý hoạt động đặc trưng bộ môn ( thí nghiệm Hóa học biểu diễn, thí nghiệm thực hành), sử dụng phương tiện kĩ thuật dạy học. Học sinh rất hào hứng khi được tham gia thí nghiệm trong giờ hay phòng thí nghiệm, bài học sẽ có kết quả tốt hơn khi sử dụng các phương tiện như máy vi tính, máy chiếu đa năng, các phần mềm Hóa học,…

– Tạo hứng thú từ phong cách làm việc của thầy qua từng bài giảng trong quá trình nghiên cứu bộ môn; từ sự gần gũi, sự nhìn nhận của thầy trong sự cố gắng, nỗ lực của học sinh. Tạo không khí vui vẻ, thoải mái trong mỗi giờ học (yêu cầu nghiêm túc nhưng nhẹ nhàng , không căng thẳng ), đây chính là nghệ thuật sư phạm của người thầy nhờ sự nắm vững kiến thức khoa học của bộ môn, hiểu và nắm vững quy luật nhận thức, tâm lý học lứa tuổi, tâm lí sư phạm…, hiểu rõ và đồng cảm với đối tượng học sinh mà mình dạy.

Thường xuyên gần gũi chăm lo, động viên học sinh, chỉ dẫn, kèm cặp học sinh trong quá trình thực hiện. Tránh sự nóng vội, buông trôi, phó mặc.

Bù lấp kiến thức cơ bản cho học sinh yếu kém để các em kịp thời hòa nhập với lớp, bên cạnh việp giúp đỡ các em trong giờ học chính khóa cần phân loại để tổ chức giúp đỡ riêng ngoài giờ theo nhóm học sinh. Những lớp có những học sinh tích cực, có phương pháp học và tự học tốt có thể xây dựng nhóm bạn giúp đỡ. Để tổ chưc có hiệu quả, giáo viên phải hướng dẫn cụ thể cách thức hoạt động của nhóm, của mỗi thành viên trong nhóm, phải thường xuyên theo dõi uấn nắn, điều chỉnh kịp thời.

Đổi mới phương pháp dạy học.

– Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, sáng tạo, chủ động học tập của học sinh. Việc đổi mới cần gắn với khai thác, sử dụng thiết bị giáo dục trên cơ sở bám sát nội dung sách giáo khoa, yêu cầu bộ môn về chuẩn kiến thức kĩ năng.

– Đổi mới phương pháp dạy học, phải đổi mới từ khâu soạn giảng, quá trình lên lớp, đến kiểm tra đánh giá. Bài soạn thực sự là bản thiết kế để giáo viên thực hiện trong giờ dạy, kèm theo bản thiết kế là sự chuẩn bị chu đáo các điều kiện cần thiết cho giờ dạy.Ở mỗi bài dạy cần:

+ Xác định đúng, đủ mục tiêu bài học theo đặc điểm từng dạng bài.

+ Cải tiến hình thức tổ chức hoạt động để phát huy tính tích cực, sáng tạo của học sinh.

+ Hệ thống kiến thức phải đi từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp dựa trên chuẩn kiến thức, cần giúp học sinh nắm được kiến thức cơ bản, trọng tâm của từng bài

+ Mỗi bài học cần xây dựng một số câu hỏi then chốt nhằm khai thác những kiến thức trọng tâm của bài.

+ Tăng cường sử dụng dồ dùng dạy học, ứng dụng CNTT để nâng cao hiệu quả tiết dạy.

+ Đối với các tiết thực hành cần chuẩn bị đồ dùng, Hóa chất và thực hiện các thí nghiệm trước khi lên lớp để bảo đảm các thí nghiêm thành công. Đồng thời dự kiến trước các tình huống thí nghiệm thất  bại xảy ra đối với học sinh để hướng dẫn cho các em làm tốt.

– Trong giờ học sinh phải được làm việc tham gia chiếm lĩnh kiến thức mới. Để thực hiện tốt vấn đề này giáo viên cần quan tâm tới các đối tượng học sinh, đặc biệt với học sinh yếu kém. Dạy học sinh cách học trong đó có phương pháp tự học là yêu cầu bắt buộc luôn phải đặt ra trong mỗi giờ lên lớp.

– Lồng ghép dạy kiến thức với bù lấp kiến thức hổng cho học sinh và dùng kiến thức mới để soi sáng, củng cố kiến thức mà học sinh đã học trước đó.

– Xây dựng hệ thống bài tập trong giờ phù hợp với các đối tượng học sinh khác nhau. Có câu hỏi phát hiện dấu hiệu bên ngoài, có câu hỏi về bản chất , cần có tư duy , so sánh, khái quát tổng hợp cao…

Dạy học sinh trong đó có tự học:

Học ⇒Hỏi ⇒Hiểu ⇒Hành

– Biết cách học từng phần, từng nội dung, từng bài. Biết cách ghi nhớ, ghi nhớ có chon lọc, nhớ để hiểu và hiểu giúp ghi nhớ dễ hơn, sâu hơn lâu hơn.

– Hiểu mấu chốt, vì vậy học sinh phải biết cách xây dựng câu hỏi để tự trả lời và nhờ người khác trả lời, luôn đặt ra câu hỏi “tại sao ?” để tự trả lời, trước một vấn đề mới, vấn đề nghiên cứu, trước một lời giải hay cách giải quyết của bản thân và người khác.

– Nâng cao năng lực khái quát hóa, tổng hợp trong học và tự học, biết sử dụng phương pháp xây dựng “ Cây kiến thức ” để củng cố, hoàn thiện kiến thức kĩ năng.

– Cho học sinh làm việc nhiều hơn, tăng cường bài tập vận dụng kiến thức, bài tập rèn luyện kiến thức, bài tập rèn luyện kĩ năng thích hợp cho các đối tượng. “Hiểu” để “Hành” và “Hành” để sáng tỏ kiến thức đã “Hiểu”. Học trước hết để hiểu, hiểu trên cơ sở đó mà hành. Hiểu là điểm tựa, hành để phát triển.

Thường xuyên kiểm tra đánh giá học sinh.

Trong kiểm tra đánh giá cần:

– Ra đề theo hướng đòi hỏi người học phải hiểu bài, vận dụng kiến thức, hạn chế học vẹt, ghi nhớ máy móc nhưng phải phù hợp với đối tượng

– Thực hiện nghiêm túc qui trình kiểm tra, trả bài kiểm tra và thời hạn trả bài kiểm tra cho học sinh

– Kiểm tra là thước đo sự chuyển biến vừa là sự nhắc nhở , động viên trong quá trình học tập.

– Kiểm tra thường xuyên với nhiều dạng bài, nhiều hình thức khác nhau: Bài tập trắc nghiệm khách quan, tự luận, kiểm tra vấn đáp, kiểm tra viết, kiểm tra việc ghi chép, kiểm tra sự chuẩn bị ở nhà, kiểm tra trong giờ dạy lí thuyết, kiểm tra trong giờ thực hành…Đổi mới hình thức và nội dung kiểm tra theo tinh thần của Bộ GD & ĐT, “ Kiểm tra theo hướng đòi hỏi người học phải hiểu bài, vận dụng kiến thức, hạn chế lối học vẹt, ghi nhớ máy móc ”.

– Kiểm tra đánh giá sự tiến bộ của từng học sinh, lấy sự chuyển biến của học sinh để động viên khích lệ học sinh nỗ nực phấn đấu vươn lên trong học tập. Quan trọng hơn là kiểm tra những sai xót, những lỗi mắc phải của học sinh để tìm ra nguyên nhân dẫn đến sai xót và biện pháp khắc phục, bài học kinh nghiệm rút ra từ sai lầm đó. (Lưu ý khi học sinh mắc lỗi, kết quả không như mong muốn, tuyệt đối không biểu hiện bi quan, thất vọng hoặc dùng kết quả để lăng mạ, chỉ trích, mỉa mai học sinh)

Phối hợp chặt trẽ giữa gia đình và nhà trường.

– Giúp các bậc phụ huynh xác định rõ mục đích cho con đi học: Tạo cho con một nền móng vững chắc để bước vào đời, để lập nghiệp, để con em mình hoà nhập được với xu thế phát triển của xã hội và hơn thế là để con em mình có đủ khả năng để tự tách ra khỏi vòng tay của bố mẹ để tạo dựng một sự nghiệp vững chắc vàcó một gia đình độc lập.

– Không nên tận dụng sức lao động của con em mình quá sớm. Ngoài ra các bậc phụ huynh còn phải quan tâm quản lý nghiêm giờ giấc học tập của con em mình, thường xuyên liên hệ với giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn để tìm hiểu việc học tập của con em mình.

III. KẾT LUẬN:

Để đạt được kết quả tốt trong giảng dạy người thầy phải có niềm say mê, tình yêu thương đối với mọi học trò, tính kiên nhẫn , có niềm tin và không ngại khó. Là giáo viên đứng lớp, được tiếp xúc với các em hàng ngày, hiểu được tâm lí của lứa tuổi học trò, luôn tạo cho các em niềm tin: “ Mỗi ngày đến trường là một niềm vui”. Khi các em đã yêu thích môn học rồi thì việc hạn chế được tỉ lệ học sinh yếu kém là không khó.

Một Số Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Dạy Học Môn Lịch Sử Ở Trường Thpt Chuyên Lê Hồng Phong

Một Số Phương Pháp Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học Môn Lịch Sử 7

Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Đạo Đức Lớp 5 Trường Tiểu Học Trần Quốc Toản

Skkn Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học Tập Làm Văn Lớp 3

Đề Tài Những Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy – Học Môn Toán Lớp 3 Theo Các Dạng Cơ Bản Nhằm Giúp Học Sinh Tích Cực Hóa Hoạt Động Học Tập

Nâng Cao Chất Lượng Dạy Ngoại Khóa Môn Gdcd Ở Thcs

2 Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Tiếng Anh Vùng Khó

Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Tiếng Anh Ở Trường Thcs Đan Trường Hội

Một Số Biện Pháp Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Theo Mô Hình Trường Học Mới Vnen

Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Lớp Ghép Trong Trường Tiểu Học Vùng Dân Tộc Thiểu Số, Miền Núi

Tọa Đàm Thực Trạng Và Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Lớp Ghép

Những biện pháp nâng cao chất lượng dạy ngoại khoá…..

I. PHẦN MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài:

– Hiện nay trong các nhà trường THCS việc giảng dạy các tiết học

ngoại khóa với môn GDCD gặp rất nhiều khó khăn vì sách giáo khoa

không có hướng dẫn cho việc dạy ngoại khóa thống nhất cho các lớp ở bậc

THCS mà chỉ dừng lại có chương trình chỉ đạo. Vì vậy việc dạy ngoại

khóa thống nhất cho các bậc học là cần thiết và dạy như thế nào để đạt hiệu

quả cao lại càng khó cần thiết hơn bao giờ hết.

Trước thực trạng việc giáo viên dạy GDCD ở THCS gặp nhiều khó

khăn cho tiết dạy ngoại khóa ở môn GDCD lớp 6, 7 ,8, 9. Vì vậy tôi lựa

chọn đề tài này: “Nâng cao chất lượng dạy ngoại khóa ở môn GDCD ở

bậc THCS ” làm đề tài để viết, cũng mong được phần nào tháo gỡ bớt khó

khăn, băn khoăn, thắc mắc cho đội ngũ giáo viên không chuyên trách dạy

GDCD mà chỉ là kiêm nhiệm.

2. Mục đích của đề tài:

Việc bản thân chọn đề tài: “Nâng cao chất lượng dạy ngoại khóa

môn GDCD ở THCS” nhằm mục đích trao đổi với đồng nghiệp về các

băn khoăn mà đồng nghiệp gặp khó khăn trong việc dạy các tiết học ngoại

khóa cho cả bậc học.

Bước đầu tìm ra các giải pháp của cá nhân để cùng được đồng nghiệp

chia sẻ, áp dụng vào việc dạy các tiết học ngoại khóa ở các lớp đạt hiệu

quả cao hơn học sinh thích học hơn và các em không cmả thấy miễn cưỡng

phải học vì áp lực môn học. Giúp các em có hứng thú học tập, tìm hiểu các

vấn đề về môi trường sống, về trật tự an toàn giao thông và phòng chống tệ

nạn xã hội.

Nguyễn Thị Lịch – Giáo viên Trường THCS Đáp Cầu

1

Những biện pháp nâng cao chất lượng dạy ngoại khoá…..

Từ việc cung cấp cho các em tri thức về các lĩnh vực đó để các em có

việc làm đúng, góp phần hình thành nhân cách tốt hơn, xây dựng xã hội

văn minh hơn.

3. Đối tượng, phương pháp nghiên cứu và đối tượng khảo sát:

Bất kỳ môn khoa học nào cũng có đối tượng nghiên cứu riêng với tư

cách là môn khoa học xã hội, môn giáo dục công dân cũng có đối tượng

nghiên cứu:

Môn giáo dục công dân ở trường THCS là khoa học nghiên cứu quá

trình xử lý chuyển giao thông tin khoa học của học sinh về quan hệ của con

người đối với tự nhiên, xã hội và với con người trong cộng đồng trên tất cả

các lĩnh vực kinh tế, chính trị, đạo đức pháp luật về sự nghiệp xây dựng đất

nước Việt Nam. Nhằm tạo ra con người phát triển toàn diện phục vụ cho sự

nghiệp phát triển đó. Đồng thời là sự tác động qua lại giữa thầy – trò trong

quá trình dạy học.

Dạy GDCD là quá trình chuyển giao thông tin khoa học của bộ môn

GDCD giữa thầy – trò. Nó bao gồm các quá trình: xử lý và chuyển giao

thông tin khoa học của bộ môn của thầy và quá trình tiếp nhận của trò, xử

lý thông tin của học sinh. Hai quá trình này có tác động qua lại với nhau,

bổ sung cho nhau. Trong sự tác động đó sẽ bộc lộ những quy luật của quá

trình dạy học môn GDCD. Nhiệm vụ của phương pháp giảng dạy bộ môn

là phát hiện các quy luật đó. Xây dựng hệ thống các nguyên lý, hình thức

và phương pháp giảng dạy cụ thể nhằm tổ chức thành công hoạt động dạy

của thày, học của trò.

Những quy luật của họat động dạy học bộ môn không thể thống nhất

với quy luật của giáo dục học, tâm lý học, nghệ thuật. Những quy luật đó

vừa phải phù hợp với quy luật của nhận thức khoa học của học sinh vừa

Nguyễn Thị Lịch – Giáo viên Trường THCS Đáp Cầu

2

Những biện pháp nâng cao chất lượng dạy ngoại khoá…..

tiếp thu tri thức, vừa tiếp nhận tích cực, chủ động, sáng tạo vừa phải phản

án đúng sự phát triển của đất nước, con người Việt Nam.

Giáo viên cần nắm vững phương pháp dạy GDCD với ranh giới dạy

môn khác. Kết hợp các phương pháp dạy học để nâng cao chất lượng môn

GDCD.

Giáo viên tự tìm hiểu thông qua việc giảng dạy bộ môn và tìm hiểu

tâm tư của đồng nghiệp qua việc giảng dạy GDCD đặc biệt là các tiết dạy

“thực hành ngoại khoá”, gặp nhiều khó khăn. Vì tài liệu hướng dẫn dạy

ngoại khoá chưa có mà mới chỉ dừng lại là một bài soạn để dạy ngoại khoá

còn là đại cương.

Từ thực trạng xã hội hiện nay nói chung và thực trạng học sinh

THCS ở các nhà trường nói riêng vẫn còn bộ phận học sinh chưa thật sự

biết các điều học được trong các nhà trường thành bài học pháp luật vào

cuộc sống. Vẫn còn số ít các em chưa gắn liền kiến thức pháp luật vào

cuộc sống hàng ngày.

4. Nhiệm vụ, phạm vi và thời gian thực hiện đề tài:

Từ thực trạng đạo đức của học sinh hiện nay thì môn GDCD trong

nhà trường có nhiệm vụ như các bộ môn khoa học khác là cung cấp kiến

thức về đạo đức và pháp luật thì môn GDCD còn hình thành phẩm chất

chính trị, tư tưởng, đạo đức, nó gắn liền với con đường xây dựng và bảo vệ

Tổ quốc. Môn GDCD còn góp phần đào tạo học sinh thành những người

lao động mới, hình thành những phẩm chất tốt đẹp, tích cực của công dân

tương lai, có thế giới hạn quan khoa học, nhân sinh quan tiên tiến, có đạo

đức trong sáng, ra sức thực hiện đường lối và nhiệm vụ cách mạng đúng

đắn của Đảng và Nhà nước. Sống và làm việc theo hiến pháp và pháp luật,

Nguyễn Thị Lịch – Giáo viên Trường THCS Đáp Cầu

3

Những biện pháp nâng cao chất lượng dạy ngoại khoá…..

có ý thức trách nhiệm cao đối với Tổ quốc, với nhân dân, với gia đình và

đối với chính bản thân mình.

Đề tài này đã được trải qua năm năm dạy thay sách giáo khoa của

bậc THCS trong những năm qua. Những khó khăn của giáo viên dạy, của

học sinh đã dần dần từng bước được ứng dụng, tháo gỡ dần bằng cách đưa

vào các bài giảng thống nhất vào các tiết dạy ngoại khoá cho tất cả các

khối lớp ở THCS với môn GDCD.

5. Đóng góp mới về mặt khoa học của đề tài:

Thống nhất được chương trình, nội dung, kiến thức của bài giảng cho

từng khối lớp của bộ môn GDCD:

Ví dụ:

Bài 1: Phòng chống tệ nạn xã hội: Phòng chống bệnh HIV/AIDS

Dạy tiết 15 – Lớp 9

Dạy tiết 18 – Lớp 6,7

Bài 2: Trật tự an toàn giao thông

Dạy tiết 18 – Lớp 9

Dạy tiết 32 – Lớp 8

Dạy tiết 33 – Lớp 7

Bài 3: Bảo vệ môi trường

Dạy tiết 35 – Lớp 9,6

Dạy tiết 18 – Lớp 8

Nguyễn Thị Lịch – Giáo viên Trường THCS Đáp Cầu

4

Những biện pháp nâng cao chất lượng dạy ngoại khoá…..

Cung cấp thêm cho giáo viên hệ thống kiến thức tham khảo hỗ trợ

cho các tiết dạy ngoại khoá.

Nguồn cung cấp thêm tài liệu để tham khảo hỗ trợ cho việc giảng dạy

ngoại khoá.

Từ bài học các em bám sát vào các vấn đề cần thiết hiện nay đang

được cả xã hội quan tâm: Trật tự an toàn giao thông, trật tự an toàn xã hội

và bảo vệ môi trường là vấn đề của toàn cầu hiện nay.

Nguyễn Thị Lịch – Giáo viên Trường THCS Đáp Cầu

5

Những biện pháp nâng cao chất lượng dạy ngoại khoá…..

II. NỘI DUNG CỦA ĐỀ TÀI:

CHƯƠNG I: CƠ SỞ KHOA HỌC, CƠ SỞ THỰC TIỄN

1. Cơ sở khoa học:

Bản chất của dạy học là quá trình giảng dạy của thày và học tập của

học sinh là quá trình xử lý thông tin chuyển giao thông tin của thầy giáo và

thu nhận thông tin, xử lý thông tin của học sinh. Sự tác động qua lại giữa

quá trình dạy của thày và quá trình học tập của học sinh làm bộc lộ nhiều

đặc điểm sư phạm, buộc các nhà sư phạm phải nghiên cứu. Quá trình sư

phạm đó mang tính xã hội phong phú, phức tạp với nhiều mối quan hệ tác

động qua lại lẫn nhau, hình thành phát triển tri thức khoa học cho học sinh.

Bản chất của dạy học môn GDCD cũng thuộc về lý luận chung đó.

Song mỗi môn khoa học có những đặc trưng riêng biệt, vấn đề đặt ra

ở đây là chúng ta phải nghiên cứu đặc trưng của qúa trình giảng dạy môn

GDCD.

Căn cứ vào mục đích và nội dung của môn học, kết cấu các loại tri

thức của nó, thầy giáo cần có những phương pháp giáo dục và giáo dưỡng

thích hợp. Những nguyên tắc, phương pháp dạy học không phải là điểm

xuất phát mà là kết quả của sự nghiên cứu nội dung tri thức, đặc điểm tâm

sinh lý và trình độ nhận thức của học sinh. Xây dựng và phát triển phương

pháp dạy học cho một môn phải cần xem xét vào những yếu tố đó. Nhưng

trong những yếu tố đó mục đích và nội dung của môn họ giữ vai trò quan

trọng nhất. Không thể dùng phương pháp dạy học môn này thay thế cho

phương pháp giảng dạy của môn học khác, tuy các phương pháp giảng dạy

của các môn học có những đặc điểm chung. Đồng thời ngay trong một môn

Nguyễn Thị Lịch – Giáo viên Trường THCS Đáp Cầu

6

Những biện pháp nâng cao chất lượng dạy ngoại khoá…..

học, việc giảng dạy cho từng đối tượng người học cũng phải khác nhau tuỳ

theo độ tuổi. Nói cách khác quá trình tác động qua lại giữa thày và trò là

một quá trình mang tính sư phạm, vận dụng theo quy luật của tư duy.

Quá trình nhận thức, tiếp nhận và xử lý thông tin khoa học của học

sinh không thể tuân theo các quy luật của tư duy biện chứng do triết học

nghiên cứu. Nếu sự chuyển giao thông tin của thày phù hợp với quy luật tư

duy của trò thì việc tiếp nhận và xử lý thông tin của trò sẽ có hiệu quả và

ngược lại. Mặt khác, việc chuyển giao thông tin của thày phù hợp với quy

luật, tâm sinh lý của trò thì sẽ làm cho trò xử lý thông tin tốt hơn, đầy đủ

hơn, chính xác hơn.

Những cơ sở khoa học trên phải dựa trên các phương pháp nhận thức

khoa học. Tri thức khoa học là yếu tố tinh thần của khoa học được biểu thị

dưới dạng lý luận có hệ thống, theo một kết cấu logic chặt chẽ. Trong đó

phản ánh những quy luật khách quan, mối liên hệ có tính quy luật của tự

nhiên, xã hội và tư duy.Việc nhận thức các tri thức khoa học nhất thiết phải

có phương pháp. Phương pháp nhận thức khoa học trước hết giúp cho thầy

xử lý thông tin chính xác về tri thức khoa học của bộ môn. Mặt khác, tìm

ra cách thức truyền giao thông tin đó một cách hiệu quả nhất. Không

những thế, khi tiếp nhận các thông tin khoa học mà còn tiếp nhận cả cách

xử lý thông tin khoa học của thày. Như vây song song vào tiếp thu tri thức

khoa học bộ môn mà học sinh từng bước thu nhận cả phương pháp nhận

thức và hành động.

Tri thức của môn GDCD có liên qua rất nhiều chặt chẽ với tri thức

của bộ môn khoa học khác. Đặc biệt là khoa học xã hội. Trong giảng dạy

giáo viên có thể vận dụng phương pháp giảng dạy của các bộ môn khoa

Nguyễn Thị Lịch – Giáo viên Trường THCS Đáp Cầu

7

Những biện pháp nâng cao chất lượng dạy ngoại khoá…..

học khác như văn học, lịch sử, toán học. Nhưng không thể thay thế phương

pháp dạy GDCD bằng các phương pháp dạy các bộ môn đó.

Như vậy việc hiểu biết về bản chất của quá trình dạy môn học, quy

luật tư duy của lứa tuổi, đặc trưng của kiến thức khoa học của từng bộ

môn. Những phương pháp nhận thức khoa học là cơ sở quan trọng để vận

dụng phương pháp giảng dạy môn GDCD với tư cách là một môn khoa

học.

2. Cơ sở thực tiễn:

Môn GDCD trong các nhà trường hiện nay do nhiều nguyên nhân,

chưa được quan tâm một cách đầy đủ và nghiêm túc. Tất cả các bậc học

việc giáo viên dạy chính trị ở các trường đại học, cao đẳng, các trường phổ

thông nhiều năm trước đây đều mang tính tự phát. Trong những năm gần

đây, đội ngũ giáo viên dạy môn GDCD được đào tạo chính quy. Họ được

trang bị tri thức khoa học một cách hệ thống, hiện đại, cơ bản và chuyên

sâu, có lý luận về phương pháp và nghiệp vụ sư phạm. Song đội ngũ đó

chưa trở thành lực lượng chủ sở dĩ có tình trạng đó là do nhiều nguyên

nhân.

Nhận thức chưa đúng, chưa đầy đủ về tri thức và nhiệm vụ của môn

học. Trước đây môn chính trị nhằm tuyên truyền giáo dục tư tưởng chính

trị là chủ yếu. Hiện nay nó chuyển thành môn GDCD với tư cách là môn

khoa học xã hội, nhưng với thời gian chưa nhiều, nên chưa làm chuyển

biến nhận thức của mọi người. Do đó môn học chưa được quan tâm đúng

mức và phương pháp giảng dạy bộ môn đang được nghiên cứu và dần hoàn

thiện từng bước.

Đội ngũ dạy bộ môn nói chung, chưa được tiêu chuẩn hoá, cụ thể

chưa được bồi dưỡng thường xuyên và sử dụng đúng. Đội ngũ này rất đa

Nguyễn Thị Lịch – Giáo viên Trường THCS Đáp Cầu

8

Nguyễn Thị Lịch – Giáo viên Trường THCS Đáp Cầu

9

Những biện pháp nâng cao chất lượng dạy ngoại khoá…..

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ MÀ NỘI DUNG

CỦA ĐỀ TÀI ĐỀ CẬP ĐẾN

Ở nước ta trong những năm gần đây, tình trạng nghiện hút tiêm chích

và buôn bán, tổ chức sử dụng trái phép các chất ma tuý diễn ra với chiều

hướng ngày một gia tăng.

Tệ nạn ma tuý đã gây ra nhiều tác hại cho bản thân, gia đình, xã hội,

nòi giống, dân tộc, ảnh hưởng xấu đến việc học tập, đạo đức sức khỏe của

thanh thiếu niên nói chung, học sinh, sinh viên nói riêng, làm khánh kiệt

kinh tế gia đình.

Tình trạng nghiện hút, tiêm chích ma tuý đã lên tới mức báo động.

Để thực hiện có hiệu quả chỉ thị 06/CT- TW – Bộ chính trị về: “Tăng

cường chỉ đạo công tác phòng chống ma tuý”. Nhằm giúp học sinh, sinh

viên, thanh thiếu niên và các bậc phụ huynh đọ, hiểu một cách đơn giản

những nội dung cơ bản về tệ nạn ma tuý, tác hại của ma tuý, các triệu

chứng lâm sàng về nghiện ma tuý, đồng thời có biện pháp phòng ngừa và

cai nghiện cho những người đã nghiện.

Tệ nạn ma tuý đang là một hiểm hoạ của nhiều nước trên thế giới.

Bởi vậy, Liên hiệp quốc lấy ngày 26/6 hàng năm là ngày thế giới phòng

chống ma tuý.

Ở nước ta tình trạng nghiện hút, tiêm chích, buôn bán, sử dụng trái

phép chất ma tuý đang diễn ra phức tạp với nhiều thủ đoạn xảo quyệt. Vụ

án Xuân Trường là điển hình.

Nạn sử dụng ma tuý để rồi nhanh chóng bị nghiện đã lan ra trong

thanh thiếu niên, đặc biệt là học sinh trong các trường.

Nguyễn Thị Lịch – Giáo viên Trường THCS Đáp Cầu

10

Những biện pháp nâng cao chất lượng dạy ngoại khoá…..

Ma tuý gây ra nhiều tác hại xấu đến việc học tập, đạo đức. Nhiều học

sinh, sinh viên sử dụng một lần đến quen, rồi nghiện phải bỏ học và nhanh

chóng trở thành tội phạm.

Tình trạng trên cần được chặn đứng, đẩy lùi, tiến tới xoá bỏ tệ nạn

ma tuý ở các địa phương, nhất là trong các nhà trường hiện nay.

Bên cạnh tệ nạn ma tuý, thì trật tự an toàn giao thông cũng là vấn đề

mà cả xã hội quan tâm vì số vụ tai nạn, số người chết ngày càng gia tăng,

thiệt hại về người và của là rất lớn. Giao thông đường bộ: Người tham gia

giao thông không chấp hành đúng các quy định đi đường đối với người đi

bộ, người đi xe thô sơ, người điều khiển xe máy. Tai nạn giao thông đường

thuỷ, tai nạn giao thông đường sắt…

Tai nạn giao thông đã trở thành nguyên nhân chính trong việc gia

tăng người tàn tật ở Việt Nam trong thời gian qua. Các bệnh viện hàng

ngày phải tiếp nhận hàng trăm ca cấp cứu do tai nạn giao thông. Ngoài số

ca tử vong, không ít trường hợp đã để lại thương tật vĩnh viễn, nhiều

trường hợp chỉ còn sống đời sống thực vật do chấn thương quá nặng. Tại

bệnh viện Việt Đức – Hà Nội, mỗi ngày phải tiếp nhận khoảng 60 trường

hợp tai nạn giáo thông. Riêng tại Hà Nội trong vòng 2 năm đã tiếp nhạn

43.381 trường hợp. Độ tuổi bị tai nạn giao thông tập trung vào từ: 16 – 45

tuổi. Nhiều trường hợp đưa vào bệnh viện trong tình trạng cơ thể có nhiều

bộ phận bị gẫy, dập nát phải cắt bỏ, trở thành người tàn tật vĩnh viễn. Tai

nạn giao thông thật sự là thảm họa ở nước ta. Đó là chưa kể tới sự thiệt hại

to lớn về vật chất và để lại hậu quả lâu dài cho xã hội , ảnh hưởng đến

chiến lược phát triển con người.

Vì vậy giáo dục trật tự an toàn giao thông là nhiệm vụ thường xuyên

và quan trọng của các trường học nói chung và THCS, THPT nói riêng.

Nguyễn Thị Lịch – Giáo viên Trường THCS Đáp Cầu

11

Những biện pháp nâng cao chất lượng dạy ngoại khoá…..

Trên thế giới hiện nay con người chết do tệ nạn xã hội rất nhiều ở

Châu Phi nói riêng, thế giới nói chung đều nằm trong thảm hoạ của

HIV/AIDS. Con người chết do tai nạn gia thông hàng ngày vẫn bị gia tăng.

Con người chết do thiên tai gây ra cũng không ít trên thế giới như ở “Thái

Lan, In Đô nê xi a làm cho chúng ta không khỏi bàng hoàng. Thiên tai lũ

lụt xảy ra ở khắp các nước trên thế giới do ô nhiễm môi trường, mất cân

bằng sinh thái vì vậy con người hiện nay luôn phải đối mặt với cơn giận dữ

của thiên nhiên mà sự huỷ diệt của nó là không thể tưởng tượng nổi.”

Ở việt nam chúng ta cũng đang lằm trong tình trạng đó. Do diện tích

rừng rộng lớn ở nước ta đã bị tàn phá, huỷ diệt bởi kỹ thuật và phương

thức chiến tranh do giặc ngoại xâm gây ra trong năm chiến tranh ( 19451975).

Do nạn khai thác rừng bừa bãi, không theo quy luật, không tuan thủ

các biện pháp lâm sinh, không đảm bảo tái sinh rừng liên tục làm cạn kiệt

nguồn tài nguyên.

Trong những năm gần đây nạn lâm tặc hoành hành, khai thác gỗ rất

lớn mà lực lượng kiểm lâm không thể kiểm soát nổi.

Do một số bộ phận nhân dân các dân tộc họ sống du canh du cư, phá

rừng lấy đất canh tác, dẫn đến gây ra nhiều vụ cháy rừng. Khai thác mở

rộng các công truờng không quy hoạch bền vững cũng xâm phạm đến tài

nguyên rừng.

Như chúng ta đã biết, việc sử dụng bao bì li non có thể gây nguy hại

đến môi trường bởi đặc tính không phân huỷ của plastic. Hiện nay ở Việt

Nam mỗi ngày thải ra hàng triệu bao bì ni lông, một phần được thu gom,

phần lớn bị vứt bừa bãi khắp nơi công cộng, ao hồ, sông ngòi.

Nguyễn Thị Lịch – Giáo viên Trường THCS Đáp Cầu

12

Những biện pháp nâng cao chất lượng dạy ngoại khoá…..

Mà bao bì ni lông lẫn vào đất làm cản trở quá trình sinh trưởng của

các loài thực vật bao quanh nó, cản trở sự phát triển của cỏ dẫn đến sự sói

mòn ở các vùng đồi núi. Bao bì ni lông bị vứt xuống cống làm tắc các

đường dẫn nước thải, làm tăng khả năng ngập lụt ở các đô thị về mùa mưa.

Sự tắc nghẽn hệ thống cống rãnh làm cho muỗi phát triển , lây truyền dịch

bệnh. Bao bì ni lông trôi ra biển làm chết các sinh vật khi chúng nuốt phải.

Đặc biệt là các bao bì ni lông đựng màu thực phẩm làm ô nhiễm thực phẩm

do chứa các kim loại như chì, ca- đi – mi gây tác hại cho não, là nguyên

nhân gây ra ung thư phổi . Nguy hiểm nhất là khi các bao bì ni lông thải

bỏ đi đốt, các khí độc thải ra chất đi ô sin có thể gây ngộ độc, gây ngất, khó

thở, nôn ra máu, ảnh hưởng đến các tuyến nội tiết , giảm khả năng miễn

dịch, gây rối loạn các chức năng gây ung thư , dị tật, bẩm sinh cho trẻ sơ

sinh . Vì vậy chúng ta phải thay đổi các thói quen đó tránh ô nhiễm môi

trường.

Đứng trước thực trạng trên cần đưa giáo dục môi trường vào các nhà

trường là cần thiết. Đẻ mọi tăng cường công tác bảo vệ môi truờng trong

thời kỳ công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nứơc. Đưa các nội quy bảo vệ

môi truờng vào hệ thống giáo dục quốc dân.

Nguyễn Thị Lịch – Giáo viên Trường THCS Đáp Cầu

13

Những biện pháp nâng cao chất lượng dạy ngoại khoá…..

CHƯƠNG III:

NHỮNG BIỆN PHÁP, GIẢI PHÁP ĐẶT RA CỦA ĐỀ TÀI

1. Tệ nạn xã hội

Hiện nay việc sử dụng ma tuý của học sinh, sinh viên là do nhà

trường quản lý không chặt chẽ, do bố mẹ thiếu quan tâm, buông lỏng quản

lý, chiều chuộng dẫn đến bị lôi kéo, rủ rê, đua đòi ăn chơi, lúc đầu thử rồi

đến nghiện. Chúng ta cần phải chặn đứng, đẩy lùi, tiến tới xoá bỏ tệ nạn

ma tuý ở địa phương và trường học.

Để đẩy lùi được tệ nạn trên các nhà trường cần làm tốt các việc sau:

Tiến hành giáo dục về phòng chống ma tuý cho học sinh, sinh viên

thông qua các đợt sinh hoạt tập thể đầu năm do Bộ ban hành. Làm cho

từng học sinh, sinh viên thấy rõ được tác hại của tệ nạn ma tuý đối với bản

thân, gia đình, nhà trường và xã hội, có những hành động tích cực như

không thử, không dùng, không nghiện, không tiêm chích ma tuý, không

tham gia buôn bán, vận chuyển, tổ chức hút hít. Vận động bạn bè, gia đình

cảnh giác với ma tuý vì ma tuý không trừ một ai.

Tổ chức cho học sinh, sinh viên học tập, sau đó ký cam kết không vi

phạm tệ nạn ma tuý. Nừu học sinh, sinh viên cố tình vi phạm tệ nạn ma tuý

phải xử lý nghiêm khắc theo quy định của Bộ – xử lý học sinh, sinh viên.

Kết hợp chặt chẽ và đồng bôn với các lực lượng ở trong trường và

chính quyền, công an địa phương sở tại để kiểm soát số học sinh, sinh viên

vi phạm tệ nạn ma tuý. Từ đó có biện pháp giáo dục, làm trong sạch môi

trường giáo dục đào tạo.

Quản lý chặt chẽ học sinh, quan tâm đến các hoạt động của các em,

tổ chức các hoạt động thể dục, thể thao, văn hóa, văn nghệ, thi tìm hiểu, vẽ

Nguyễn Thị Lịch – Giáo viên Trường THCS Đáp Cầu

14

Những biện pháp nâng cao chất lượng dạy ngoại khoá…..

tranh cổ động tuyên truyền, mit ting ngoại khoá, nói chuyện về các hoạt

động khác theo chuyên đề phòng chống tệ nạn xã hội, tệ nạn ma tuý.

Tệ nạn ma tuý rất nguy hiểm, mọi học sinh, sinh viên, mọi gia đình

đều phải cảnh giác và phòng ngừa cho mình, cho gia đình, cho cả cộng

đồng.

Phòng chống ma tuý là quyền lợi và nghĩa vụ củahọc sinh, công dân,

không phải của riêng ai, và thực hiện khẩu hiệu “Nhà trường không có ma

tuý”.

2. An toàn giao thông: Hiện nay ở Việt Nam, trung bình mỗi ngày có

khoảng ba mươi người chết, tám mươi người bị thương do tai nạn giao

thông. Vậy việc giáo dục trật tự an toàn giao thông là mhiệm vụ thường

xuyên và quan trọng của các trường học nói chung và trường THCS nói

riêng.

Trong các nhà trường tổ chức cho học sinh các hoạt động ngoại khoá

ngoài giờ lên lớp ở nhà trường: Tuyên truyền bằng các cuộc thi tìm hiểu về

an toàn giao thông, thi thực hành trên đường qua các cuộc thi của Đội: Thi

đi xe đạp chậm trong ngày 26/3. Thi lý thuyết giúp học sinh củng cố các

kiến thức về giao thông bằng hình thức trắc nghiệm qua các hệ thống biển

báo giao thông. Thi vẽ tranh, tổ chức chơi trò chơi làm người điều khiển tại

các nút giao thông, thông qua các cuộc thi giữa các khối lớp nhằm giúp học

sinh củng cố được kiến thức, khắc sâu kiến thức đã học về an toàn giao

thông. Từ đó giáo dục các em có ý thức trách nhiệm, tự giác chấp hành

đúng các quy định của pháp luật về trật tự an toàn gioa thông.

Ngoài việc giáo dục trật tự an toàn giao thông ở các nhà trường thì

gia đình cũng phải có trách nhiệm nhắc nhở con em minh có ý thức chấp

hành các quy định về an toàn giao thông ở mọi nơi, mọi lúc. Đặc biệt khi

Nguyễn Thị Lịch – Giáo viên Trường THCS Đáp Cầu

15

Những biện pháp nâng cao chất lượng dạy ngoại khoá…..

các em tham gia giao thông. Nghiêm khắc với các em chưa đủ tuổi tham

gia giao thông bằng xe máy phân phối lớn khi chưa đủ tuổi hoặc chưa có

bằng lái xe.

Đối với Đoàn thanh niên ở địa phương cũng có trách nhiệm kiểm tra,

giám sát hoạt động của học sinh khi các em tham gia giao thông ở địa

phương, kịp thời phản ánh với nhà trường với Đoàn đôi của nhà trường về

các hành vi vi phạm của các em trên đường giao thông tại địa phương.

Tổ chức Đoàn cần có các hoạt động tình nguỵên để đoàn viên là học

sinh tham gia vào việc giữ gìn trật tự giao thông đường phố. Khuyến khích

các em tích cực hoạt động góp phần làm giảm tai nạn giao thông đáng tiếc

xẩy ra.

Đối với lực lượng công an tại địa phương, cũng cần nghiêm khắc xử

lý, nhắc nhở về các lỗi vi phạm giao thông ở ngay trên địa bàn dân cư nơi

các em cư trú.

Ngoài việc trên hàng năm vào các buổi ngoại khoá cần có sự tuyên

truyền của lực lượng công an giao thông về trật tự giao thông xảy ra

trên địa bàn thành phố, toàn tỉnh để học sinh nắm rõ các số liệu đó và các

em thấy được mức độ nguy hiểm để các em tránh xa.

3. Bảo vệ môi trường

Cùng với việc giáo dục trật tự an toàn giao thông thì việc giáo dục

bảo vệ môi trường là việc làm không thể thiếu trong các nhà trường hiện

nay. Thông qua bộ môn: Sinh học, địa lý, GDCD. Qua việc cung cấp kiến

thức bộ môn còn giáo dục cho học sinh ý thức bảo vệ môi trường. Qua bài

học giáo dục cho các em tình yêu quê hương, đất nước, yêu thiên nhiên

tươi đẹp. Thông qua các bài học được tiến hành với các hình thức tổ chức

Nguyễn Thị Lịch – Giáo viên Trường THCS Đáp Cầu

16

Những biện pháp nâng cao chất lượng dạy ngoại khoá…..

đa dạng tại các địa điểm khác nhau: Trong lớp, ngoài trường, đem lại cho

các em thông điệp phong phú về bảo vệ môi trường, các nguyên nhân làm

ô nhiễm môi trường, giúp các em lĩnh hội tri thức về bảo vệ môi trường

một cách tự nhiên, sinh động và có hiệu quả.

Ngoài ra bằng các giờ hoạt động ngoài giờ, các giờ hoạt động tập thể.

Thông qua các giờ học này nhằm xây dựng môi trường sư phạm lành

mạnh, trong một không gian “xanh, sạch, đẹp”. Thúc đẩy phong trào thi

đua trồng cây, vệ sinh làm sạch, đẹp trường lớp. Xây dựng nhà trường

xanh, sạch đẹp, lành mạnh an toàn giảm hiệu ứng không gian bê tông hoá

đã và đang phát triển mạnh. Thông qua các buổi sinh hoạt, giờ chào cờ đầu

tuần, các buổi sinh hoạt Đội, các cuộc cắm trại các tổ chức hình thức đa

dạng phù hợp với lứa tuổi của học sinh.

Ngoài việc giảng dạy tại lớp trong các giờ học, thông qua các bộ môn

thì kết hợp với Đoàn Đội, tổ chức trồng cây vào dịp đầu năm, làm vườn

sinh vật, vườn địa lý ở các khối lớp tạo ra cảnh quan môi trường đẹp.

Kết hợp với giáo viên dạy mỹ thuật mở cuộc thi vẽ tranh về đề tài

môi trường. Để các em đều có ý thức tham gia vào công việc chung của xã

hội. Nâng cao ý thức trách nhiệm với cả cộng đồng.

Kết hợp với Đoàn Đội ở địa phương để các em có ý thức chăm lo,

giữ vệ sinh ở cộng đồng dân cư. Các em biết nhắc nhở gia đình và người

thân cũng cần có ý thức bảo vệ môi trường và ăn ở có vệ sinh, sạch sẻ.

Tuyên truyền để mọi người hạn chế sử dụng bao bì ni long để hạn

chế ô nhiễm môi trường, phòng tránh đựơc bệnh tật khi mà mùa hè đã đến

gần.

Nguyễn Thị Lịch – Giáo viên Trường THCS Đáp Cầu

17

Những biện pháp nâng cao chất lượng dạy ngoại khoá…..

4. Kết quả khảo sát thông qua bài học ngoại khoá và các hình thức

tuyên truyền ban đầu có hiệu quả và chuyển biến:

Phòng chống tệ nạn xã hội. Trong nhà trường đã dẩy lùi tệ nạn ma

tuý, tiêm chích trong nhà trường không có. Thông qua các hoạt động Đội

thì học sinh còn phát hiện các gia đình buôn bán ma tuý giúp lực lượng

công an dễ theo dõi và điều tra. Các tệ nạn trộm cắp, cờ bạc không có trong

nhà trường.

Qua việc học tập đó các em không phải xa lánh người có HIV. Biết

tự chăm sóc bản thân và phòng tránh tệ nạn ma tuý. Tuyên truyền để người

thân của các em biết phòng, tránh xa tệ nạn ma tuý.

Tệ nạn xã hội bị đẩy lùi thì trật tự an toàn giao thông cũng được chấp

hành tốt. Trong những năm qua nhà trường không có học sinh vi phạm trật

tự an toàn giao thông. Không có học sinh đá bóng trên đường quốc lộ,

không có học sinh phóng nhanh, vượt ẩu trên đường, không có học sinh

gây rối nơi công cộng.

Các em đã cùng với chi đoàn địa phương tham gia giữ trật tự an toàn

giao thông đường phố, chợ, bến bãi vào dịp hè đến.

Kết hợp với chi đoàn ở địa phương chăm sóc và bảo vệ cây xanh trên

hè phố ở các khu dân cư. Trồng cây vào dịp Tết ở nhà trường, chăm sóc

cây quanh nghĩa trang liệt sỹ. Giữ cho môi trường dân cư sạch đẹp, hợp vệ

sinh, khu phố đựơc công nhận là khu phố văn hoá.

Các đoàn thể ở địa phương cũng phải vào cuộc cùng nhà trường triển

khai và làm tốt ba vấn đề trên, nó có chuyển biến tích cực. Nó đem lại hạnh

phúc cho mọi nhà.

Nguyễn Thị Lịch – Giáo viên Trường THCS Đáp Cầu

18

Những biện pháp nâng cao chất lượng dạy ngoại khoá…..

Nguyễn Thị Lịch – Giáo viên Trường THCS Đáp Cầu

19

Những biện pháp nâng cao chất lượng dạy ngoại khoá…..

Nguyễn Thị Lịch – Giáo viên Trường THCS Đáp Cầu

20

Hướng Dẫn Cách Giúp Học Sinh Hứng Thú Với Môn Giáo Dục Công Dân

Đề Tài Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Nội Dung Pháp Luật Trong Môn Giáo Dục Công Dân Lớp 9 Ở Trường

Các Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Ở Tiểu Học Cac Giai Phap Nang Cao Chat Luong Day Hoc Doc

Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Lịch Sử Ở Cấp Thcs

Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học, Ôn Thi Thptqg Môn Lịch Sử

Đề Tài Đổi Mới Phương Pháp Giảng Dạy Bộ Môn Hóa Học Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Học Tập Hóa Học Ở Trường Thcs

Một Số Giải Pháp Để Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Hóa Ở Thcs Skkn 2014 Hoa Nhung Doc

Sáng Kiến Kinh Nghiệm Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Học Tập Môn Hóa Học Lớp 8

Một Số Biện Pháp Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Giảng Dạy Môn Toán Lớp 4

Một Số Biện Pháp Giúp Học Sinh Học Tốt Môn Toán Lớp 4.

Để Nâng Cao Chất Lượng Môn Ngữ Văn

1. Lý do khách quan.

Hóa học là một bộ môn khoa học có từ lâu đời, các nhà hóa học đã nghiên cứu và tìm tòi ra các chất, nghiên cứu các tính chất vật lý, các tính chất hóa học, các hiện tượng vật lý, hóa học, các hiện tượng thường sảy ra trong tự nhiên và giải thích tại sao lại như vậy!

Môn hóa học là bộ môn khoa học gắn liền với tự nhiên, đi cùng đời sống của con người. Việc học tốt bộ môn hóa học trong nhà trường sẽ giúp học sinh hiểu được rõ về cuộc sống, những biến đổi vật chất trong cuộc sống hàng ngày. Từ những hiểu biết này giáo dục cho học sinh ý thức bảo vệ tài nguyên thiên nhiên rất hạn chế của Tổ quốc, đồng thời biết làm những việc bảo vệ môi trường sống trước những hiểm họa về môi trường do con người gây ra trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nhằm tạo dựng một cuộc sống ngày càng tốt đẹp hơn.

DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT STT Chữ cái viết tắt Ý nghĩa 1 CTHH Công thức hoá học 2 GV Giáo viên 3 HĐN Hoạt động nhóm 4 HS Học sinh 5 SGK Sách giáo khoa 6 SGV Sách giáo viên 7 SKKN Sáng kiến kinh nghiệm 8 PTHH Phương trình hoá học 9 TN Thí nghiệm 10 THCS Trung học cơ sở . Phần I. Lý do chọn đề tài 1. Lý do khách quan. Hóa học là một bộ môn khoa học có từ lâu đời, các nhà hóa học đã nghiên cứu và tìm tòi ra các chất, nghiên cứu các tính chất vật lý, các tính chất hóa học, các hiện tượng vật lý, hóa học, các hiện tượng thường sảy ra trong tự nhiên và giải thích tại sao lại như vậy! Môn hóa học là bộ môn khoa học gắn liền với tự nhiên, đi cùng đời sống của con người. Việc học tốt bộ môn hóa học trong nhà trường sẽ giúp học sinh hiểu được rõ về cuộc sống, những biến đổi vật chất trong cuộc sống hàng ngày. Từ những hiểu biết này giáo dục cho học sinh ý thức bảo vệ tài nguyên thiên nhiên rất hạn chế của Tổ quốc, đồng thời biết làm những việc bảo vệ môi trường sống trước những hiểm họa về môi trường do con người gây ra trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nhằm tạo dựng một cuộc sống ngày càng tốt đẹp hơn. Môn hóa học trang bị cho học sinh những kiến thức cơ bản, tối thiểu để học sinh khỏi bỡ ngỡ trong các tình huống gặp phải trong tự nhiên, trong cuộc sống. Từ đó lý giải được các hiện tượng kỳ bí, bài trừ mê tín dị đoan. Môn hóa học là bộ môn khoa học nghiên cứu về chất, sự biến đổi về chất- những biến đổi vật chất trong tự nhiên. Ngày nay các nước trên thế giới, việc giảng dạy bộ môn hóa học rất được coi trọng. Môn hóa học được đầu tư trang bị các thiết bị dạy học đầy đủ, hiện đại, con người được bố trí phụ trách phòng thiết bị (đủ biên chế), phù hợp với mục tiêu, yêu cầu giảng dạy bộ môn, phù hợp cấp học, bậc học, đồng thời đội ngũ giáo viên được chuẩn hóa, được cập nhật thông tin đầy đủ, kịp thời. 2. Lý do chủ quan. Trong thực tế giảng dạy, với năng lực cụ thể của từng giáo viên, kỹ năng sử dụng các phương pháp, phương tiện dạy học, đặc biệt là các thao tác thực hiện kỹ thuật thực hành trong từng bài cụ thể: thí nghiệm chứng minh, thí nghiệm biểu diễn, thí nghiệm thực hành,...chính nhờ những thao tác kỹ năng thực hiện đó đã giúp cho học sinh nắm chắc kiến thức lý thuyết một cách chủ động, sáng tạo và hứng thú. Đó chính là bản sắc riêng của từng thầy cô giáo, tựu chung lại là giúp cho học sinh nắm kiến thức nhanh nhất, sâu sắc nhất, chủ động nhất. Bộ môn hóa học là bộ môn được coi là bộ môn khó đối với học sinh, nhưng nếu tạo cho học sinh hứng thú khi học bài trên lớp ...thì việc học môn hóa học lại trở nên nhẹ nhàng bằng cách cho học sinh nắm chắc các kiến thức cơ bản, sát với thực tế đời sống, sản xuất, đáp ứng được các yêu cầu cơ bản của nhu cầu lao động sản xuất và tiếp tục học lên cao của học sinh. Vì vậy người giáo viên đóng một vai trò cực kỳ quan trọng trong chất lượng giảng dạy nói chung, trong giảng dạy bộ môn hóa học nói riêng. Từ thực tế giảng dạy bộ môn hóa học trong những năm thay sách hóa học ở bậc học THCS tôi mạnh dạn trao đổi với đồng chí, đồng nghiệp một số kinh nghiệm nhằm nâng cao chất lượng học tập bộ môn hóa học trong trường THCS . Sáng kiến kinh nghiệm có tên: "Đổi mới phương pháp giảng dạy bộ môn hóa học nhằm nâng cao chất lượng học tập hóa học ở trường THCS". Kính mong có sự trao đổi, đóng góp ý kiến của đồng chí, đồng nghiệp để nâng cao chất lượng giảng dạy nói chung và chất lượng giảng dạy bộ môn hóa học nói riêng, tôi xin trân trọng cảm ơn! Phần II. Nội dung của sáng kiến kinh nghiệm 1. Cơ sở lý luận. Căn cứ vào mục tiêu giảng dạy bộ môn hóa học ở trường THCS theo chương trình SGK mới đó là: 1.1. Về kiến thức. * Học sinh có một hệ thống kiến thức phổ thông, cơ bản, ban đầu về hóa học bao gồm: + Hệ thống khái niệm hóa học cơ bản. + Các kiến thức cơ bản về một số hợp chất vô cơ, hữu cơ quan trọng. * Học sinh có được một số kiến thức cơ bản, kỹ thuật tổng hợp về nguyên liệu, sản phẩm, quá trình hóa học, thiết bị sản xuất hóa học và bảo vệ môi trường. 1.2. Về kỹ năng. * Học sinh có được một số kỹ năng phổ thông, cơ bản, thói quen làm việc khoa học đó là: + Kỹ năng cơ bản, tối thiểu làm việc với hóa chất, với dụng cụ thí nghiệm. + Biết cách làm việc khoa học, biết tổ chức hoạt động để chiếm lĩnh khoa học, kỹ thuật. Biết vận dụng kiến thức + Có kỹ năng giải các bài tập định tính, định lượng. 1.3. Về thái độ, tình cảm. + Giáo dục học sinh lòng say mê bộ môn hóa học. + Học sinh có niềm tin về sự tồn tại và sự biến đổi vật chất, đả phá sự mê tín dị đoan, thấy được sức mạnh của tri thức con người, đó chính là sức mạnh tiềm tàng của con người. + Học sinh có ý thức tuyên truyền, vận dụng những tiến bộ khoa học trong đời sống hàng ngày. + Học sinh có những phẩm chất, thái độ cần thiết trong cuộc sống. 2. Thực trạng của vấn đề. Trên cơ sở mục tiêu cụ thể của bộ môn hóa học cấp THCS đã xác định ở trên, kết hợp tình hình thực tế giảng dạy bộ môn hóa học cấp THCS trong giai đoạn cải cách chương trình và thay sách giáo khoa, cùng với thực tế giảng dạy ở cơ sở trường học, các điều kiện thiết yếu phục vụ công tác giảng dạy (Cơ sở vật chất, trang thiết bị, đồ dùng dạy học,...) và trình độ dân trí của địa phương trường đóng, đòi hỏi người giáo viên giảng dạy phải linh hoạt, sáng tạo, chủ động, kết phối hợp hài hòa giữa các nhóm phương pháp giảng dạy để hoàn thành bài giảng một cách hiệu quả nhất. 3. Các biện pháp đã thực hiện để giải quyết vấn đề. Tổ chức tiến hành phương pháp nghiên cứu trên cơ sở lý luận và thực tiễn, đặc biệt là trong quá trình thực tế giảng dạy bộ môn hóa học trong trường THCS những năm đổi mới chương trình và thay sách giáo khoa. Qua quá trình nghiên cứu SGK, tài liệu tham khảo, SGV, sách bồi dưỡng thường xuyên chu kỳ III, tạp chí giáo dục THCS,...tôi nhận thấy vấn đề đổi mới phương pháp dạy học nhằm đáp ứng nhu cầu người học, đáp ứng các kién thức của chương trình, vấn đề đổi mới phương pháp dạy học là một vấn đề cấp bách mang tính sống còn quyết định hiệu quả giảng dạy của giáo dục nói chung, của bộ môn hóa học nói riêng, đáp ứng quá trình hội nhập toàn diện của Việt Nam với nền kinh tế quốc tế, nhằm đẩy nhanh công cuộc xây dựng đất nước giàu đẹp sánh vai với các cường quốc năm châu. Một số biện pháp thực hiện như sau: 3.1. Định hướng đổi mới phương pháp dạy học bộ môn hóa học ở trường THCS. 3.1.1 Đổi mới hoạt động của giáo viên. Dạy học theo hướng tích cực hóa người học là quá trình giáo viên thiết kế tổ chức điều khiển các hoạt động của học sinh theo mục tiêu cụ thể. 3.1.2 Đổi mới hoạt động học tập của học sinh. Dạy học theo hướng tích cực là quá trình học sinh tự nhận thức, tự khám phá, tự tìm tòi các tri thức hóa học một cách chủ động, tích cực là quá trình tự phát hiện và giải quyết các vấn đề thông qua các hoạt động của học sinh. 3.1.3 Đổi mới các hình thức tổ chức dạy học. Khi đổi mới phương pháp dạy học, hình thức tổ chức lớp học cũng phải đa dạng hóa, phong phú hơn cho phù hợp với viẹc tìm tòi cá nhân, hoạt động nhóm và hoạt động toàn lớp. Sử dụng tổng hợp, linh hoạt các phương pháp dạy học theo đặc thù bộ môn với cách thức thiết kế tổ chức hoạt dộng dạy và học. Sử dụng một cách hợp lý, tổng hợp, các phương pháp dạy học truyền thống theo hướng tích cực. Kết hợp một số cách thức thiết kế, tổ chức hoạt động học tập của học sinh nhằm phát huy cao độ tính tích cực chủ động tự giác của học sinh trong học tập bộ môn. 3.1.4 Đổi mới đánh giá kết quả học tập của học sinh. * Chú ý đến mục tiêu cần đánh giá. * Chú ý đến nội dung đánh giá: Kỹ năng thực hành, kỹ năng nghiên cứu, kỹ năng tư duy, kỹ năng viết CTHH,... * Dùng đa dạng các phương pháp đánh giá khác nhau: Giáo viên đánh giá, học sinh tự đánh giá, học sinh đánh giá lẫn nhau,... * Dùng nhiều loại hình đánh giá: Bài tập tự luận, bài tập trắc nghiệm kết quả, bài tập lý thuyết định lượng, định tính, bài tập thực nghiệm, bài tập có kênh hình, kênh chữ, ... 3.2. Vận dụng cụ thể việc đổi mới phương pháp giảng dạy dạy học tích cực vào môn hóa học ở trường THCS. Sử dụng tốt các thí nghiệm hóa học để giảng dạy tích cực: + Đây là phương pháp đặc thù của bộ môn, một bộ môn khoa học thực nghiệm. Để giờ học thực sự có hiệu quả ta cần triệt để tận dụng các dụng cụ, hóa chất hiện có trong phòng thí nghiệm có thể thể hiện qua các cách sau: * Thí nghiệm để làm xuất hiện vấn đề. * Thí nghiệm để giải quyết vấn đề đặt ra: Thí nghiệm nghiên cứu, thí nghiệm đối chứng, thí nghiệm kiểm tra giả thuyết hay dự đoán,... * Thí nghiệm chứng minh một vấn đề đã được khẳng định. * Thí nghiệm thực hành: Củng cố lý thuyết, rèn luyện kỹ năng thực hành. * Thí nghiệm trong bài tập thực nghiệm: Giải các bài tập bằng phương pháp thực nghiệm hóa học. + Sử dụng thí nghiệm để dạy học tích cực có các mức độ khác nhau, song cần chú ý cho phù hợp thể hiện ở bốn mức độ khác nhau. 3.2.2. Sử dụng các phương tiện hiện có của nhà trường để dạy học tích cực nâng cao chất lượng giảng dạy. + Sử dụng mô hình hình vẽ, sơ đồ, như là nguồn kiến thức để học sinh khai thác thông tin mới. Các phương tiện này được sử dụng hầu hết trong các loại bài học. + Sử dụng máy chiếu, bản trong, giáo án điện tử,... được dùng một cách nhanh chóng hiệu quả, tiết kiệm thời gian đảm bảo tính trực quan sinh động. 3.2.3, Sử dụng bài tập hóa học để dạy học tích cực nâng cao chất lượng dạy học môn hóa học. 3.2.3.1. Vai trò của bài tập hóa học trong việc dạy hóa học và nâng cao chất lượng giảng dạy: 3.2.3.1.1 Các dạng bài tập hóa học. * Bài tập tự luận: ( Bài tập lý thuyết, bài tập thực hành). * Bài tập trắc nghiệm khách quan: ( Bài tập dạng câu điền khuyết, câu đúng sai, câu có/không, câu nhiều lựa chọn, câu cặp đôi). 3.2.3.1.2. Bài tập hóa học có vai trò to lớn trong việc giảng dạy, củng cố và nâng cao chất lượng dạy và học. * Bài tập hóa học như là nguồn kiến thức để học sinh tìm tòi, phát hiện kiến thức, rèn luyện kỹ năng. * Bài tập hóa học mô phỏng một số tình huống đời sống thực của con người. * Bài tập hóa học được nêu lên như tình huống có vấn đề. * Bài tập hóa học là một nhiệm vụ mà giáo viên, học sinh cần giải quyết. 3.2.3.1.3. Bài tập hóa học chính là một phương tiện giúp người giáo viên tích cực hóa hoạt động của học sinh, trong quá trình học tập và lĩnh hội kiến thức mới. * Hình thành kiến thức kỹ năng mới. * Vận dụng kiến thức lý thuyết vào giải bài tập. + Ví dụ 1. Hoàn thành PTPƯ sau: ? Cho biết các chất tạo ra sau PƯHH thuộc loại chất nào. ? Cho biết thành phần phân tử của H2SO4 ,H3PO4 ,H2CO3 có gì giống nhau. ? Nhóm nguyên tố SO4, PO4, CO3 được gọi là gốc axit. Vậy căn cứ vào hóa trị của ... độ tích cực gì ? +Các bài soạn thuộc mỗi dạng bài có thể có những mục tiêu chung, chỉ khác nhau ở đối tượng cụ thể. Bước 2. Chuẩn bị đồ dùng dạy học. Cần chuẩn bịo đủ, đúng các đồ dùng dạy học cần thiết, các hóa chất cụ thể, các phương tiện cần thiết phục vụ cho bài dạy một cách chu đáo. ( Cho từng cá nhân, cho từng nhóm,...). Bước 3. Xác định phương pháp dạy học chủ yếu. Cần xác định phương pháp dạy học đơn giản xong phải hiệu quả và phù hợp với đối tượng học sinh trên cơ sở mục tiêu cuả bài học. Phối kết hợp nhuần nhuyễn giữa các nhóm phương pháp dạy học với nhau một cách sáng tạo. Bước 4. Thiét kế các hoạt động của giáo viên và học sinh trên lớp. Có thể chia ra các hoạt động kế tiếp nhau. Mỗi hoạt động nhằm thực hiện một nhiệm vụ cụ thể hóa mục tiêu bài học. Trong các hoạt động đó có thể gồm các hoạt động cơ bản khác nhau để thực hiện mục tiêu đó. Các hoạt động này được sắp xếp hợp lý lôgic có dự kiên sthời gian cụ thể. Hoạt động của giáo viên và học sinh trong một tiết học được chia theo quá trình của tiết học, có thể phân chia thành: * Tiếp theo sau của hoạt động khởi động là hoạt động nhằm đạt được mục tiêu của bài học về kiến thức, kỹ năng bao gồm: Hoạt động để chiếm lĩnh kiến thức mới. Hoạt động củng cố. Hoạt động để hình thành kỹ năng. Cuối cùng là hạot động kết thúc tiết học, bao gồm: Hoạt động đánh giá. Ra bài tập về nhà và dặn dò chuẩn bị cho bài sau. Bước 5. Ra bài tập để học sinh tự đánh giá và vận dụng kiến thức. Câu hỏi và bài tập để học sinh tự đánh giá và vận dụng kiến thức sau mỗi tiết học cần đảm bảo một số yêu cầu sau: bám sát mục tiêu đề ra. Đảm bảo kiểm tra đánh giá được kiến thức kỹ năng cơ bản sau mỗi tiết học. Kiểm tra được nhiệu học sinh. Đảm bảo thời gian. Bước 6. Dặn dò, ra bài tập về nhà. Tóm lại: Để đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực đáp ứng yêu cầu đổi mới chương trình sách giáo khoa việc cần làm đầu tiên đó là vận dụng những hiểu biết về đổi mới phương pháp trong việc thiết kế kế hoạch bài giảng theo hướng đổi mới nhằm nâng cao chất lượng của giờ lên lớp. Thể hiện vai trò tổ chức các hoạt động còn học sinh là người thực hiện các hoạt động đó. 3.7. đổi mới phương pháp cách thức thiết kế bài học nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập bộ môn hóa học trong trường THCS. Ngoài việc đổi mới thiết kế bài dạy người giáo viên còn phải đổi mới công tác truyền đạt thông tin trong dạy học hoá học: Đó là truyền đạt thông tin thông qua kênh hình ( bằng các phương pháp trực quan); qua thực hành thí nghiệm; qua ngôn ngữ nói, viết. Cách truyền đạt thông tin có hiệu trong dạyhọc hóa học đó là phải áp dụng các phương pháp tích cực, giáo viên tổ chức cho học sinh hoạt động giành lấy kiến thức mới, linh hạot sử dụng phối các phương pháp dạy học khác nhau. Khi lập kế hoạch bài dạy và thực hiện kế hoạch đócần chú ý thực hiện đầy đủ các quan điểm trên. Phương pháp truyền đạt thông tin có hiệu quả trong dạy học hóa học. 3.7.1.1 áp dụng các phương pháp dạy học tích cực. 3.7.1.2 Học sinh được hcủ động hoạt động, đặc biệt là các hoạt động tư duy để tự chiếm lĩnh kiến thức mới. 3.7.1.3 Giáo viên là người tổ chức, điều khiển cho học sinh hoạt động chủ động giành láy kiến thức mới tùy theo tài liệu học tập tùy theo trình độ và kỹ năng của học sinh. 3.7.1.4Giáo viên cần áp dụng phối hợp và linh hoạt những hướng dẫn sử dụng các nhóm phương pháp dạy học như các phương pháp dạy học trực quan, thực hành, các phương pháp dùng lời. Lập kế hoạch bài học và tổ chức các hoạt động để rèn luyện cách truyền đạt thông tin có hiệu quả. 3.7.2.1 Xác định mục tiêu: + Người giáo viên trên cơ sở nội dung cần đạt được trong một tiết dạy cụ thể mà tiến hành cách thức tổ chức hoạt động truyền đạt thông tin một cách chủ động, tích cực nhằm giúp học sinh nắm bắt kiến thức một cách chủ động và hiệu quả nhất. 3.7.2.2 Tiến hành các hoạt động dạy học: + Khi lập kế hoạch bài dạy giáo viên nên chỉ rõ các hoạt động của học sinh, dự đoán các tình huống sảy ra khi giải quyết các vần đề nảy sinh để quá trình tổ chức truyền đạt thông tin được nhanh chóng, chính xác, hiệu quả,... 3.7.2.3 Dạy thử và tự đánh giá kết quả. + Để quá trình truyền đạt thông tin diễn ra một cách trôi chảy, đạt hiệu quả cao, trở thành kỹ năng kỹ sảo của người giáo viên thì người giáo viên cần chủ động dạy thử đồng thời tự đánh giá xêm trong giờ dạy của mình đã áp dụng các phương pháp tích cực hay chưa ? nếu có thì đã áp dụng phương pháp nào ?ở nội dung nào ? Học sinh đã chủ động tích cực chiếm lĩnh kiến thức mới hay chưa ? Giáo viên đã là người hướng dẫn tổ chức hay chưa ? Giáo viên đã phối hợp linh hoạt các phương pháp thực hành và các phương pháp dùng lời không ?Từ đó đúc rút kinh nghiệm làm tốt hơn công tác giảng dạy, nâng cao chất lượng dạy và học bộ môn hóa học THCS. 4. Hiệu quả của SKKN Trong quá trình giảng dạy bộ môn hóa học khối lớp 9 từ khi có chương trình đổi mới qua cá hình thức kiểm tra đánh giá kết quả : Kiểm tra miệng, 15 phút, 1 tiết và các bài khảo sát chất lượng. Tôi rút ra các kết quả và đánh giá như sau : 4.1.Kết quả : 4.1.1 Đối với phương pháp dạy học cũ : Tổng số HS Chưa hiểu bài Hiểu bài chưa kỹ Hiểu bài T S % T S % T S % 83 20 24,1 18 21,7 45 54,2 4.1.2 Đối với phương pháp dạy học mới : Tổng số HS Chưa hiểu bài Hiểu bài chưa kỹ Hiểu bài T S % T S % T S % 78 9 11,5 9 11,5 60 77 Đánh giá : Sau khi trực tiếp giảng dạy áp dụng đổi mới phương pháp dạy học bộ môn hóa học trung học cơ sở, tôi nhận thấy đã có sự chuyển biến tích cực trong chất lượng dạy học, trong các hoạt động của Thầy, hoạt động của trò, sự nhận thức về dạy, học có nhiều chuyển biến đặc biệt là phía người họ, người học chủ động tích cực hơn trong việc lĩnh hội kiến thức, trong đó kiến thức thực tế, thực nghiệm được học sinh tiếp nhận một cách hứng thú.Chất lượng học sinh được nâng lên rõ rệt : Cả về đại trà, cả về mũi nhọn,... Phần III : Kết luận và kiến nghị 1. Kết luận Để thực hiện tốt việc đổi mới phương pháp dạy học hóa học THCS nhằm nâng cao chất lượng dạy và học bộ môn, đòi hỏi người GV trước hết phải nắm vững các kién thức cơ bản, phổ thông, các kién thức về đổi mới về chương trình, về phương pháp dạy học đồng thời cấp bách cần có kỹ năng sử dụng dụng cụ đồ dùng dạy học một cách hiệu quả nhằm phát huy tính chủ động sáng tạo, tích cực tìm tòi chiếm lĩnh lĩnh hội các kiến thức phổ thông thực nghiệm nhằm phát huy khả năng tư duy khả năng độc lập sáng tạo trong mọi hành động. Bên cạnh đó GV cần khai thác triệt để nội dung SGK, các tài liệu tham khảo, tài liệu bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, ...để học sinh thông qua thực hiện các thí nghiệm trong từng bài học để tạo hứng thú học tập, chủ động tiếp thu kiến thức, tìm hiểu kiến thức từ đó nắm chắc kiến thức cơ bản phổ thông, các kiến thức trong thực tế, qua đó tôi rút ra các bài học sau đây : - Để dạy và học bộ môn hóa học đạt hiệu quả trước hết cần có đầy đủ trang thiết bị cho dạy và học như : Phòng học bộ môn đật tiêu chuẩn, cán bộ chuyên trách phòng thiết bị được đào tạo bài bản ( không kiêm nhiệm), các trang thiết bị hiện đại ...Các dụng cụ hóa chất đầy đủ, chất lượng tốt. - Giáo viên có tâm huyết với nghề, với bộ môn, không ngại khó ngại khổ, khắc phục khó khăn để thực hiện đầy đủ các thí nghiệm theo yêu cầu tối thiểu, giáo viên phải chuẩn bị chu đáo, các thao tác thành thạo thông qua việc làm thử, dạy thử, ca cs thao tác của giáo viên thực hiện đảm bảo chuẩn xác, sư phạm, mẫu mực đảm bảo an toàn và hiệu quả. - Giáo viên cần xây dựng các nhóm học sinh hoạt động có nèn nếp, hiệu quả làm sao phát huy tối đa tính chủ động sáng tạo của từng học sinh khi tham gia xây dựng bài. Kiến nghị. Sự nghiệp giáo dục là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân của mọi lực lượng giáo dục, trong bối cảnh đất nước hội nhập với nền kinh tế thế giới một nền kinh tế tri thức đòi hỏi ngành giáo dục cần tiếp tục đổi mới về mọi mặt Vì vậy tôi xin mạnh dạn có một số ý kiến đề xuất như sau : - Tiếp tục tuyên truyền vận động đồng thời có những biện pháp quyết liệt hơn trong chỉ đạo nhằm làm thay đổi nếp nghĩ trong từng suy nghĩ của cán bộ giáo viên tại từng cơ sở giáo dục, kiên quyết chống bệnh thành tích và tiêu cực trong các hoạt động giáo dục. - Đầu tư thỏa đáng cho giáo dục : Ngân sách, con người, cơ sở vật chất, trang thiết bị hiên đại, cập nhật.... - Tiếp tục đầu tư thêm các tài liệu dành cho bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ sách giáo khoa, sách tham khảo, bổ xung thiét bị dạy học còn thiếu, còn kém chất lượng,... - Các cơ sở giáo dục làm tốt công tác xã hội hóa giáo dục huy động tôí đa các nguồn lực đầu tư cho cơ sở vật chất trang thiết bị của nhà trường đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của xã hội, thúc đẩy sự nghiệp giáo dục ngày càng phát triển sánh vai các nước trong khu vực nhằm xây dựng đất nước giàu đẹp, văn minh theo di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại ./. Kim Thượng, ngày 07 tháng 5 năm 2011 Người viết SKKN Đinh Văn Quỳnh TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Nguyễn Cương -THCSLê Xuân Trọng-Đỗ Tất Hiển-Nguyễn Phú Tuấn, Phương pháp giảng dạy bộ môn hóa học, 5. Nguyễn Hải Châu, Những vấn đề chung về đổi mới giáo dục THCS MỤC LỤC Nội dung trang Phần I Lý do chọn đề tài Lý do khách quan Lý do chủ quan 2 2 2 Phần II. Nội dung của sáng kiến kinh nghiệm Cơ sở lý luận. 1.1. Về kiến thức. 1.2. Về kỹ năng. 1.3. Về thái độ, tình cảm. Thực trạng của vấn đề Các biện pháp mới đã thực hiện để giải quyết vấn đề 3.1. Định hướng đổi mới phương pháp dạy học bộ môn hóa học ở trường THCS. 3.2. Vận dụng cụ thể việc đổi mới phương pháp giảng dạy dạy học tích cực vào môn hóa học ở trường THCS. 3.3. Sử dụng phương pháp học tập hợp tác theo nhóm nhỏ để nâng cao chất lượng dạy học môn hóa học trong trường THCS. 3.4. Sử dụng phương pháp nêu và giải quyết vấn đề nhằm tích cực hóa người học, nâng cao chất lượng dạy và học môn hóa học: 3.5. Sử dụng phương pháp dạy học vấn đáp tìm tòi nhằm tích cực hóa hoạt động học nhằm nâng cao chất lượng dạy học hóa học trong trường THCS. 3.6. Sử dụng phương pháp dạy học đặt vấn đề và giải quyết vấn đề trong nâng cao chất lượng dạy học hóa ở trường THCS. 3.7. đổi mới phương pháp cách thức thiết kế bài học nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập bộ môn hóa học trong trường THCS. Hiệu quả của SKKN 4.1.Kết quả : Đánh giá : 4 4 4 4 4 5 5 5 6 9 14 15 18 24 26 26 26 Phần III. Kết luận và kiến nghị Kết luận Kiến nghị 27 27 28 Tài liệu tham khảo 29 30

Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Cho Học Sinh Yếu Kém Môn Hóa Học!

Biện Pháp Quản Lý, Chỉ Đạo Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học

Chuyên Đề : Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Lớp

Đề Tài Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Phân Môn Tập Đọc Lớp 5

Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Lý Thuyết Văn Miêu Tả Cho Học Sinh Lớp 4

🌟 Home
🌟 Top