Biện Pháp Mở Rộng Rừng Đặc Dụng Ở Nước Ta Là / Top 7 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 2/2023 # Top View | Phauthuatthankinh.edu.vn

Trình Bày Ý Nghĩa Và Biện Pháp Bảo Vệ Rừng Ở Nước Ta?

+ Rừng cho gỗ quý, dược liệu, thú, khoáng sản,…

+ Rừng thu hút khách du lịch sinh thái.

+ Rừng đã cùng con người đánh giặc

+ Rừng đã cung cấp thảo dược phục vụ cho y học. Các loài cây quí có thể trị các loại bệnh nan y, được những thầy thuốc đông y, tìm tòi nghiên cứu để chế biến theo phương pháp gia truyền.

+ Rừng là sinh sống, trú ngụ của muôn loài thực vật, trong đó có những loài vô cùng quý hiếm. Khi ngôi nhà chung này không được bảo vệ, thú rừng chẳng còn nơi sinh sống tràn xuống thành thị gây ra biết bao tai họa.

+ Rừng chính là môi trường sống, là lá phổi xanh của con người. Các quá trình quang hợp của cây, cây hít khí cacbonic và nhả khí oxi ra ngoài một thứ rất cần thiết cho cuộc sống của con người.

+ Rừng giúp cho việc điều hòa khí hậu, là lá chắn vững vàng nhất cho mọi biến động thiên tai. Rừng ngăn nước lũ, chống xói mòn, điều hòa khí hậu. Hầu như mọi hiện tượng bất thường của khí hậu đều có nguồn gốc từ việc con người không bảo vệ rừng. Ở Việt Nam chúng ta, suốt từ Bắc chí Nam, lũ lụt, hạn hán xảy ra liên miên trong nhiều năm qua là bởi rừng đã bị con người khai thác, chặt phá không thương tiếc.

– Các biện pháp bảo vệ rừng ở nước ta:

+Xây dựng các chương trình về thông tin – giáo dục – truyền thông, phổ biến kiến thức về pháp luật bảo vệ và phát triển rừng nhằm nâng cao nhận thức về bảo vệ rừng của các chủ rừng, chính quyền các cấp, các ngành và toàn xã hội.

+ Đổi mới phương pháp tuyên truyền phù hợp với từng đối tượng tiếp nhận thông tin, nhất là đối với đồng bào dân tộc sống ở vùng sâu, vùng xa. Đưa kiến thức cơ bản về bảo vệ tài nguyên rừng vào chương trình giảng dạy ở cấp tiểu học và trung học. In ấn, phát hành các tài liệu tuyên truyền để phân phát cho các cộng đồng, xây dựng các bảng tuyên truyền ở những khu vực công cộng, trên giao lộ, cửa rừng…

+ Vận động các hộ gia đình sống trong và gần rừng ký cam kết bảo vệ rừng; xây dựng và thực hiện các quy ước bảo vệ rừng ở cấp xã.

+ Đối với rừng phòng hộ: có kế hoạch, biện pháp bảo vệ, nuôi dưỡng rừng hiện có, trồng rừng trên đất trống, đồi núi trọc.

+ Đối với rừng đặc dụng: bảo vệ cảnh quan, đa dạng sinh học của các vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên.

+ Đối với rừng sản xuất: Phát triển diện tích và chất lượng rừng, độ phì và chất lượng đất rừng.

+Nhà nước có chính sách giao đất giao rừng cho người dân và thực hiện chiến lược trồng 5 triệu ha rừng đến năm 2010.

Việt Nam Và Các Nước Nói Tiếng Pháp Ở Châu Phi Mở Rộng Hợp Tác

Thứ trưởng Bộ Công Thương Cao Quốc Hưng phát biểu tại Hội thảo. (Nguồn: tapchicongthuong.vn)

Vụ Thị trường châu Á – châu Phi thuộc Bộ Công Thương Việt Nam vừa phối hợp với Tổ chức Quốc tế Pháp ngữ (OIF) và một số Thương vụ Việt Nam tại châu Phi tổ chức hội thảo trực tuyến “Tiềm năng và triển vọng phát triển hợp tác kinh tế, thương mại giữa Việt Nam và các nước Pháp ngữ tại châu Phi.”

Trong bối cảnh kinh tế, thương mại toàn cầu chịu tác động nghiêm trọng của đại dịch COVID-19, hội thảo đã giành được sự quan tâm tham dự của khoảng hàng trăm cơ quan, doanh nghiệp, hiệp hội phía Việt Nam và các nước châu Phi là thành viên của OIF.

Trao đổi với phóng viên TTXVN tại châu Phi nhân dịp này, ông Hoàng Đức Nhuận – Tham tán Thương mại Việt Nam tại Algeria kiêm nhiệm Gambia, Mali, Niger và Senegal – đã nhấn mạnh về tiềm năng hợp tác của Việt Nam với thị trường rộng lớn này.

Tham tán Hoàng Đức Nhuận cho biết các nước châu Phi nói tiếng Pháp là khu vực thị trường rộng lớn với 32 quốc gia với tổng dân số hơn 570 triệu người và được dự báo là một trong những trung tâm phát triển kinh tế mới của thế giới. Do đó, cơ hội kinh doanh tại khu vực đối với doanh nghiệp Việt Nam là rất lớn.

Từ năm 2008, hưởng ứng sáng kiến của OIF và Trung tâm Thương mại Quốc tế (ITC), nhằm thực hiện Chương trình Hành động Siem Reap về đẩy mạnh trao đổi thương mại giữa ba khu vực, gồm các nước nói tiếng Pháp có sông Mekong chảy qua (Việt Nam, Lào, Campuchia), Liên minh Kinh tế và Tiền tệ Tây Phi (UEMOA) và Cộng đồng Kinh tế và Tiền tệ Trung Phi (CEMAC), các cơ quan, tổ chức của Việt Nam như Bộ Công Thương, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), Hiệp hội Dệt may, các doanh nghiệp của Việt Nam và của các nước khu vực Tây và Trung Phi nói tiếng Pháp đã tích cực phối hợp và tham gia nhiều hoạt động do ITC và OIF tổ chức như khảo sát thị trường, các cuộc đối thoại giữa bên mua/bên bán về gạo, gỗ, dệt may, hàng công nghiệp, nông sản, thủy sản, các hội thảo hợp tác ngân hàng giữa Việt Nam và các nước châu Phi tiếng Pháp…

Số liệu của Bộ Công Thương cho thấy trong năm 2019, kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam sang 32 thị trường thành viên của OIF tại châu Phi đạt 1,7 tỷ USD, tăng 6,3% và nhập khẩu đạt 2,8 tỷ USD, tăng 12% so với cùng kỳ năm 2018.

Trong khi đó, thống kê của Tổng cục Hải quan Việt Nam cho thấy trong giai đoạn 2015-2019, tổng kim ngạch thương mại hai chiều Việt Nam và 32 nước Pháp ngữ tại châu Phi đã tăng từ 2,7 tỷ USD vào năm 2015 lên 4,5 tỷ USD vào năm 2019, chiếm tỷ trọng 88% trong tổng kim ngạch thương mại giữa Việt Nam với châu Phi, với mức tăng trưởng trung bình cả giai đoạn đạt 13,6%/năm.

Giá trị xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và các nước Pháp ngữ tại châu Phi chiếm khoảng 1,1% trao đổi ngoại thương của khối này với thế giới. Trong đó, trao đổi thương mại của Việt Nam với các nước này tập trung chủ yếu vào 10 đối tác lớn nhất bao gồm Côte d’Ivoire, Ghana, Ai Cập, Cộng hòa Congo, Cameroon, Maroc, Cộng hòa Dân chủ Congo, Togo, Mozambique, Benin.

Tham tán Thương mại Hoàng Đức Nhuận phát biểu tại một chương trình xúc tiến thương mại. (Ảnh: Tấn Đạt/TTXVN)

Về cơ cấu hàng hóa trao đổi, mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam sang các nước Pháp ngữ tại châu Phi là gạo.

Giá trị xuất khẩu gạo của Việt Nam tăng dần trong những năm gần đây và đạt 589,4 triệu USD trong năm 2019, chiếm 14,9% thị phần gạo nhập khẩu của các nước Pháp ngữ tại châu Phi và chiếm 21% tổng kim ngạch xuất khẩu gạo của Việt Nam ra thế giới.

Ngoài gạo, các mặt hàng xuất khẩu chính của Việt Nam sang khu vực này còn có điện thoại di động và linh kiện, máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện, xe máy và linh kiện phụ tùng xe máy…

Ở chiều ngược lại, các nước Pháp ngữ tại châu Phi là những thị trường cung cấp nhiều nguồn nguyên liệu đầu vào quan trọng phục vụ các ngành sản xuất trong nước của Việt Nam như điều thô, bông, đồng, gỗ và sản phẩm gỗ.

Kim ngạch nhập khẩu của các mặt hàng nói trên chiếm tỷ trọng khoảng 80-90% tổng giá trị nhập khẩu của Việt Nam từ các nước Pháp ngữ tại châu Phi. Đánh giá cơ cấu hàng hóa xuất nhập khẩu giữa hai bên về cơ bản mang tính chất bổ sung lẫn nhau.

Tại cuộc hội thảo nói trên, đại diện các tổ chức, doanh nghiệp châu Phi đánh giá cao vai trò và vị trí của Việt Nam tại khu vực Đông Nam Á; đồng thời khẳng định mong muốn hai bên tăng cường hơn nữa quan hệ hợp tác kinh tế, thương mại, đầu tư song phương.

Đặc biệt, phía châu Phi đánh giá cao những nỗ lực từ Chính phủ Việt Nam trong việc kiểm soát hiệu quả dịch COVID-19 và các giải pháp khôi phục nền kinh tế trong thời kỳ hậu dịch bệnh.

Để sớm phục hồi các hoạt động thương mại song phương sau những ảnh hưởng từ đại dịch COVID-19, đặc biệt là thúc đẩy mạnh mẽ hơn các hợp tác đầu tư, phát triển thị trường hai chiều, nhiều doanh nghiệp Việt Nam và châu Phi tại hội thảo đặc biệt quan tâm đến phương thức tiếp cận thị trường, nhu cầu sản phẩm, phương thức thanh toán và các kinh nghiệm phòng tránh rủi ro trong quá trình hợp tác kinh doanh giữa doanh nghiệp hai bên.

Theo ông Chékou Oussouman, Trưởng đại diện Văn phòng khu vực châu Á – Thái Bình Dương của OIF tại Hà Nội, Việt Nam được xem là cửa ngõ để mở ra thị trường Đông Nam Á đối với các doanh nghiệp châu Phi.

Tương tự, các nước châu Phi cũng có thể trở thành điểm đến hấp dẫn của các doanh nghiệp châu Á nhờ Việt Nam.

Châu Phi và châu Á có nhiều cơ hội với nhiều điểm tương đồng như dân số trẻ, tài nguyên thiên nhiên và văn hóa đa dạng, kinh tế bổ trợ.

Đặc biệt, năm 2020, Việt Nam là Chủ tịch Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) và cộng đồng Pháp ngữ đang là đối tác đối với sự phát triển của ASEAN, vì vậy cơ hội hợp tác kinh tế, thương mại hai chiều giữa Việt Nam và các nước Pháp ngữ tại châu Phi đang rất rộng mở.

Phát biểu tại hội thảo, Thứ trưởng Bộ Công Thương Cao Quốc Hưng khẳng định Việt Nam luôn coi trọng quan hệ hợp tác với Cộng đồng Pháp ngữ và sẽ tiếp tục đóng góp vào những nỗ lực chung vì một Cộng đồng Pháp ngữ ngày càng đoàn kết và vững mạnh hơn.

Nhiều nước Pháp ngữ tại châu Phi đang tiếp tục thực hiện các chính sách cải cách kinh tế, phát triển cơ sở hạ tầng, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, tăng cường hội nhập kinh tế với khu vực và thế giới.

Quá trình đô thị hóa tại nhiều nước châu Phi đang diễn ra với tốc độ nhanh. Cộng đồng dân cư có thu nhập cao và thu nhập trung bình tiếp tục gia tăng, đồng thời kinh tế nhiều nước châu Phi có sự tăng trưởng tích cực trong những năm gần đây.

Nhiều tổ chức quốc tế dự báo châu Phi sẽ là một trong những trung tâm phát triển kinh tế mới của thế giới. Theo đó, châu Phi đang đặt ra nhiều cơ hội hợp tác thương mại, đầu tư cho các doanh nghiệp Việt Nam.

Ở chiều ngược lại, là nền kinh tế phát triển năng động hàng đầu của khu vực Đông Nam Á và được kết nối với nhiều thị trường rộng lớn hơn thông qua các hiệp định thương mại tự do, Việt Nam là đối tác quan trọng của nhiều nước châu Phi tại khu vực châu Á – Thái Bình Dương.

Việt Nam sẵn sàng làm cầu nối giữa các nước châu Phi thuộc khối Pháp ngữ và khu vực châu Á – Thái Bình Dương trong thực hiện Chiến lược Phát triển kinh tế Pháp ngữ.

Theo Tham tán Thương mại Hoàng Đức Nhuận, châu Phi nói chung và các nước nói tiếng Pháp trong khu vực này nói riêng vẫn còn nhiều dư địa cho hàng hóa của Việt Nam.

Bên cạnh thương mại thông thường, lục địa này hiện đang nổi lên như một điểm đầu tư tiềm năng trên thế giới.

Theo một nghiên cứu của Văn phòng tư vấn Ernst & Young, niềm tin từ các nhà đầu tư nước ngoài vào các nền kinh tế châu Phi đã cho phép thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Lục địa Đen tăng mạnh trong 10 năm qua.

Một số tập đoàn nhà nước và doanh nghiệp tư nhân Việt Nam đã đầu tư tại châu Phi trong các lĩnh vực như khai thác dầu khí, viễn thông, thủy điện, chế biến gỗ… và đã thu được những kết quả tích cực./.

Nadal Gặp Djokovic Ở Chung Kết Pháp Mở Rộng 2022

(Thethaovanhoa.vn) – Trận Chung kết Roland Garros 2020 (Pháp mở rộng) ở nội dung đơn nam đã được xác định, đó là cuộc đối đầu giữa hai tay vợt được mong đợi nhất, Novak Djokovic và Rafael Nadal.

Tay vợt nữ hạng 44 thế giới, Kristina Mladenovic đã kêu gọi đưa VAR vào trong tennis sau khi đối thủ của cô nhận được điểm số nhờ phán quyết sai lầm của trọng tài tại vòng 1 giải Pháp mở rộng 2020.

Rafael Naval, hạt giống số 2 của giải, đã giành vé vào Chung kết sau khi anh đánh bại Diego Schwartzman (Argentina) với các tỉ số 6-3, 6-3, 7-6 (7-0). Trong khi đó, Nole đã vượt qua hạt giống số 5 của giải, Stefanos Tsitsipas (Hy Lạp) với các tỉ số 6-3, 6-2, 5-7, 4-6, 6-1.

Đây là lần thứ 56 Nadal đối đầu Nole. Trước đó, Djokovic đã 29 lần giành chiến thắng khi đối mặt Nadal.

Nadal đối mặt Djokovic ở Chung kết Pháp mở rộng 2020

Thành tích đối đầu ở các trận Chung kết của Nole cũng nhỉnh hơn tay vợt người Tây Ban Nha với 15 lần chiến thắng trong 26 lần đối đầu.

Nếu Nadal giành chiến thắng ở trận đấu tới, anh sẽ cân bằng kỷ lục đoạt 20 Grand Slam của Roger Federer.

Trong khi đó, Djokovic đang hướng tới Grand Slam thứ 18 trong sự nghiệp của mình. Ngoài ra, Nole cũng hướng tới kỷ lục là tay vợt đầu tiên trong kỷ nguyên mở rộng (open era) giành được 4 Grand Slam ít nhất 2 lần. Cho tới nay, Nole mới có 1 lần đăng quang ở Roland Garros (2016). Trong khi đó, Nadal đã 12 lần vô địch ở giải đấu này.

Nadal vs Djokovic là trận chung kết trong mơ

Nadal chưa bao giờ thua ở Bán kết hoặc Chung kết Roland Garros. Tuy nhiên anh đã 2 lần nhận thất bại giải đấu này và 1 trong số đó là trận thua trước Nole tại Tứ kết cách đây 5 năm.

Trận Chung kết đơn nam ở Roland Garros 2020 sẽ diễn ra vào hôm Chủ Nhật tới.

Mở Rộng Tín Dụng Góp Phần Tăng Trưởng Kinh Tế

Lượt xem: 974

Mở rộng tín dụng góp phần tăng trưởng kinh tế

5 tháng đầu năm, tăng trưởng tín dụng của các ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng trên địa bàn đạt 3,3% so với đầu năm, chất lượng tín dụng được đảm bảo, chiếm 1,3% tổng dư nợ.

Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh đã tập trung thực hiện tốt các giải pháp điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, hiệu quả trên địa bàn tỉnh nhằm góp phần kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế ở mức hợp lý. Bên cạnh đó, đảm bảo thanh khoản của các tổ chức tín dụng, ổn định thị trường tiền tệ, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp, hợp tác xã và hộ gia đình tiếp cận nguồn vốn tín dụng phục vụ sản xuất, kinh doanh.

Theo chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước tỉnh, các ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng trên địa bàn thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, các văn bản chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước, của tỉnh về các giải pháp phát triển kinh tế- xã hội và các chính sách tiền tệ năm 2018. 

Qua đó, 5 tháng đầu năm, nguồn vốn huy động trên địa bàn đã đạt 37.913 tỷ đồng, tăng 5,4% so với đầu năm và đáp ứng 58% tổng dư nợ cho vay. Dư nợ cho vay của các ngân hàng, tổ chức tín dụng đạt 65.063 tỷ đồng, tăng 3,3% so với đầu năm với mức lãi suất cho vay dưới 7% chiếm 12,3%; lãi suất từ 7-9% chiếm 24,7%; lãi suất 9-11% chiếm 51,3%; lãi suất trên 11% chiếm 11,7%.

Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh cũng yêu cầu các tổ chức tín dụng thực hiện các giải pháp mở rộng tín dụng để hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, tăng trưởng tín dụng đi đôi với kiểm soát chất lượng tín dụng, nhất là đối với lĩnh vực sản xuất, lĩnh vực ưu tiên như nông nghiệp, nông thôn, du lịch, xuất khẩu, công nghiệp hỗ trợ…Đồng thời, thực hiện các biện pháp kiểm soát tăng trưởng tín dụng, góp phần hỗ trợ phát triển kinh tế-xã hội địa phương.

 Theo đó, dư nợ cho vay phát triển nông nghiệp, nông thôn của các ngân hàng, tổ chức tín dụng 5 tháng đầu năm đã đạt 15.300 tỷ đồng, tăng 3,9% so với đầu năm, chiếm 24,3%/tổng dư nợ các chi nhánh ngân hàng thương mại; dư nợ cho vay xây dựng nông thôn mới đạt trên 15.000 tỷ đồng, tăng 6,7% so với đầu năm; dư nợ cho vay xuất khẩu đạt 974 tỷ đồng, chiếm 1,5%/tổng dư nợ; dư nợ cho vay hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ đạt trên 14 nghìn tỷ đồng, chiếm 21,5%/tổng dư nợ; dư nợ cho vay công nghiệp hỗ trợ ước đạt 288 tỷ đồng, chiếm 0,4%/tổng dư nợ; dư nợ cho vay các dự án kinh tế lớn của tỉnh đạt trên 2.000 tỷ đồng, giảm 12,6% so với đầu năm, chiếm 3,2% tổng dư nợ.

Cùng với việc mở rộng tín dụng, thường xuyên rà soát, đánh giá việc cho vay các lĩnh vực tiềm ẩn nhiều rủi ro như tín dụng đối với lĩnh vực bất động sản, cho vay có đảm bảo bằng bất động sản, tín dụng đối với nhóm khách hàng lớn để đưa ra chỉ tiêu quản lý phù hợp, đảm bảo an toàn, hiệu quả trong hoạt động. 

Đến hết tháng 5, tổng nợ xấu của các ngân hàng và tổ chức tín dụng trên địa bàn là 3.758 tỷ đồng, trong đó nợ xấu của các Ngân hàng thương mại, ngân hàng HTX, Quỹ tín dụng nhân dân, ngân hàng chính sách xã hội là 837 tỷ đồng, chiếm 1,3%/tổng dư nợ. Tổng dư nợ được các ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng trên địa bàn cơ cấu lại cho khách hàng là 617 tỷ đồng, tổng số nợ được xử lý rủi ro là 785 tỷ đồng.

Bên cạnh đó, các tổ chức tín dụng cũng phối hợp với Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh làm việc trực tiếp với khách hàng, tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng tiếp cận vốn tín dụng theo đúng quy định của pháp luật; có chính sách cho vay với lãi suất hợp lý kết hợp triển khai có hiệu quả các giải pháp, góp phần cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp.

Để hoàn thành kế hoạch tăng trưởng tín dụng đảm bảo chất lượng, góp phần tăng trưởng kinh tế trong năm 2018 và những năm tiếp theo, ngân hàng nhà nước tỉnh đã chỉ đạo các ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng trên địa bàn thực hiện đồng bộ, có hiệu quả các giải pháp huy động vốn, chủ động cân đối giữa nguồn vốn và sử dụng vốn để đảm bảo thanh khoản, đáp ứng kịp thời nhu cầu tín dụng và các nhu cầu thanh toán.

 Thực hiện các giải pháp mở rộng tín dụng có hiệu quả để hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. Kiểm soát tốc độ tăng trưởng tín dụng phù hợp với chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng định hướng và các biện pháp kiểm soát tín dụng theo chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, tổ chức tín dụng cấp trên. 

Đáp ứng nhu cầu vốn hợp lý cho phát triển kinh tế. Ưu tiên tập trung vốn vào các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, nhất là các lĩnh vực ưu tiên như nông nghiệp, nông thôn, sản xuất hàng xuất khẩu, công nghiệp hỗ trợ, doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao… sử dụng nhiều lao động. 

Tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng tiếp cận nguồn vốn tín dụng ngân hàng, góp phần hỗ trợ doanh nghiệp và người dân duy trì, phát triển sản xuất, kinh doanh. 

Tăng cường công tác quản lý, kiểm tra, kiểm soát nhằm hạn chế nợ xấu, hỗ trợ tư vấn cho khách hàng trước, trong và sau khi cho vay hạn chế rủi ro các khoản vay, tiết kiệm chi phí để có điều kiện giảm lãi suất cho vay nhằm chia sẻ khó khăn với khách hàng vay, hạn chế mức thấp nhất tổn thất cho khách hàng và bảo toàn nguồn vốn.

Theo Baoninhbinh.org.vn