Biện Pháp Kiềm Chế Lạm Phát / Top 10 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 4/2023 # Top View | Phauthuatthankinh.edu.vn

Các Biện Pháp Kiềm Chế Lạm Phát

Những tác động của lạm phát đối với việc phân phối lại thu nhập, sản lượng, sự phân bổ nguồn lực và hiệu quả kinh tế thường xảy ra đối với loại lạm phát cao và không dự đoán trước được. học kế toán tổng hợp ở đâu tốt

Mặc dù những ảnh hưởng của loại lạm phát này là hiển nhiên, các nhà hoạch định chính sách vẫn phải đặt câu hỏi: nên làm cho nền kinh tế thích ứng với lạm phát hay cố gắng thủ tiêu lạm phát bằng các biện pháp cứng rắn.

Câu trả lời thực sự không dễ dàng, nó tuỳ vào thực trạng của nền kinh tế, mức độ lạm phát và sự nhạy cảm của các biến số kinh tế vĩ mô đối với sự thay đổi của 1% lạm phát.

Về mặt ngắn hạn, theo quy luật Okun được rút ra từ sự khảo sát nền kinh tế Mỹ vào thập kỷ 70, cứ 1% giảm lạm phát sẽ kéo theo 2% tăng lên của tỷ lệ thất nghiệp so với tỷ lệ tự nhiên và 4% giảm đi của GDP thực tế so với GDP tiềm năng. Tỷ lệ “hy sinh” này khác nhau tuỳ vào thực trạng kinh tế của từng nước

Về mặt dài hạn, việc kiềm chế lạm phát, giữ giá trị tiền tệ ổn định sẽ tạo điều kiện tăng sản lượng thực tế và giảm thất nghiệp. Vì thế duy trì sự ổn định tiền tệ là mục tiêu dài hạn của bất kỳ nền kinh tế nào. Nhưng trong từng thời kỳ việc lựa chọn các giải pháp kiềm chế lạm phát cũng như liều lượng tác động của nó phải phù hợp với yêu cầu tăng trưởng và các áp lực xã hội mà nền kinh tế phải gánh chịu. Chính phủ các nước có thể chọn chiến lược giảm lạm phát từ từ, ít gây biến động cho nền kinh tế hoặc chiến lược giảm tỷ lệ lạm phát nhanh chóng tạo nên sự giảm mạnh về sản lượng trong quá trình điều chỉnh.

Việc đưa ra các giải pháp chống lạm phát thường xuất phát từ sự phân tích đúng đắn nguyên nhân gây nên lạm phát bao gồm những nguyên nhân sâu xa và nguyên nhân trực tiếp. học kế toán ở đâu tốt nhất

Nguyên nhân trực tiếp của bất kỳ cuộc lạm phát nào cũng xuất phát từ các lý do đẩy tổng cầu tăng quá mức hoặc làm tăng chi phí sản xuất khiến tổng cung giảm. Tuy nhiên nguồn gốc phát sinh các lý do làm dịch chuyển đường tổng cầu và đường tổng cung lại rất khác nhau ở các cuộc lạm phát khác nhau: có thể là do cơ chế quản lý kinh tế không phù hợp, nền kinh tế thiếu tính cạnh tranh và do đó không hiệu quả, cơ cấu kinh tế mất cân đối, các năng lực sản xuất không được khai thác, trình độ lao động và công nghệ lạc hậu…

Để giải quyết những nguyên nhân sâu xa này cần phải có thời gian và đi kèm với các cuộc cải cách lớn. Thông thường để tác động vào các nguyên nhân trực tiếp của lạm phát và kiềm chế lạm phát ở tỷ lệ mong muốn, chính phủ các nước sử dụng một hệ thống các giải pháp nhằm làm giảm sự gia tăng của tổng cầu hoặc khắc phục các nguyên nhân làm gia tăng chi phí.

2.1. Nhóm giải pháp tác động vào tổng cầu

Các giải pháp này nhằm hạn chế sự gia tăng quá mức của tổng cầu.

Trước hết là thực hiện một CSTT thắt chặt do nguyên nhân cơ bản của lạm phát cầu kéo là sự gia tăng của khối lượng tiền cung ứng. Sự hạn chế cung ứng tiền sẽ có hiệu quả ngay đến sự giảm sút của nhu cầu có khả năng thanh toán của xã hội. nên học kế toán ở đâu tốt tại hà nội

Một CSTT thắt chặt được bắt đầu bằng việc kiểm soát và hạn chế cung ứng tiền cơ sở (MB), từ đó mà hạn chế khả năng mở rộng tín dụng của hệ thống ngân hàng trung gian. Lãi suất ngân hàng và lãi suất thị trường tăng lên sau đó sẽ làm hạn chế nhu cầu tiêu dùng và đầu tư, làm giảm áp lực đối với hàng hoá và dịch vụ cung ứng. Cùng với việc thực thi CSTT thắt chặt là sự kiểm soát gắt gao chất lượng tín dụng cung ứng nhằm hạn chế khối lượng tín dụng, đồng thời đảm bảo hiệu quả của kênh cung ứng tiền cũng như chất lượng của việc sử dụng tiền tệ.

Kiểm soát chi tiêu của ngân sách nhà nước từ trung ương đến địa phương nhằm đảm bảo tiết kiệm và hiệu quả trong chi tiêu ngân sách: rà soát lại cơ cấu chi tiêu, cắt giảm các khoản đầu tư không có tính khả thi và các khoản chi phúc lợi vượt quá khả năng của nền kinh tế, cải tiến lại bộ máy quản lý nhà nước vốn cồng kềnh, không hiệu quả, gây lãng phí ngân sách. Khai thác các nguồn thu, đặc biệt là thu thuế nhằm giảm mức bội chi, cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước … Và cuối cùng là hạn chế phát hành tiền để bù đắp thiếu hụt ngân sách.

Thực hiện chính sách khuyến khích tiết kiệm, giảm tiêu dùng. Lãi suất danh nghĩa được đưa lên cao hơn tỷ lệ lạm phát để hấp dẫn người gửi tiền. Biện pháp này thường được sử dụng trong trường hợp lạm phát cao và có tác động tức thời. Tuy nhiên, trong thời gian áp dụng chính sách lãi suất cao, cần có sự điều chỉnh linh hoạt cho phù hợp với mức độ biến động của lạm phát và hạn chế hậu quả tiềm tàng cho các tổ chức nhận tiền gửi.

Trong điều kiện nền kinh tế mở, sự can thiệp vào tỷ giá nhằm điều chỉnh tỷ giá tăng dần dần (chứ không để tăng lên ngay) theo mức độ lạm phát cũng được sử dụng như một giải pháp nhằm giảm cầu do tỷ giá tăng khiến giá hàng xuất khẩu rẻ đi làm tăng nhu cầu xuất khẩu dẫn đến tăng tổng cầu và do đó là tăng sức ép lên giá. Mặt khác, việc điều chỉnh tỷ giá từ từ cũng sẽ làm cho giá nội địa của hàng nhập khẩu không tăng nhanh quá, giảm bớt áp lực tăng mặt bằng giá trong nước.

Đối với những nước phụ thuộc vào hàng nhập khẩu, điều này đặc biệt có ý nghĩa. Tuy nhiên, hành động can thiệp này có thể làm cạn kiệt nguồn dự trữ ngoại tệ vì phải bán ra để kìm hãm tỷ giá tăng. Chính vì thế việc sử dụng giải pháp này cũng cần cân nhắc đến khả năng dự trữ ngoại hối cũng như khả năng phục hồi nguồn dự trữ của quốc gia.

Các giải pháp tác động vào chi phí ngoài lương nhằm sử dụng tiết kiệm và hiệu quả như: Xây dựng định mức tiêu hao nguyên liệu và kỷ luật lao động nhằm tôn trọng định mức đó; Hợp lý hoá nguồn khai thác, vận chuyển và sử dụng nguyên liệu; Hạn chế tối đa các chi phí trung gian làm tăng giá nguyên liệu.

2.3. Nhóm giải pháp nhằm mở rộng khả năng cung ứng hàng hoá

Giải pháp tình thế và tác động tức thời đến cân đối tiền hàng là nhập khẩu hàng hoá, nhất là các hàng hoá đang khan hiếm, góp phần làm giảm áp lực đối với giá cả. Tuy nhiên giải pháp này chứa đựng những nguy cơ tiềm tàng: làm cạn kiệt nguồn dự trữ quốc tế, tạo thói quen dùng hàng ngoại và đặc biệt làm suy giảm sức sản xuất trong nước. nên học kế toán thực hành ở đâu

Tăng khả năng sản xuất hàng hoá trong nước được coi là giải pháp chiến lược cơ bản nhất, tạo cơ sở ổn định tiền tệ một cách vững chắc. Thực chất đây là giải pháp nhằm tăng mức sản lượng tiềm năng của xã hội. Đây là chiến lược dài hạn tập trung vào việc khai thác triệt để năng lực sản xuất của xã hội, nâng cao trình độ của lực lượng lao động, đổi mới thiết bị, hiện đại hoá dây truyền sản xuất và quan trọng nhất là đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, khuyến khích cạnh tranh và hiệu quả

tự học nghiệp vụ xuất nhập khẩu

6 Giải Pháp Kiềm Chế Lạm Phát

Theo yêu cầu của Chính phủ, vừa qua Bộ KH-ĐT đã có báo cáo về tình hình, nguyên nhân lạm phát và những giải pháp chủ yếu cần thực hiện trong thời gian tới. Với báo cáo này, lạm phát tại Việt Nam đã được nhận diện một cách “tỏ tường”.

Cung tiền tăng

Theo báo cáo này, trong gần 5 năm qua, chỉ trừ năm 2009, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 12 so với tháng 12 năm trước tăng 6,5%, còn các năm khác đều tăng trên 10%/năm. So sánh với các nước, lạm phát của nước ta cao hơn so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới.

Báo cáo này cũng đã chỉ ra những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến CPI cao ngất ngưởng trong những năm qua, trong đó, nguyên nhân về tiền tệ, tín dụng được “chỉ mặt điểm tên” đầu tiên. Cụ thể, Bộ KH-ĐT cho rằng, cung tiền trong những năm vừa qua có sự nới lỏng quá mức là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến lạm phát cao ở nước ta. Nếu như năm 2000, tỷ lệ cung tiền trên GDP của Việt Nam chỉ ở mức dưới 60% thì đến cuối năm 2010 đã lên đến trên 130% GDP (tổng dư nợ tín dụng trên 110% GDP). Cung tiền của Việt Nam khá nhanh so với các nước trong khu vực. Tốc độ tăng cung tiền cao hơn tốc độ tăng GDP theo giá thực tế trong thời gian dài. Tốc độ tăng trưởng tiền tệ là 43,7%, tín dụng là 53,9% vào năm 2007, mức tăng kỷ lục này là một trong những nguyên nhân quan trọng gây ra lạm phát cao vào năm 2008. Đến năm 2009, tình hình cung tiền quá mức nêu trên lại lặp lại dẫn đến lạm phát năm 2010 và 2011 lại bị đẩy lên cao.

Ngoài nguyên nhân chính nêu trên, báo cáo của Bộ KH-ĐT cũng chỉ ra hàng loạt các nguyên nhân khác gây lạm phát cao, trong đó có chi phí sản xuất tăng, tài khóa…

Cơ cấu kinh tế, cơ cấu và hiệu quả đầu tư cũng đẩy lạm phát lên cao. Báo cáo Bộ KH-ĐT nhận định, đây chính là nguyên nhân sâu xa dẫn đến bất ổn định các cân đối vĩ mô và đẩy lạm phát tăng cao trong thời gian vừa qua. Những yếu kém trong nội tại nền kinh tế đó là: cơ cấu kinh tế, cơ cấu đầu tư bất hợp lý và kém hiệu quả kéo dài, tích tụ trong nhiều thời kỳ, chưa được đổi mới. Nền kinh tế phát triển theo chiều rộng và dựa nhiều vào tăng vốn đầu tư; công nghệ lạc hậu, năng suất thấp. Cơ cấu nền kinh tế giữa các ngành, lĩnh vực chậm được chuyển đổi; sản xuất trong nước chưa được quan tâm đúng mức, tình trạng gia công kéo dài quá lâu, công nghiệp phụ trợ chậm phát triển, hàng hóa xuất khẩu chủ yếu dựa vào nguyên vật liệu nhập khẩu từ bên ngoài…

Ngoài ra, hệ thống doanh nghiệp nhà nước hoạt động kém hiệu quả, hệ thống ngân hàng phát triển nhanh nhưng chưa bền vững, tài chính không minh bạch, tiềm ẩn nhiều rủi ro.

6 giải pháp

Từ thực trạng này, Chính phủ thống nhất cao các giải pháp kiềm chế lạm phát, bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô trong thời gian tới. Thứ nhất, tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ chặt chẽ. Thứ hai, tăng cường công tác quản lý giá cả phù hợp với cơ chế thị trường. Thực hiện quản lý nhà nước về giá đối với một số hàng hóa, dịch vụ độc quyền phù hợp với cơ chế thị trường và nguyên tắc của hội nhập kinh tế quốc tế bằng các biện pháp giám sát thị trường, kiểm soát chi phí, áp thuế. Thứ ba, tái cơ cấu nền kinh tế gắn bó chặt chẽ với đổi mới mô hình tăng trưởng theo hướng nâng cao hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế. Thứ tư, tạo động lực từ áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ cao để tăng sức cạnh tranh của sản phẩm. Thứ năm, thúc đẩy phát triển sản xuất trong nước. Thứ sáu, tăng cường công tác phân tích, dự báo tình hình thế giới, khắc phục triệt để nguyên nhân lạm phát do yếu tố tâm lý.

Mục tiêu của Chính phủ trong năm 2011 là kiềm chế bằng được lạm phát ở mức 18% và kéo xuống dưới 10% trong các năm tiếp theo để đến năm 2015 kiềm chế lạm phát ở mức khoảng 5%.

Tập Trung Kiềm Chế Lạm Phát Cuối Năm

(HNM) – Chỉ còn hơn một tháng nữa là kết thúc năm 2019 với dự báo kinh tế nước ta sẽ hoàn thành hoặc vượt tất cả các chỉ tiêu vĩ mô. Đóng góp vào thành công đó có một chỉ tiêu quan trọng hàng đầu là kiềm chế lạm phát. Tại thời điểm này, có thể nói, chỉ tiêu kiềm chế lạm phát vẫn nằm trong tầm kiểm soát. Với sự nỗ lực của Chính phủ và các ngành, các cấp trong thời gian cuối năm, chúng ta có thể tin tưởng sẽ hoàn thành tốt mục tiêu kiềm chế lạm phát. Kết quả đáng ghi nhận

Theo Tổng cục Thống kê (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 10-2019 tăng 0,59% so với tháng trước và tăng 2,24% so với cùng kỳ năm ngoái. Tính chung, CPI bình quân 10 tháng năm 2019 tăng 2,48% so với bình quân cùng kỳ năm 2018 và đây là mức tăng bình quân 10 tháng thấp nhất trong 3 năm gần đây. Phân tích cụ thể diễn biến giá các nhóm hàng cho thấy, trong tháng 10 vừa qua, có 10/11 nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng so với tháng trước. Trong đó, nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng cao nhất 1,04%. Theo phân tích của Tổng cục Thống kê, do ảnh hưởng của bệnh Dịch tả lợn châu Phi làm giảm nguồn cung dẫn đến giá thịt lợn tăng đã khiến cho nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống – nhóm có sức ảnh hưởng lớn đến CPI, tăng cao nhất.

Giá thịt lợn tăng đã khiến chỉ số giá tiêu dùng của nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng cao.

Đối với người tiêu dùng, nhìn chung các hộ gia đình đều xác nhận sự ổn định về giá cả trên thị trường. Chị Đinh Thúy Lan, ngụ tại ngõ 86, phường Ngọc Thụy (quận Long Biên, Hà Nội) cho rằng, hầu hết giá các mặt hàng phục vụ sinh hoạt hằng ngày ổn định, nếu có tăng hay giảm thì cũng không đáng kể. Riêng thịt lợn có sự tăng giá rõ rệt…

Diễn biến CPI bình quân của 10 tháng (tăng 2,48%) so với chỉ tiêu kế hoạch năm 2019 (tăng không quá 4%) cho thấy, có thể an tâm về tình hình và khả năng kiềm chế lạm phát của cả năm. Vụ trưởng Vụ Thống kê giá (Tổng cục Thống kê) Đỗ Thị Ngọc khẳng định, kết quả đáng ghi nhận nói trên là do quá trình điều hành đồng bộ, liên tục, quyết liệt của Chính phủ, hệ thống cơ quan chức năng. Trong đó, Chính phủ thường xuyên chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương, nhất là các bộ: Tài chính, Công Thương, Kế hoạch và Đầu tư… bám sát tình hình, theo dõi sát sao diễn biến CPI, kịp thời đưa ra những đánh giá và tìm biện pháp chặn đà tăng giá.

Nhiều giải pháp giữ vững thành quả

Để giữ chỉ số CPI đạt được và bảo đảm mục tiêu đã đề ra, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Chính phủ Vương Đình Huệ, Trưởng ban Chỉ đạo điều hành giá nhấn mạnh, cần chủ động trong công tác kiểm soát giá, quyết tâm thực hiện thành công mục tiêu đã đề ra; cố gắng kiểm soát lạm phát bình quân năm 2019 trong mức 3,3-3,5%.

Từ nay đến cuối năm, các cơ quan hữu quan sẽ tập trung vào công tác bình ổn giá, nâng cao hiệu quả quản lý. Cụ thể, theo Tổng Cục trưởng Tổng cục Quản lý thị trường Trần Hữu Linh, lực lượng quản lý thị trường đang bắt đầu mở đợt tổng kiểm tra, kiểm soát thị trường dịp cuối năm 2019, trong đó yêu cầu các cục quản lý thị trường tập trung rà soát, nắm bắt tình hình các mặt hàng thiết yếu gồm giày dép, quần áo, thực phẩm, bánh kẹo, rượu bia… tránh tình trạng găm hàng, đầu cơ và tăng giá bất hợp lý. Ngoài ra, lực lượng tăng cường kiểm tra, phát hiện vi phạm để xử lý tại một số địa bàn trọng điểm, dễ có nguy cơ tuồn hàng lậu, hàng không rõ nguồn gốc vào nội địa như: Quảng Trị, Lạng Sơn, Lào Cai, Tây Ninh, An Giang…

Các bộ, ngành hữu quan như Bộ Công Thương, Bộ Tài chính, Công an, Hải quan, chính quyền các địa phương đều có kế hoạch phối hợp, chủ động vào cuộc để nắm bắt tình hình nhằm bảo đảm hiệu quả công tác quản lý thị trường. Cùng với đó, các địa phương đang tập trung chuẩn bị nguồn hàng, làm tốt công tác bảo quản cũng như tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động phân phối lưu thông hàng hóa, hướng tới sự bình ổn giá trên thị trường.

Tại Hà Nội, Phó Giám đốc Sở Công Thương Trần Thị Phương Lan cho biết, Sở đang tập trung các giải pháp tạo điều kiện để khơi thông nguồn hàng, đưa hàng hóa từ các tỉnh về Hà Nội và ngược lại nhằm đáp ứng đủ nhu cầu người dân. Bên cạnh đó, Sở tăng cường phối hợp kiểm tra, kiểm soát để xử lý hiện tượng gian lận thương mại, nạn hàng giả, hàng cấm, không rõ xuất xứ…

Về phía doanh nghiệp, hiện nhiều đơn vị đang tập trung bước vào chặng nước rút, bảo đảm kế hoạch cũng như sẵn sàng tham gia thị trường; nhất là đối với những doanh nghiệp thuộc lĩnh vực phân phối, bán buôn, bán lẻ. Đơn cử, Tổng công ty Thương mại Hà Nội (Hapro) vừa thông báo việc dành 768 tỷ đồng để chuẩn bị hàng hóa phục vụ dịp Tết Dương lịch và Tết Nguyên đán sắp tới. Tổng cộng sẽ có 19 mặt hàng gồm thủy hải sản, bánh mứt kẹo, hàng khô, thịt gà… sẵn sàng cung cấp ra thị trường. Đặc biệt, đơn vị này cũng chủ động tham gia chương trình bình ổn thị trường của thành phố Hà Nội thông qua 16 điểm bán hàng. Đây là hoạt động có tính thường xuyên qua các năm nhằm bảo đảm nguồn cung, chất lượng hàng hóa và nhất là phòng tránh sự cố khan hàng, tăng giá bất hợp lý…

Với những kết quả từ đầu năm đến nay cùng sự nỗ lực của Chính phủ, các ngành, các cấp và doanh nghiệp, tin tưởng rằng, mục tiêu kiềm chế lạm phát năm nay sẽ hoàn thành vượt chỉ tiêu kế hoạch, góp phần ổn định nền kinh tế và bảo đảm an sinh xã hội.

Tt Chính Phủ: Tập Trung Toàn Lực Kiềm Chế Lạm Phát

Giới thiệu Nghị quyết về những giải pháp chủ yếu tập trung kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội, Phó Thủ tướng Thường trực Nguyễn Sinh Hùng cho biết, trong năm 2010, nước ta đạt được những kết quả khá toàn diện trong xây dựng và phát triển kinh tế-xã hội.

Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng chủ trì Hội nghị – Ảnh chúng tôi

Tuy nhiên, từ cuối năm 2010 và rõ nhất từ đầu năm 2011, tình hình kinh tế thế giới diễn biến phức tạp, lạm phát tăng, giá dầu thô, giá nguyên vật liệu cơ bản đầu vào của sản xuất, giá lương thực, thực phẩm trên thị trường thế giới tiếp tục xu hướng tăng cao.

Trong nước, thiên tai, thời tiết tác động bất lợi đến sản xuất và đời sống; một số mặt hàng là đầu vào quan trọng của sản xuất như điện, xăng dầu vẫn chưa thực hiện đầy đủ theo cơ chế giá thị trường…

Tình hình trên đã làm giá cả tăng cao, tăng nguy cơ mất ổn định kinh tế vĩ mô của nước ta. Vì vậy, tập trung kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội là mục tiêu, nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách hiện nay.

Với tinh thần này, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết về những giải pháp chủ yếu tập trung kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội với 6 nhóm giải pháp chủ yếu như thực hiện chính sách tiền tệ chặt chẽ, thận trọng; thực hiện chính sách tài khóa thắt chặt, cắt giảm đầu tư công, giảm bội chi ngân sách nhà nước; thúc đẩy sản xuất, kinh doanh, khuyến khích xuất khẩu, kiềm chế nhập siêu, sử dụng tiết kiệm năng lượng; điều chỉnh giá điện, xăng dầu gắn với hỗ trợ hộ nghèo; tăng cường bảo đảm an sinh xã hội; đẩy mạnh thông tin, tuyên truyền…

Kiềm chế lạm phát là ưu tiên số 1 hiện nay, là ưu tiên nhất quán của Chính phủ, Phó Thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng nhấn mạnh. Phó Thủ tướng cũng cho biết, việc thực hiện chính sách tài khóa thắt chặt, cắt giảm đầu tư công, giảm bội chi ngân sách nhà nước… theo tinh thần Nghị quyết không nhằm vào tiền lương, các đối tượng chính sách xã hội, các khoản cho sinh viên vay đi học… mà nhằm vào việc tạm dừng mua sắm các trang thiết bị mới; giảm tối đa chi phí điện, nước, xăng dầu; không bố trí kinh phí cho các việc chưa thực sự cấp bách; giảm tối đa chi phí cho hội nghị, hội thảo…

Tại Hội nghị lãnh đạo các Bộ, ngành, địa phương đều nhất trí cao với nội dung Nghị quyết; khẳng định quyết tâm mạnh mẽ trong việc thực hiện Nghị quyết, phối hợp chặt chẽ và đẩy mạnh thông tin tuyên truyền; đề ra các kế hoạch hành động cụ thể; thực hiện tốt cơ chế giám sát, kịp thời báo cáo những vấn đề phát sinh nhằm triển khai thực hiện hiệu quả các nội dung của Nghị quyết.

Điều chỉnh giá điện, xăng dầu là cần thiết

Làm rõ về việc trong điều kiện lạm phát tăng cao vẫn đặt vấn đề điều chỉnh tăng giá điện, xăng dầu, Phó Thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng cho biết, việc điều chỉnh tăng giá điện, xăng dầu là cần thiết, tránh sự hạch toán méo mó của nền kinh tế.

Hiện nay, giá điện, xăng dầu vẫn chưa đi theo giá thị trường mà chúng ta mới chỉ đang thực hiện theo lộ trình giá thị trường.

Giá điện thấp khiến khó thu hút đầu tư, dẫn đến tình trạng thiếu điện, các ngành nghề tiếp tục sử dụng công nghệ lạc hậu, sử dụng điện lãng phí, không khuyến khích tiết kiệm điện.

Bên cạnh đó, giá xăng dầu của Việt Nam trong thời gian dài ở mức giá trên 16.000 đồng/lít, chênh lệch tới 1/3 lần so với mức giá từ 24.000 – 26.000 đồng/lít ở Thái Lan, Lào, Trung Quốc…

Tình trạng này kéo dài vừa không khuyến khích tiết kiệm, vừa gây ra tình trạng “nước chảy chỗ trũng”, xăng dầu sẽ bị xuất lậu sang các nước khác.

Theo Bộ trưởng Bộ Tài chính Vũ Văn Ninh, tính đến hết tháng 2/2010 ngành điện đã lỗ gần 28.000 tỷ, nếu tính đến hết năm 2011 số lỗ này lên tới gần 57.000 tỷ. Để ngành điện có lãi, thì phải điều chỉnh tăng 62%.

Còn nếu điều chỉnh theo giá thế giới, chúng ta phải tăng giá xăng từ 34 – 40% so với giá hiện hành.

Phó Thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng khẳng định, lần điều chỉnh giá xăng dầu lần này được tiến hành với nguyên tắc nhà nước chưa thu thuế, người kinh doanh xăng dầu chưa có lãi.

“Đồng thời với việc điều chỉnh giá điện, xăng dầu, nhà nước sẽ thực hiện chủ trương hỗ trợ hộ nghèo và các đối tượng chính sách có thu nhập thấp”, Phó Thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng nhấn mạnh.